Từ những nỗ lực đầu tiến của mình trong việc thăm dò tâm hồn con người để lập bản đồ của nó cũng như những ranh giớicủa nó, Jung bị hấp dẫn bởi những gì diễn ra ở những vùng ranh giới. Đây là tính cách của ông - ông yêu thích việc đi xa hơn khỏi những vùng đã được biết rồi. Công trình nghiên cứu lớn đầu tiên của ông là nghị luận về thuật lên đồng và gọi hồn các nhân vật đã chết - những khả năng kì diệu của một người em họ, Helene Preiswerk. Đây là sự khảo cứu tâm lí về quan hệ giữa những trạng thái bình thường và khác thường của ý thức202. Những công trình sau đó về các test liên tưởng từ và lí thuyết phức cảm đã nghiên cứu những ranh giới giữa các phần ý thức và vô thức của tâm thần. Đi sâu hơn vào những miền vô thức, Jung phát hiện ra một ranh giới khác. Ranh giới này nằm giữa những nội dung cá nhân và phi cá nhân của vô thức, giữa lĩnh vực của các phức cảm và lĩnh vực các kết hợp hình ảnh và bản năng mang tính cổ mẫu. Trong các nghiên cứu sau về tự ngã, ông phát hiện ra một điểm vượt quá tại ranh giới giữa tâm thần và phi tâm thần. Bởi vì cổ mẫu tự thân là giống tâm thần (psychoid) và không hoàn toàn nằm trong giới hạn chặt chẽ của những ranh giới tâm thần, vì thế, nó là một chiếc cầu nối giữa hai thế giới bên trong và bên ngoài, và phá vỡ sự nhị phân chủ thể/khách thể.
Nghiêm túc mà nói thì sự tò mò về những ranh giới này đã đưa Jung đến việc phát biểu một lí thuyết cố gắng trình bày rõ ràng một hệ thống nhất duy nhất bao gồm cả vật chất và tinh thần và tạo một cầu nối giữa thời gian và sự vĩnh cửu. Đây là lí thuyết nguyên lí đồng thời tương ứng. Là sự mở rộng lí thuyết tự ngã sang vũ trụ học, nguyên lí đồng thời tương ứng nói đến một trật tự ngầm ẩn chiều sâu và sự thống nhất trong tất cả những gì tồn tại. Lí thuyết này cũng bộc lộ Jung là một nhà siêu hình học, một bản tính mà ông thường phủ nhận.
Các hình thức trong hỗn loạn
Có ít ghi chép về nguyên lí đồng thời tương ứng của Jung khảo sát trật tự có ý nghĩa trong những sự kiện có vẻ ngẫu nhiên. Cũng như nhiều người khác, ông nhận thấy rằng, những hình ảnh tâm thần và những sự kiện khách quan đôi khi được sắp xếp theo những hình thức xác định, sự sắp xếp này diễn ra tình cờ và không do chuỗi nhân quả các sự kiện trước đó. Nói theo cách khác, không có nguyên nhân nhân quả cho hình thức này xuất hiện. Nó xuất hiện thuần túy do ngẫu nhiên. Do đó một câu hỏi xuất hiện: đây là một sự kiện tinh cờ theo kiểu một điều ngẫu nhiên hoàn toàn hay có một ý nghĩa nào? Theo đó, bói toán thuộc vào loại sự kiện tình cờ nhưng có một ý nghĩa. Chim bay trên trời và nhà tiên tri bảo với vua rằng đã đến thời điểm bắt đầu trận đánh. Một ví dụ phức tạp hơn là sự tiên tri cổ Trung Quốc trong Kinh Dịch. Việc tiên đoán được thực hiện bằng cách tung những đồng tiền hay bốc nắm cỏ thi203 từ đó xác định một con số có liên quan tới một trong 64 quẻ kép. Bằng việc nghiên cứu quẻ đó, người ta có thể đoán được dạng ý nghĩa trong những sự kiện của thời điểm hiện tại và dạng ý nghĩa sẽ thành hình trong tương lai. Từ đó có thể đưa ra lời khuyên. Việc tiên tri này được dựa trên nguyên lí đồng thời tương ứng. Giả định của nó là có một trật tự ý nghĩa nằm sau kết quả tình cờ của việc tung đồng xu, một vấn đề nóng bỏng và những sự kiện nằm ở thế giới bên ngoài. Những người đã từng thử bói bằng Kinh Dịch thường ngạc nhiên bởi độ chính xác phi thường của nó. Liệu chúng ta có thể giải thích như thế nào những sắp xếp và hình thức có nghĩa - những điều không được tạo ra do nguyên nhân đã biết - này?
Thậm chí gần gũi hơn với thực hành phân tích và lí thuyết tâm lí của Jung là một hiện tượng mà ông nhận thấy với sự hấp dẫn, tức là sự bù trừ tâm lí diễn ra không chỉ trong những giấc mơ mà còn cả trong những sự kiện phi tâm lí có kiểm soát. Thỉnh thoảng sự bù trừ đến từ thế giới bên ngoài. Một bệnh nhân của Jung có một giấc mơ về một con bọ hung màu vàng. Trong khi thảo luận về biểu trưng trong giấc mơ này trong nghiên cứu của mình, chợt cả hai nghe thấy một tiếng động ngoài cửa sổ và thấy một con vật giống bọ hung Thụy Sĩ (Cetonia aurate) đang cố gắng vào phòng204. Từ những ví dụ trên chúng ta có thể suy ra sự hiện diện của những hình ảnh cổ mẫu trong các giấc mơ có thể trùng với các sự kiện khác. Hiện tượng bù trừ vượt quá những ranh giới thường được chấp nhận giữa chủ thể và đối tượng và thể hiện trong thế giới đối tượng. Một lần nữa, câu hỏi khó trả lời cho Jung là làm sao giải thích được cho điều này trong lí thuyết của mình. Một cách chặt chẽ mà nói thì những sự kiện như vậy không phải là những sự kiện tâm lí, nhưng chúng có một sự gắn bó sâu sắc với đời sống tâm lí. Các cổ mẫu, ông kết luận, có tính vượt quá205(transgressive) tức là chúng không giới hạn trong lĩnh vực tâm thần. Bằng tính vượt quá giới hạn này chúng có thể xâm nhập vào ý thức hoặc từ tâm thần hoặc từ thế giới xung quanh chúng ta hoặc đồng thời cả hai. Khi cả hai cùng đồng thời xảy ra, nó được gọi là có tính đồng thời tương ứng.
Những phân tích đề cập đến unus mundus (vũ trụ thống nhất) và khái niệm nguyên lí đồng thời tương ứng (nếu không phải là thuật ngữ chính xác) nằm rải rác trong Toàn tập và những văn bản ít chính thức hơn như trong thư từ nhưng Jung chưa thể hiện đầy đủ quan điểm của mình cho đến khi gần cuối đời. Năm 1952, ông cùng nhà vật lí được giải Nobel Wolfgang Pauli cùng xuất bản chung cuốn sách Naturerklarung und Psyche (dịch sang tiếng Anh là The Interpretation of Nature and the Psyche [Diễn giải bản chất của tự nhiên và tâm thần]), và đây là một cố gắng để làm sáng tỏ những liên quan có thể có giữa tự nhiên và tâm thần. Điều quan trọng ở đây là Jung xuất bản tác phẩm này với một nhà khoa học được giải Nobel chứ không phải với một nhà triết học, một nhà thần học, hay một nhà huyền thoại học. Trong số tất cả những tác phẩm lí thuyết của Jung, tác phẩm về nguyên lí đồng thời tương ứng này là chủ đề bị bóp méo nhiều nhất. Jung muốn tránh bị coi là một nhà thần bí hay một người kì lạ và rõ ràng là ông lo lắng nhiều về việc trình bày phần này trong suy nghĩ của mình trước mắt của công chúng khoa học và hiện đại. Tiểu luận của Pauli “Ảnh hưởng của những tư tưởng cổ mẫu lên việc trình bày các lí thuyết khoa học của Kepler” khảo sát những hình thức cổ mẫu trong tư tưởng khoa học của Kepler, và về một mặt nào đó, chuẩn bị cho quan điểm táo bạo hơn nhiều của Jung trong tiểu luận “Nguyên lí đồng thời tương ứng: Nguyên lí liên hệ phi nhân quả206. Tác phẩm về nguyên lí đồng thời tương ứng này bổ sung cho lí thuyết tâm lí của Jung khái niệm là một mức độ liên tục cao hơn tồn tại giữa tâm thần và thế giới, và những hình ảnh tâm thần như vậy (bao gồm cả những yếu tố căn bản của những tư duy khoa học trừu tượng như của Kepler) cũng có thể bộc lộ những sự thật về hiện thực qua tấm gương phản ánh ý thức con người. Tâm thần không phải là điều gì chỉ tự biểu lộ chúng ở con người và trong tình trạng cô lập với vũ trụ. Có một chiều kích trong đó tâm thần và thế giới tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau rất mật thiết. Đây là luận đề của Jung.
