Trong tự truyện của mình, Jung đã kể lại một câu chuyện về việc phát hiện ra anima127 ông viết rằng trong những năm tháng nghiên cứu sâu về nội tâm sau khi chấm dứt quan hệ với Freud vào năm 1913, có một thời kì khi ông tự hỏi mình về bản chất và giá trị của những gì mình đang làm. Đó phải chăng là khoa học? Ông tự hỏi mình. Hay đó là nghệ thuật? Ông ghi chép những giấc mơ của mình, diễn giải chúng và thỉnh thoảng vẽ chúng và cố gắng hiểu xem ý nghĩa của những huyễn tưởng tự phát của mình. Có một thời điểm ông nghe thấy tiếng một phụ nữ cất lên “đó là nghệ thuật”. Thật ngạc nhiên, ông bước vào đối thoại với người phụ nữ này và dần dần nhận ra rằng cô ta giống một bệnh nhân của mình. Do đó, người phụ nữ này là một hình ảnh được nội chiếu nhưng đồng thời cũng là người đã nói những suy nghĩ và giá trị vô thức của họ. Trong bản ngã và cái mặt nạ của mình, Jung coi mình là một nhà khoa học chứ không phải một nghệ sĩ. Nhưng tiếng nói này lại thể hiện một quan điểm khác. Trong khi vẫn duy trì vị trí của bản ngã ý thức, ông bắt đầu một cuộc đối thoại với hình ảnh này và nghiên cứu về nó. Đối với ông, trong hình ảnh này có nhiều điều hơn là hình ảnh nội chiếu của người bệnh đó đơn thuần. Dần dần thông qua đối thoại, người phụ nữ đó định hình và mang dáng vẻ một con người đầy đủ hơn. “Tôi cảm thấy hơi lo ấu bởi cô ta. Nó giống như cảm xúc của một hiện diện vô hình trong căn phòng”128, ông kể lại.
Đối với Jung, đây là một kinh nghiệm nội tâm quan trọng về phần tâm thần vô thức nữ tính-anima, và nó trở thành một điểm quy chiếu chính cho biểu hiện của anima trong kí ức tập thể của tâm lí học phân tâm. Kể từ sau Jung, nhiều người khác thực hiện tưởng tượng tích cực đã phát hiện ra những hình ảnh nội tâm tương đương. Thông thường thì đối với nam giới anima là một hình ảnh phụ nữ; và đối với phụ nữ, hình ảnh bên trong tương ứng được gọi là animus mang đặc điểm nam tính. Anima và animus là những tiểu nhân cách chủ quan phản ánh một lớp sâu hơn của vô thức so với bóng âm. Dù thế nào chúng cũng bộc lộ những đặc điểm của tâm thần và đưa tới vương quốc của vô thức tập thể.
Trong chương này tôi sẽ nói tới cấu trúc nội tâm này là anima/us. Giống như bóng âm, nó là một nhân cách trong tâm thần không không phù hợp với sự tự thể hiện và cá tính mà mặt nạ phản ánh được phản ánh bởi cái mặt nạ. Tuy nhiên, nó cũng khác với bóng âm ở chỗ nó không thuộc về bản ngã; nó có tính “khác” nhiều hơn là bóng âm. Nếu sự khác biệt giữa cái mặt nạ và bóng âm là “tốt đối với xẩu” nhiều và ít, là các mặt tích cực và tiêu cực của bản ngã thì sự khác biệt giữa bản ngã và anima/us được đặc trưng bởi sự đối lập nam tính và nữ tính. Đây không phải là sự khác biệt giữa Cain và Abel mà là giữa Solomon và nữ hoàng Sheba.
Xác định anima và animus
Trong tất cả các mặt của lí thuyết Jung, chủ đế của chương này đã bị tranh luận nhiều dưới hình thức này hay khác vì nó nêu lên những vấn đế giới sâu sắc và giả định những khác biệt căn bản trong tâm lí nam giới và nữ giới. Trong khi chủ đề này dường như bình lặng trong thời của Jung thì ngày nay nó rất vang động. Đối với một số người đương thời thì Jung là một người mà vào thời của mình đã dự báo trước và thực sự ủng hộ thuyết nữ quyền. Đối với những người khác, dường như Jung là một người phát ngôn cho những quan điểm truyền thống có tính rập khuôn về sự khác biệt giữa nam và nữ. Thực tế tôi nghĩ Jung mang trong mình cả hai quan điểm đó.
Trong những tác phẩm sau này, Jung nói tới anima và animus như là những hình ảnh cổ mẫu của tâm thần. Do đó về căn bản chúng nằm ngoài ảnh hưởng của những sức mạnh tạo dựng và hình thành ý thức của các cá nhân như gia đình, xã hội, văn hóa, và truyền thống. Các cổ mẫu không bắt nguồn từ văn hóa; mà đúng hơn các hình thức văn hóa (trong lí thuyết của Jung) bắt nguồn từ các cổ mẫu. Định nghĩa này về anima/us như là những cổ mẫu do vậy đã đặt bản chất sâu nhất của nó ngoài tâm thần hoàn toàn, trong lĩnh vực những hình thức và sức mạnh tinh thần phi cá nhân. Anima và animus là những hình thức sống căn bản và chúng định hình các cá nhân và xã hội con người bên cạnh những ảnh hưởng khác. Cổ mẫu, như tôi đã nói trong chương 4, là một Ding an sich (Kant: vật tự nổ), và do đó nằm ngoài phạm vi của nhận thức con người. Chúng ta chỉ có thể nhận thức nó gián tiếp bằng cách nhận biết những biểu hiện của nó.
Anima/us, nói một cách nghiêm túc, là một giả thuyết khoa học về những gì tồn tại nhưng không thể quan sát trực tiếp, giống như một ngôi sao không ai biết mà vị trí và kích cỡ chỉ có thể được biết từ việc đo lường lực hấp dẫn ở những vùng lân cận của nó. Nhưng, bởi vì những biểu hiện của anima, và animus như Jung nêu ra và mô tả trên thực tế thường tương ứng với những hình ảnh văn hóa nổi tiếng được hóa thân bởi những người đàn ông và phụ nữ truyền thống, nên một câu hỏi xuất hiện: liệu Jung có là nạn nhân của những tấm màn văn hóa của mình mà vô tình trở thành người thuyết trình những hình rập khuôn văn hóa? Nói theo cách khác, trên thực tế thì các “cổ mẫu” có phải là những cấu trúc xã hội không? Hoặc là Jung đang nghiên cứu những cấu trúc sâu hơn được biểu hiện dưới những mẫu hình văn hóa này nhưng vượt qua chúng và thực sự là những hình thức phổ biến của những nét tâm lí và hành vi con người? Tôi sẽ không trả lời câu hỏi này một cách xác định trong chương này mà hi vọng sẽ nêu ra trường hợp là vấn đề phức tạp hơn và suy nghĩ của Jung cũng phức tạp hơn nhiều người chỉ trích ông đã nêu ra. Đồng thời, tôi cũng sẽ cố gắng trình bày quan điểm của ông sáng tỏ nhất có thể.
Chúng ta sẽ bước vào vùng này một cách cẩn thận, cố gắng nắm bắt những ý nghĩa của Jung về những thuật ngữ khó hiểu từng bước một. Nếu những vị trí trên bản đồ tâm thần mà chúng ta đang khảo sát cho tới nay dường như tương đối rõ ràng và được xác định rõ thì địa hạt của anima và animus thỉnh thoảng giống như một vùng hoang vu sâu thẳm và rối mù. Có lẽ nó nên là như vậy vì ở đây chúng ta đang bước vào những lớp sâu hơn của vô thức, vô thức tập thể, vùng của những hình ảnh cổ mẫu, nơi các ranh giới đang còn lờ mờ.
Trước khi đề cập vấn đề giới liên quan với những thuật ngữ khác, tôi sẽ chỉ ra rằng một giải thích về anima và animus sẽ không đòi hỏi nêu lên vấn đề giới. Giới có thể xem là một đặc điểm thứ phát của anima/us, giống như bản chất của đối tượng không bị quyết định bởi màu xanh hay hồng. Có một cách có tính cấu trúc, trừu tượng để hiểu anima/us. Bởi vì có thể nói về đặc điểm này của tâm thần như một cấu trúc trừu tượng, tôi sẽ sử dụng, trong suốt chương này, khái niệm anima/us. Điều này chỉ ra một cấu trúc tâm thần chung cho nam và nữ. Hai đuôi -a và -us sẽ được sử dụng khi tôi đề cập đến các đặc điểm được giới tính hóa của đối tượng nội tâm này. Xét một cách trừu tượng, anima/us là một cấu trúc tâm thần (a) bổ sung cho cái mặt nạ và (b) liên kết bản ngã với lớp sâu nhất của tâm thần, tức là hình ảnh và kinh nghiệm về tự ngã.
