Bản Đồ Tâm Hồn Con Người Của Jung

Lượt đọc: 40 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 8
Sự xuất hiện của tự ngã

❊ ❊ ❊

(Cá nhân hóa)

Những đặc điểm của tấm bản đồ tâm hồn của Jung đã được định vị, và với sự rõ ràng của nó, chúng ta đã sẵn sàng xem xét cuộc hành trình tâm lí diễn ra trong lĩnh vực này suốt đời một con người. Tôi đã đề cập tới chủ đề sự phát triển tâm lí này nhiều lần rồi, nhưng bây giờ với toàn bộ lí thuyết đã có mới có thể truyền tải được đầy đủ phạm vi những gì Jung gọi là quá trình cá nhânhóa. Con người phát triển theo nhiều cách trong cuộc đời mình và họ trải qua nhiều biến đổi ở nhiều cấp độ. Tất cả kinh nghiệm về sự tổng thể trong toàn bộ một đời người - sự xuất hiện của tự ngã trong cấu trúc tâm lí và trong ý thức - được khái niệm hóa bởi Jung và được gọi là cá nhân hóa.

Khái niệm cá nhân hóa của Jung một phần dựa trên quan sát thông thường rằng, mọi người lớn lên và phát triển trong quá trình bảy mươi hay tám mươi năm của một đời người bình thường ở các xã hội phương Tây. Về mặt thể chất, con người sinh ra đầu tiên là những đứa bé, sau nhiều năm chuyển sang thời niên thiếu, sau đó bước vào thời thanh niên và chớm vào tuổi lớn. Đỉnh điểm của sự phát triển thể chất nhìn chung thường diễn ra ở giai đoạn cuối tuổi thanh thiếu niên và lúc chớm lớn, và sự phát triển thể chất cơ bản được hoàn tất vào tuổi hai mươi. Một cơ thể khỏe mạnh giờ đây đã có thể sung mãn và hoàn toàn có khả năng sinh sản và những kì tích anh hùng về nỗ lực và sự chịu đựng là một đòi hỏi để đương đầu với thế giới tự nhiên. Về mặt thể chất, quá trình phát triển con người đã kết thúc ở đây dù rằng các cơ vẫn có thể tiếp tục phát triển và các kĩ xảo điển kinh được mài dũa. Sau những năm giữa tuổi 30, sự suy yếu và suy giảm của chức năng sinh học trở thành một nhân tố ngày càng quan trọng. Con người buộc phải bảo tồn và bảo vệ cơ thể mình và trở nên thận trọng hơn, không tạo ra các áp lực thái quá có thể khiến cơ thể bị suy sụp hoàn toàn. Vào lúc giữa cuộc đời và thời trung niên bắt đầu, những biến đổi và phát triển của cơ thể xảy đến thường là không chờ đợi và có thể gây ra sự lo âu đáng kể. Những vết nhăn, sự xệ xuống của vú và dạ dày, sự đau đớn ở các khớp - tất cả chúng là những báo hiệu hằng ngày về cái chết. Sau giai đoạn người lớn và thời trung niên thì điều không tránh khỏi là tuổi già sẽ đến và nó có thể kéo dài một thời gian lâu hoặc chỉ trong một giai đoạn ngắn. Nó lại bắt đầu được để ý khi bước vào những năm bảy mươi tuổi. Trong thế kỉ tới thì chắc chắn việc con người sống đến một trăm hay thậm chí một trăm hai mươi tuổi là điều bình thường. Sự suy giảm thể chất ngày càng tăng lên trong thời kì cuối này. Cơ thể con người lớn lên, trưởng thành, già đi và suy thoái trong một vòng đời này. Sự phát triển và suy sụp về sinh học chủ yếu bị chi phối bởi các chương trình gen mà trong lí thuyết của Jung về tâm thần cho rằng nó được tương tác với những mô hình cổ mẫu. Mỗi giai đoạn của cuộc sống được củng cố và hỗ trợ bởi tập hợp những hình ảnh cổ mẫu định hình nên những thái độ, hành vi, và những động cơ tâm lí. Ví dụ, một đứa bé khi bước vào đời đã được chuẩn bị đóng vai trò của mình qua sự tập hợp những thái độ và hành vi chăm sóc phù hợp mang tính mẹ ở người chăm sóc trẻ, thể hiện qua những lời nói thủ thỉ, những nụ cười, việc bú sữa, và nói chung làm cho nó đáng yêu. Đồng thời (nếu mọi thứ diễn ra thuận lợi), người mẹ đã được chuẩn bị để đảm đương vai trò chăm sóc và nuôi nấng đứa trẻ. Cặp mẹ-con mô tả một hình thức cổ mẫu của huyễn tưởng con người và sự tương tác liên nhân cách mang tính nguyên thủy và có giá trị sống còn quan trọng. Với mỗi giai đoạn trong đời sống cổ những sự tập hợp các bản năng và cổ mẫu đưa đến những mô hình hành vi và cảm xúc và tâm trạng.

Vòng đời tâm lí

Jung là người đầu tiên trong số các nhà lí thuyết vòngđời tâm lí. Ngược với những người cho rằng những đặc điểm quan trọng nhất của sự phát triển tâm lí và tính cách xảy ra vào thời ấu thơ và đầu thời niên thiếu và không có sự quan trọng lớn nào diễn ra sau đó, Jung nhận thấy sự phát triển này vẫn đang diễn ra và cơ hội cho sự phát triển tâm lí xa hơn là một lựa chọn cho con người thuộc bất kì tuổi nào, bao gồm tuổi trung niên và tuổi già. Điều đó không có nghĩa là ông coi nhẹ tầm quan trọng của sự phát triển sớm lúc đầu đời, và chắc chắn là ông đã hết sức chú ý đến những đặc điểm và khuynh hướng được di truyền của nhân cách, nhưng sự thể hiện đầy đủ và biểu hiện của nhân cách chỉ diễn ra trong toàn bộ cuộc đời. Tự ngã xuất hiện từng chút một qua nhiều giai đoạn phát triển như Jung và những nhà lí thuyết khác như Erik Erikson mô tả.

Với Jung, sự phát triển tâm lí cũng diễn ra cùng con đường phát triển thể chất tới một thời điểm nhất định. Nó có thể được chia thành nửa đầu và nửa sau của cuộc sống. Trong một bài báo ngắn nhưng có ảnh hưởng mạnh có nhan đề “Những giai đoạn của cuộc sống”, ông mô tả con đường phát triển này bằng cách sử dụng hình ảnh mặt trời xuất hiện vào buổi sáng, đạt đến đỉnh vào buổi trưa, đi xuống vào buổi chiều để cuối cùng lặn vào buổi tối167. Điều này tương ứng ít nhiều với mô hình phát triển của sinh học cơ thể, nhưng Jung bổ sung thêm rằng có những khác biệt quan trọng, chủ yếu là giai đoạn thứ hai của cuộc đời. Khởi đầu, ý thức xuất hiện giống như buổi bình minh khi bản ngã của đứa bé bắt đầu xuất hiện từ vô thức, và sự mở rộng và phát triển của nó cũng như sự phức tạp tăng lên và sức mạnh trùng hợp với sự phát triển và trưởng thành của cơ thể sinh học là nơi gắn nó vào. Khi cơ thể trưởng thành và bộ não thành thục, khả năng học hỏi phát triển và mở rộng, bản ngã cũng phát triển sức mạnh và các khả năng của nó. Bước đầu tiên là phân biệt được cơ thể mình với những vật ở thế giới xung quanh. Điều này diễn ra song song với việc tách khỏi cái khuôn đúc vô thức nội tâm. Thế giới trở nên ngày càng thực và cụ thể hơn, và không chỉ đơn giản là nơi tiếp nhận những phóng chiếu to lớn. Những sự khác biệt bắt đầu được tạo ra và quan sát. Con người bắt đầu hướng mạnh tới khả năng hoạt động như những cá thể độc lập. Họ bắt đầu hành xử như những cá nhân, với khả năng kiểm soát bản thân mình và môi trường xung quanh ở một mức độ hợp lí và có những cảm xúc và luồng suy nghĩ do những chuẩn mực xã hội về hành vi đòi hỏi. Bản ngã học, một cách hoàn toàn tự nhiên và tự phát, cách xoay sở trong môi trường cho phù hợp với sự tồn tại của cá nhân trong nền văn hóa xung quanh và đạt được những lợi ích cá nhân. Nó phát triển một cái mặt nạ. Bản ngã của một đứa bé và một người trẻ tuổi khỏe mạnh luôn luôn học tập để tạo lập một thế giới của bản thân mình bằng cách trở nên tự tin và tự lập trước những điều kiện do hoàn cảnh sống đưa tới. Sự thích nghi, dựa trên những hình ảnh cổ mẫu như nhất thể mẹ - con, và mẫu hình tách và chinh phục của người hùng sau này, diễn ra liên quan với tất cả những gì có thể có của môi trường xung quanh. Cuối cùng, nếu mọi thứ diễn ra suôn sẻ, con người có thể giải phóng mình khỏi sự phụ thuộc vào gia đình gốc; họ có thể sinh sản và nuôi nấng con cái mình trong một môi trường nuôi dưỡng do chính mình tạo ra; và họ có thể đóng một vai trò trong thế giới người lớn của xã hội mà họ sống. Bên trong, họ tạo dựng một cấu trúc bản ngã và một chiếc mặt nạ được dựa trên những tiềm năng cổ mẫu và xu hướng loại hình tâm lí. Đề án phát triển chính yếu trong nửa đầu cuộc đời là bản ngã và sự phát triển cái mặt nạ cho sự tồn tại của cá nhân, sự thích nghi văn hóa và trách nhiệm của người lớn trong việc nuôi dạy con cái.