Sự phát triển ý tưởng về nguyên lí đồng thời tương ứng
Trong một lá thư cho Carl Seelig, một tác giả và nhà báo Thụy Sĩ người viết tiểu sử của Albert Einstein, Jung viết về ấn tượng ban đầu của ông về nguyên lí đồng thời tương ứng:
Giáo sư Einstein là vị khách của tôi trong vài bữa ăn tối... Đó là buổi ban đầu khi Einstein đang xây dựng lí thuyết tương đối đầu tiên của mình. Ông cố gắng giới thiệu những tư tưởng của nó cho chúng tôi và đã thành công ít nhiều. Vì không phải là những nhà toán học mà là những nhà tâm thần học nên chúng tôi gặp khókhăn khi theo dõi những lập luận của ông. Dẫu vậy tôi cũng đủ có một ấntượng mạnh mẽ về ông. Trên tất cả, sự giản dị và thẳng thắn trong thiên tư của ông với tư cách một nhà tư tưởng, đã tạo cho tôi một ấn tượng mạnh mẽ và có một ảnh hưởng kéo dài lên hoạt động khoa học của tôi. Chính Einstein là người đầu tiên khiến tôi suy nghĩ về tính tương đối có thể có của thời gian cũng như không gian và tính điều kiện tâm thần của chúng. Hơn ba mươi năm sau đó điều này đã dẫn đến mối quan hệ của tôi với nhà vật lí, giáo sư W. Pauli và luận đề của tôi về nguyên lí đồng thời tương ứng tâm thần207.
Thuyết tương đối của Einstein đã thu hút óc tưởng tượng của Jung ngay cả khi ông không hiểu những chi tiết hay những cơ sở toán học của nó. Có một điểm thú vị ở đây là các nhà vật lí danh tiếng đã đóng vai trò trong sự xây dựng lí thuyết của ông lúc đầu tiên cũng như cuối cùng. Sự gắn bó với vật lí hiện đại đã tạo ra một bối cảnh lịch sử thích hợp cho lí thuyết nguyên lí đồng thời tương ứng của Jung.
Mối liên hệ của Jung với những nhân vật nổi tiếng của vật lí học hiện đại là một câu chuyện chưa được đề cập đầy đủ. Ngoài Einstein và Pauli, cũng có nhiều nhà khoa học lớn trong vật lí học hiện đại sống ở Thụy Sĩ nửa đầu thế kỉ XX và giảng bài hay dạy học tại Đại học Bách khoa nơi Jung cũng là một Giáo sư Tâm lí học vào những năm 30. Zurich là một trung tâm thực sự của vật lí học hiện đại trong nửa đầu của thế kỉ này và gần như không thể bỏ qua được sự hứng khởi sôi động mà các học giả ở đó đã tạo nên. Có một ấn tượng xác định đang trỗi dậy là bản chất của hiện thực vật lí đang được suy ngẫm lại mạnh mẽ và Jung trước đó đã - như đã thấy trong lá thư của ông cho Einstein - bắt đầu suy nghĩ về những sự tương tự giữa vật lí hiện đại và tâm lí học phân tích. Tiểu luận của Jung về nguyên lí đồng thời tương ứng, không còn nghi ngờ gì nữa, là kết quả của những thảo luận vô tận với những học giả này ba mươi hay hơn ba mươi năm trước khi hoàn thành và xuất bản.
Cần phải nhận thấy là lí thuyết về các cổ mẫu và tự ngã và lí thuyết về nguyên lí đồng thời tương ứng đã được kết hợp với nhau để tạo ra một hệ thống tư tưởng duy nhất. Đây là quan điểm thống nhất của Jung đã được đề cập đến trong phần giới thiệu cuốn sách này. Để nắm bắt đầy đủ phạm vi của lí thuyết về tự ngã, chúng ta phải xem xét nó trong bối cảnh quan điểm của Jung về nguyên lí đồng thời tương ứng; để hiểu lí thuyết về nguyên lí đồng thời tương ứng của ông chúng ta cũng phải biết về lí thuyết các cổ mẫu của ông. Đây là lí do mà tại sao chỉ một số ít các nhà tâm lí học đã đi theo sự nghiên cứu của Jung vào lí thuyết cổ mẫu. Nó trở nên siêu tâm lí học khi mà đạt tới sự siêu hình, và chỉ một số ít các nhà tâm lí cảm thấy thoải mái trong tất cả những lĩnh vực đó để hiểu lí thuyết đầy đủ này - tâm lí học, vật lí học, và siêu hình học. Đây là một lĩnh vực tri thức mà chỉ một số ít những nhà tư tưởng hiện đại có thể hi vọng kết hợp được. Các học giả đặc biệt e ngại khi bước ra khỏi những lĩnh vực chuyên ngành của họ. Lí thuyết nguyên lí đồng thời tương ứng đã khiến cho quan điểm của Jung về tự ngã tăng thêm đặc trưng về tính đặc biệt siêu việt của nó so với ý thức và tâm thần nói chung, và nó cũng thách thức ranh giới phân chia các lĩnh vực tâm lí, vật lí, sinh học, triết học, và tinh thần. Về mặt truyền thống, tâm lí học bị giới hạn trong những gì diễn ra trong đâu óc con người; nhưng trong lí thuyết của Jung về tự ngã và nguyên lí đồng thời tương ứng, tâm lí học phân tích của Jung thách thức sự phân chia “tùy tiện” này. Khi được các sinh viên hỏi tự ngã kết thúc ở đâu và ranh giới của nó là gì, cấu trả lời của Jung dường như là nó không kết thúc, nó không có giới hạn. Để hiểu ông muốn nói điều gì qua nhận định này, chúng ta phải nhận ra rằng ông đang xem xét những quan hệ của nguyên lí đồng thời tương ứng với lí thuyết về tự ngã.
Có thể hiểu được sự lưỡng lự của Jung khi đề cập đến ý tưởng về tầm quan trọng mà nguyên lí đồng thời tương ứng đưa tới. Là một người Thụy Sĩ bảo thủ và thận trọng, nói chung, Jung cố gắng dựa vào những lập luận thuần túy tâm lí, một lĩnh vực mà không nghi ngờ gì là ông có trình độ chuyên môn cao. Tuy nhiên với lí thuyết nguyên lí đồng thời tương ứng, ông dường như đang đi trên mép vực. Ở đây thì ngay cả tâm thần cũng không hỗ trợ ông. Tuy thế ở tuổi bảy mươi lăm, ông cảm thấy có quyền tự cho phép mình dẫn thân vào những suy luận vũ trụ học. Ông sẵn sàng in ra nó cùng một trong những khái niệm cổ xưa nhất của mình, sự thống nhất giữa tự ngã và Tồn Tại. Liệu đây có quá khác biệt với việc nói rằng tự ngã và Chúa là một? Ông chấp nhận sự mạo hiểm khi bị coi có vẻ là một nhà tiên tri, hay tệ hơn, một người kì dị.
Tính đồng thời tương ứng và tính quan hệ nhân quả
Bản thân tiểu luận này là khó và chắc chắn có thiếu sót lớn do sự lạc hướng trong việc phân tích thống kê một phần nghiên cứu được tiến hành trên những cặp vợ chồng bởi một đồng nghiệp. Khi xem lại tác phẩm này, tôi sẽ giới hạn ở những phần lí thuyết. Jung bắt đầu bằng việc bình luận về khái niệm nhân quả và những quy tắc xác suất, và ông cũng lưu ý về xu hướng chung của con người là dự đoán quan hệ nhân quả. Hầu như không tránh khỏi, mọi người luôn luôn hỏi “tại sao nó diễn ra”. Chúng ta thường cho rằng tất cả mọi sự kiện đều được gây ra bởi điều gì đó diễn ra trước nó. Thường thì một quan hệ nhân quả loại này luôn hiện diện, nhưng thỉnh thoảng lại không phải vậy. Chẳng hạn, trong tâm lí học, nhân quả là điều rất khó xác định bởi vì không ai có thể biết chắc được cái gì đã khiến chúng ta suy nghĩ, hành động, và cảm nhân. Có động cơ ý thức và cũng có động cơ vô thức của những nội dung và xung lực tâm thần. Có nhiều lí thuyết cố gắng giải thích cảm xúc và hành vi về mặt nguyên nhân nhưng những phóng chiếu của chúng ta chắc chắn sẽ khiến chúng ta tìm kiếm nhiều nguyên nhân trong thế giới của hiện tượng tâm lí hơn là chúng thật sự hiện diện ở đó. Hoặc chúng ta có thể gán những sự kiện này cho những nguyên nhân sai nào đó, và sau đó thì phát hiện ra mình đã nhầm lẫn.