Như đã đề cập ở chương trước, cái mặt nạ là một thái độ quen thuộc mà bản ngã chấp nhận nhằm dấp ứng đòi hỏi của thế giới. Nó là một nhân cách xã hội và nhằm làm dễ dàng sự thích ứng trước những đòi hỏi của hiện thực vật chất và chủ yếu là xã hội. Nó là một “phức cảm chức năng”, sử dụng thuật ngữ của Jung từ định nghĩa của ông trong tác phẩm năm 1921 Các loại hình tâm lí. Nó hoạt động như một lớp da bọc trên cơ thể, tạo ra một rào chắn bảo vệ giữa bản ngã và thế giới bên ngoài. Tương tự, anima/us cũng là một phức cảm chức năng nhưng liên quan đến việc thích nghi với thế giới nội tâm. “Chức năng chủ yếu của animus (cũng như của anima) là nhằm duy trì ý thức cá nhân và vô thức tập thể; nói một cách chính xác thì cái mặt nạ là một tầng giữa bản ngã ý thức và những đối tượng của thế giới bên ngoài. Animus và anima sẽ hoạt động như một chiếc cầu nối hay một cánh cửa, dẫn tới những hình ảnh của vô thức tập thể, giống như cái mặt nạ là một loại cầu bắc ra thế giới”129. Nói theo cách khác, anima/us cho phép bản ngã xâm nhập và trải nghiệm những chiều sâu của tâm thần.
Vào năm 1921, khi đã thoát khỏi sự phụ thuộc vào Freud và chuẩn bị đưa ra những quan điểm riêng của mình về tâm lí học chiều sâu, Jung xuất bản Các loại hình tâm lí, trong đó ông tóm lược lí thuyết mới của mình cho đến lúc đó. Trong tập sách này, nhiều thuật ngữ mới xuất hiện và được sử dụng để xác định những quan điểm xét lại của ông về bản chất và cấu trúc của tâm thần. Quả thật đúng là ông cảm thấy (như tôi đã nói ở chương 5) một nhu cầu đưa một chương các định nghĩa vào phần kết luận của tác phẩm này. Đó là những định nghĩa chi tiết và có thể hiểu như một kiểu sách giáo khoa về tâm lí học phân tích. Ở đây, ông trình bày một sự xem xét sâu sắc các khái niệm anima và animus trong hai mục “linh hồn” và “hình ảnh tâm hồn”. Những định nghĩa này, dù có đôi chút cứng nhắc và đơn giản, cũng giúp đưa ra những giới hạn và định hình cho những thuật ngữ của ông, ít nhất là theo cách ông sử dụng chúng vào thời điểm đó.
Đề cập đến việc định nghĩa anima/us, ông đối lập nó với cái mặt nạ persona: “cái mặt nạ hoàn toàn chỉ nói đến liên hệ với các đối tượng”130, trong khi đó anima/us nói đến liên hệ của bản ngã với chủ thể. “Qua ‘đối tượng’, trên tất cả, tôi muốn nói đến những xao động, cảm xúc, suy nghĩ, cảm giác mơ hồ xuất hiện trong chúng ta không bắt nguồn từ bất kì sự liên tục có thể chứng minh được của kinh nghiệm ý thức về đối tượng, mà bùng phát như một sự quấy rối, ức chế và thỉnh thoảng như là một ảnh hưởng hữu ích từ những chiều sâu tăm tối nội tâm”131. “Chủ thể” ở đây chủ yếu là thế giới vô thức, không phải của bản ngã. Đây là khía cạnh chủ quan của tâm thần, là nền tảng của nó, và là không gian nội tâm của nó. Nó chứa những “đối tượng nội tâm”, tức là những gì mà Jung thỉnh thoảng gọi là “imago” hay đơn giản là “hình ảnh” hay “nội dung”. Bởi thuật ngữ “chủ thể”, ít nhất trong văn cảnh đặc thù này, nói tới vô thức, nên theo sau nó sẽ hợp lí là , “giống như một liên quan tới đối tượng bên ngoài, một thái độ bên ngoài [tức là cái mặt nạ] nên cũng có một liên hệ tới đối tượng nội tâm, một thái độ nội tâm”132.
Jung thừa nhận rằng “có thể dễ dàng hiểu được rằng, do bản chất cực kì sâu kín và không thể tiếp cận được, thái độ nội tâm này sẽ khó phân biệt hơn nhiều so với thái độ bên ngoài, được trực tiếp tri giác bởi mọi người”133. Người ta có thể dễ dàng quan sát người khác đối xử với mọi người thế nào, nhưng phải đòi hỏi sự tinh tế hết sức mới có thể nhận biết được cách người ta tự đối xử với chính mình. Thái độ của họ đối với thế giới bên trong là gì? Liệu nó có dễ đón nhận và nồng ấm (như cái mặt nạ không), hay là nó khắc nghiệt và chỉ trích quá mức. Nhiều người rộng lượng bên ngoài lại là kẻ thù xấu nhất của chính mình ở bên trong - những thẩm phán ác nhất và chỉ trích khắc nghiệt nhất - nhưng chúng được che giấu sau một chiếc mặt nạ tốt bụng và đẹp đẽ. Hoặc một người có thể rất hay phán xét người khác trong khi lại xử sự trong đời sống nội tâm của chính mình với sự khoan dung đầy cảm xúc. Cần phải biết rõ về một người trước khi hiểu được họ thực sự đối xử với chính họ ở bên trong ra sao. Liệu họ có xem xét mình một cách nghiêm túc? Liệu họ có đối xử với mình như trẻ con? Những cách mà họ thực sự cảm nhận về cái mình nội tâm sâu thẳm đặc trưng cho thái độ anima hay animus của họ.
Jung nói sâu hơn cũng trong đoạn này “một người sẽ không để mình bị quấy rầy dù ít nhất bởi những quá trình nội tâm của mình... người khác lại hoàn toàn phó mặc cho nó... một cảm giác khó chịu mơ hồ làm xuất hiện trong đầu anh ta một ý tưởng rằng mình đang mắc một bệnh bí mật nào đó, một giấc mơ làm tràn ngập anh ta với những linh cảm u ám... Có người coi đó như là sinh lí học, người khác gán những thuộc tính đó cho hành vi của những người hàng xóm, người khác phát hiện trong đó một sự khải huyền tôn giáo”134. Do đó, Jung kết luận, thái độ nội tâm có liên hệ với một phức cảm chức năng xác định giống như thái độ bên ngoài. Có vẻ như, một người lờ đi các quá trình tâm thần bên trong thiếu một thái độ nội tâm điển hình cũng như những người bỏ qua đối tượng bên ngoài và các sự kiện thực tế thiếu một thái độ bên ngoài điển hình”135.
Đoạn trên đã tóm lược định nghĩa mang tính cấu trúc của Jung về anima/us khi ông giới thiệu nó trong tác phẩm Các loại hình tâm lí năm 1921 của mình. Anima/us là một thái độ chi phối mối liên hệ của một người với thế giới nội tâm của vô thức - sự tưởng tượng, những ấn tượng chủ quan, các ý tưởng, cảm xúc và rình cảm. Cho đến lúc đó thì điều này vẫn chưa nói gì về nội dung của cấu trúc bên trong này hay về giới. Định nghĩa trực tiếp thông thường là anima, là phần nữ tính nội tâm đối với một người đàn ông và animus là phần nam tính nội tâm đối với một phụ nữ. Nhưng một người cũng có thể nói một cách đơn giản về chúng như là những cấu trúc chức năng nhằm phục vụ một mục đích đặc thù liên quan với bản ngã. Là một cấu trúc tâm thần, anima/us là một công cụ nhờ nó đàn ông và đàn bà tham gia và điều chỉnh đối với những phần sâu hơn của bản chất tâm lí của chúng. Giống như cái mặt nạ hướng ra thế giới xã hội và hỗ trợ sự thích nghi bên ngoài cần thiết, anima/us hướng vào thế giới nội tâm của tâm thần và giúp một người thích ứng với những đòi hỏi và yêu cầu của những suy nghĩ, cảm xúc, hình ảnh và tình cảm có tính trực giác thách thức bản ngã.
Chẳng hạn, một người thường xuyên đa cảm được gọi là có một “vấn đề anima". “Anh ta đang ở trong trạng thái anima ngày hôm nay”, một người có thể nói với một người bạn. Anima của anh ta, thay vì tìm cách giúp kiểm soát cảm xúc, giải phóng một cảm xúc xâm nhập vào bản ngã ý thức giống như một loại khí và mang theo cùng nó trong trạng thái đình chỉ, nếu có thể nói như vậy, một lượng lớn cảm xúc thô sơ và không biệt hóa. Ít nhất thì sự can thiệp vào hoạt động của bản ngã này cũng được biết đến như vậy. Bản ngã của một người đàn ông trở nên đồng nhất với nhân cách anima, mà luôn luôn nhạy cảm quá mức và đầy cảm xúc. Anima của anh ta không phát triển cao và thay vì giúp anh ta đương đầu với một cảm xúc tràn ngập lại hút anh ta sâu hơn vào trong đó. Một người đàn ông có cảm xúc sâu sắc và thường xuyên có một liên hệ hết sức gần gũi với một phần - thường là phần cấp thấp - của nhân cách mình. Dĩ nhiên nếu là một nhà thơ giống Rilke, người có một vấn đề lớn về anima, thì anh ta có thể sử dụng mối quan hệ này một cách sáng tạo. Tuy nhiên, anh ta lại chỉ có thể đa cảm và tăng phản ứng khác thường trước những quấy rối và tổn thương nhỏ nhẹ và do đó rối loạn chức năng tâm lí. Mối liên hệ của anh ta nói chung tràn đầy xung đột bởi vì anh ta có những phản ứng cảm xúc quá mạnh không kiểm soát được. Anima áp đảo hơn là giúp đỡ anh ta.