Điều này đạt được như thế nào và cụ thể như thế nào phụ thuộc ở một chừng mực lớn vào gia đình, tầng lớp xã hội, giai đoạn lịch sử và văn hóa mà một người sinh ra. Những nhân tố này sẽ ảnh hưởng và định hình nhiều chi tiết trong những khác biệt giữa sự phát triển ở nam giới và phụ nữ, người giàu và người nghèo, phương Đông và phương Tây. Những yếu tố tương tự cũng phần nào tác động đến thời điểm nắm giữ vai trò và trách nhiệm. Tuy thế những gì là phổ biến chung, và vì vậy, mang tính cổ mẫu mà mọi nền văn hóa chờ đợi và đòi hỏi ở những người trẻ là việc đạt được sự phát triển bản ngã và sự thích nghi. Ở tất cả các nền văn hoá, hình ảnh nam hay nữ anh hùng được nêu ra như những con người lí tưởng. Nam anh hùng là một hình ảnh lí tưởng về một người đạt được sự phát triển bản ngã mà nam giới có khuynh hướng noi gương bắt chước và ngưỡng mộ; nữ anh hùng là hình ảnh cung cấp một mẫu như thế cho nữ giới. Ở một số xã hội, sự phát triển bản ngã và cái mặt nạ được hoàn tất vì những mục tiêu thực tế vào thời thanh thiếu niên được thực hiện một cách đầy đủ còn ở những xã hội khác (như xã hội hiện đại, với những đòi hỏi giáo dục không ngừng) thì nó có thể không được hoàn tất cho đến khi thời trung niên đến.

Cá nhân hóa

Jung sử dụng thuật ngữ cá nhân hóa để nói về sự phát triển tâm lí, mà ông định nghĩa là việc trở nên một nhân cách thống nhất và duy nhất, một cá nhân, một con người không bị phân chia và thống hợp. Cá nhân hóa là một quá trình rộng lớn hơn cái dự án đã hoàn thành một cách lí tưởng trong nửa đầu cuộc đời, tức là sự phát triển bản ngã và cái mặt nạ. Khi điều này được thực hiện, một nhiệm vụ khác bắt đầu xuất hiện, vì sự phát triển lí tưởng bản ngã và cái mặt nạ để lại phía sau một khối lượng lớn những nội dung tâm lí ở ngoài ý thức. Bóng âm chưa được hòa nhập, anima animus vẫn là vô thức và mặc dù vẫn mang tính công cụ đằng sau các kịch cảnh, tự ngã hầu như không được nhận biết trực tiếp. Nhưng bây giờ một câu hỏi xuất hiện: làm sao một người có thể đạt được sự thống nhất tâm lí theo nghĩa rộng của từ này dẫn tới sự thống nhất những mặt vô thức và ý thức của nhân cách? Có thể có sự thất bại trong việc cá nhân hóa này. Một người vẫn có thể bị phân chia, không thống hợp, ở bên trong vẫn hoàn toàn chìm vào thời rất cổ xưa và vẫn được coi là đã sống một cuộc sống thành công về xã hội và tập thể mặc dù chỉ mang tính hời hợt. Sự thống nhất sâu nội tâm ở cấp độ ý thức trên thực tế chỉ là một thành quả hiếm hoi dù không nghi ngờ là nó được hỗ trợ bởi một xung lực bẩm sinh rất mạnh mẽ: Jung nói về động cơ cá nhân hóa chủ yếu khởi phát không phải từ sự thôi thúc về mặt sinh học mà là một sự thôi thúc về tâm lí. Tôi sẽ giải thích cơ chế này ngay sau đây.

Ở đây, tôi muốn lưu ý những độc giả muốn so sánh Jung với những nhà lí thuyết tâm lí khác. Cần phải cẩn thận để khỏi nhầm lẫn khái niệm cá nhân hóa của Jung với những khái niệm tương tự trong các lí thuyết khác. Điều này cũng giống như việc so sánh khái niệm của Jung về tự ngã với khái niệm tương ứng ở các tác giả khác. Chẳng hạn, trong tác phẩm của Margaret Mahler, có một sự tập trung lớn vào một quá trình mà bà đặt tên là “tách/cá nhân hóa”.

Đứa bé tách khỏi người mẹ vào khoảng tuổi lên hai bằng cách nói “không”. Sự vận động này dẫn tới việc hình thành một quá trình phát triển tự nhiên của một cá nhân về tâm lí được diễn ra một cách tự phát và thúc đẩy sự phát triển của bản ngã. Nó được dựa trên cổ mẫu và có thể liên hệ với biểu hiện ban đầu và sự gần tương đương đầu tiên của mô hình cổ mẫu về anh hùng. Với Jung, đây chỉ là một mặt của quá trình cá nhân hóa trong cả đời người và chắc chắn nó chưa phải là tất cả. Mục đích của quá trình tách này là tạo ra một hoàn cảnh tâm lí mà sau đó có thể đưa tới những bước phát triển xa hơn của ý thức và cuối cùng là sự hòa nhập và thống nhất của nhân cách nói chung. Với Mahler, sự phân li không phải là một mục đích tự thân mà chỉ là một điểm dừng trên con đường. Còn cá nhân hóa với Jung là một kết thúc tự thân.

Cơ chế tâm lí mà cá nhân hóa diễn ra, dù chúng ta đang xem xét nó ở nửa đấu hay nửa cuối của cuộc đời là cái mà Jung gọi là sự bù trừ. Mối liên quan căn bản giữa ý thức và vô thức là sự bù trừ. Sự phát triển của bản ngã từ vô thức - được thúc đầy bởi một bản năng mạnh mẽ để tách dần khỏi thế giới xung quanh nhằm thích ứng hiệu quả hơn với môi trường xung quanh - điều đó dẫn tới một sự tách biệt giữa bản ngã ý thức và cái khuôn vô thức là cội nguồn của nó. Xu hướng của bản ngã là trở nên phiến diện và độc lập quá mức. Điều này, như chúng ta thấy, dựa trên mô hình cổ mẫu về người hùng. Khi điều này xảy ra, vô thức bắt đầu bù trừ cho thái độ phiến diện này. Những sự bù trù diễn ra một cách cổ điển trong các giấc mơ. Chức năng của sự bù trừ là tạo sự cân bằng trong hệ tâm thần. Những sự bù trừ này phù hợp chính xác với thời điểm hiện tại và thời điểm của nó bị chi phối chặt chẽ bởi những gì ý thức thực hiện hay không thực hiện, bởi thái độ phiến diện và sự phát triển của bản ngã ý thức. Tuy nhiên, qua thời gian, nhiều sự bù trừ hằng ngày nhỏ bé tạo thành các cấu trúc và các cấu trúc này đặt cơ sở cho sự phát triển hình xoắn ốc hướng tới tổng thể mà Jung đặt tên là cá nhân hóa. Jung nhận ra những điều này xảy ra đặc biệt rõ ràng trong một chuỗi dài các giấc mơ: “những hoạt động bù trừ tách biệt rõ ràng này tự sắp xếp thành một loại đồ án. Dường như chúng gắn bó với nhau và theo nghĩa sâu sắc nhất phụ thuộc vào một mục tiêu chung... Tôi gọi quá trình vô thức biểu hiện tự phát này dưới dạng tượng trưng trong chuỗi dài những giấc mơ là quá trình cá nhân hóa”168. Chúng ta cũng có thể áp dụng nguyên tắc tương tự này cho sự phát triển tâm lí nói chung. Vô thức bù trừ cho bản ngã ý thức trong toàn bộ cuộc đời và theo nhiều cách - bằng sự nói lỡ lời, sự quên, hay những tiết lộ thần diệu; bằng cách sắp xếp những tai nạn, những thảm họa, tình yêu và vận may; bằng cách sinh ra những ý tưởng đầy cảm hứng hay những niềm tin ngớ ngẩn dẫn tới thảm họa. Trong sự bộc lộ trong cả cuộc đời mà Jung gọi là cá nhân hóa, sức mạnh thúc đẩy là tự ngã và cơ chế mà qua đó nó xuất hiện trong đời sống ý thức của cá nhân là sự bù trừ. Điều này đúng cho cả nửa đầu cuộc đời và nửa sau cuộc đời.

Giai đoạn nửa sau của cuộc đời liên hệ với một loại vận động khác từ những gì diễn ra trong nửa đầu cuộc đời. Trong giai đoạn thứ hai này của cá nhân hóa, điểm nổi bật của mô hình không phải là tách bản ngã khỏi nền tảng của nó và sự đồng nhất hóa với môi trường mà là sự thống nhất của toàn bộ nhân cách. Thỉnh thoảng, Jung nói về điều này như là “sự trở lại với những người mẹ”, một cách nói ẩn dụ hàm ý khi sự phát triển bản ngã lên đến đỉnh vào thời trung niên thì sẽ không còn ý nghĩa nào nữa để tiếp tục theo đuổi những mục tiêu cũ. Trên thực tế, một số mục tiêu, đã đạt được nay lại bị nghi vấn về giá trị tuyệt đối của chúng, và điều này dẫn tới việc đánh giá lại những gì đã đạt được và việc tìm kiếm xem ý nghĩa sâu hơn của cuộc sống nằm ở đâu169. Cuộc sống còn có nhiều điều dễ đạt được hơn chỉ là tạo ta một cái tôi có cấu trúc vững chắc và tốt đẹp cũng như một chiếc mặt nạ. “Bình thường thôi” thể hiện rõ tâm trạng của những người ở độ tuổi trung niên. Và bây giờ thì sẽ là gì tiếp theo? Ý nghĩa nằm ở đâu đó và năng lượng tâm thần đổi dòng. Nhiệm vụ bây giờ là thống nhất bản ngã với vô thức là nơi chứa đựng cuộc đời chưa sống của con người và những tiềm năng không được nhận biết. Sự phát triển này trong giai đoạn hai của cuộc đời là nghĩa cổ điển của tâm lí học của Jung về cá nhân hóa - trở thành cái gì đã từng là tiềm năng của mình, nhưng bây giờ sâu hơn và có ý thức hơn. Điều này đòi hỏi những sức mạnh cho phép của các tượng trưng để nâng lên và hữu thức hóa những nội dung vô thức đã bị che giấu trước kia. Bản ngã không thể thực hiện được sự thống nhất rộng hơn này của nhân cách này chỉ bằng nỗ lực của nó. Nó cần một sức mạnh lớn để hỗ trợ.