Chúng ta có thể đi tới kết luận rằng một người đánh vợ mình bởi vì anh ta bị đánh khi còn bé hoặc anh ta nhìn thấy cha mình đánh mẹ mình thường xuyên. Anh ta hành xử như vậy bởi những kinh nghiệm tuổi thơ, hoặc bởi vì cha mẹ đã ảnh hưởng tới anh ta như vậy. Anh ta “giống cha” hoặc “phức cảm người mẹ” phải chịu trách nhiệm và chúng ta có thể khẳng định với sự tin tưởng to lớn bằng cảm nhận tâm lí sắc bén của mình. Điều này có thể là sự ước định ban đầu khá tốt của chúng ta, nhưng những phân tích quy giản như vậy chắc chắn không nghiên cứu được cặn kẽ hết những nguyên nhân và ý nghĩa có thể có. Chẳng hạn, có một nguyên nhân mang tính mục đích khiến con người làm để đạt được một mục tiêu hay tìm được biện phấp để thích nghi với cuộc sống. Có thể là người đàn ông này đang cố gắng để đạt được quyền lực và sự kiểm soát vợ mình, qua đó để đạt được sự kiểm soát nhiều hơn với tương lai của chính mình. Nguyên nhân tâm lí có thể đưa trở lại quá khứ cũng giống như tương lai. Và do vậy có những sự kiện tình cờ đúng chỗ và đúng lúc. Thật khó mà giải thích tại sao một số người quá may mắn còn những người khác thì lại bất hạnh, và thường thì chúng ta đi tới việc khen ngợi họ vì những gì mà họ không thực sự làm cũng như đổ lỗi cho những người khác vì những gì mà họ không thể tránh khỏi. Dường như có một khoảng không cùng cho những phóng chiếu và suy luận.
Chúng ta suy nghĩ về nguyên nhân - kết quả bởi vì chúng ta là con người chứ không phải vì chúng ta sống ở thời đại khoa học. Trong mọi thời kì và mọi nền văn hóa, con người đều suy nghĩ về nguyên nhân, thậm chí họ còn gán những nguyên nhân đó cho những sự kiện mâu thuẫn với kiến thức khoa học của chúng ta. Ngày nay, chúng ta có thể nói là một người nào đó là một người quái dị chống đối xã hội bởi vì họ bị ngược đãi nghiêm trọng khi còn bé, trong khi ở thời Trung Cổ người ta cho rằng chính ma quỷ đã khiến họ làm vậy. Những lí do khác nhau được đưa ra, nhưng suy nghĩ thì giống nhau. Để thách thức cách suy nghĩ theo kiểu nguyên nhân này, Jung nhân thức rằng phải chóng lại khuynh hướng chung này. Nhưng sao lại phải làm vậy? Bởi vì có những sự kiện không thể được giải thích bao quát bằng tất cả các lí thuyết về nhân quả.
Đặt câu hỏi về tính tuyệt đối của lập luận nhân - quả, Jung phát hiện ra rằng vật lí học hiện đại là một sự hỗ trợ vì vật lí học đã phát hiện ra một số những sự kiện và quá trình mà không có những giải thích bằng nguyên nhân, chỉ là bằng xác suất thống kê. Chẳng hạn, Jung nêu ra sự phân hủy của những nguyên tổ phóng xạ. Không có sự giải thích nguyên nhân nào về lí do một nguyên tử radium đặc thù này hay khác lại phân hủy. Sự phân hủy của những nguyên tố phóng xạ có thể được dự đoán và đo lường về mặt thống kê, và tỉ lệ phân hủy là cố định theo thời gian, nhưng lại không có giải thích nào về lí do nó xảy ra và khi nào nó diễn ra. Nó chỉ đơn giản xảy ra và là như vậy. Việc phát hiện ra sự kiện không có nguyên nhân này tạo ra một lỗ hổng trong thế giới nguyên nhân. Không chỉ là chuyên khoa học chưa phát hiện ra quan hệ nhân quả tác động ở đây như thế nào mà thật ra là trên nguyên tắc thì quy luật nhân quả không áp dụng được. Nếu có những sự kiện không được tạo ra bởi một nguyên nhân trước đó thì chúng ta có thể nghĩ về nguồn gốc của chúng như thế nào? Tại sao chúng xảy ra? Điều gì sẽ giải thích cho sự xảy ra này? Các sự kiện đó là ngẫu nhiên và hoàn toàn tình cờ?
Jung thừa nhận xác suất là một nhân tố quan trọng để giải thích cho nhiều sự kiện. Nhưng rõ ràng có một chuỗi các sự kiện ngẫu nhiên hoàn toàn biểu hiện một mô hình nằm ngoài các thang xác suất như diễn biến của những con số và những sự trùng hợp đặc biệt khác. Những tay chơi bạc sống và cầu nguyện cho những sự may mắn không thể giải thích được này. Jung muốn tránh những khái niệm huyền bí hoặc có tính trực giác cao như những sự giống nhau hay những tương ứng có tính lựa chọn được nêu ra bởi một số nhà thông thái và các nhà triết học có tầm nhìn xa như Schopenhauer. Thay vào đó, ông thích tiếp cận chủ đề khó khăn này một cách khoa học, thực nghiệm và lí tính, giống như nhiều năm trước ông đã giải quyết sự bí ẩn việc lên đồng kì lạ bằng thực nghiệm và khoa học trong luận án tiến sĩ của mình. Từ đầu đến cuối, Jung luôn bám sát cách tiếp cận khoa học đối với sự hiểu biết.
Tuy nhiên, thật hấp dẫn khi đọc tác phẩm của Jung về nguyên lí đồng thời tương ứng qua các vấn đề có tính tiểu sử hơn. Trong quan điểm của mình về cá nhân hóa trong nửa thứ hai của cuộc đời, Jung cho rằng con người (ít ra là ở thế giới phương Tây) cần phải cố gắng gắn bản ngã ý thức lí tính của mình với vô thức tập thể phi lí trong khi không hi sinh vị thế lí tính của bản ngã. Jung cũng tin là nhiệm vụ tâm lí chính trong nửa thứ hai của cuộc đời là hình thành nên một Weltanschauung hay thế giới quan, triết lí sống của một cá nhân. Và điều này cần phải bao gồm những yếu tố lí tính và phi lí tính. Trong tiểu luận này về nguyên lí đồng thời tương ứng, chúng ta có thể thấy Jung đã sử dụng bản ngã khoa học lí tính phương Tây của mình để xem xét thế giới ma thuật và hiện tượng hiếm có, không thể giải thích được xảy ra trong vô thức tập thể. Ông cố gắng hình thành một biểu trưng, dưới hình thức một khái niệm, có thể gắn hai lĩnh vực với nhau trong sự căng thẳng của các mặt đối lập. Trong khi những vấn đề mà Jung đang giải quyệt ở đây tương tự những gì thường được đề cập trong tôn giáo và triết học thì ông lại đang cố gắng mang những phương pháp và thế giới quan lí tính khoa học vào hiện tượng mà bản chất thần bí, tôn giáo và hơi ma thuật của chúng thường loại bỏ chúng khỏi sự thảo luận khoa học. Vì những lí do cá nhân của mình và cũng vì văn hóa khoa học của chúng ta nói chung, ông đang cố gắng tạo một liên kết giữa hai trọng tâm văn hóa trội của phương Tây, khoa học và tôn giáo. Jung cố gắng giữ độ căng ấy sao cho không thiên lệch về phía nào. Lí thuyết về nguyên lí đồng thời tương ứng của ông là một biểu trưng có gắng bao hàm cặp đối lập đó. Đây là khía cạnh cá nhân trong tác phẩm này của ông.