Tương tự, những người phụ nữ có một “vấn đề animus” cũng luôn luôn bị chi phối bởi vô thức, điển hình là những suy nghĩ và ý kiến đầy cảm xúc kiểm soát họ hơn là họ kiểm soát chúng. Điều này không khác gì với một người đàn ông bị anima chi phối, chỉ có điểm khác biệt là ở phụ nữ, nó thiên về trí tuệ hơn. Những ý kiến và quan điểm tự động này đưa tới sự quấy rối sự thích nghi của người phụ nữ với thế giới bởi vì chúng đi kèm với năng lượng tình cảm của một kẻ mạnh. Thường thì chúng gây ra sự phá hoại những quan hệ của họ bởi vì những người gần họ phải tạo dựng một sự bảo vệ mình khi tiếp xúc với họ. Họ cảm thấy cần phòng vệ và không thoải mái trước sự xuất hiện của những người phụ nữ này. Mặc dù muốn được đón nhận và tâm tình nhưng họ không làm được bởi vì bản ngã của những người phụ nữ này là đối tượng của sự xâm hại của các năng lượng phá hoại - cái có thể biến đổi họ thành bất cứ thứ gì ngoại trừ trở thành những người tốt hơn và lịch thiệp hơn như họ muốn. Thay vào đó, họ cứng nhắc và bị chi phối bởi những cố gắng vô thức vì quyền lực và kiểm soát. Đầy là những gì mà Jung gọi là sự chi phối của animus. Animus là một nhân cách đầy sức mạnh không phù hợp với bản ngã hay cái mặt nạ mong muốn. Đó là một “con người khác”.
Những người đàn ông bị chi phối bởi anima có xu hướng rút lui vào những cảm xúc thương tổn; những người phụ nữ bị chi phối bởi animus có xu hướng tấn công. Đây là một khác biệt thông thường giữa hai giới và dĩ nhiên nó cần phải được xem xét lại dưới ánh sáng của những phát triển văn hóa gần đây. Tuy nhiên trong cả hai trường hợp, bất kể nội dung của sự “chi phối” diễn ra như thế nào, thế giới vô thức nội tâm vẫn không bị ngăn cản hoàn toàn và sự cần thiết phi lí và cảm xúc quấy rối và bóp méo những mối quan hệ bình thường với người khác và với cuộc sống nói chung. Sự chi phối của animal animus đã làm cho cái cổng vô thức mở ra và trên thực tế đã để mọi thứ đủ năng lượng xuyên qua. Những tình cảm và ý nghĩ bất chợt quét qua và cuốn một người theo nó. Sự kiểm soát xung động là tối thiểu, không có sự ngăn cản về suy nghĩ và tình cảm. Dĩ nhiên đó cũng là một vấn đề của bản ngã - triệu chứng của một bản ngã không phát triển, nó không thể nắm giữ hay chứa đựng những nội dung mà bình thường luôn hiện diện trong ý thức nhưng cần phải được suy nghĩ và xử lí trước khi đưa đến hành động hay lời nói. Nhưng cũng có vấn đề về sự quá kém phát triển trong cấu trúc animal animus. Việc thiếu hụt sự phát triển này giống như sự teo cơ. Nó quá yếu ớt và không đủ khả năng khi yêu cầu đòi hỏi. Những người đàn ông như vậy thường tìm kiếm một người phụ nữ có thể giúp họ kiểm soát cảm xúc của mình và những người phụ nữ sẽ tìm kiếm một người đàn ông có thể đón nhận những suy nghĩ và cùng chia sẻ với họ. Vì thế những người như vậy thường bước vào trò chơi của quan hệ giữa bản ngã và anima/us.
Vì mục tiêu thảo luận, tôi muốn mô tả một sự phát triển tâm lí lí tưởng (có tính lí thuyết cao và khó có thể xảy ra). Những phần ý thức và vô thức của hệ thống tâm thần cùng hoạt động trong một sự tương tác hài hòa và cân bằng và điều này diễn ra phần nào giữa anima/us và cái mặt nạ. Ở đây, bản ngã không bị tràn ngập bởi nội dung từ bên trong hay bên ngoài mà được làm dễ dàng và bảo vệ bởi những cấu trúc này. Và năng lượng sống - libido - chuyển động theo một hướng tích cực hướng về sự thích nghi với những nhiệm vụ và đòi hỏi của cuộc sống. Đây là hình ảnh về một nhân cách khỏe mạnh và hoạt động cao có thể tiếp cận những nguồn bên trong và có khả năng thích nghi với bên ngoài. Thái độ hướng ra thế giới bên ngoài được cân bằng, và nó được bổ sung bởi một thái độ hướng vào thế giới bên trong. Không có thái độ nào trong đó là không gắn bó hay bị phát triển không đầy đủ. Cái mặt nạ có thể thích nghi với những đòi hỏi của cuộc sống và kiểm soát những quan hệ ổn định với thế giới tự nhiên và xã hội xung quanh. Ở bên trong có một sự tiếp cận bền vững và được kiểm soát tốt trước nguồn năng lượng và cảm hứng sáng tạo. Những sự thích nghi bên trong và bên ngoài là đầy đủ trước những đòi hỏi của cuộc sống.
Tại sao cuộc sống lại không như vậy? Thật sự là nhiều người thỉnh thoảng trải qua những điều như vậy trong cuộc đời mình. Đó là những giai đoạn làm việc và tình yêu hoàn hảo. Nhưng chúng thường chỉ là những khoảng tương đối ngắn trong một bức tranh chất nặng mâu thuẫn. Một lí do chính cho việc này là chúng ta phát triển không đầy đủ. Chỉ có rất ít sự chú ý trong nền vàn hóa đương đại của chúng ta được dành cho sự phát triển bên trong - cho những gì mà Jung gọi là “văn hóa cá nhân” ngược với văn hóa tập thể (dựa trên cái mặt nạ). Ở bên trong hầu hết chúng ta hoàn toàn mang đặc trưng cực kì nguyên thủy. Chỉ khi cái mặt nạ được lột bỏ và anima/us mở những cánh cửa vào những lớp bên trong sâu hơn của vô thức - khi mà ở vào thời trung niên chẳng hạn, bản ngã bị giằng xé bởi xung đột giữa cái mặt nạ và anima/us - thì nhu cầu cho sự phát triển bên trong trở thành một vấn đề cấp bách và được xem xét nghiêm túc. Mặc dù điều này có thể giống như sự bùng nổ của nhiễu tâm, nó cũng là lời kêu gọi một sự cá nhân hóa sâu hơn, và là thách thức thực hiện một hành trình sâu hơn vào bên trong trên con đường hướng tới sự phát triển cá nhân.
Giới và anima/animus
Chuyển sự chú ý vào anima, và animus sẽ ngụ ý tới vấn đề giới một cách trực tiếp, điều đáng chú ý trước hết là chúng là những thuật ngữ từ tiếng Latin. Giống như hầu hết những người châu Âu có trình độ của thời đại mình, Jung thành thạo những ngôn ngữ cổ điển và ông phát hiện thấy thật sự dễ dàng và thuận tiện khi sử dụng những ngôn ngữ này để đặt tên cho những hình ảnh và cấu trúc tâm thần. Anima nghĩa là “linh hồn” trong tiếng Latin và animus nghĩa là “tinh thần” (trong tiếng Đức tương ứng là Seele và Geist). Từ quan điểm này không có sự khác biệt thực sự về ý nghĩa giữa hai thuật ngữ Latin. Nếu một người nghĩ về linh hồn (anima) như là những gì rời bỏ một cơ thể chết như người La Mã và Hi Lạp giả định thì cũng tương đương vậy khi nói rằng tinh thần (animus) cũng sẽ rời bỏ cơ thể chết. Tinh thần thường được mô tả như hơi thở hay không khí và hít lấy hơi thở cuối cùng của một người khi nó rời bỏ cơ thể cũng là nắm giữ linh hồn họ. Do đó hai thuật ngữ tinh thần và linh hồn gần như có thể dùng thay cho nhau. Cũng vậy, cả hai từ này đều nói tới thế giới nội tâm của con người, tới những gì thuộc về linh hồn và tinh thần. Các câu hỏi để hỏi một người về anima và animus của họ là: tôi có loại linh hồn nào và tôi có loại tinh thần nào.
Dĩ nhiên ở đây Jung không nói về ý nghĩa tôn giáo của linh hồn khi ông sử dụng thuật ngữ anima. Ông không nói tới phần bất tử của một người như những tác giả tôn giáo truyền thống ngụ ý khi sử dụng thuật ngữ này. Ông lấy thuật ngữ này cho tâm lí học và với nó ông muốn nói tới mặt nội tâm bị che giấu của nhân cách một người đàn ông. Tương tự với thuật ngữ animus, Jung không nói tới những gì siêu hình và siêu việt - chẳng hạn, Chúa thánh thần - mà là mặt nội tâm bị che giấu của nhân cách một người phụ nữ.