Bản thân Jung cũng không suy nghĩ nhiều về những vẫn để của nửa đầu đời mình sau sự chấm dứt quan hệ với Freud. Ông chủ yếu quan tâm tới những người, chẳng hạn một phụ nữ năm mươi ba tuổi được mô tả trong tác phẩm “Một nghiên cứu về quá trình cá nhân hóa”170. Phần lớn bệnh nhân của ông là những người lớn thuộc loại này. Không bị bệnh tâm thần nghiêm trọng, không có nhu cầu điều trị bệnh viện hay y học, cũng không còn ở trong giai đoạn đầu của cuộc đời mình, họ đến với ông nhằm tìm kiếm kiến thức và sự chỉ dẫn cho sự theo đuổi sự phát triển nội tâm xa hơn. Điều này không có nghĩa là trong số họ không có người bị nhiễu tầm và cần giúp đỡ về tâm lí nhưng họ không phải là những bệnh nhân tâm thần điển hình. Trên thực tế, Jung thích làm việc với những người mà những năm tháng sinh con và tạo dựng bản ngã đã qua đi và sự phát triển nửa đầu cuộc đời của họ đã diễn ra. Và bây giờ là cơ hội để theo đuổi giai đoạn lớn thứ hai của quá trình cá nhân hóa, sự xuất hiện ngày càng rõ ràng của tự ngã trong ý thức. Các phương pháp Jung thường dùng để giúp đỡ họ bằng các kế hoạch phức tạp này được gọi là phân tâm theo trường phái Jung (Jungian analisis).

Sự biến đổi và phát triển tâm lí ở tuổi người lớn và tuổi già ở một số mặt nào đó tinh tế hơn sự phát triển trong nửa đầu cuộc đời. Một người cần phải quan sát rất cẩn thận và ở những cấp độ sâu nhất để có thể nhận biết nó. Và thỉnh thoảng không có gì nhiều để quan sát vì sự phát triển quá nhỏ. Chẳng hạn, cha của người bạn tốt nhất thời niên thiếu của tôi, vào tuổi 89, đã già đi đáng kể sau ba mươi năm kể từ lần cuối cùng tôi nhìn thấy ông ta. Rõ ràng là ông đã cận kề cái chết. Nhưng dù cơ thể đã biến đổi rất nhiều, chiếc mặt nạ của ông, khiếu khôi hài, tính cách dường như không biến đổi gì nhiều, và do đó ông vẫn thân thuộc và có thể nhận ra dễ dàng. Khi vừa gặp lại ông sau rất nhiều năm tháng tôi nhận ra ông ngay. Đối với tôi, con người ông, mà tôi có thể thấy và từng trải nghiệm, hoàn toàn vẫn còn đó nguyên vẹn và vẫn thế không thay đổi. Trong khi năng lượng của ông suy giảm so với trước kia, ông vẫn có thể duy trì được chúng đủ để nói chuyện sôi nổi về những mẫu mới nhất của những chiếc ô tô mà ông ưa thích. Nhiều hay ít ông vẫn giữ được con người trước kia của mình dù rằng cơ thể thì đã nhỏ lại và yếu hơn.

Liệu đã có sự phát triển nào trong tâm thần ông trong quá trình tuổi người lớn ngoài tuổi 50? Thái độ của ông đã thay đổi? Tôi biết rõ ông đến thế nào? Tôi biết ông khi mình còn là một đứa trẻ và không hơn, vì vậy tôi chỉ có cái nhìn của thời trẻ con về ông. Tôi biết cái mặt nạ của ông nhưng chỉ có vậy. Với tất cả biểu hiện bề ngoài, cái mặt nạ của ông vẫn nguyên như vậy. Nhưng chúng ta biết rằng còn có điều có lợi ích cho tâm thần hơn là cái mặt nạ. Nhưng nếu cái mặt nạ không đổi, thì sự biến đổi sâu hơn cũng sẽ không có? Hay nó quá tinh tế nên chúng tôi đã không thể nhìn thấy nó mà không có những cuộc phỏng vấn có tính dò hỏi, tìm hiểu sâu? Có lẽ ý thức của ông đã phát triển rất mạnh vượt quá mức khi tôi biết ông ta nhiều năm trước nhưng tôi không nhận ra điều này. Jung chống lại khái niệm cho rằng con đường phát triển tâm lí đồng nhất với sự phát triển thể chất mà ở tuổi già chỉ nổi bật sự suy giảm. Liệu có những sự bù trừ tâm lí vượt quá sự suy giảm thể chất và hiện ra một hình thức khác?

Năm giai đoạn của ý thức

Để có một cách giải quyết vấn đề về phát triển ý thức này trong giai đoạn hai của cuộc đời, chúng ta có thể áp dụng một số kĩ thuật đo lường chung. Jung mô tả năm giai đoạn phát triển của ý thức171 mà tôi sẽ tóm tắt và mở rộng một chút. Chúng ta có thể sử dụng chúng để đo lường và đánh giá sự phát triển ý thức ở trẻ em và cả ở người lớn trong những năm sau đó.

Giai đoạn đầu tiên đặc trưng bởi sự tham dự thần bí (participation mystique), một thuật ngữ được vay mượn từ nhà nhân học Pháp, Lévy-Bruhl. Tham dự thần bí nói đến sự đồng nhất giữa ý thức của một cá nhân với thế giới xung quanh mà không có sự nhận thức là mình ở trong giai đoạn đó; ý thức và đối tượng mà nó đồng nhất đều cùng là một thứ mang tính thần bí. Ở đây chữa có sự nhận thức về khác biệt giữa một người với, một mặt là nhận thức của họ, và mặt khác là đối tượng có vấn đề. Trong một chừng mực nào đó, con người luôn ở trong trạng thái tham dự thần bí trong toàn bộ cuộc đời mình. Ví dụ, nhiều người đồng nhất mình hoàn toàn với chiếc xe hơi của họ. Họ trải nghiệm tất cả những cảm giác riêng mình về những chiếc xe đó. Khi chiếc xe có vấn đề, người chủ cảm thấy ốm, bị suy sụp vì cảm lạnh, đau dạ dày. Chúng ta hợp nhất một cách vô thức với thế giới xung quanh. Đây là những gì mà Jung gọi là sự tham dự thần bí.

Đa phần mọi người gắn bó với gia đình của mình, ít ra cũng là từ lúc bắt đầu cuộc đời, bởi sự tham dự thần bí, dựa trên cơ sở sự đồng nhất, nội phóng và phóng chiếu. Những thuật ngữ này mô tả cùng một điều: sự hòa lẫn những nội dung nội tấm và bên ngoài. Lúc đầu, một đứa bé hoàn toàn không thể phân biệt được theo nghĩa đen đâu là ranh giới giữa nó và người mẹ. Thế giới của trẻ thơ được hợp nhất cao độ. Theo nghĩa này, giai đoạn đầu tiên của ý thức báo trước giai đoạn cuối cùng: sự hợp nhất tối hậu của các phần thành một tổng thể. Tuy nhiên vào lúc đầu nó là một tổng thể vô thức, trong khi đó vào lúc cuối, cảm nhận về tổng thể này là có ý thức.

Trong giai đoạn hai của ý thức, các phóng chiếu bắt đầu được định vị khu trú hơn. Sau những phóng chiếu mơ hồ ở giai đoạn đầu, một số sự khác biệt giữa bản thân/người khác bắt đầu trở nên rõ ràng trong ý thức. Đứa bé bắt đầu nhận biết được các nơi mà cơ thể sinh học của nó động chạm với đối tượng bên ngoài, và nó bắt đầu chú ý đến các đồ vật và nhận biết được những khác biệt giữa mình và người khác và những đối tượng ở thế giới xung quanh nó. Dần dần sự biệt hóa này giữa mình và người khác và bên trong và bên ngoài tăng lên và mạnh lên. Khi sự biệt hóa chủ thể/đối tượng rõ ràng tồn tại và khi bản thân và người khác trở nên khác biệt và được phân biệt rõ ràng, sự phóng chiếu và tham dự thần bí biến đổi. Điều này không có nghĩa là phóng chiếu đã được vượt qua mà nó chỉ trở nên được định vị khu trú hơn, tập trung vào một số ít các đối tượng hơn là toàn thể thế giới. Một số đối tượng trong thế giới giờ đây rõ ràng trở nên quan trọng hơn và hấp dẫn hơn các đối tượng khác bởi vì chúng nhận các phóng chiếu và là đối tượng tiếp nhận sự đầu tư tâm năng libido. Người mẹ, những trò chơi ưa thích, những đồ vật chuyển động màu sáng, các con vật đồ chơi, người cha, người khác trở nên đặc biệt, phân biệt và khác biệt. Để cho sự phát triển của ý thức được tiếp tục, sự biệt hóa được diễn ra và sự phóng chiếu trở nên cố định vào những hình ảnh đặc thù. Và bởi vì các phóng chiếu hướng vào những gì không biết, thế giới tạo ra nhiều cơ hội để tiếp tục quá trình phóng chiếu trong toàn bộ đời người.

Cha mẹ là những đối tượng nhận phóng chiếu chủ yếu lúc ban đầu, và những đứa con phóng chiếu một cách vô thức quyền uy tuyệt đối và tri thức tuyệt đối lên họ. Đây là những gì mà Jung gọi là những phóng chiếu cổ mẫu. Cha mẹ trở thành các vị chúa, được đầu tư sức mạnh mà con người thường gán cho thánh thần. “Bố có thể làm mọi thứ! Bố là người giỏi nhất trên thế giới!”, “Mẹ biết mọi thứ và có thể làm mọi điều kì diệu. Mẹ yêu con vô điều kiện”. Sự nhận biết hơi shock rằng cha mẹ mình không biết tất cả mọi thứ và không như các vị thần được tôn sùng thường xảy ra trong tuổi thanh thiếu niên và trong một giai đoạn mà ở đó cha mẹ lại bị coi là không biết gì (một kiểu phóng chiếu khác). Chúng ta cũng phóng chiếu những điều này lên những anh chị em ruột, đây là gốc rễ của những thù địch giữa các anh chị em và những hành động đua tranh và đôi lúc có động lực xấu diễn ra trong gia đình. Thầy cô giáo và trường học cũng là đối tượng tiếp nhận nhiều phóng chiếu. Trên thực tế, nhiều người trong môi trường chúng ta sống cũng trở thành người tiếp nhận những phóng chiếu trong giai đoạn hai của ý thức này. Điều này khiến cho người khác và các tổ chức có được những sức mạnh để tạo ra và định hình ý thức của chúng ta một cách mạnh mẽ, cung cấp cho nó kiến thức, quan điểm và dần dần thay các kinh nghiệm cá nhân của chúng ta bằng những quan điểm, cách nhìn nhận cũng như các giá trị tập thể. Đây là quá trình tiếp nhận văn hóa và thích nghi diễn ra ở tuổi trẻ em và thanh thiếu niên.