Jung bị hấp dẫn với những nghiên cứu thực nghiệm của J.B. Rhine về ngoại cảm tại Đại học Duke. Bởi vì những nghiên cứu này đã chứng minh và đã sử dụng lí thuyết xác suất nên Jung có ấn tượng là ngoại cảm không thể giải thích bằng nguyên nhân được. Những nghiên cứu này cũng cho thấy là con người có thể vượt qua những ranh giới gần như tuyệt đối đã giới hạn chúng ta trong liên thể không gian - thời gian đơn lẻ. Điều này khiến Jung nhớ tới lí thuyết tương đối của Einstein cũng như những giấc mơ mà trong đó ông quan sát thấy những sự kiện xa vời được định hình trước và trong khi chúng diễn ra. Những nghiên cứu của Rhine đã đưa một bằng chứng thực nghiệm mới cho những gì mà Jung đã kết luận, tức là tâm thần hoàn toàn không bị giới hạn tuyệt đối bởi các ranh giới không gian và thời gian. Thuyết nhân quả đòi hỏi một liên thể không gian - thời gian khép kín tuyệt đối, không thể giải thích các sự kiện này. Jung chỉ ra là không có năng lượng nào được truyền đi trong những thực hiện ngoại cảm của Rhine; chỉ có “sự kết hợp” đúng lúc ý nghĩ và sự kiện. Một quân bài được lật ở trong một phòng, một hình ảnh xuất hiện ở trong tâm thần của một người ở một phòng khác và sự trùng hợp này không chỉ là ngẫu nhiên. Jung sử dụng thuật ngữ “nguyên lí đồng thời tương ứng” lần đầu tiên trong tiểu luận “đây không phải là vấn đề nguyên nhân và kết quả mà là sự kết hợp cùng lúc, một sự đồng thời. Do đặc trưng của tính đồng thời này, tôi dùng từ “nguyên lí đồng thời tương ứng” để chỉ một nhân tố giả thuyết ngang với quan hệ nhân quả như một nguyên tắc giải thích”208.
Nguyên lí đồng thời tương ứng và lí thuyết cổ mẫu
Năm 1954, hai năm sau khi xuất hiện của tiểu luận về nguyên lí đồng thời tương ứng trên, Jung xuất bản một phiên bản sửa đổi của bài viết lí thuyết quyết đoán “Về bản chất của tâm thần” của mình. Trong một đoạn bổ sung quan trọng, ông gắn lí thuyết các cổ mẫu với nguyên lí đồng thời tương ứng. Đây là điều quan trọng bởi vì nó kết hợp hai phần tư tưởng của ông với nhau và hình thành nên một quan điểm lí thuyết thống nhất duy nhất. Jung sử dụng cụm từ “tâm thần khách quan” để thảo luận quan điểm rằng vô thức là thế giới của các “đối tượng” (các phức cảm và những hình ảnh cổ mẫu) cũng như thế giới xung quanh ta là thế giới của con người và đồ vật. Những đối tượng nội tâm này tác động lên ý thức cùng một cách như những đối tượng bên ngoài tác động. Chúng không phải là một phần của bản ngã nhưng chúng ảnh hưởng đến bản ngã, và bản ngã phải liên hệ và thích ứng với chúng. Chẳng hạn những suy nghĩ đến với chúng ta, chúng “ập xuống” ý thức chúng ta (trong tiếng Đức, Einfall nghĩa đen là “một cái gì ập xuống” ý thức nhưng cũng còn có nghĩa là “cảm hứng”). Với Jung, trực giác và suy nghĩ xuất hiện từ vô thức và không phải là kết quả của những nỗ lực chủ tâm suy nghĩ mà là những đối tượng nội tâm, những phần của vô thức thỉnh thoảng xuất hiện trên bể mặt bản ngã (thỉnh thoảng, Jung thích nói là những suy nghĩ như những con chim: chúng bay đến và làm tổ trên những cái cấy ý thức chúng ta trong một khoảng thời gian ngắn và sau đó chúng bay đi. Chúng đã bị lãng quên và biến mất). Tuy nhiên, khi chúng ta càng xâm nhập sâu hơn vào tâm thần khách quan, nó ngày càng trở nên khách quan hơn bởi vì chúng ngày càng ít liên hệ với tính chủ quan của bản ngã: “đồng thời nó hoàn toàn mang tính chủ quan và là chân lí phổ biến vì trên nguyên tắc nó có thể hiện diện ở tất cả mọi nơi, mà chắc chắn không thể nói là những nội dung ý thức mang bản chất duy cá nhân. Sự lảng tránh, tính thất thường, sự mơ hồ, và tính duy nhất mà những người ngoại đạo luôn gắn với ý tưởng về tâm thần chỉ có thể áp dụng cho ý thức chứ không phải vô thức tuyệt đối”209. Không giống ý thức, vô thức có tính thường xuyên, có thể dự đoán được và có tính tập thể. “Những thành phần có thể xác định được về chất lượng chứ không phải số lượng mà nhờ nó vô thức hoạt động, tức là các cổ mẫu, do vậy mà có bản chất chắc chắn không thể coi là tâm thần”210 (chữ viết nghiêng của Jung).
Trong những chương trước, tôi lưu ý rằng các cổ mẫu được coi là phần giống tâm thần hơn là tâm thần thuần túy. Trong đoạn này, Jung nói đến điều đó rõ ràng hơn: “Mặc dù những xem xét tâm lí thuần túy đã khiến tôi nghi ngờ bản chất tâm thần hoàn toàn của các cổ mẫu, tâm lí học có nghĩa vụ xem xét lại những giả định “thuần túy tâm thần” dưới ánh sáng của những phát hiện vật lí... Sự đồng nhất tương đối hay từng phần của liên thể tâm thần và thể chất có tầm quan trọng lớn nhất về mặt lí thuyết bởi vì nó chứa đựng sự đơn giản hóa rất lớn nhờ việc tạo sự gắn bó giữa những gì dường như không thể so sánh được giữa thế giới vật lí và tâm thần, dĩ nhiên không phải theo một cách cụ thể nào mà từ khía cạnh vật lí qua những phương trình toán học và từ khía cạnh tâm lí bởi những giả định có nguồn gốc thực nghiệm - các cổ mẫu - mà nội dung của chúng, dù chỉ đôi chút, không thể biểu hiện cho tinh thần211. Nói theo cách khác, Jung nhận thấy một lĩnh vực đồng nhất lớn giữa những hình thức sâu nhất của tâm thần (những hình ảnh cổ mẫu) và các quá trình và hình thức biểu hiện trong thế giới vật lí và được các nhà vật lí học nghiên cứu. Thật hơi nghịch lí khi cuối cùng sự tham dự thần bí của Giai đoạn một, tức tâm lí nguyên thủy, lại không khác với thực tế! Tâm thần, theo định nghĩa của Jung là bất kì những nội dung hay nhận thức nào, mà về nguyên tắc có thể trở nên ý thức được và bị ảnh hưởng bởi ý chí, bao gồm bản ngã ý thức, các phức cảm, những hình ảnh cổ mẫu và những biểu hiện của bản năng. Nhưng bản thân cổ mẫu và bản năng lại không mang tính tâm thần. Chúng nằm trong một trường với thế giới vật lí, mà tại những chiều sâu của nó (như đã được khảo sát bởi vật lí học hiện đại), mang tính thần bí và “tinh thần” như tâm thần. Nhưng cả hai đều phân hủy thành năng lượng thuần túy. Điểm này là quan trọng bởi vì nó cho thấy mộtcon đường để nhận biết được việc tâm thần liên hệ với thể xác và thế giới vật lí như thế nào. Hai lĩnh vực này, tâm thần và thế giới vật chất, có thể gắn bó được qua những phương trình toán học và “những giả định bắt nguồn từ thực nghiệm - các cổ mẫu”212. Không phải cơ thể vật chất hay tâm thần cần phải bắt nguồn lẫn nhau. Chúng là hai thực tế bình đẳng, hay đúng hơn, được liên hệ và hòa hợp qua nguyên lí đồng thời tương ứng.