Hai cái đuôi của hai từ này xác định một sự khác biệt về giới. Đuôi anim~a thể hiện nữ tính và đuôi anim-us thể hiện nam - tính. (Seele và Geist tương ứng cũng thể hiện nữ tính và nam tính trong tiếng Đức). Do đó, bằng việc gán những thuật ngữ này, một cho nam giới và một cho phụ nữ, Jung đang thiết lập một lí thuyết để chỉ ra những khác biệt căn bản (tức là cổ mẫu) giữa hai giới. Trong khi ông thường nói rằng tất cả mọi người đều chia sẻ cổ mẫu chung, trong trường hợp này thì ông đang nói về việc đàn ông có một cổ mẫu và phụ nữ có một cổ mẫu khác. Nếu Jung không muốn làm vậy, ông có thể dễ dàng sử dụng cùng một thuật ngữ cho cả hai. Hoặc là ông có thể đưa ra một thuật ngữ trung tính hơn chẳng hạn “anime”. Tuy nhiên, ông không làm vậy và điều này là quan trọng. Tại sao và như thế nào mà đàn ông lại khác phụ nữ ở mặt bên trong căn bản này.
Jung cho rằng cả hai giới đều có những thành phần và phẩm chất nam tính và nữ tính. Ở một số đoạn, ông gắn điều này với sự kiện là mỗi một giới đều có cả hai yếu tố dị truyền nam tính và nữ tính. Những khác biệt thực tế của họ chỉ là vấn đề mức độ. Trong sự nhấn mạnh này, có lẽ ông là người ủng hộ thuyết nữ quyền. Jung dường như tránh chia con người thành hai nhóm giới khác biệt nhau rõ ràng có chút ít điểm chung. Trong lí thuyết của ông, cả nam giới và phụ nữ đều có tính nam và tính nữ. Tuy nhiên những phẩm chất này được phân bố khác nhau. Và sự khác biệt này có tính cổ mẫu, không phải có tính xã hội hay văn hóa. Nói theo cách khác, nó không phải sự khác biệt có thể bị xóa bỏ bởi những thay đổi trong chính sách xã hội. Xét về mặt này, ông ít mâu thuẫn với những người ủng hộ thuyết nữ quyền đương thời những người muốn nhấn mạnh về sự khác biệt tâm lí ít có hoặc không mang tính bản chất giữa nam giới và phụ nữ. Jung nói rằng đàn ông là nam tính ở bên ngoài và nữ tính ở bên trong và phụ nữ thì ngược lại. Phụ nữ là những người cởi mở và tiếp nhận ở mặt bản ngã và cái mặt nạ của mình nhưng họ lại cứng rắn và sắc sảo ở mặt kia của nhân cách nam giới thì cứng rắn và công kích ở bên ngoài nhưng lại mềm yếu và cởi mở ở bên trong. Gạt bỏ những chiếc mặt nạ đó của nam và nữ thì việc nhận biết giới sẽ đảo ngược. Phụ nữ sẽ cứng rắn và có khả năng kiểm soát nhiều hơn nam giới và nam giới sẽ cần được chăm sóc và cởi mở hơn phụ nữ.
Ít nhất về mặt thống kê, nếu không phải đối với mỗi cá nhân, định nghĩa của Jung có vẻ đúng. Nếu môn chính trị được định hướng bởi sự nhận thức ở cấp độ cái mặt nạ, giống như những gì mà mọi người bộc lộ cho những người đi thăm dò ý kiến, thì chiến dịch của những nhân viên nhà nước có hiểu biết sẽ đạt tới quan điểm là để giành được phiếu của những phụ nữ họ sẽ phải thể hiện cảm xúc, tình cảm, và một khát vọng vẻ' sự thống nhất và khoan dung; nếu để giành phiếu của nam giới họ phải thể hiện tính logic, sự cạnh tranh, kiến quyết và nhận định đạo đức136. Về mặt khác, theo Jung, thế giới nội tâm của phụ nữ và nam giới - những nhân cách bị che giấu của họ, những cái mình vô thức khác của họ - sẽ phải là sự đối lập chính xác của chúng. Nói một cách khác, con người phức tạp hơn sự biểu hiện trước công chúng và những cuộc thăm dò cho thấy. Khi phụ nữ nhìn vào trong mình, họ sẽ gặp phải (và bộc lộ cho những người gắn bó chặt chẽ với họ) sự logic, cạnh tranh, kiên quyết, và nhận định đạo đức. Còn đàn ông sẽ thể hiện tình cảm, cảm xúc và một khát vọng thống nhất và khoan dung. Một phần nào đó, đây chính là sự phức tạp của con người mà Jung đang cố gắng phản loại bằng lí thuyết của mình về anima và animus.
Trong định nghĩa của mình năm 1921 về anima và animus, Jung đưa ra một số sự tổng quát hóa từ quan sát và kinh nghiệm của riêng mình. Điều này phác thảo những gì mà ông sẽ tập trung vào và nhấn mạnh trong nhiều tác phẩm khác sau này. “Do đặc điểm của anima, kinh nghiệm của tôi khẳng định rằng nhìn chung nó bổ trợ cho đặc điểm của cái mặt nạ. Anima cũng thường chứa đựng tất cả những phẩm chất chung của con người mà thái độ ý thức thiếu”137. Nhưng vào thời điểm đó ông vẫn chưa nêu ra khái niệm của mình về bóng âm. Sự khác biệt này giữa bóng âm và anima/us sẽ được phân loại sau đó và bóng âm thể hiện những nội dung bổ trợ cho cái mặt nạ nhưng bị loại khỏi bản sắc ý thức bởi vì chúng không tương thích với hình ảnh cái mặt nạ. Trong đoạn này, Jung đang nghĩ về kiểu đối lập với cái mặt nạ mà bóng âm sau này sẽ miêu tả, chứ không phải về những thái độ bổ trợ cho những đối tượng bên trong và bên ngoài. “Anima, thường chứa đựng tất cả những phẩm chất chung của con người mà thái độ ý thức thiếu. Một nhà độc tài bị tra tấn bởi những giấc mơ xấu, viễn tưởng ảm đạm, và những nỗi sợ nội tâm là một ví dụ điển hình... anima của anh ta chứa đựng tất cả những phẩm chất đó mà cái mặt nạ thiếu. Nếu cái mặt nạ là trí tuệ thì anima chắc chắn sẽ mang tính cảm xúc”138. Trong khi những đặc điểm này sau đó có thể gán cho bóng âm thì chính quan điểm này sau đó sẽ đưa tới vấn đề giới: “đặc điểm bổ trợ của anima cũng ảnh hưởng tới vấn đề giới tính, như tôi đã kiểm nghiệm từ chính mình mà không có chút nghi ngờ nào. Một người phụ nữ hoàn toàn nữ tính sẽ có một linh hồn nam tính, và một người đàn ông hoàn toàn nam tính sẽ có một linh hồn nữ tính”139. Sở dĩ như vậy chỉ là vì cấu trúc animal animus được xem xét như là bổ trợ cho cái mặt nạ trong đó những đặc điểm giới được thể hiện trong hình ảnh này. Nếu mặt nạ của một người đàn ông chứa đựng những phẩm chất và đặc điểm gắn bó thông thường với nam tính trong một nền văn hóa cụ thể, thì những đặc điểm của nhân cách không phù hợp với hình ảnh này sẽ bị dồn nén và tập hợp lại trong cấu trúc vô thức bổ trợ, anima. Vì thế, anima chứa đựng những đặc điểm và được xác định về cơ bản như là nữ tính trong nền văn hóa đó. Do vậy, một người đàn ông hoàn toàn nam tính ở mặt nạ sẽ có nữ tính ngang bằng ở anima.
Nhưng điều gì sẽ xảy ra với những người phụ nữ hoàn toàn không nữ tính và những người đàn ông hoàn toàn không nam tính ở mặt nạ. Liệu những người phụ nữ đó có một animus phi nam tính không và những người đàn ông đó có một anima phi nữ tính không? Có lẽ Jung sẽ theo quan điểm này trên cơ sở những tiền để đã được xác lập của ông. Một số cá nhân có lẽ sẽ không bị phân cực quá nhiều ở bên trong giữa những đặc điểm nam tính và nữ tính. Phong cách lưỡng tính nhiều hơn của những thập kỉ gần đây rõ ràng đã tách khỏi sự phân cực cổ điển về giới giữa những người đàn ông lực lưỡng và những phụ nữ thụ động. Phụ nữ ăn mặc và cư xử theo những cách nam tính nhiều hơn so với những thế hệ trước kia, và nhiều người đàn ông cũng nữ tính nhiều hơn trong cái mặt nạ so với tổ tiên trước kia của họ. Điều này ảnh hưởng thế nào đến những đặc điểm của anima và animus?Đối với nam và nữ, khi những hình ảnh tập thể có sức chi phối đối với việc ăn mặc và hành vi đúng mực của họ biến đổi, những hình ảnh bên trong của anima và animus cũng sẽ biến đổi tương ứng. Theo nguyên tắc này, những gì nằm ngoài sự thích nghi có ý thức với văn hóa đang chi phối một cá nhân sẽ chìm vào vô thức và sẽ tập hợp xung quanh một cấu trúc mà Jung gọi là anima/us. Đối với một người đàn ông hoàn toàn nữ tính, thái độ bên trong (anima) sẽ là nam tính bởi vì đây là những gì nằm ngoài sự thích nghi cái mặt nạ.