Yêu và kết hôn về cơ bản được dựa trên những phóng chiếu anima,animus lớn, và điều này trực tiếp dẫn tới việc sinh con và nuôi dạy trẻ và sau đó những đứa trẻ lại trở thành những người tiếp nhận những phóng chiếu trẻ con thần thánh. Giống giai đoạn đầu, giai đoạn hai này là giai đoạn mà không ai thực sự hoàn tất. Chừng nào một người vẫn có thể đam mê, cảm thấy sự khuấy động của những cuộc phiêu lưu và mơ mộng hão huyền, mạo hiểm tất cả vì một niềm tin mạnh mẽ thì họ vẫn tiếp tục hoạt động phóng chiếu lên những đối tượng cụ thể trong thế giới. Và đối với nhiều người, sự phát triển dừng lại ở đây. Những người như vậy tiếp tục phóng chiếu mạnh mẽ những đặc điểm tích cực và tiêu cực của tâm thần lên thế giới xung quanh và đáp ứng trước những hình ảnh và sức mạnh dường như chúng hiện diện ở những đối tượng và con người bên ngoài.

Nếu sự phát triển ý thức được tiếp tục diễn ra - điều này có thể bắt đầu khi một giai đoạn mới của sự phát triển nhận thức đưa tới khả năng đạt được một mức độ trừu tượng hóa có tính tương đối độc lập với sự cụ thể hóa - một người sẽ nhận thức được rằng những đối tượng nhận những phóng chiếu đặc thù không giống các phóng chiếu mà các đối tượng đó tiếp nhận. Những người tiếp nhận phóng chiếu giờ đây đã có thể bước ra khỏi tấm màn phóng chiếu và kết quả Và họ thường bị phi lí tưởng hóa. Trong giai đoạn này, thế giới mất đi nhiều sự cuốn hút chất phác lúc đầu của nó. Những nội dung tâm thần được phóng chiếu trở nên trừu tượng, và chúng biểu hiện ra như là những tượng trưng và ý thức hệ. Tri thức tuyệt đổi và quyền uy tuyệt đối không phải thuộc về con người nữa mà những phẩm chất này được phóng chiếu lên những thực thể trừu tượng như Chúa, Thần hộ mệnh, Chân lí. Triết học và thần học xuất hiện. Những giá trị tối cao nhận lấy những sức mạnh thần thánh đã từng được gán cho cha mẹ và thầy cô giáo. Giáo lí, sách Khải huyền, và các học thuyết tràn đầy những phóng chiếu cổ mẫu, và thế giới cụ thể hằng ngày tương đối được giải phóng khỏi những phóng chiếu và có thể được tương tác một cách trung tính. Trong chừng mực mà giai đoạn ý thức này đạt tới, con người trở nên ít nhạy cảm trước nỗi sợ những kẻ thù hay sức mạnh xấu xa. Con người không sợ sự trả thù của những người khác bởi vì họ đã có Chúa che chở. Chúng ta cũng có thể cho rằng con người có thể xoay xở và kiểm soát thế giới một cách lí tính bởi vì họ tuân thủ những quy luật của tự nhiên và được giải phóng khỏi ma quỷ và những kẻ xấu vốn luôn hiện diện xung quanh họ từ trong nhà tới ngoài đường. Con người dường như không trốn chạy vào bản thân mình nữa, và cảm nhận thấy trực tiếp nỗi đau của cải mà mình đã làm cho đối tượng.

Sự đáp ứng mang tính cảm xúc tự phát đối với sự chịu đựng, đau khổ của tạo vật trong thế giới và sự phá hủy thế giới tự nhiên bị giảm đến mức đáng kể khi sự lưỡng phân bản thân/đối tượng đã đạt tới điểm này. Đối với nhiều người điều này dường như không phải là một bước tiến mà là một sự suy thoái trong ý thức. Nhưng phải nhận ra rằng những phản ứng đồng cảm mang nặng cảm xúc thể hiện trong các giai đoạn phát triển trước kia chủ yếu được dựa trên sự phóng chiếu và có ít liên hệ với sự đánh giá khách quan những gì đang xảy ra cho đối tượng. Khi những phóng chiếu được loại bỏ khỏi những đối tượng cụ thể trong thế giới, những nhà lãnh đạo chính trị nhìn xa trông rộng và những nhà tư tưởng có tài năng thiên phú tạo ra những sự trừu tượng trong thế giới dưới dạng những ý tưởng, giá trị, hay những ý thức hệ bằng những phóng chiếu tạo nên những khái niệm khẳng định giá trị cao nhất và những điều tốt đẹp nhất trong nhận thức của họ. Trên cơ sở những giá trị này, con người có thể tạo dựng những quy tắc, mệnh lệnh thay cho những mới quan hệ cảm xúc, tự nhiên tự phát mà người ít ý thức có được từ thế giới. Thay cho sự đồng cảm vô thức dựa trên sự tham dự thần bí hay những phóng chiếu, con người lập nên nguyên tắc về nghĩa vụ. Chẳng hạn, con người thực hiện những gì đúng đắn về mặt sinh thái, không phải từ cảm nhận mà là từ nghĩa vụ, không phải con người bị ốm bởi vì nỗi đau vì sự phá hủy môi trường tự nhiên mà vì quy tắc đạo đức để phân loại rác thải và ít sử dụng năng lượng hơn.

Trong giai đoạn ý thức thứ ba này - mà tôi tin là người cha của bạn tôi đã đạt được, vì ông là một người theo đạo theo nghĩa truyền thống - vẫn có những phóng chiếu những nội dung vô thức. Nhưng những phóng chiếu này không được đầu tư nhiều lên con người và đồ vật mà là lên những nguyên tắc, những biểu tượng, và các học thuyết. Dĩ nhiên, những phóng chiếu này vẫn được coi là “thực” theo nghĩa gần như cụ thể. Chúa thực sự tồn tại xung quanh, và ông ta là một con người khác biệt và v.v. Chừng nào con người vẫn tin là một vị Chúa thực sự sẽ trừng phạt và ban thưởng cho con người sau khi chết, ,nó chỉ ra sự hiện diện giai đoạn ý thức thứ ba này. Chỉ đơn giản là sự phóng chiếu được chuyển đổi từ cha mẹ sang một con người huyền thoại và trừu tượng hơn.

Giai đoạn thứ tư của ý thức phản ánh sự tiêu diệt tận gốc các phóng chiếu, ngay cả dưới hình thức những sự trừu tượng thần học hay ý thức hệ. Sự tiêu diệt này đưa tới sự tạo ra một một “trung tâm trống rỗng” mà Jung đồng nhất với sự hiện đại. Đây là giai đoạn “con người hiện đại đi tìm tâm hồn”172. Cảm nhận về tâm hồn - về ý nghĩa to lớn và mục đích trong cuộc sống, sự bất tử, nguồn gốc thần thánh, một vị “Chúa bên trong” được thay thế bởi những giá trị giáo điều vị lợi và thực dụng. “Nó hoạt động thế nào” là câu hỏi chủ yếu. Con người thấy mình là một bánh răng trong cỗ máy kinh tế xã hội khổng lổ và những mong chờ về ý nghĩa của họ bị giảm xuống thành sống một cuộc sống hằng ngày. Con người sống vì những lúc hài lòng và thỏa mãn những ham muốn có thể kiểm soát được. Hoặc là họ sẽ bị trầm cảm! Chúa không còn tồn tại trên thiên đường nữa và ma quỷ đã được biến thành những triệu chứng tâm lí và mất cân bằng hóa học trong não. Thế giới bị loại bỏ những nội dung tâm thần được phóng chiếu. Không có anh hùng, không có những kẻ độc ác - con người trở nên hiện thực hơn. Những nguyên lí chỉ còn tương đối có giá trị và các giá trị được nhìn nhận như là bắt nguồn từ những chuẩn mực và đòi hỏi của văn hóa. Tất cả những gì mang tính văn hóa hầu như là do sự tạo dựng và không có ý nghĩa cố hữu bên trong. Tự nhiên và lịch sử được coi như kết quả của cơ hội và trò chơi ngẫu nhiên của những sức mạnh phi cá nhân. Ở đây chúng ta đã đạt tới thái độ và âm hưởng cảm xúc của con người hiện đại: thế tục, vô thần và có lẽ hơi có chút của chủ nghĩa nhân bản. Những giá trị của con người hiện đại dường như được che chở bởi sự hạn chế, những điều kiện, tính “có thể”, sự “không chắc chắn”. Lập trường hiện đại mang tính tương đối.

Trong giai đoạn thứ tư của ý thức này, dường như là những phóng chiếu tâm thần đã hoàn toàn biến mất. Nhưng Jung chỉ ra rằng đây chỉ là một giả định sai lầm. Trong thực tế, chính bản ngã trở nên được đầu tư bởi những nội dung mà trước đó đã phóng chiếu lên những người khác, đối tượng khác và những gì trừu tượng. Do đó, bản ngã bị lạm phát mạnh ở con người hiện đại và chiếm giữ một vị trí bí mật đầy sức mạnh của Chúa. Bản ngã chứ không phải các giáo lí và học thuyết là đối tượng tiếp nhận những phóng chiếu cả tốt lẫn xấu. Bản ngã trở thành kẻ phán xử duy nhất về đúng và sai, sự thật và nhầm lẫn, vẻ đẹp và sự xấu xa. Không có sức mạnh nào ngoài bản ngã lại vượt qua được nó. Ý nghĩa được tạo ra bởi bản ngã; nó không thể được phát hiện ở chỗ khác. Chúa không còn là “ở đâu xa” nữa, mà chính là tôi! Trong khi con người hiện đại có vẻ như lí trí và vững chắc hơn, thực tế anh ta bị điên. Nhưng điều này được che giấu, nó là một bí mật thậm chí được che giấu với cả bản thân mình.