Tinh thần và vật chất
Mối liên hệ giữa vật chất và tinh thần đeo đẳng Jung không ngừng. Chẳng hạn, ông tò mò muốn biết, trên cơ sở suy nghĩ toán học thuần túy, một chiếc cầu có thể được xây dựng để chống lại sự khắc nghiệt của tự nhiên và phục vụ cho việc đi lại. Toán học là kết quả thuần túy của tinh thần và không thể hiện ở thế giới tự nhiên bên ngoài, nhưng con người có thể qua các nghiên cứu và tạo ra các phương trình để có thể dự đoán và nắm bắt chính xác các đối tượng và sự kiện. Jung có ấn tượng rằng một kết quả thuần túy tâm thần (một công thức toán học) có thể có một mối liên hệ thực sự đáng kể với thế giới vật lí. Mặt khác, Jung giả định rằng các cổ mẫu cũng hoạt động để tạo một sự liên kết trực tiếp giữa tâm thần và thế giới vật lí: “Chỉ khi phải giải thích các hiện tượng tâm thần với mức độ rõ ràng rất nhỏ thì chúng ta mới buộc phải cho rằng các cổ mẫu phải có một mặt phi tâm thần. Những cơ sở cho một kết luận như vậy được củng cố bởi hiện tượng nguyên lí đồng thời tương ứng vốn gắn liền với hoạt động của các nhân tố vô thức, và do vậy được coi hoặc bị tranh luận là “thần giao cách cảm”...”213. Nhìn chung, Jung thận trọng trong việc gán nguyên nhân cho cổ mẫu khi đề cập đến hiện tượng đồng thời tương ứng (nếu không ông sẽ rơi vào mô hình nhân quả, trong đó các cổ mẫu là nguyên nhân của những sự kiện theo nguyên lí đồng thời tương ứng) nhưng trong đoạn này thì dường như ông gắn chúng với “các nhân tố” tạo nên sự đồng thời tương ứng.
Nguyên lí đồng thời tương ứng được định nghĩa là sự trùng hợp về ý nghĩa giữa những sự kiện tâm thần và vật lí. Giấc mơ về một chiếc máy bay rơi trên bầu trời buổi sáng hôm sau được đưa tin trên đài phát thanh. Không có liên hệ nhân quả nào giữa giấc mơ và vụ tai nạn máy bay. Jung chỉ ra rằng những sự trùng hợp như vậy dựa trên những yếu tố tạo ra những hình ảnh tâm thần về một phía và những sự kiện vật lí về mặt khác. Cả hai xảy ra gần như đồng thời và sự liên kết giữa chúng không mang tính nguyên nhân. Dự đoán trước về những người phê bình mình, Jung viết “Chủ nghĩa hoài nghi chỉ nên bị chỉ trích vì những lí thuyết không chính xác chứ không phải vì những sự kiện tự thân tồn tại. Không có người quan sát khách quan nào có thể phủ nhận chúng. Việc chống lại sự nhận thức những sự kiện như vậy chủ yếu dựa trên sự ác cảm của con người trước tính siêu nhiên tác động lên tâm thần của chúng, giống như “sự thấu cảm”. Những mặt khó hiểu và đa dạng của hiện tượng này, mà tôi có thể nhận thấy hiện nay, hoàn toàn có thể giải thích trên giả định về một liên thể không gian - thời gian tương đối về tâm thần. Ngay khi nội dung tâm thần vượt qua ngưỡng ý thức, hiện tượng giáp ranh hiện tượng đồng thời tương ứng sẽ biến mất, thời gian và không gian tiếp tục sự chi phối quen thuộc của chúng, và một lần nữa ý thức bị cô lập hơn nữa với tính chủ quan của mình”214.
Hiện tượng đồng thời tương ứng dường như xảy ra thường xuyên hơn khi tâm thần hoạt động ở cấp độ ít ý thức như trong giấc mơ hay lúc mơ màng. Trạng thái mơ màng là lí tưởng nhất. Khi một người bắt đầu nhận thức và tập trung vào hiện tượng đồng thời tương ứng, thời gian và không gian vẫn còn có ảnh hưởng. Jung kết luận rằng những người tham gia vào những thí nghiệm của Rhine chắc đã tự làm yếu ý thức của mình khi bị quan tâm và kích thích bởi thí nghiệm này. Nếu như họ cố gắng sử dụng bản ngã lí trí của mình để tìm kiếm các khả năng, những kết quả của ngoại cảm sẽ bị thất bại vì ngay khi hoạt động nhận thức diễn ra, hiện tượng đồng thời tương ứng sẽ kết thúc. Jung cũng chỉ ra là tính đồng thời tương ứng dường như phụ thuộc phần lớn vào sự hiện diện của tính cảm xúc, tức là sự nhạy cảm trước các kích thích tình cảm.
Trong các tác phẩm của mình, Jung đưa ra cả định nghĩa rộng và hẹp về nguyên lí đồng thời tương ứng. Định nghĩa hẹp là “sự xảy ra đồng thời của một trạng thái tâm thần nhất định với một hay nhiều sự kiện bên ngoài mà dường như song song về mặt ý nghĩa với trạng thái chủ quan của một thời điểm”215. Bằng từ “đông thời” ông muốn nói đến một sự xuất hiện trong cùng một khoảng thời gian, đó là giờ hay ngày, chứ không phải chính xác là tới từng khoảnh khắc. Đơn giản đây chỉ là sự “kết hợp đúng lúc” của hai sự kiện, một tâm thần, và một vật lí. Về mặt tâm thần, nó có thể là một hình ảnh trong giấc mơ hay một suy nghĩ hay một trực giác. (Sự tương quan thần bí này giữa tâm thần và thế giới khách quan là định nghĩa hẹp hơn về nguyên lí đồng thời tương ứng. Sẽ có một định nghĩa chung hơn ở phần sau của tiểu luận này).
Thường thì sự đồng thời tương ứng diễn ra như đã nêu trên khi mà về tâm thần một người trong trạng thái abaissement du niveau mental (mức độ ý thức thấp hơn, hay một hình thức tự làm yếu ý thức) và mức độ ý thức rơi vào trạng thái mà ngày nay gọi là trạng thái alpha. Điều này cũng có nghĩa là vô thức nhiều năng lượng hơn ý thức, và các phức cảm và cổ mẫu bắt đầu xuất hiện trong một trạng thái năng động hơn và có thể vượt qua ranh giới để xâm nhập vào ý thức. Có thể là nội dung tâm thần này tương ứng với những dữ liệu khách quan ngoài tâm thần.
Tri thức tuyệt đối
Một bước nhảy trong nhận thức trực giác mà Jung thực hiện được, dù không dựa trên nhiều bằng chứng xác thực trong kinh nghiệm của ông, là ở chỗ ông nhận thấy rằng, vô thức điều khiển cái mà ông gọi là kiến thức tiên nghiệm: “Làm sao một sự kiện xa xôi trong không gian và thời gian có thể tạo ra một hình ảnh tâm thần tương ứng khi mà sự truyền dẫn năng lượng cần thiết cho việc này thậm chí là không thể nghĩ đến? Dù điều này có vẻ khó hiểu, cuối cùng chúng ta cũng buộc phải cho rằng trong vô thức có những gì giống như kiến thức tiên nghiệm hay “trực tiếp” về những sự kiện không có một cơ sở nguyên nhân nào”216. Điều này cho phép khả năng của chúng ta biết được một cách trực giác những gì mà chúng ta không thể biết bằng lí trí. Trực giác sâu có thể cung cấp một hiểu biết thực sự chân thực và không chỉ là suy đoán, phỏng đoán hay huyễn tưởng. Với Jung, vô thức thách thức những phạm trù của Kant về kiến thức và vượt qua ý thức về khả năng hiểu biết. Nói theo cách khác, trong vô thức, chúng ta biết nhiều thứ mà chúng ta thực sự không biết là mình biết. Có thể gọi đây như là những tư tưởng không suy nghĩ, hoặc vô thức ở đây là một tri thức tiên nghiệm. Chính khái niệm này đã đưa Jung tới những dự đoán xa nhất về sự thống nhất của tâm thần và thế giới. Nếu chúng ta biết là có những gì nằm ngoài khả năng nhận thức của mình thì cũng phải có một nhân tố hiểu biết vô hình tồn tại trong chúng ta, một mặt của tâm thần vượt quá những phạm trù không gian và thời gian và hiện diện đồng thời cả ở đây và nơi khác, bây giờ và lúc đó. Nó chắc hẳn là tự ngã.