Những phẩm chất về giới này thực sự có ý nghĩa gì khi mà phải xác định bản chất và phẩm chất của thái độ nội tâm, anima và animus? Nam tính được xác định hầu như phổ biến bởi những thuộc tính như tích cực, chăm chỉ, sắc sảo, logic, quả quyết, uy quyến; nữ tính được xác định như cởi mở, mềm mỏng, trao tặng, chăm sóc, tình cảm, đồng cảm. Dù tồn tại ở nam hay nữ, những phạm trù về tính cách trên dường như ổn định. Vấn đề tranh luận là liệu những phạm trù đó có gắn với giới không. Một số những phụ nữ dường như nam tính hơn nữ tính ở chiếc mặt nạ của họ và một số đàn ông dường như nữ tính hơn nam tính nhưng điều này không làm thay đổi giới tính sinh học của họ là nam và nữ. Các thuật ngữ Trung Quốc Âm và Dương đã được nêu ra như là những thuật ngữ trung lập và phù hợp hơn cho những thuộc tính này và có lẽ chúng nên được sử dụng thay thế cho các thuật ngữ nam tính và nữ tính. Nhưng dù nói cách nào đi nữa, chúng ta cũng đang nói về những phẩm chất như nhau. Nếu xuất phát từ đây có lẽ Jung sẽ nói rằng thái độ bên trong sẽ chỉ ra những phẩm chất nằm ngoài cái mặt nạ: nếu một người là Dương ở cái mặt nạ thì sẽ là Âm trong cấu trúc anima/us. Nhưng thái độ nội tâm này, bởi vì chúng ở trong vô thức, ít nằm dưới sự kiểm soát của bản ngã và ít tinh vi và vô biệt hóa hơn so với cái mặt nạ. Do vậy, một Dương thấp kém sẽ hiện diện ở một cái mặt nạ mà Âm thống trị và một Âm thấp kém sẽ bất ngờ hiện ra vào những khoảnh khắc không bị kiểm soát bởi ý thức do Dương chi phối.
Vì vậy một phụ nữ hoàn toàn nữ tính sẽ có một linh hồn nam tính nhưng không phải hoàn toàn thuần khiết. Trong liên hệ của mình với thế giới cô ta thể hiện một thái độ nữ tính nổi bật và riêng biệt, mà chúng ta nhận ra và mô tả như là cởi mở, ấm áp, chăm lo và quan tâm. Nhưng ở người phụ nữ này có một thái độ bên trong hoàn toàn khác: mạnh mẽ, lập luận, công kích, và chi phối. Bộ mặt bên trong của người phụ nữ hoàn toàn nữ tính này bộc lộ một nhân cách thép. Tương tự, một người đàn ông hoàn toàn nam tính, một người luôn cứng rắn, đầu óc cương nghị, khách quan và công kích chứa đựng một nhân cách nội tâm đầy cảm xúc, hay xúc động, dễ bị tổn thương. Một người đàn ông mạnh mẽ yêu mến mẹ mình, em gái mình, con ngựa của mình nhưng tránh thừa nhận nó (thậm chí đối với chính anh ta) và ở nơi công cộng anh ta lảng tránh những cảm xúc đó mặc dù ở chốn riêng tư thỉnh thoảng lại thể hiện chúng và than khóc. “Sự tương phản này là do việc một người đàn ông không hoàn toàn là nam tính mà cũng có những nét nữ tính nhất định. Thái độ bên ngoài của anh ta càng nam tính thì những nét nữ tính càng bị xóa bỏ, nhưng thay vào đó chúng sẽ xuất hiện trong vô thức. Điều đó giải thích tại sao chính những người đàn ông rắn rỏi lại chịu khuất phục trước những điểm yếu đuối về tính cách; thái độ của họ với vô thức thể hiện một sự yếu đuối nữ tính và mềm yếu”. Trái lại, thường thì những người phụ nữ nữ tính nhất trong đời sống riêng của họ, lại thể hiện sự khó bảo, cứng rắn và tham vọng với mức độ như thường thấy ở thái độ bên ngoài của một người đàn ông. Đó là những nét tính cách mà, bị loại khỏi thái độ nữ tính bên ngoài, trở thành những phẩm chất trong tâm hồn người phụ nữ”140. Điều rõ ràng là ở đây Jung không nói về những hình thức nam tính và nữ tính bên trong ở mức cao nhất và phát triển nhất mà đúng hơn là những bức biếm họa, những hình thức yếu kém hơn của nam tính và nữ tính dựa trên những phần không phát triển của nhân cách cá nhân.
Sự phát triển của anima/us
Tuy nhiên, chính sự thiếu phát triển và yếu kém trên lại tạo ra cho anima, và animus khả năng cho sự phát triển xa hơn trong tâm thần. Bởi vì cái mặt nạ được dựa trên những giá trị và đặc trưng tập thể - bất kể diễn ra ở “bên trong” dưới hình thức hành vi và thái độ của nam giới và nữ giới ở một thời điểm nhất định trong nền văn hóa - khả năng trở nên là một cá nhân duy nhất không nằm ở cái mặt nạ mà ở nơi khác trong tâm thần. Chừng nào mà bản ngã ý thức của một người còn đồng nhất với cái mặt nạ và hòa nhập với nó, thì không có chỗ cho những phẩm chất của nhân cách và thể hiện cá tính tách khỏi những hình ảnh tập thể. Xung lực trở thành cá nhân bị xóa bỏ (hoặc dồn nén hoàn toàn) vì mục tiêu thích nghi. Những phẩm chất cá nhân này là gì trong trường hợp cụ thể này không thể quyết định được bằng sự khảo sát cái mặt nạ. Chúng có thể phần nào nằm trong sự thể hiện của cái mặt nạ hoặc cũng có thể bị loại bỏ gần như hoàn toàn. “Đây là một nguyên tắc cơ bản mà kinh nghiệm của tôi đã cho thấy nhiều lần... khi xem xét những phẩm chất cá nhân, không có gì có thể suy ra từ chúng [từ cái mặt nạ]... Chúng ta chỉ có thể chắc chắn rằng khi một người đồng nhất với cái mặt nạ thì những phẩm chất cá nhân của anh ta sẽ gắn với animaux141.
Đây là người đàn ông trong bộ comlê bằng Phanen vải xám, người đi làm bằng tàu mỗi buổi sáng và đồng nhất gần gũi với vai trò tập thể của mình đến mức không có con người nào khác ngoài cái hình thức đó. Tính duy nhất bẩm sinh của người đàn ông đó chỉ xuất hiện ở anima: anh ta sẽ (có lẽ là bí mật) bị hấp dẫn bởi những người phụ nữ hoàn toàn khác thường bởi vì họ chứa đựng những phóng chiếu anima của anh, họ thể hiện tâm hồn anh, họ nắm bắt được tinh thần mạo hiểm và dũng cảm của anh. Quy luật tương tự cũng đúng cho những người phụ nữ: khi sự thể hiện cái mặt nạ của họ mang tính tập thể và quy ước thi họ cũng che giấu một người yêu thầm kín bên trong (thường là vô thức với họ) đó là hình ảnh một người bạn tình thường lệ. Khi xuất hiện anh ta sẽ mê hoặc và khiến họ từ bỏ tất cả. Nguyên lí căn bản của tâm thần này có thể quan sát thấy diễn ra trong cuộc sống, và nó được mô tả trong vô vàn tiểu thuyết, các vở opera, và phim. Kết quả của sự gặp gỡ thật sự với những người tiếp nhận các phóng chiếu anima, và animus “thường làm xuất hiện trong giấc mơ đối với các kí hiệu tượng trưng của sự mang thai tâm thần, một kí hiệu trở ngược lại hình ảnh nguyên thủy về sự ra đời của anh hùng. Đứa trẻ được sinh ra thể hiện cá tính, mà hiện tại, vẫn chưa được ý thức”142. Mục đích thật sự của quan hệ của một người đàn ông chuẩn mực đó với một người phụ nữ có anima không chuẩn mực là nhằm tạo ra một đứa trẻ tượng trưng, biểu hiện cho sự thống nhất của các mặt đối lập trong nhân cách anh ta và do đó là một tượng trưng của tự ngã.
Jung nghĩ chính sự gặp gỡ này của bản ngã với anima hay animus làm phong phú tiềm năng cho phát triển tâm lí. Sự gặp gỡ với anima/us thể hiện sự gắn kết với vô thức ở mức sâu hơn so với bóng âm. Trong trường hợp bóng âm, nó là sự gặp gỡ với những phần bị từ chối và coi thường của tổng thể tâm thần, những phẩm chất cấp thấp và không mong muốn. Trong việc gặp gỡ với anima/us, đó là sự gắn bó ở cấp sâu hơn với các mức độ của tâm thần có khả năng đưa tới những mức độ sâu nhất và cao nhất (thậm chí xa nhất) mà bản ngã có thể đạt đến.