Jung tin rằng giai đoạn thứ tư này là một trạng thái cực kì nguy hiểm vì lí do rõ ràng là một bản ngã bị thổi phồng không thể thích nghi tốt với môi trường và vì vậy có khuynh hướng gây ra những sai lầm có tính thảm họa khi phán xét. Mặc dù đây là một bước tiến của ý thức xét ở góc độ cá nhân và văn hóa, nhưng nó lại mang tính nguy hiểm bởi khả năng dẫn tới sự hoang tưởng tự đại. Nếu tôi muốn thực hiện điều gì và hình dung ra được mình có thể làm được thì chắc chắn là mọi thứ đều sẽ tốt. Không đủ sức tránh khỏi sự thuyết phục hấp dẫn của bóng âm, bản ngã dễ bị cuốn vào sự ham muốn đạt tới quyền lực cũng như ước muốn hoàn toàn kiểm soát thế giới của bóng âm. Đây chính là hình ảnh siêu nhân của Nietzsche và sự kiêu căng này được phản ánh trong nhiều thảm họa chính trị và xã hội của thế kỉ XX. Với nhân vật Raskolnikov đã được phác họa trước trong Tội ác và trừng phạt của Dostoevski, giờ đây chúng ta vẫn được thấy một người sẽ giết một người phụ nữ già chỉ để xem cảm giác là thế nào. Người của giai đoạn thứ tư không còn bị kiểm soát bởi những quy ước xã hội hoặc gắn với con người hoặc với các giá trị. Kết quả là bản ngã có thể nhìn thấy vô số những khả năng hành động. Điều này không có nghĩa là tất cả con người hiện đại là những kẻ có nhân cách chống đối xã hội nhưng những ô cửa dẫn tới sự phát triển như vậy lại rộng mở. Và những trường hợp tệ nhất lại là những người trông rất lí trí - những người “tốt nhất và thông minh nhất” và luôn tìm kiếm câu trả lời cho những vấn đề chính sách và đạo đức.

Jung nói khôi hài rằng trên một đường phổ chúng ta có thể bắt gặp con người thuộc mọi Giai đoạn phát triển - người Neanderthal, người trung cổ, người hiện đại với tất cả những phát triển của ý thức có thể nhận biết được. Tuy sống trong thế kỉ 20 song không có nghĩa là ai đó có được tính chất hiện đại trong sự phát triển ý thức của mình. Không phải tất cả mọi người đều đạt tới Giai đoạn thứ tư. Trên thực tế nhiều người không thể chịu đựng được sự đòi hỏi của nó. Những người khác coi nó là xấu xa. Những người theo thuyết chính thống của thế giới luôn gắn với Giai đoạn thứ hai và thứ ba do nỗi sợ những tác động xói mòn của Giai đoạn thứ tư này và sự thất vọng và trống rỗng nó gây ra. Nhưng đây thực sự là một thành quả tâm lí khi mà những phóng chiếu bị loại bỏ đến mức này và các cá nhân nhận lấy trách nhiệm cá nhân cho số phận của mình. Cạm bẫy ở đây nằm ở chỗ tâm thần trở nên bị che khuất trong bóng âm của bản ngã.

Bốn giai đoạn đầu tiên này trong sự phát triển của ý thức liên quan đến sự phát triển của bản ngã và nửa đầu cuộc đời. Những ai đạt được một bản ngã có tính suy ngẫm và tự phê phán đặc trưng của Giai đoạn thứ tư mà không rơi vào sự khuếch trương hoang tưởng tự đại là đã thực hiện điều này cực kì tuyệt vời trong việc phát triển ý thức và đã tiến triển cao theo sự đánh giá của Jung. Nhưng sự phát triển xa hơn trong nửa sau của cuộc đời được Jung nói tới là Giai đoạn thứ năm, giai đoạn hậu hiện đại, có liên với việc cố cố gắng tái thống nhất vô thức và ý thức. Trong giai đoạn này, có sự nhận biết ý thức về giới hạn của bản ngã và sự nhận biết những sức mạnh của vô thức và hình thức thống nhất chỉ có thể diễn ra giữa ý thức và vô thức thông qua cái mà Jung gọi là chức năng siêu việt và tượng trưng thống nhất. Tâm thần trở nên thống nhất nhưng không giống Giai đoạn thứ nhất, các phần văn tự được biệt hóa và vẫn được chứa trong ý thức. Và không giống giai đoạn thứ tư, bản ngã không còn đồng nhất với cổ mẫu nữa: những hình ảnh cổ mẫu sẽ vấn còn là một “cái gì khác” và không còn ẩn dấu trong bóng âm của bản ngã nữa. Bây giờ chúng được nhận thấy là ở “trong đó”, không giống Giai đoạn thứ ba khi mà chúng ở “ngoài đó” trong một không gian siêu hình nào, và nói cụ thể hơn, chúng không còn được phóng chiếu ra các đối tượng bên ngoài nữa.

Từ “hậu hiện đại” là của tôi [Murray Stein], không phải của Jung. Giai đoạn ý thức thứ năm này không phải là “hậu hiện đại” theo nghĩa thường dùng của thuật ngữ này trong nghệ thuật và phê bình văn học mà là theo nghĩa một giai đoạn vượt trên và thay thế cho giai đoạn “hiện đại”. Nó vượt qua bản ngã hiện đại vốn có thể nhìn xuyên qua mọi thứ và không tin vào tính hiện thực của tâm thần. Chỗ đứng hiện đại là một thái độ “thế này hoặc thế khác”. Đó chính là sự tin tưởng rằng các phóng chiếu đã bị loại bỏ đi, chúng chỉ là tấm màn che giấu mà không biểu hiện cho cái gì. Thái độ hậu hiện đại thừa nhận rằng có thực tế tâm thần trong các phóng chiếu nhưng không theo nghĩa cụ thể hay vật chất. Nếu chúng ta nghe thấy quá nhiều tiếng động trong những khúc gỗ thì lẽ có một cái gì đang hiện diện ở đó. Tuy nhiên đó không phải là những gì chúng ta nghĩ mà là những gì thực sự tồn tại. Liệu chúng ta có thể quan sát nó? Chúng ta có thể trực giác được nó? Chúng ta có thể nhận biết nó. Bản thân tâm thần trở thành đối tượng của khảo sát và suy ngẫm. Làm thế nào để nắm bắt nó trong những quan sát của chúng ta. Làm thế nào để liên hệ với nó. Đó là những vấn đề và câu hỏi hậu hiện đại. Và những nỗ lực như vậy của Jung trong việc hình thành một nhân thức luận phù hợp trong tác phẩm Các loại hình tâm lí (một “tâm lí học phê phán” như ông từng gọi nó) là một nỗ lực đặt cơ sở cho việc tiếp cận tâm thần như một thực thể với quyền năng riêng của nó. Kĩ thuật tưởng tượng tích cực và diễn giải giấc mơ của ông có mục tiêu là nhằm cố gắng tương tác trực tiếp được với tâm thần và hình thành một mối liên hệ ý thức với nó. Bằng cách này ông đang hình thành những phương tiện để liên hệ với cuộc sống theo một cách ý thức và hậu hiện đại, và giữ một thái độ tôn trọng trước những nội dung tương tự nhau mà những người nguyên thủy hay truyền thống phát hiện thấy trong những huyền thoại và những hệ thống thần học của họ, những gì mà các đứa bé và trẻ em phóng chiếu lên cha mẹ, đồ chơi và các trò chơi của chúng, và cũng là những gì mà các bệnh nhân mất trí nặng và loạn tâm nhìn thấy trong những ảo giác và ảo ảnh của họ. Những nội dung này là chung cho tất cả chúng ta, và chúng tạo nên những lớp nguyên thủy nhất và sâu nhất của tâm thần, đó là vô thức tập thể. Tiếp cận được những hình ảnh cổ mẫu và liên hệ với chúng một cách ý thức và sáng tạo trở thành trọng tâm của cá nhân hóa và là nhiệm vụ của Giai đoạn thứ năm này của ý thức. Giai đoạn ý thức này tạo ra một vận động khác trong quá trình cá nhân hóa. Bản ngã và vô thức gắn bó với nhau thông qua một kí hiệu tượng trưng.

Chính thức thì Jung dừng ở Giai đoạn thứ năm này, mặc dù ở một vài chỗ ông chỉ ra rằng chính ông đã quan sát thấy những phát triển xa hơn. Trong các tác phẩm của ông có những gợi ý về những gì có thể coi là Giai đoạn thứ sáu và thậm chí là thứ bảy. Ví dụ, trong semina về Kundalini Yoga173 năm 1932, Jung thừa nhận rõ ràng việc đạt được những trạng thái ý thức ở phương Đông vượt quá xa những gì được biết đến ở phương Tây. Trong khi tỏ ý nghi ngờ về những triển vọng của những người phương Tây đạt được những giai đoạn ý thức tương tự trong tương lai gần thì ông vẫn đưa ra một khả năng về lí thuyết để thực hiện điều này, và thậm chí mô tả một số đặc điểm của những giai đoạn này. Kiểu ý thức thể hiện ở Kundalini có thể coi là Giai đoạn tiềm ẩn thứ bảy. Trước đó một chút có một loại ý thức mà người phương Tây có thể dễ đạt được hơn và nằm giữa Giai đoạn thứ năm và Giai đoạn thứ bảy tiềm ẩn đó. Sau này trong cuộc đời mình, khi khảo sát cấu trúc và chức năng của các cổ mẫu trong bối cảnh đồng đại, Jung giả định rằng có thể những cấu trúc có vẻ nội tâm này tương ứng với những cấu trúc của tồn tại trong thế giới phi tâm thần. Tôi sẽ thảo luận nó chi tiết hơn trong Chương 9, còn bây giờ, tôi chỉ muốn nói rằng giai đoạn ý thức thứ sáu có thể xảy ra này sẽ giải thích được mối liên hệ sinh thái rộng hơn giữa tâm thần và thế giới. Với người phương Tây, những người về cơ bản được xác lập theo một thái độ duy vật, thì đây là một lựa chọn phát triển có thể. Do đó, Giai đoạn thứ sáu có thể coi là một trạng thái ý thức nhận biết được sự thống nhất giữa tâm thần và thế giới vật chất. Tuy nhiên, Jung thận trọng trong việc khảo sát những lĩnh vực như vậy bởi vì ở đây rõ ràng là ông đang bắt đầu chuyển từ tâm lí học sang vật lí học, vũ trụ học và siêu hình học, những lĩnh vực mà ông cảm thấy không đủ khả năng và hiểu biết. Tuy nhiên, tư tưởng của ông dần dần đi theo hướng này và chúng ta phải thừa nhận là ông đã thể hiện sự dũng cảm khi theo đuổi những trực giác của mình. Những cuộc trao đổi của ông với các nhà vật lí học hiện đại như Wolfgang Pauli, người mà ông đã xuất bản chung một cuốn sách174 là một nỗ lực để mô tả một số những liên hệ và sự tương ứng giữa tâm thần và thế giới tự nhiên.