Những người theo thuyết Jung thỉnh thoảng nhận định rằng trong vô thức không có gì là bí mật: mọi người đều biết mọi thứ. Đây là cách nói về cấp độ hiện thực tâm thần này. Không tính tới trường hợp mà thỉnh thoảng con người lại đột ngột có một trực giác siêu phàm - giống như một số người có trực giác y học cho thấy một tỉ lệ chính xác đáng ngạc nhiên khi chẩn đoán những người mà họ không hề biết hay thấy trước đó - nhiều người có những giấc mơ về những người khác và nhận được những thông tin mà họ không biết trước đó. Dĩ nhiên họ có thể không biết một giấc mơ cụ thể là chính xác. Thỉnh thoảng, chúng ta mơ về những giấc mơ của người khác. Thỉnh thoảng người khác mơ về những điều xảy ra trong thực tế của chúng ta. Là một nhà phân tích nghe nhiều về những giấc mơ chuyển dịch, tôi có thể xác nhận rằng một số giấc mơ (không phải tất cả) mang tính chính xác rất lớn vượt ngoài kiến thức mà những bệnh nhân của tôi biết về tôi. Đã có lần giấc mơ của một bệnh nhân còn cho tôi biết về mình những gì mà tôi không biết lúc đó. Cô ta mơ thấy tôi kiệt sức và cần được nghỉ ngơi. Tôi không nhận thức được điều này cho tới khi tôi cần suy nghĩ và trở nên mệt mỏi với căn bệnh cúm ngay sau đó. Tôi nhận ra rằng vô thức của cô ta đã biết được tình trạng sức khỏe của tôi chính xác hơn là ý thức của tôi. Chúng ta có thể so sánh yếu tố hiểu biết vô thức này với “con mắt của chúa”, một từ mà các bà xơ thường sử dụng để dọa các học sinh nhằm áp đặt sự tuân thủ nghiêm khắc giáo lí nhà thờ. Nó không chỉ là những gì chúng ta muốn làm mà thực sự là những gì chúng ta nghĩ - trên thực tế, chính là chúng ta là gì - rằng Chúa quan sát và luôn để ý đến chúng ta. Đây là một hình thức phóng chiếu những ý tưởng tương tự của tri thức tuyệt đối tồn tại trong vô thức.
Suy nghĩ xa hơn về vấn đề tri thức tiên nghiệm, Jung xem xét ý nghĩa tâm lí của các con số. Chúng là gì? Giả sử rằng chúng ta “định nghĩa con số về mặt tâm lí là một cổ mẫu về trật tự được ý thức”217. Dĩ nhiên có những quan điểm cổ xưa cho rằng những cấu trúc tồn tại về vũ trụ được dựa trên các con số và những liên hệ giữa các con số với nhau. Chẳng hạn, lí thuyết Pythagore đã đưa ra những quan điểm như vậy. Jung cũng tiếp cận tương tự, chỉ có điều với những khái niệm toán học hiện đại hơn được coi như là những cấu trúc căn bản của tâm thần và thế giới. Khi những cấu trúc tồn tại cơ bản được hình dung trong tâm thần, chúng thường xuất hiện như là những vòng tròn (sơ đồ vũ trụ) hay hình vuông (cấu trúc bốn phần), trong đó con số một và bốn có liên quan với nhau. Sự biến đổi từ số 1 (bắt đầu) qua các con số trung gian 2 và 3, tới số 4 (đầy đủ, tổng thể) tượng trưng một bước chuyển từ sự thống nhất nguyên thủy (nhưng vẫn ở dạng tiềm năng) sang trạng thái tổng thể thực sự. Những cọn số tượng trưng cho cấu trúc của cá nhân hóa trong tâm thần, và chúng cũng tượng trưng cho sự tạo dựng trật tự trong thế giới phi tâm thần. Do vậy, kiến thức của con người về các con số trở thành kiến thức về cấu trúc vũ trụ. Chừng nào con người có một kiến thức tiên nghiệm về các con số, qua khả năng nhận thức và trí tuệ của mình, họ cũng có một kiến thức tiên nghiệm về vũ trụ (thật thú vị là những người Hi Lạp cổ như Empedocles tin là các vị thần nghĩ bằng những thuật ngữ toán học và ai là những thiên tài toán học sẽ là những người giống như Chúa, và thực sự cũng được xem như bản thân các vị Chúa. Với niềm tin này, Empedocles tự leo lên đỉnh núi Etna và nhảy vào ngọn núi lửa đang sùng sục phía dưới.)
Nếu con số phản ánh cổ mẫu về trật tự trở nên ý thức, nó không trả lời cho câu hỏi cái gì là yếu tố quyết định cho trật tự này. Cái gì nằm dưới những con số và những hình ảnh về trật tự? Có mẫu về trật tự bản chất là gì? Phải có một động lực đang hoạt động đằng sau để tạo ra trật tự trong hiện tượng đồng thời tương ứng và tự bộc lộ thành các con số và hình ảnh. Jung đang trên con đường hướng tới một vũ trụ học mới, một tuyên bố về nguyên tắc trật tự không chỉ cho tâm thần mà còn cho cả thế giới. Nó chắc chắn không phải là một quan điểm mang tính thần thoại theo nghĩa tôn giáo hay tưởng tượng mà được dựa trên thế giới quan khoa học của thời hiện đại. Điều này dẫn ông tới một định nghĩa rộng hơn về nguyên lí đồng thời tương ứng.
Mô hình mới
Cuối của bài viết, Jung đưa ra một ý tưởng sâu sắc hơn bao gồm cả việc đưa nguyên lí đồng thời tương ứng - cùng với không gian, thời gian, và quan hệ nhân quả - vào một mô hình mới có thể đưa ra một giải thích đầy đủ về thực tế được trải nghiệm bởi con người và tính toán bởi khoa học. Theo một nghĩa nào đó chỉ những gì Jung đang làm ở đây là đưa tâm thần vào việc giải thích đầy đủ thực tế khi cho rằng “sự trùng hợp về ý nghĩa giữa một sự kiện tâm thần và một sự kiện khách quan”218 phải được xem xét. Điều này thêm yếu tố ý nghĩa cho mô hình khoa học, vốn thường phát triển mà không đề cập đến ý thức con người hay giá trị của ý nghĩa. Jung đang nêu ra rằng một giải thích đầy đủ về thực tế phải bao gồm cả sự hiện diện của tâm thần con người - người quan sát - và yếu tố ý nghĩa.
Trong nhiều chương trước, chúng ta đã chứng kiến tầm quan trọng to lớn mà Jung gán cho ý thức con người. Trên thực tế, ông nhận ra ý nghĩa của cuộc sống con người trên hành tinh này được gắn với khả năng nhận thức, thêm vào thế giới một nhận thức phản ánh về vạn vật và ý nghĩa mà qua vô vàn thời đại vấn không ngừng diễn ra mà không được nhận thấy, suy nghĩ, hay nhận biết. Với Jung, sự xuất hiện trong ý thức những mô hình và những hình ảnh từ những chiều sâu của vô thức giống tâm thần tạo ra cho con người những mục đích của nó trong vũ trụ vì chỉ có chúng ta (trong phạm vi chúng ta biết được) là có thể nhận biết những hình thức này và biểu lộ những gì mà chúng ta biết. Nói theo cách khác, Chúa cần chúng ta để được nhận biết. Con người ở vào vị trí nhận thức được rằng vũ trụ có một nguyên lí lập trật tự. Chúng ta có thể chú ý và ghi nhớ ý nghĩa những gì ở đó. Nhưng Jung cũng hết sức muốn nhấn mạnh rằng không phải ông đang cố gắng đưa ra một thứ triết học suy đoán ở đây. Điều này là truyền thống, nó có từ lâu và thuộc về giai đoạn ý thức trước hiện đại. Còn ông đang cố gắng hướng tới Giai đoạn thứ năm và thậm chí Giai đoạn thứ sáu của ý thức (xem Chương 8) và do vậy đang nghiên cứu một cách thực nghiệm và khoa học. Jung muốn cho rằng nguyên lí đồng thời tương ứng về cơ bản không phải là một quan điểm triết học, mà là một khái niệm dựa trên khái niệm và quan sát thực nghiệm. Nó có thể được kiểm chứng trong các phòng thí nghiệm219. Chỉ có một vũ trụ học như thế này mới có thể được chấp nhận trong thế giới đương đại. Nỗi luyến tiếc những hệ thống niềm tin truyền thống sẽ hiện diện ở nhiều nơi trên thế giới ngày nay, nhưng vì hiện tại và tương lai, và vì những mức độ ý thức cao nhất, mô hình mới không thể mang tính huyền thoại. Nó phải là khoa học.