Tuy nhiên để theo đuổi trực giác này, Jung buộc phải thay đổi quan điểm và bắt đầu định nghĩa lại bản chất của anima/us. Bóng âm thường không đưa một người vượt qua nhiều những phần của tâm thần bị từ chối của cái mặt nạ, trừ khi nó đưa một người tới việc gặp gỡ với một cái xấu tuyệt đối. Về mặt khác, cấu trúc anima/us có khả năng gắn với tự ngã, một cấu trúc xa hơn nhiều. Anima/us, do đó không chỉ đơn giản là sự đảo ngược của cái mặt nạ, một hình thức phản ánh tiêu cực những thái độ tập thể của thời đại. Nó phải bám rễ sâu hơn nhiều trong vô thức tập thể và trong các cấu trúc của cổ mẫu và hình ảnh cổ mẫu. Những gốc rễ của nó phải vượt ra ngoài và sâu hơn bóng âm. Vào năm 1921, Jung đã đến gần việc tìm hiểu những nét tính cách này trong thế giới của vô thức tập thể. Ông nêu ra ngụ ý về những gì sẽ được trình bày sau đó: “theo cùng cách như cái mặt nạ, một công cụ thích nghi với môi trường, bị ảnh hưởng nặng nề bởi những điều kiện môi trường, anima được định hình bởi vô thức và những phẩm chất của nó”143. Ở đây, tuy khái niệm anima biến đổi đôi chút nhưng lại rất quan trọng. Thay vì chỉ đơn giản là một yếu tố bổ sung của cái mặt nạ, và do đó cơ bản được định hình và nhuộm màu sắc bởi những gì thuộc về cái mặt nạ, bây giờ anima được nhìn nhận như được định hình bởi vô thức và những phẩm chất của nó. Sau đó, khi Jung nhận thức về anima và animus như là những hình ảnh cổ mẫu có hình thức từ phần tinh thần nằm cuối của phổ tâm thần (xem chương 4), ông sẽ kết luận rằng anima/us được hình thành bởi cổ mẫu hơn là sự đồng thuận tập thể của thời đại. Anima và animus sẽ trở thành những hình ảnh vĩnh viễn của tâm thần, chúng là những sức mạnh hình thành tâm thần cũng nhiều như được hình thành bởi tâm thần, những sức mạnh động lực có thể phá vỡ những hình thức văn hóa và áp đặt những việc riêng của chúng lên bản ngã đầy ngạc nhiên và thỉnh thoảng mềm yếu.
“Mọi người đàn ông đều mang trong mình một hình ảnh phụ nữ vĩnh cửu; đó không phải là hình ảnh của một người phụ nữ cụ thể mà là một hình ảnh nữ tính xác định”144. Jung viết trong một tiểu luận năm 1925 về hôn nhân. Và nó đã trở thành một định nghĩa tương đối chuẩn về anima trong tâm lí học phân tích. Ở đây, Jung đang nói về bản chất cổ mẫu của anima/us và ông không đề cập tới cách mà thái độ bên trong này bổ sung cho cái mặt nạ. Ông tiếp tục điều đó khi nói rằng đây là một “nhân tố di truyền có nguồn gốc nguyên thủy” và trình bày hình ảnh một phụ nữ xuất hiện trước đàn ông chứ không phải chính người phụ nữ đó. Tương tự, animus là hình ảnh nội tâm của một người phụ nữ về đàn ông. Những hình ảnh, suy nghĩ, và giả định do những cấu trúc nội tâm này tạo ra nằm đằng sau tất cả những bối rối và mù quáng giữa đàn ông và phụ nữ. Họ hiểu nhầm lẫn nhau bởi vì họ thường liên hệ tới những hình ảnh của một người thuộc giới khác chứ không phải là những con người thực sự. Rõ ràng là những cấu trúc nội tâm này có thể bóp méo thực tế và gây ra sự hiểu nhầm giữa các cá nhân có thiện ý và lí trí. Những hình ảnh nam tính và nữ tính nằm trong vô thức của mỗi giới có tính nguyên thủy và không bị biến đổi mấy bởi hoàn cảnh lịch sử và văn hóa. Chúng gần gũi với những hình ảnh tương đối ổn định, lặp đi lặp lại chân dung của chúng trong tâm thần cá nhân từ thế hệ này qua thế hệ khác. Những gì khiến Plato và Socrates lầm lẫn về phụ nữ cũng giống như anima tạo ra những cạm bẫy cho những người đàn ông ngày nay. Và những mong đợi và khát vọng tràn ngập trái tim của Mary Magdalene tiếp tục xâm nhập vào ý thức của những người phụ nữ hiện đại bất chấp những khoảng cách rộng lớn về văn hóa và xã hội chia tách chúng. Anima và animus là những nguồn to lớn của những ảo tưởng tạo ra niềm vui cho những người mệt mỏi và nỗi buồn cho những người ngây thơ.
“Nhân tố tạo phóng chiếu là anima hay nói cách khác là vô thức được phản ánh bằng anima”145, Jung viết ở một thời điểm thuận lợi hơn khi ông ở vào tuổi già năm 1950 trong tác phẩm Aion, ở đó ông cố gắng một lần nữa tìm cách đưa ra một định nghĩa vổ nhân tố nội tâm khó hiểu này. Jung luôn luôn cho rằng những phóng chiếu tạo ra bởi vô thức và không phải bởi bản ngã. Chúng ta không phải chịu trách nhiệm về những phóng chiếu của mình, mà chỉ phải chịu trách nhiệm về việc không nhận thức chúng, không lấy lại và phân tích những phóng chiếu đó. Chúng xảy ra tự phát và tạo ra một cách nhìn về thế giới và hiện thực dựa trên những cấu trúc và hình ảnh vô thức hơn là những tri giác kiểm nghiệm được về thực tế. Bây giờ, Jung xác định nguồn của tất cả những phóng chiếu vô thức nằm trong anima/us, từ đó làm sáng tỏ bản chất tích cực và năng động của nhân tố tâm thần này.
Dĩ nhiên chúng ta liên tục phóng chiếu, và sự kiến tạo cách nhìn của chúng ta về cuộc đời, về những người khác, và về cách thế giới được hình thành một cách quan trọng từ những nội dung vô thức được phóng chiếu lên môi trường và gắn vào như những chân lí tuyệt đối. Anima/us, Jung viết trong đoạn đó, giống như Maya, vị nữ thần Ấn Độ, tạo ra những thế giới ảo ảnh, và bản ngã cuối cùng tồn tại trong một thế giới dựa chủ yếu trên những phóng chiếu. Jung rút ra điều này chủ yếu không phải từ nghiên cứu tôn giáo phương Đông mà từ những kinh nghiệm trực tiếp của ông với tư cách nhà tâm thần học và nhà phân tâm. Điều thú vị là quan điểm của một số người thật sự bị bóp méo như thế nào. Và một điều đáng lưu ý không kém là tất cả chúng ta tin vào những cái nhìn của bản thân mình một cách tuyệt đối ngay cả khi chúng ta thấy những lỗi cơ bản trong đó. Hiếm khi chúng ta đặt câu hỏi về những giả định này.
Sự xuất hiện ý thức với anima/us
Những hình ảnh anima/us, dựa trên những cấu trúc chức năng nằm bên dưới tâm thần, có những hình thức và khuôn mẫu cụ thể nhờ được chuyển qua hệ thống tâm thần và được nhận thức bởi bản ngã ý thức. Nếu hình ảnh của bóng âm tạo ra nỗi sợ và khiếp đảm, thì hình ảnh của anima/us thường đưa tới sự phấn khích và kích thích và thúc đẩy ham muốn được gắn bó. Nó tạo ra sự hấp dẫn. Ở đâu có anima/us thì chúng ta muốn bước đi, muốn trở thành một phần của chúng, chúng ta muốn gắn vào nó, nếu như chúng ta không quá nhút nhát và sợ những cuộc mạo hiểm. Sức mạnh hấp dẫn thu hút khán giả khi một diễn giả lớn làm mê hoặc mọi người xuất phát từ anima/us và kích thích sự hoạt động của chúng. Thính giả muốn tin và các cá nhân sẽ nghe theo lời hiệu triệu hành động đó. Một sự nhận biết về thực tế được tạo ra và sự tin tưởng theo sau trên sức mạnh cảm xúc mạnh mẽ của anima/us. Do đó, anima/us có tính biến dạng.
Tuy nhiên, vì những mục tiêu phát triển tâm lí và sự xuất hiện ý thức, hoạt động chủ yếu của bản ngã là gắn bó với anima/us trong một quá trình biện chứng và không theo lời kêu gọi tức thì hành động. Quá trình đối thoại và gặp gỡ này được Jung gọi là Auseinandersetzung. Đây là một từ tiếng Đức mà nghĩa đen là “chia tách” và hàm ý nói tới quá trình diễn ra khi hai người gắn bó chặt chẽ với nhau trong một sự đối thoại mà không bên nào có thể trốn chạy xung đột. Và khi họ đối diện với nhau, tranh luận hay đấu đá, những khác biệt giữa họ ban đầu vốn hiển nhiên và dễ hiểu trở nên phân biệt hơn. Những quan điểm được phác họa, những khác biệt được tạo ra, sự rõ ràng cuối cùng được đạt tới. Những gì mà lúc đầu là sự gặp gỡ đầy cảm xúc trở thành một quan hệ ý thức giữa hai người hoàn toàn khác nhau. Có lẽ một thỏa hiệp được đạt đến, một hợp đồng được phác họa và kí kết.