Năm giai đoạn phát triển của ý thức trên đây được Jung trình bày ngắn gọn trong hai đoạn của tiểu luận “Vị thần Mercurius”175. Tôi đã mở rộng hơn bằng cách sử dụng một vài nguồn khác trong tác phẩm của ông. Chủ đề cá nhân hóa xuất hiện hầu khắp những tác phẩm của ông từ năm 1910 trở đi. Nó là một mối quan tâm thường trực ngày càng sâu sắc hơn khi ông tiếp tục những khám phá về cấu trúc và động lực của tâm thần. Nó vẫn tiếp tục ở trong suy nghĩ của ông qua tiểu luận “Một quan điểm tâm lí về lương tâm”176 xuất bản năm 1958 khoảng ba năm trước khi ông mất ở tuổi 86. Hầu như mọi thứ ông viết đều đề cập cách này hay cách khác tới chủ đề cá nhân hóa. Tuy nhiên, có hai tác phẩm “cổ điển” về chủ đề này và trong phần còn lại của chương, tôi sẽ tập trung vào chúng. Đó là “Ý thức, vô thức và cá nhân hóa”177 và “Một nghiên cứu về quá trình cá nhân hóa”178.

Trong bài viết “Y thức, vô thức và cá nhân hóa”, Jung trình bày một tóm lược súc tích về những gì mà ông gọi là cá nhân hóa. Ông bắt đầu bằng việc nói là đó là quá trình mà một người trở thành một cá nhân về tâm lí, tức là một sự thống nhất ý thức không phân chia được tách riêng, một tổng thể riêng biệt. Tôi đã giải thích một chút nội dung về chứng ở trên, và nó là một quá trình trước tiên thống nhất bản ngã ý thức và sau đó là thống nhất toàn bộ hệ tâm thần bao gồm cả ý thức và vô thức nhằm đạt tới những gì mà cuối cùng Jung gọi là Cái tổng thể. Cái tổng thể (wholeness) là một thuật ngữ tuyệt vời để mô tả mục tiêu của quá trình cá nhân hóa, và nó là biểu hiện trong đời sống tâm lí của cổ mẫu tự ngã.

Jung chỉ ra rằng, con đường vào vô thức lúc đầu được thực hiện thông qua tình cảm và cảm xúc. Một phức cảm năng động thể hiện thông qua việc nó ngăn chặn bản ngã với cảm xúc. Đây là một sự bù trừ của vô thức và tạo ra một khả năng cho sự phát triển. Cuối cùng, những rối loạn tình cảm này có thể có nguồn gốc tận những gốc rễ nguyên thủy trong bản năng nhưng chúng cũng có thể dẫn tới những hình ảnh báo trước tương lai. Jung đề xuất một quan điểm mục đích luận, sự vận động hướng tới mục tiêu. Để đạt được sự tổng thể, các hệ vô thức/ý thức cần phải được đặt trong mối liên hệ lẫn nhau: “Tâm thần bao gồm hai nửa trái ngược nhau cùng nhau kết hợp thành một tổng thể”179. Sau đó ông trình bày một phương pháp thực hành mà mọi người có thể sử dụng để thống nhất hai nửa khác hẳn nhau của tâm thần này.

Ở đây ông đang đề cập đến những gì mà tôi đã mô tả là con người phương Tây ở Giai đoạn thứ tư “tin vào bản ngã ý thức và những gì chúng ta gọi là thực tế. Chúng ta không nghi ngờ tính thực tế của khí hậu phương bắc khiến chúng ta cảm thấy mình khỏe hơn nhiều đến mức không thể quên được chúng. Điều có ý nghĩa với chúng ta chính là tính thực tế. Bản ngã ý thức châu Âu của chúng ta vì thế có khuynh hướng chịu đựng vô thức và nếu điều này thiếu bằng chứng là khả thi chúng ta sẽ cố gắng xóa bỏ nó. Nhưng nếu chúng ta hiểu chút gì về vô thức chúng ta biết là nó sẽ không thể bị ngăn cản. Chúng ta cũng biết rằng thật nguy hiểm nếu xóa bỏ nó, bởi vì vô thức là cuộc sống và cuộc sống này sẽ quay lại chống lại chúng ta nếu bị xóa bỏ, như đã xảy ra trong chứng nhiễu tâm”180. Nhiễu tâm là do một xung đột nội tâm nhằm đảm bảo tính phiến diện: vô thức bị dồn nén và cá nhân đi đến sự bế tắc về năng lượng. Và với năng lượng được dùng cho một phạm vi hạn hẹp các hoạt động và bảo vệ chống lại cái vô thức bị cô lập như vậy, nhiều khả năng của cuộc sống dành cho sự tổng thể và thỏa mãn bị phủ nhận. Một người thường trở nên hoàn toàn bị cô lập và cuộc sống trở nên nhàm chán và có thể đi đến bế tắc. “Ý thức và vô thức không kết hợp thành một tổng thể khi một trong hai phần bị xóa bỏ và bị làm tổn thương bởi phần kia. Nếu chúng phải đấu tranh với nhau thì ít ra cũng phải là một cuộc chiến công bằng với các quyền ngang nhau về cả hai phía. Cả hai đều là các mặt của cuộc sống. Ý thức cần bảo vệ cho các lí lẽ cũng như chính nó, và cuộc sống hôn loạn của vô thức cũng cần phải được dành cho một cơ hội để có được một con đường riêng của mình - trong phạm vi tối đa mà chúng ta có thể chịu được. Điều này có nghĩa là xung đột mở rộng và sự phối hợp giữa chúng cũng được mở rộng. Rõ ràng đây là con đường mà cuộc sống con người phải đi theo. Nó như một trò chơi cổ điển giữa búa và đe: và thỏi sắt bệnh nhân được rèn luyện thành một tổng thể không thể bị phá hủy, một ‘cá nhân’”181.

Rèn luyện một tổng thể không thể bị phá hủy giữa búa và đe! Hình ảnh sống động này nói lên bản thất của quá trình cá nhân hóa như cách Jung hiểu. Về bản chất nó không phải là một quá trình ấp ủ và phát triển thẩm lặng mà là một xung đột mạnh mẽ giữa những mặt đối lập. Chẳng hạn những gì con người đạt được khi chấp nhận việc đương đầu với xung đột giữa cái mặt nạ và bóng âm hay giữa bản ngã và anima, là một “khí phách”, một kiến thức đạt được thông qua kinh nghiệm của sự tương tác (Auseinandersetzung, từ tiếng Đức mà Jung sử dụng) giữa vô thức và ý thức. “Nói đơn giản, điều này là những gì mà tôi gọi là cá nhân hóa. Như cái tên đã chỉ ra, nó là một quá trình hay một tiến trình phát triển xuất phát từ sự xung đột giữa hai phần tâm thần cơ bản [ý thức và vô thức]”182.

Một nghiên cứu cụ thể về cá nhân hóa

Trong tiểu luận thứ hai “Một nghiên cứu về quá trình cá nhân hóa”, Jung trình bày những chi tiết cụ thể hơn về quá trình cá nhân hóa, ít nhất trong những giai đoạn đầu của nửa thứ hai của cuộc đời. Trong nghiên cứu này, ông mô tả một nữ bệnh nhân 55 tuổi và đến phân tích với ông sau khi từ nước ngoài trở về châu Âu. Bà là “con gái của một người cha”, văn hóa cao và được giáo dục. Bà không kết hôn “mà sống bằng một yếu tố vô thức tương đương một đối tác như người, tức là animus... và trong mối liên hệ đặc trưng này thường gặp ở những người phụ nữ có giáo dục cao”183. Ở đây, Jung đang nói về một người phụ nữ hiện đại. Đây rõ ràng là một ca hấp dẫn và có tính giáo huấn đối với Jung. Bà không phải là một người mẹ truyền thống và một người nội trợ cần phát triển mặt trí tuệ và tinh thần (phát triển animus) ở nửa thứ hai của cuộc đời, điều mà Jung thường nghĩ đến về sự cá nhân hóa của phụ nữ. Thật sự, đó là một người phụ nữ với sự phát triển trí tuệ rất mạnh và có thành đạt. Nhưng bà quá đồng nhất với nam và bây giờ đang cố gắng phát hiện ra những gì về bà mẹ người Scandinave cũng như quê hương mình. Bà muốn liên hệ với khía cạnh nữ tính của nhân cách mình mà đối với bà là vô thức.

Thực sự là nhiều phụ nữ kiểu này tiếp tục tìm đến Jung để điều trị những năm sau đó. Bệnh nhân này tương tự nhiều người phụ nữ ngày nay, những người đặt ưu tiên cho giáo dục hơn là lập gia đình và có con, theo đuổi một sự nghiệp đến mức mà việc sinh con là điều hiếm thấy. Tuy nhiên vào năm 1928, đây vẫn là một mẫu phụ nữ thực sự khác thường.