Là cơ sở cho một thế giới quan mới, khái niệm nguyên lí đồng thời tương ứng và những ý nghĩa của nó rất có ý nghĩa, vì chúng dễ hiểu về mặt trực giác và chúng đã tồn tại từ lâu trong đời sống hằng ngày của mọi người. Ai cũng nhận thức được những điều may mắn xảy ra và những ngày không may khi những trục trặc diễn ra. Tập hợp những sự kiện có liên hệ với nhau về ý nghĩa và hình ảnh nhưng không gắn bó với nhau về mặt nhân quả có thể được trải nghiệm rõ ràng và xác thực bởi một người hay tất cả. Nhưng để xem xét khái niệm này nghiêm túc như một nguyên lí khoa học thì hoàn toàn không dễ. Nó là một cuộc cách mạng bởi vì nó đòi hỏi một cách suy nghĩ hoàn toàn mới về tự nhiên và lịch sử. Chẳng hạn, nếu ai muốn phát hiện ý nghĩa trong các sự kiện lịch sử thì ẩn ý ở đây chính là cổ mẫu về trật tự bên dưới đang tạo dựng lịch sử như vậy để tạo ra bước phát triển xa hơn về ý thức. Điều này không có nghĩa là sự tiến bộ mà con người thích nghĩ đến mà đúng ra là bước tiến trong việc hiểu biết thực tế. Sự hiểu biết này có thể đưa tới sự nhận biết khía cạnh kinh khủng của thực tế cũng như vẻ đẹp và sự vinh quang của nó.
Đây là khái niệm đã thúc đẩy Jung viết Aion. Lịch sử văn hóa và tôn giáo phương Tây trong hai nghìn năm qua có thể được xem như một hình thức bộc lộ ý thức về cấu trúc cổ mẫu bên dưới. Không có sự tình cờ trong sự ngoằn ngoèo và thăng trầm của quá trình lịch sử. Điều này đang diễn ra, tạo ra một hình ảnh đặc thù cần được phản ánh và suy ngẫm trong ý thức con người. Có cả mặt sáng và mặt tối trong hình ảnh này. Cách suy ngẫm tương tự cũng có thể áp dụng cho đời sống cá nhân hay lịch sử tập thể và thật sự là cả hai có thể (và nên) được nhìn nhận trong mối liên hệ lẫn nhau và gắn kết theo một cách có ý nghĩa. Mỗi chúng ta là một người truyền tải một phần nhỏ ý thức mà các thời đại cần đến nhằm thúc đẩy sự nhận biết về những điều còn ẩn tàng đang phát lộ theo thời gian. Chẳng hạn, những giấc mơ cá nhân mang bản chất cổ mẫu, có thể vì mục tiêu của thời đại, bù trừ cho tính một mặt của văn hóa, và không chỉ là ý thức của cá nhân. Theo nghĩa này, cá nhân là người đồng sáng tạo sự phản ánh thực tế mà lịch sử nói chung đã bộc lộ.
Bước tiến trong nhận thức đòi hỏi việc tư duy về văn hóa và lịch sử theo cả hình thức nguyên lí đồng thời tương ứng là một điều đáng kể, đặc biệt với người phương Tây - những người hết sức duy lí với việc luôn suy nghĩ về mọi thứ theo nguyên lí nhân quả. Thời đại Ánh sáng để lại một di sản những “sự kiện đúng đắn chân thật” (facticity) không bao hàm trong nó ý nghĩa. Vũ trụ và lịch sử, giả định là vậy, được tạo dựng tình cờ và bằng các quy luật nhân quả - quy luật chi phối mọi vật chất. Jung nhận biết được thách thức này. Trên hết, chính ông là người đứng trong thế giới quan khoa học phương Tây. “Ý tưởng về nguyên lí đồng thời tương ứng, trong đó ‘tính có ý nghĩa’ (meaning) là đặc trưng cố hữu của bức tranh về thế giới, là một ý tưởng không thể hình dung nổi do đã bị làm hỏng hoàn toàn. Tuy nhiên, thuận lợi của việc đưa ra khái niệm này vào là nó cho phép một cách nhìn mới, trong đó sự mô tả và kiến thức của chúng ta về tự nhiên bao gồm cả yếu tố giống tâm thần - tức là một ý nghĩa tiên nghiệm hay sự tương đương”’220. Jung trình bày một biểu đồ mà ông và nhà vật lí học Wolfgang Pauli đã thực hiện.
Trong trục tung là liên thể không gian - thời gian, và trên trục hoành có liên thể giữa quan hệ nhân quả và quan hệ đồng thời tương ứng. Mô hình này khẳng định là giải thích đẩy đủ nhất phải bao gồm cả sự hiểu biết một hiện tượng bằng cách xem xét cả bốn yếu tố: ở đâu và khi nào sự kiện xảy ra (liên thể không gian - thời gian), và những gì dẫn tới nó và nó có ý nghĩa gì (trường quan hệ nhân quả và quan hệ đồng thời tương ứng). Nếu những câu hỏi này có thể được trả lời, sự kiện sẽ được hiểu đầy đủ. Có lẽ sẽ có sự tranh luận về một hay tất cả những điểm này và chắc chắn là vấn đề ý nghĩa của một sự kiện sẽ là đối tượng cho những quan điểm khác biệt nhau và sự tranh luận. Những cách diễn giải là vô tận, đặc biệt là với những sự kiện quan trọng như thử quả bom nguyên tử đầu tiên, chứ chưa nói đến những sự kiện cá nhân hơn như là cuộc sống và cái chết của một người trong gia đình. Đây là chỗ cho những ý kiến rất khác biệt nhau. Dĩ nhiên là cũng có nhiều ý kiến về nguyên lí nhân quả. Quan điểm của Jung là câu trả lời cho vấn đề ý nghĩa đòi hỏi không chỉ giải thích chuỗi sự kiện về mặt nhân quả sẽ đưa tới việc sự kiện bị nghi ngờ. Ông cho rằng tính đồng thời tương ứng phải được xem xét nếu muốn đạt được một câu trả lời cho câu hỏi về việc có tồn tại ý nghĩa trong thế giới hay không. Từ góc nhìn tâm lí học và giống tâm thần, chúng ta phải khảo sát những hình thức cổ mẫu biểu hiện trong trạng thái hội tụ vì chúng sẽ đưa ra những thông số cần thiết cho việc xem xét vấn đề nguyên lí đồng thời tương ứng, và vấn đề ý nghĩa cấu trúc sâu hơn. Chẳng hạn, xem xét sự xuất hiện của bom nguyên tử trong lịch sử thế giới thì việc khảo sát ý nghĩa phải bao gồm nhân tố tạo dựng nên thế giới là Thế chiến Thứ hai và sự phân cực các mặt đối lập mà cuộc chiến tranh này tạo ra mạnh mẽ. Chúng ta cũng phải đưa cả giấc mơ của con người hiện đại về bom nguyên tử vào trong phân tích. Bom nguyên tử đã bổ sung những gì cho ý thức một mặt của con người về cấu trúc của Tồn tại?

Nhằm đưa lí thuyết cổ mẫu vào mối liên hệ với những sự kiện trong đó nguyên lí đồng thời tương ứng vượt qua những ranh giới của thế giới tâm thần, Jung buộc phải mở rộng khái niệm của mình về bản chất phi tâm thần của cổ mẫu. Về một mặt, nó là tâm thần và tâm lí bởi vì nó được trải nghiệm trong tâm thần dưới hình thức các hình ảnh và ý tưởng. Về mặt khác, tự thân nó không biểu hiện và bản chất của nó nằm ngoài tâm thần. Trong tiểu luận này về nguyên lí đồng thời tương ứng, Jung đưa ra Ý tưởng về đặc tính vượt quá của cổ mẫu: “mặc dù có liên hệ với những nguyên nhân hay do chúng gây ra, chúng [các cổ mẫu] tiếp tục vượt ra ngoài khuôn khổ tham chiếu của chúng, một sự xâm phạm mà tôi gọi là “sự vượt quá”, bởi vì cổ mẫu không chỉ hoàn toàn được phát hiện thấy trong lĩnh vực tâm thần mà còn có thể xảy ra trong những điều kiện phi tâm thần (sự tương ứng của một quá trình vật lí bên ngoài với một quá trình tâm thần)”221. Cổ mẫu vượt qua cả những giới hạn của tâm thần và quan hệ nhân quả, dù chính nó được chứa đựng trong cả hai. Jung dùng sự vượt quá này để nói tới việc những hình thức diễn ra trong tâm thần có liên hệ với những hình thức và sự kiện nằm ngoài tâm thần. Đặc điểm chung cho cả hai là cổ mẫu. Trong trường hợp của bom nguyên tử, cổ mẫu tự ngã được bộc lộ trong lịch sử cả trong và ngoài tâm thần bởi việc thử nghiệm nó trong bối cảnh lịch sử thế giới mà nó xuất hiện và qua hàng triệu các giấc mơ về quả bom (đây là ước đoán của tôi, dù rằng chỉ có một số nghiên cứu về điều này).