Điều này được thực hiện bằng sự liên hệ giữa bản ngã và anima/us. Đây là việc làm xuất hiện ý thức, trở nên nhận thức về các phóng chiếu, thách thức những ảo tưởng lãng mạn nhất và được bảo vệ nghiêm ngặt nhất của chúng ta. Có Auseinandersetzung bằng anima/us là phá hủy thế giới ảo tưởng của các huyễn tưởng vô thức. Nó cũng cho phép một người trải nghiệm một cách sâu sắc nhất chiều sâu và độ cao thế giới tinh thần của chính mình, những ảo ảnh vô thức đã giữ chúng ta ham muốn những gì mà chúng ta đã quá no đủ, hấp dẫn chúng ta dù từ lâu chúng ta đã thỏa mãn, thúc đẩy chúng ta lặp lại vô tận những hình thức đầy cảm xúc trong dây chuyền các chuỗi kích thích - phản ứng. Ngục tối và ma quỷ, huyền thoại và truyện cổ tích, sự lãng mạn thái quá và những cáo buộc mỉa mai... tất cả là một phần của cái thế giới được hình thành bởi những nhân tố tâm thần nội tâm là do anima/us. Nhiều nhất chúng ta chỉ có thể giả vờ từ bỏ chúng trong khi vấn bám ngày càng chặt vào những sự tự lừa dối bản thân và những ảo tưởng. “Những gì chúng ta có thể phát hiện về chúng [anima, và animus] từ góc nhìn ý thức là quá nhỏ bé đến mức dường như không cảm thấy được. Chỉ khi chúng ta rọi sáng vào những chiều sâu tăm tối nhất của tâm thần và khảo sát những con đường xa lạ và quanh co của số phận con người thì dần dần chúng ta mới thấy rõ ràng ảnh hưởng to lớn mà hai nhân tố này tạo ra bổ trợ cho đội sống ý thức của chúng ta”146. Đây có lẽ là lời đáp trả quan điểm của Freud cho rằng tính cách mang tính số phận. Theo quan điểm của Jung, anima/us là số phận. Chúng ta hướng tới số phận chính mình bởi những hình ảnh của sức mạnh cổ mẫu nằm ngoài ý chí ý thức hay hiểu biết của chúng ta.
Trong tác phẩm Aion vốn thường được tranh luận như là một kiệt tác về anima/us trong những công trình của Jung, Jung cũng thừa nhận trung tâm của mối quan hệ trong quá trình ý thức được về khu vực bị che khuất trong tâm thần con người. Jung viết “Tôi muốn nhấn mạnh rằng bóng âm có thể được nhận biết thông qua mối quan hệ với một người khác, còn anima và animus được nhận biết thông qua một người khác giới bởi vì chỉ trong những quan hệ như vậy những phóng chiếu của chúng mới trở nên hoạt động”147. Như tôi đã nói trước đây, có lẽ chúng ta cần phải xem xét lại quan điểm này dưới ánh sáng của những phất triển đương thời về bản sắc giới, khi mà những hình ảnh anima/us thỉnh thoảng được thể hiện thông qua người cùng giới. Tuy nhiên, vấn đề là chỉ trong những mỗi quan hệ cảm xúc thì những sự phát triển của ý thức mới trở nên có thể. Trở nên ý thức không phải là một việc được thực hiện một cách độc lập, mặc dù nó đòi hỏi một sự nội quan lớn để đưa đến sự phát triển đẩy đủ. Nhưng kinh nghiệm phải diễn ra trước sự thấu hiểu nội tâm này. Bóng âm được trải nghiệm qua phóng chiếu lên người khác biểu hiện những phẩm chất vô thức cá nhân của mình. Tương tự như vậy, animal animus thể hiện trong phóng chiếu lên người có những nét tính cách và đặc trưng ở một chừng, mực khá quan trọng có thể kích thích những đáp ứng của vô thức từ khu vực này. Khi điều này xảy ra, Jung tiếp tục, sự hội tụ tâm thần sẽ đưa đến sự liên quan của ba hình ảnh “Sự nhận biết anima làm xuất hiện ở người dàn ông một bộ ba, trong đó một phần ba có tính siêu việt: chủ thể nam tính, chủ thể nữ tính đối lập và anima siêu việt. Với phụ nữ thì ngược lại”148. Điều này đòi hỏi một mức độ ý thức đáng kể bởi vì nhìn chung người mang phóng chiếu và sự phóng chiếu bị hòa chung, anima/us và những chủ thể khác trở thành một. Ở đây, Jung giả định một mức độ phân tách như sau: (1) một bản ngã ý thức với tính chủ quan cá nhân của nó, (2) một người khác giới với bản ngã ý thức và tính chủ quan cá nhân của họ, và (3) hình ảnh cổ mẫu về anima/us. Bộ ba này được hoàn tất, Jung viết, bởi một hình ảnh thứ tư, Ông già Thông thái ở nam giới và Người mẹ Vĩnh cửu ở phụ nữ. Anima/us và những hình ảnh thông thái trên mang tính siêu việt, theo nghĩa về bản chất chung thuộc về vô thức và bắt nguồn từ những lĩnh vực tinh thần trong khi đó bản ngã và hình ảnh tương ứng với nó là những con người ý thức gắn bó vào một quan hệ tình cảm đã kích thích sự hội tụ này. Với sự hiện diện của bộ tứ này, chúng ta cảm thấy kinh nghiệm linh thiêng về tự ngã như là một mối quan hệ. Giả định rằng ý thức đầy đủ đủ mạnh để nhận thấy sự khác biệt giữa con người và những đặc trưng cổ mẫu trong trạng thái tình yêu và hấp dẫn này thì sẽ có một cơ hội cho việc trải nghiệm đầy đủ về tự ngã (xem chương 7).
Một điểm phức tạp là kinh nghiệm về anima/us trong phóng chiếu xảy ra đối với mọi người ở nhiều giai đoạn của sự trưởng thành tâm lí. Nếu như nó chỉ là vấn đề về sự cuốn hút và tình yêu thì nó có thể xảy ra ở tuổi thơ giữa cha mẹ và con cái; sau đó nó lại diễn ra (cổ điển và sâu sắc) ở thời thanh thiếu niên; và thật may mắn nó vẫn tiếp tục xảy ra khi người ta chuyển sang tuổi người lớn. Thậm chí nó còn tiếp tục đến tuổi già (Goethe thậm chí đã tạ ơn thượng đế khi vào tuổi 70 ông vẫn còn có thể yêu một phụ nữ trẻ được). Anima/us hoạt động liên tục trong đời sống tâm lí người, và sự vắng mặt chúng xác định bản chất sự trầm cảm. Vượt ra ngoài tình dục của cơ thể, đây là tình dục của tâm thần. Nó bắt đầu trước khi cơ thể sẵn sàng cho kinh nghiệm tình dục và tiếp tục diễn ra mạnh mẽ vượt ngoài khả năng của cơ thể sinh học để thực hiện sự chuẩn xác của hành động tình dục. Nhưng để thu được lợi ích tâm lí đẩy đủ nhất kinh nghiệm về anima/us, con người phải đạt tới mức độ ý thức cao khác thường. Khả năng phân biệt được phóng chiếu và đối tượng mang phóng chiếu, giữa huyễn tưởng và thực tế thật sự là hiếm có. Do vậy, việc nhận thức được những gì Jung nói ở đây về bộ tứ trong sự hội tụ này và sự nhận biết những đặc điểm siêu việt trong kinh nghiệm đó chỉ có thể nằm ở một số ít người có khả năng phân biệt tâm lí tinh tế như những bậc thầy về yoga Kundalini và những người khác giống họ. Đối với phần còn lại, anima/us là Maya, người tạo nên các ảo tưởng, tạo nên sự bí ẩn, kẻ lừa dối, tính chất ảo ảnh huyền bí mãi mãi của người yêu vĩnh cửu. Để vượt qua trò chơi ảo tưởng của anima/us mà không nhận biết sự hoạt động của các hình ảnh siêu việt này sẽ dẫn đến sự cay nghiệt và thất vọng: anima thật sự là một người phụ nữ đẹp nhưng không nhân từ (la belle dame sans merci).
Tình dục và các mối quan hệ
Vì nhiều lí do mà nhiều người tìm cách tránh mọi kinh nghiệm về anima/us. Sự phòng vệ bẩm sinh của bản ngã là cố tránh xa sự hấp dẫn này. Những đứa bé trai cố lảng tránh những bé gái quá mạnh mẽ và lôi cuốn, tự cảm thấy rằng chính chúng không thể đáp ứng được nhiệm vụ khó khăn này. Những người đàn ông trưởng thành nhiều lúc cũng đủ thông minh để làm như vậy vì anima là kẻ phá hoại những cuộc hôn nhân và sự nghiệp bình thường của họ. Phụ nữ cũng cố chống lại tiếng gọi của animus Dionys đang kéo họ vào sự đê mê và những hứa hẹn nếu họ đắm mình vào tình yêu vì ở đó cũng tiềm ẩn những nguy hiểm của sự chia tách và điên rồ. Rất tự nhiên, nhiều người đã cầu nguyện để thoát khỏi sự hấp dẫn vượt ngoài khả năng của họ này. Một trong những hình ảnh minh họa ưa thích của Jung về sức mạnh của anima là Nàng của Rider Haggard, một tiểu thuyết bìnhdân mô tả một người đàn bà quyến rũ mê hồn bất tử trong vùng rừng hoang dại của châu Phi với những mệnh lệnh phải được thực hiện. ("Phải vâng theo mọi mệnh lệnh của nàng” không đơn giản chỉ là câu nói khôi hài cho người vợ hống hách của Rumpole; câu nói này bắt nguồn từ tiểu thuyết của Haggard). Nàng là một nữ thần bất tử cuốn hút đàn ông vào những ngọn lửa say mê, và cuối cùng dẫn tới hủy diệt họ. Nhưng Jung cũng cảm thấy rằng nếu ai đó có thể chịu đựng những ngọn lửa của cảm xúc và say mê này, người đó có thể sẽ được biến dạng. Kinh nghiệm về cổ mẫu, về vô thức tập thể và những sức mạnh của nó, có thể đưa tới một trạng thái ý thức mới mà trong đó hiện thực của tâm thần trở nên thuyết phục đối với bản ngã cũng như hiện thực của thế giới vật chất với các giác quan. Anima/us, một khi được cảm thấy linh thiêng và được nhận biết là Maya, trở thành cái cầu đưa tới sự nhận thức hoàn toàn mới về thế giới. Kinh nghiệm về anima/us là "con đường đế vương” (via regia) đi vào bản ngã.