Bệnh nhân bắt đầu vẽ các bức tranh. Bà không phải là một họa sĩ được đào tạo và đây là một điểm thuận lợi cho việc phân tích bởi vì điều này cho phép vô thức tự nó lộ ra trực tiếp và tự phát hơn nhiều. Bà nói rằng mắt của bà muốn làm một điều gì nhưng đầu mình thì lại muốn bà làm một điều khác và bà để cho mắt mình tự do, tức là trung tâm mới của ý thức sẽ có ý chí của chính nó. Nó muốn cách này chứ không phải cách khác và bà có thể để điều này xảy ra. Geschenlassen (“cứ để nó xảy ra”) là cách để nắm bắt sự hoạt động của vô thức. Jung không trực tiếp diễn giải ý nghĩa tâm lí của những bức tranh và bức họa của bà mà tham gia vào quá trình này bằng cách khuyến khích bà “cứ để nó xảy ra” những điều mà vô thức của bà muốn. Thường thì ông cũng không hiểu bức tranh muốn nói điều gì ngoài nội dung hiển nhiên của nó. Ông chỉ khuyến khích bà tiếp tục công việc. Dần dần một câu chuyện có thể được nhận thấy, một sự phát triển đang diễn ra và điều này thể hiện tính mục đích ở một thời điểm thích hợp.

Bức tranh số 1184 cho thấy tình trạng ban đầu của bệnh nhân: nó chỉ ra hoàn cảnh bị bế tắc về tâm lí và phát triển. Cơ thể của người phụ nữ bị kẹp trong đá và rõ ràng đang cố gắng để được giải thoát. Đây là hoàn cảnh khi bệnh nhân bắt đầu việc phân tích. Bức tranh số 2 cho thấy hàng nghìn tia sáng đang chiếu vào tảng đá và tách một viên đá tròn ra khỏi những viên khác. Viên đá này phản ánh cái cốt lõi của người phụ nữ (tự ngã). Jung bình luận rằng bức tranh này phản ánh sự giải phóng tự ngã khỏi vô thức: “sự chiếu sáng này đã giải phóng một thể hình câu ra khỏi tảng đá và vì vậy tạo ra sự giải phóng”185. Bệnh nhân gắn ánh sáng với nhà phân tích của mình. Sự chuyển dịch bắt đầu có tác động sâu sắc lên nhân cách người phụ nữ. Trong tâm kịch này, Jung được phản ánh bởi ánh sáng, cũng là yếu tố nam tính của nhân cách riêng của bà xuất hiện và tạo ra sự phát triển tốt đẹp. Jung nhận xét về những âm hưởng tình dục của hình ảnh này.

Sau đó trong tác phẩm, Jung nói về mình như một người nhận phóng chiếu của chức năng cấp thấp của bệnh nhân, đó là trực giác: ““Chức năng cấp thấp”... Có ý nghĩa của chức năng giải phóng hay “bù đắp”. Từ kinh nghiệm chúng ta biết rằng chức năng cấp thấp luôn luôn bù trừ, bổ sung và cân bằng chức năng “cấp cao”. Sự kì lạ về tâm thần đã biến tôi thành một người nhận phóng chiếu dưới góc độ này”186. Vì là người nhận phóng chiếu của người phụ nữ, những lời nói và sự hiện diện của ông trở thành sự bù trừ cho ý thức của người phụ nữ và cũng bị phóng đại rất nhiều về sức mạnh và hiệu quả. Bệnh nhân coi ông là thiên tài của trực giác, một người biết và hiểu rõ mọi thứ. Đây là một loại sự kiện, một chuyển dịch mạnh, nó điển hình đối với một bệnh nhân. Sau đó, chính trực giác của Jung đã động đến bệnh nhân như những tia sáng và có một tác động sâu sắc lên bà. Bởi vì đây cũng là chức năng cấp thấp của bệnh nhân, “nó đụng đến ý thức một cách bất ngờ, giống như tia sáng, và thỉnh thoảng có những hậu quả tàn phá. Nó gạt bản ngã sang một bên và mở rộng chỗ cho một nhân tố phi thường, tính toàn thể của một người”187.

Do đó, bức tranh này phản ánh bản ngã bị gạt ra bên cạnh và tự ngã đang bắt đầu xuất hiện. Tảng đá bị vỡ ra không phản ánh bản ngã của bà mà là tự ngã. Ánh sáng giải phóng khả năng hướng tới sự tổng thể của bà, mà đến bây giờ vẫn còn nằm sâu trong vô thức. “Cái tự ngã này luôn luôn hiện diện nhưng không hoạt động”188. Sự phát triển đáng kể bản ngã của người phụ nữ này đã gạt tự ngã lại đằng sau, và bà trở nên bế tắc trong sự thích ứng cái mặt nạ và trong sự đông nhất hóa với phức cảm người cha và animus, “những hòn đá” trong bức tranh của bà. Từ những sự đồng hóa này bà ta cần phải được giải phóng. Khả năng tiếp xúc và trở nên liên kết hơn với tự ngã, những gì nằm ở tâm của quá trình cá nhân hóa, phải được giải phóng khỏi vô thức, và trong trường hợp này, nó xảy ra thông qua tác động của việc chữa bệnh. Vì lí do này Jung nói rằng chuyển dịch mang tính quyết định cho thành công trong việc chữa bệnh.

Trước khi bình luận về bức tranh thứ ba, một bức tranh quan trọng trong loạt tranh, Jung nói là “bức tranh thứ ba... mang một môtip nhằm rõ ràng vào giả kim thuật và thực sự tạo cho tôi một sự động cơ xác định để khảo cứu sâu hơn về các tác phẩm của người phụ nữ lớn tuổi tài năng này”189. Đây là một nhận xét đáng lưu ý vì Jung đã dành phần lớn cuộc đời còn lại để nghiên cứu giả kim thuật một cách hết sức chuyên sâu và uyên thâm. Bức tranh số 3 mô tả “giờ sinh - không phải giờ của người nằm mơ mà là của tự ngã”190. Hình ảnh quả cầu màu xanh thẫm bay lơ lửng trong không gian, “một hành tinh trong quá trình hình thành”191. Đây là xuất hiện của cái mà bệnh nhân gọi là “nhân cách thực” của mình, và cảm thấy vào thời điểm vẽ bức tranh này mình đã đạt tới cực điểm của đời mình, đó là một khoảnh khắc của sự giải thoát to lớn192. Jung gắn điều này với sự phát sinh của tự ngã193 và chỉ ra rằng bệnh nhân lúc này đang ở thời điểm của sự nhận biết có ý thức về tự ngã khi mà "sự giải thoát đã thành một hiện thực được hòa nhập vào ý thức”194.

Trong bức tranh số 4, có một sự biến đổi đáng kể trong quả cầu. Bây giờ có một sự biệt hóa: nó được phân chia thành một “cái màng bên ngoài và một cái nhân bên trong”195. Con rắn đang bơi trên quả cầu ở bức tranh trước thì bây giờ đang xâm nhập vào quả cầu và làm thụ thai nó. Bức tranh số 4 liên quan tới việc thụ thai và dùng những hình ảnh ít nhiều có tính tình dục. Bà đã gạt bỏ sự đồng nhất hóa nam tính và mở ra những khả năng mới cho cuộc sống của mình. Khi bệnh nhân cùng Jung diễn giải bức tranh trên, cả hai đều phát hiện ra một ý nghĩa phi cá nhân: bản ngã phải tự do để mở rộng phạm vi nhằm bao gồm cả những mặt tiêu cực và tích cực của toàn bộ nhân cách (sự hòa nhập bóng âm). Sự hợp nhất của con rắn và quả cầu phản ánh sự hợp nhất của những mặt đối lập trong tâm thần bệnh nhân. Jung tránh những giải thích chuyển dịch tình dục cụ thể mà có thể rất dễ dàng thực hiện được ở đây bởi vì chúng sẽ đưa tới thuyết quy giản tình dục và sẽ thất bại trong việc thúc đẩy quá trình cá nhân hóa. Sự đau khổ mà bệnh nhân đang phải chịu ở đây là sự chấp nhận thoải mái những cách diễn giải theo thuyết duy cá nhân, tức là những ham muốn tình dục của cô ta với Jung - một người đàn ông và nhận biết rằng mình không phải đang yêu nhà phân tích, điều khiển bệnh nhân trở nên thân tình thái quá, mà là cấp độ cổ mẫu của quá trình cá nhân hóa đang được kích hoạt, và nó diễn ra ngoài những quan hệ cá nhân giữa họ. Đó chính là sự hoạt động của tự ngã, xuất hiện thông qua hình ảnh này.

Loạt tranh bây giờ có chiều sâu lớn hơn nhiều và thể hiện chi tiết các vấn đề của bóng âm và sự hòa nhập của cái tốt và cái xấu. Trong bức tranh số 5, cái xấu bị cự tuyệt, và con rắn bị gạt ra ngoài quả cầu. Bức tranh số 6 cho thấy một nỗ lực thống nhất các mặt đối lập bên trong và bên ngoài, một chuyển động hướng tới sự nhận biết ý thức. Bức tranh số 7 cho thấy sự trầm cảm cùng với kết quả là sự phát triển ý thức xa hơn. Bức tranh số 8, rất quan trọng, minh họa sự chuyển động hướng tới mặt đất, người mẹ, nữ tính. Đó chính là lí do mà người phụ nữ này đến châu Âu; bà đang cố gắng gắn bó vững chắc với khía cạnh nữ tính của chính mình. Bức tranh số 9 lại một lần nữa chỉ ra cuộc đấu tranh để thống nhất các mặt đối lập, tốt và xấu. Trong bức tranh số 10, những sự đối lập được cân bằng nhưng lần đầu tiên hình ảnh con cua xuất hiện. (Người phụ nữ này, trên thực tế, chết vì ung thư mười sáu năm sau). Bức tranh số 11 cho thấy tầm quan trọng ngày càng tăng của thế giới bên ngoài đang bắt đầu che phủ đi giá trị của sơ đồ vũ trụ. Từ đó trở đi, chủ đề sơ đồ vũ trụ được lặp lại dưới nhiều hình thức, mỗi chiếc thể hiện một sự hòa nhập sâu hơn và là biểu hiện của tự ngã. Loạt tranh này lúc đầu kết thúc với bức tranh số 19, nhưng sau đó người phụ nữ còn tiếp tục hơn mười năm sau khi điều trị và cuối cùng kết thúc với bức tranh số 24, hình đóa sen trắng đẹp với phần tâm màu vàng được đặt nằm trong một vòng tròn màu vàng dựa vào một cái nền đen chắc. Một ngôi sao vàng lẻ loi ở trên đóa sen. Chính đóa sen dựa trên một luống những chiếc lá xanh và bên dưới những chiếc lá dường như là hai con rắn vàng. Đó là một hình ảnh tráng lệ của tự ngã, rõ ràng và được nhận biết đầy đủ. Jung từ chối bình luận về những hình ảnh sau bức tranh số 19, nhưng chúng tự biểu hiện cho sự sâu sắc hơn và tăng cường hơn cái tự ngã không được phát hiện và được trải qua trong và sau giai đoạn phân tích.