Ý tưởng về tính vượt quá của cổ mẫu có thể xem xét theo hai hướng. Trước tiên, như tôi đã đề cập, nó khẳng định rằng có một ý nghĩa khách quan bên dưới nằm ở những sự trùng hợp diễn ra trong tâm thần và trong thế giới và đến với chúng ta qua một ý nghĩa trực giác. Về mặt khác nó cho thấy một khả năng là có một ý nghĩa mà chúng ta không nhận thấy về mặt trực giác, chẳng hạn khi những tai nạn diễn ra được chúng ta biết đến hoàn toàn chỉ do tình cờ. Trong cả hai trường hợp, hình thức ý nghĩa này vượt ra ngoài (vượt quá) chuỗi quan hệ nhân quả tuyến tính. Liệu chúng ta ra đời trong một gia đình cụ thể chỉ là do tình cờ và nhân quả, hay là cũng có một ý nghĩa ở đây? Hay có thể giả định rằng tâm thần được tổ chức và cấu trúc không chỉ về mặt nhân quả, như thường được nghĩ tới trong tâm lí học phát triển, mà cũng còn về mặt nguyên lí đồng thời tương ứng. Điều này có nghĩa là sự phát triển nhân cách diễn ra bởi những khoảnh khắc của sự trùng hợp về ý nghĩa (theo nguyên lí đồng thời tương ứng) cũng như bởi một chuỗi biểu sinh định sẵn của các giai đoạn. Nó cũng ngụ ý là những nhóm bản năng và cổ mẫu trở nên kết hợp và hoạt động cả về mặt nhân quả và tính đồng thời tương ứng (ý nghĩa). Chẳng hạn, một bản năng như tình dục hoạt động không chỉ bởi một chuỗi nhân quả những sự kiện liên tiếp nhau (những yếu tố di truyền, những sự cố định tâm lí, hay những kinh nghiệm thời ấu thơ) mà cũng bởi vì trường cổ mẫu hoạt động vào thời điểm đó và sự gặp gỡ ngẫu nhiên với một người trở thành một quan hệ cả đời. Vào thời điểm đó, những gì thuộc thế giới giống tâm thần được nhận thấy và ý thức (syzygy, cặp bạn “tâm hồn”). Hình ảnh hội tụ của cổ mẫu không tạo ra sự kiện, mà sự phù hợp giữa sự chuẩn bị tâm lí nội tâm (có thể hoàn toàn vô thức vào thời điểm đó) và biểu hiện bên ngoài của một người, không thể giải thích và cũng không thể dự đoán được, mang tính đồng thời tương ứng. Tại sao những sự liên kết như vậy diễn ra thì là một điều kì lạ nếu chúng ta chỉ suy nghĩ theo nguyên lí nhân quả, nhưng nếu chúng ta đưa yếu tố nguyên lí đồng thời tương ứng và khía cạnh ý nghĩa vào thì chúng ta tiến gần hơn tới một câu trả lởi thỏa mãn và đầy đủ hơn. Trong một vũ trụ ngẫu nhiên, sự kết hợp giữa nhu cầu và cơ hội, hay giữa ham muốn và thỏa mãn, sẽ là không thể, hoặc ít nhất là không chắc về thống kê. Những sự thần bí không thể bị lãng quên này biểu hiện trong những sự kiện đồng thời tương ứng đã biến đổi con người. Các cuộc sống đi theo những hướng mới, và việc suy ngẫm về những gì nằm đằng sau những sự kiện nhân quả sẽ dẫn ý thức tới những cấp độ hiện thực sâu sắc và thậm chí tuyệt đối. Khi một trường có mẫu hoạt động và hình thức xuất hiện một cách đồng thời tương ứng trong tâm thần và thế giới phi tâm thần khách quan, chúng ta có kinh nghiệm về tồn tại trong Đạo (Tao). Và những gì xuất hiện trước ý thức qua những kinh nghiệm như vậy là cơ sở, một cái nhìn mang tính hiện thực tuyệt đối giống như việc con người có khả năng nhận biết. Tồn tại trong thế giới cổ mẫu của các hiện tượng đồng thời tương ứng cảm giác như sống trong ý chí của Chúa.
Vũ trụ học
Tiểu luận về nguyên lí đồng thời tương ứng bắt đầu và thực sự tập trung vào cái mà Jung gọi là “định nghĩa hẹp” về nguyên lí đồng thời tương ứng, tức là sự trùng hợp về ý nghĩa giữa một sự kiện tâm thần như giấc mơ hay suy nghĩ và một sự kiện trong thế giới phi tâm thần. Nhưng Jung cũng xem xét một định nghĩa rộng hơn. Điều này chắc chắn có liên quan với trật tự phi nhân quả trong thế giới mà không có liên hệ đặc biệt nào đến tâm thần con người. Đây là một “khái niệm rộng hơn về nguyên lí đồng thời tương ứng như một ‘trật tự phi nhân quả’”222 trong thế giới. Đây chính là quan điểm về vũ trụ của Jung. Đồng thời tương ứng, hay “trật tự phi nhân quả” là nguyên lí làm cơ sở cho quy luật của vũ trụ. “Tất cả ‘những hành động sáng tạo’ đều nằm ở trong phạm trù này, những yếu tố tiên nghiệm chẳng hạn như những thuộc tính của những con số tự nhiên, tính đứt đoạn của vật lí hiện đại v.v.. Kết quả là chúng ta phải đưa một hiện tượng liên tục và có thể tái hiện được về mặt thực nghiệm vào phạm vi của khái niệm mở rộng này của chúng ta, dù điều này dường như không phù hợp với bản chất của hiện tượng thể hiện trong cách hiểu về nguyên lí đồng thời tương ứng theo nghĩa hẹp”223. Từ quan điểm về nguyên lí chung này của tính đồng thời tương ứng, kinh nghiệm của con người về trật tự phi nhân quả, qua yếu tố giống tâm thần và tính vượt quá của cổ mẫu, là một trường hợp đặc biệt của trật tự rộng hơn nhiều trong vũ trụ.
Với bức tranh vũ trụ này, tôi đã đi đến cuối của tấm bản đồ tâm hồn của Jung. Những khảo sát của ông về tâm thần và những ranh giới của nó đã dẫn ông vào một lĩnh vực của các nhà vũ trụ học, triết học và thần học. Tuy nhiên, bản đồ tâm hồn của ông phải được đặt trong bối cảnh của quan điểm rộng hơn này, vì nó đưa ra độ rộng nhất của cái nhìn thống nhất của ông. Ông cho rằng, chúng ta - những con người - có một vai trò đặc biệt trong vũ trụ. Ý thức của chúng ta có thể phản ánh vũ trụ và thể hiện nó trong tấm gương ý thức. Chúng ta có thể nhận ra rằng chúng ta sống trong một thế giới mà có thể mô tả tốt nhất bằng việc sử dụng bốn nguyên tắc, năng lượng không mất đi, liên thể không gian - thời gian, quan hệ nhân quả, và nguyên lí đồng thời tương ứng. Jung về sơ đồ của mối liên hệ giữa chúng như dưới đây.

Tâm thần con người và tâm lí cá nhân của chúng ta tham gia vào trật tự của vũ trụ này sâu sắc nhất thông qua cấp giống tâm thần psychoid của vô thức. Thông qua quá trình tâm thần hóa, những hình thức trật tự trong vũ trụ xuất hiện trước ý thức và cuối cùng được hiểu và hòa nhập. Mỗi người có thể chứng kiến tạo hóa và những hoạt động sáng tạo từ bên trong, tức là bằng việc chú ý tới hình ảnh và tính đồng thời tương ứng. Vì cổ mẫu không chỉ là hình thức của tâm thần mà nó còn phản ánh cấu trúc cơ bản thực sự của vũ trụ. “Trên sao, dưới vậy”, các nhà hiển triết cổ đã nói như vậy. “Trong sao, ngoài vậy” đó là lời đáp của người thám hiểm tâm hồn hiện đại, Carl Gustav Jung.