Lí thuyết anima/us của Jung phần nào đó dường như là một phiên bản khác mang tính tưởng tượng cao đề tài cũ của Freud về tình dục như là nguồn trung tâm của libido. Nhưng ở tình dục con người Jung nhận thấy nhiều điểm tốt hơn so với sự động đực của loài vật cũng như những cố gắng giải tỏa sự căng thẳng ở bản thân hay theo đuổi sự thỏa mãn của chúng. Các yếu tố cuốn hút về tâm thần có liên quan, và khi chúng được phân biệt tách khỏi hoạt động sinh học gắn liền thì hình ảnh xuất hiện. Hình ảnh này là một sự kiện tâm thần mà nguồn gốc của chúng nằm ở phần cuối cổ mẫu của phổ tâm thần. Nó gắn với bản năng tình dục, và sự kết hợp này tạo cho anima/us sức mạnh thể chất của chúng.
Tình dục con người được định hướng bởi hình ảnh cổ mẫu, nhưng hình ảnh này không thể quy giản về động cơ. Chúng ta bị hấp dẫn vào những người nào đó. Tại sao một người chọn người này làm bạn tâm giao mà không phải là người khác. Điều này bị chi phối bởi những hình ảnh được phóng chiếu. Điển hình là animus thích phóng chiếu chính mình lên “những trí thức” và các hình mẫu “anh hùng”, bao gồm các ca sĩ giọng nam cao, các nghệ sĩ, ngôi sao thể thao... Anima có khuynh hướng hướng tới những gì là vô thức, tăm tối, mơ hồ, rời rạc ở phụ nữ và cũng hướng tới sự phù phiếm, lãnh đạm, phụ chuộc v.v.”149. Tại sao những phụ nữ khó tính như vậy lại luôn luôn hấp dẫn đàn ông bằng sự dễ chịu đó? Tại sao những người phụ nữ mạnh mẽ thường không hấp dẫn đàn ông? Jung cho rằng khuynh hướng tìm kiếm những người phụ nữ yếu ớt và phụ thuộc này được dựa trên sự phóng chiếu anima, vì anima này chưa được biệt hóa và yếu kém trong vô thức của một người đàn ông đồng nhất với nam giới mạnh mẽ. Sự thông thái của người có tuổi mách bảo người phụ nữ rằng để hấp dẫn một người đàn ông thì “hãy yếu đuối”. Anima phản ánh mặt không phát triển của người đàn ông, ở đó anh ta yếu đuối một cách vô thức và rời rạc, tối tăm và mơ hồ. Anh ta bị hấp dẫn với điều này. Tương tự, những người phụ nữ mạnh mẽ thường bị hấp dẫn bởi những người đàn ông yếu đuối, thỉnh thoảng điều này có tính số phận và họ có những huyễn tưởng phải cứu vớt những người đàn ông này khỏi rượu chè và những sự suy sụp khác. Một lần nữa, họ đang tìm kiếm một phần mất đi của chính mình, animus, một hình ảnh xuất hiện ở những người đàn ông yếu đuối qua phóng chiếu. Hoặc nếu là những người phụ nữ yếu ớt và phụ thuộc, vô thức của họ sẽ bù trừ bằng những hình ảnh về sức mạnh người đàn ông và họ sẽ thấy mình bị hấp dẫn một cách tuyệt vọng vào một người hùng mang phóng chiếu animus của họ.
Khi hai người gắn bó và chung sống với nhau, mối quan hệ này thể hiện một số đặc trưng animal animus điển hình. Trong quan hệ thân mật này thì không chỉ có bản ngã của hai người tham dự vào sự hỗn hợp phức tạp của tâm thần mà còn cả những phần vô thức, và quan trọng hơn là anima và animus. Chúng đã hiện diện ở đó từ lâu và tạo ra những nhân tố gây hấp dẫn cho cả hai người nhưng hiện giờ chúng biểu hiện một cách khác hẳn so với giai đoạn tỏ tình tán tỉnh trước đó. Ở đây, Jung - nhà tâm lí học hiện thực đã mô tả: “không ai có thể đối thoại với animus quá năm phút mà không trở thành nạn nhân của anima của chính mình. Bất kì ai có khiếu khôi hài khi lắng nghe một cách khách quan sự đối thoại này sẽ choáng váng trước tất cả những gì tầm thường, những sự thật hiển nhiên bị hiểu sai, những lời nói sáo rỗng trong các tiểu thuyết và báo chí, sự vô vị nhàm chán xen lẫn sự thô tục và sự thiếu logic do mê muội. Nó là một cuộc đối thoại mà bất chấp những người tham dự là ai lặp đi lặp lại hằng triệu lần bằng mọi ngôn ngữ trên khắp thế giới và về bản chất luôn luôn vẫn giống nhau”150. Ở người đàn ông, anima trở nên đỏng đảnh, nhạy cảm quá mức và đầy cảm xúc còn ở phụ nữ thì animus dữ dằn, quyền lực, cứng rắn. Đây không phải là một bức tranh đẹp và chắc chắn sẽ đối lập sâu sắc với một hình ảnh lãng mạn hơn nhiều của mysterium coniunctionis (liên hợp thần bí) trong các bài hát và câu chuyện. Một người bị chi phối bởi animus - một tập hợp không phân biệt những lập luận được thúc đẩy bởi một động cơ quyền lực - và người kia chìm trong cảm xúc không phân biệt và bị thúc đẩy bởi một nhu cầu tình yêu. Một người trở nên độc đoán còn người kia trở nên thu mình lại, dễ xúc cảm và bắt đầu quấy rối. Đây là một trận chiến điển hình giữa anima và animus.
Nếu giảm bớt mức độ cảm xúc và sự lăng mạ, sự nồng nhiệt và sự nóng nảy trong xung đột này thì có khả năng những điều được nói ra đó là hệ trọng đối với mối quan hệ của hai người. Một khi hai bản ngã đó ổn định trở lại, thậm chí chúng có thể nhận ra rằng một điều siêu việt nào đó đã diễn ra. Tất cả những gì đã nói có khả năng hoàn toàn không phải mang tính cá nhân. Nó mang tính chung hơn, tập thể, và thậm chí cổ mẫu và phổ biến. Ở đây có lẽ có mầm mống của một trí tuệ nằm ẩn trong những nội dung tăm tối bùng phát từ mỗi người. Có lẽ sự làm trong sáng và nhìn thấu nội tâm có thể bắt nguồn từ cơn bão tố đã qua đi này. Đây có lẽ là hoạt động của ý thức xuất hiện vượt lên trên cung bậc cảm xúc và đạt tới cái nhìn thấu nội tâm và sự đồng cảm. Ít nhất một người sẽ có cái nhìn vào chiều sâu của chính mình và của những người khác, vào độ sâu thẳm của cảm xúc mà bình thường nằm ẩn sau cái mặt nạ đã bị biến đổi và thích ứng với xã hội.
Dĩ nhiên sẽ thật ý nghĩa nếu nhìn vào chính cuộc đời Jung để hiểu rõ hơn ý nghĩa của hình ảnh anima đối với ông. Tuy nhiên, điều này nằm ngoài phạm vi của nghiên cứu này. Tôi đã sử dụng một số đoạn từ tự truyện của ông, những tác phẩm về cuộc đời ông đã được in ấn và đang được thực hiện để mô tả đầy đủ hơn về mối quan hệ sâu sắc giữa ông và phụ nữ. Jung đã từng nói rằng tất cả mọi lí thuyết tâm lí đều là những bộc bạch cá nhân và điều này đặc biệt đúng khi chúng ta nói về những hình ảnh và nhân cách nội tâm của tâm thần như bóng âm, anima/us và tự ngã. Những khái niệm này và những lí thuyết trừu tượng được dựa trên những kinh nghiệm tâm lí cụ thể, phần lớn trong số đó là mang tính liên nhân cách và không chỉ là đơn lẻ hay riêng tư. Đối với Jung, anima vừa là một thực tế nội tâm sống động, một hình ảnh nội tâm thực sự có tầm quan trọng hàng đầu, và được ông trải nghiệm mạnh mẽ trong phóng chiếu và quan hệ. Từ đầu đời với người bảo mẫu và kéo dài qua các cuộc tình và cuộc hôn nhân với Emma Rauschenback cùng với mối quan hệ lâu dài và sâu sắc với Toni Wolff, anima, là một người bạn đồng hành cả trong cuộc sống nội tâm và bên ngoài Jung. Đối với Jung, anima dường như là người định hướng số phận của ông. Và kinh nghiệm sâu sắc nhất của tự ngã, một khái niệm mà tôi sẽ mô tả trọng chương tiếp theo xảy ra với Jung trong sự liên kết giữa nam và nữ, khi mà anima và animus là những hình ảnh định hướng trong sự kết hợp giữa họ.