Kết luận của Jung về trường hợp này là người phụ nữ, trong quá trình phân tích, đang ở những giai đoạn ban đầu của quá trình cá nhân hóa mạnh mẽ. Trong giai đoạn phân tích với ông, người phụ nữ này đã trải nghiệm sự xuất hiện không bao giờ có thể quên của tự ngã trong ý thức, và trong những tuần lễ và tháng sau đó, bà cố gắng thống nhất những mặt đối lập trong cái khuôn tâm thần bà. Bà có thể thoát khỏi sự đồng nhất với animus và tái thống nhất với cái hạt nhân nữ tính của chính mình. Ở đây, bản ngã trở nên tương đối khi so với tự ngã và bà có thể trải nghiệm tâm thần cổ mẫu phi cá nhân. Đó là những đặc điểm kinh điển của những gì mà ông gọi là quá trình cá nhân hóa trong nửa sau của cuộc đời.

Những vận động của tự ngã

Có lẽ phải nói vài điều cuối cùng về chủ đề cá nhân hóa. Quan điểm của Jung về tự ngã mang cả tính cấu trúc lẫn động lực. Trong chương trước tôi chủ yếu tập trung vào những đặc điểm cấu trúc của nó. Nhưng khi xem xét quá trình cá nhân hóa, đặc điểm nổi bật là phẩm tính động lực của nó. Jung nghĩ về tự ngã như một sự biến đổi liên tục trong cuộc đời con người. Mỗi hình ảnh cổ mẫu xuất hiện theo một trình tự phát triển từ khi sinh ra đến tuổi già - đứa bé thần thánh, anh hùng, puer - bé trai và puella - bé gái196, vua và nữ hoàng, bà già và ông già thông thái - là những mặt hay những biểu hiện của cổ mẫu duy nhất này. Trong giai đoạn phát triển, tự ngã tác động đến tâm thần và tạo ra những biến đổi ở cá nhân trên mọi cấp độ: thể chất, tâm lí, và tinh thần. Quá trình cá nhân hóa được thúc đẩy bởi tự ngã và được thực hiện thông qua cơ chế bù trừ. Trong khi bản ngã không tạo ra hoặc kiểm soát được quá trình này, nó vẫn có thể tham dự bằng việc nhận thức nó.

Cuối tác phẩm Aion, Jung vẽ một sơ đồ để minh họa những biến đổi mang tính động lực của tự ngã. Sơ đồ này trông hơi giống nguyên tử carbon.

Image

Sơ đồ này cho thấy một công thức biến đổi của một thực thể duy nhất là tự ngã trong bối cảnh một liên thể (continuum) của đời sống tâm lí cá nhân. Bằng sơ đồ này, Jung cố gắng phác họa một vận động trong tự ngã từ tính khả năng thuần túy đến sự hiện thực hóa. “Quá trình thể hiện qua mô hình này biến đổi một tổng thể vô thức thuần túy thành một tổng thể ý thức”197. Bởi vì nó mô tả một quá trình biến đổi liên tục của một bản chất duy nhất nên nó cũng là một quá trình biến đổi và đổi mới cũng như là một chuyển động hướng tới ý thức.

Sự chuyển động bắt đầu từ Quaternio198 A, phản ánh cho cấp độ cổ mẫu, cực tinh thần của phổ tâm thần. Ở đây nó biểu hiện như một hình ảnh lí tưởng. Khi quá trình này tuân hoàn từ Quaternio A sang Quaternio B, Quaternio C, Quaternio D và cuối cùng lại trở về Quaternio A để lặp lại một lần nữa, thì một nội dung tâm thần, một hình ảnh cổ mẫu, xâm nhập vào hệ tâm thần tại cực cổ mẫu của phổ tâm thần và một quá trình hòa nhập được tạo ra trên một trong ba cấp độ kia. Đầu tiên, hình ảnh xoay tròn qua bốn điểm của quaternio cổ mẫu (A) và ý tưởng trở nên rõ nét hơn. Sau đó ý tưởng chuyển tới cấp độ B qua con đường b nhỏ bởi một quá trình giống với sự chuyển đổi mức năng lượng trong một nguyên tử. Đây là bước chuyển sang một mức khác của ý thức. Giờ ý tưởng tồn tại ở mức bóng âm, và ở đây nó xâm nhập vào thực tế và đời sống thường ngày nơi mà các đối tượng luôn thể hiện bóng âm. Ý tưởng này có được một tính chất xác thực, và ý niệm về một sự thống nhất, toàn thể, và tổng thể phải tồn tại được trong cuộc sống. Ý tưởng thể hiện điều này qua mức tâm thần này và bây giờ phải được nhận biết cụ thể trong không gian và thời gian, và nó tạo ra những giới hạn và các vẫn đề. Jung nói rằng mọi hành động của con người có thể được xem là tích cực hay tiêu cực199 và khi chuyển từ ý nghĩ sang hành động cũng là lúc mà con người đang bước vào thế giới của những khả năng của bóng âm. Mọi hành động đều dẫn tới một phản ứng. Nó có một tác động bên ngoài và do vậy khi một ai đó thực sự bắt đầu cá nhân hóa, tạo nên những biến đổi khiến những người khác bắt đầu phàn nàn thì anh ta đang biến đổi trong cấu trúc bốn phần của bóng âm. Ý tưởng được hiện thực hóa, có tác động lên hành vi trong cuộc đời thực, và hướng xuống mức bản năng. Các cổ mẫu và bản năng trở nên gắn kết tại mức này và khi ý tưởng chuyển vào cấu trúc bốn phần của bóng âm, nó mang ngày càng nhiều thuộc tính hiện thực và bản năng.

Khi ý tưởng xuống tới mức C thì nó đạt tới mức độ thể chất, nằm hết sức sâu trong phần vật chất của cơ thể và chính cơ thể cũng bắt đầu biến đổi. Nguyên tắc tổ chức bắt đầu bằng hình ảnh này và xâm nhập vào tâm thần thì trở thành hành vi, sau đó chạm đến và tụ họp các bản năng lại, giờ đây bắt đầu tác động đến cơ thể theo cách giống như nó tái tổ chức các phân tử. Mức thể chất sâu này nằm ngoài rào chắn giống tâm thần của tâm thần. Đây chính là một sức mạnh thúc đẩy nằm sau sự tiến hóa. Cấu trúc đi theo hình thức.

Ở mức D, mức độ năng lượng đã được đạt tới. Nằm ở đây là nguồn gốc của năng lượng kết tinh thành vật chất. Đây là mức dưới phân tử và dưới nguyên tử của năng lượng và các hình thức đã hình thành nên nó. Đạt tới cấp độ này là đạt tới sự biến đổi sâu sắc thực sự, sự biến đổi tại chính cấp năng lượng và tổ chức của nó.

Công thức này giời thiệu một tượng trưng của tự ngã, bởi vì tự ngã không chỉ là một lượng tĩnh hay một hình thức không đổi mà nó là một quá trình động lực. Cũng như vây thì những người cổ xưa nhận thấy hình ảnh Chúa trong con người không chỉ như một du ấn, một loại n tượng thiếu sức sống, rập khuôn định hình mà là một sức mạnh tích cực. Bốn sự biến đổi này phản ánh cho một quá trình phục hồi hay đổi mới đang diễn ra, nếu có thể nói vậy, trong chính bản thân tự ngã, và có thể so sánh nó với chu trình biến đổi carbon-nitrogen ở mặt trời khi ht nhân carbon chiếm lấy bốn proton... và giải phóng chúng khi kết thúc mỗi chu trình đó dưới dạng một tiểu phần alpha. Chính hạt nhân của carbon xuất hiện từ phản ứng thì không đổi, “giống như phượng hoàng ra đời từ đống tro tàn”. Bí ẩn của tồn tại, tức là sự tồn tại của nguyên tử và nhữngphần cấu thành nó có lẽ thực sự nằm ở một quá trình tự đổi mới vô tận, và chúng ta sẽ đi đến kết luận tương tự để giải thích cho sự linh thiêng của các cổmu200.

Dự đoán chương tới, chúng ta có thể nghĩ về tự ngã như một thực thể vũ trụ xuất hiện trong đời sống con người và tự đổi mới nó vô tận qua sự xoay vòng của nó xuyên suốt tâm thần. Có lẽ nó dựa trên các cá nhân con người để trở thạnh tự ý thức về mình, để hóa thân trong thế giới ba chiều của không gian và thời gian, và cũng là tự làm mới mình và mở rộng sự tồn tại của nó. Nó tồn tại trong vũ trụ và nằm ngoài tâm thần. Nó sử dụng tâm thần của chúng ta và thế giới vật chất, bao gồm cả cơ thể chúng ta vì những mục đích của nó, và vẫn tiếp tục sau khi chúng ta già đi và chết. Chúng ta cung cấp một ngôi nhà làm nơi cho nó xuất hiện và cư trú, nhưng với sự tự hào của mình và sự tăng quá mức của bản ngã, chúng ta đã tán thưởng quá nhiều cho tài năng và vẻ đẹp của nó.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.