Trước thời hiện đại, các nhà vẽ bản đồ tâm hồn đã đặt một dấu hiệu đặc biệt trên những công trình của họ. Bạn có thể nhận dạng một tấm bản đồ nhờ những đặc điểm duy nhất nào đó chỉ ra người vẽ ra nó. Đó là một hoạt động nghệ thuật cũng như khoa học. Cho tới thời điểm này, bản đồ của Jung về tâm thần không quá khác biệt so với những bản đồ tâm lí chiều sâu của người khác. Tuy nhiên, trong chương này, chúng ta bắt đầu nghiên cứu những đặc điểm đặc trưng thực sự của nó. Đó là phát hiện của Jung và giải thích cho những gì mà ông gọi là vô thức tập thểđiều làm cho công trình của ông có một phong cách độc đáo nhất.
Nhìn lại những gì mà chúng ta để lại trong chương trước về năng lượng tâm thần, tôi chỉ đơn giản muốn nói rằng với Jung, cổ mẫu là một nguồn nguyên phát của năng lượng tâm thần và tạo dựng khuôn mẫu. Nó tạo ra nguồn lớn nhất của những kí hiệu tâm thần, thu hút năng lượng, cấu trúc nó, và cuối cùng dẫn tới việc sáng tạo ra nền văn minh và văn hóa. Từ những điều đã nói trong chương trước, một điều rõ ràng là lí thuyết về các cổ mẫu có tính quan trọng đối với tất cả khái niệm của Jung về tâm thần. Trên thực tế, nó là cơ sở.
Tuy nhiên, việc thảo luận về lí thuyết của Jung về các cổ mẫu cũng có nghĩa là chúng ta phải xem xét cả lí thuyết về các bản năng của ông. Cổ mẫu và bản năng có liên hệ sâu sắc với nhau trong quan điểm của Jung. Với ông, tinh thần và cơ thể có quan hệ với nhau đến mức mà chúng dường như không thể tách rời. Nếu điều này bị bỏ qua, việc thảo luận về những hình ảnh cổ mẫu dễ sa vào một tâm lí học không có cơ sở và quá nặng về tinh thần. Để thảo luận cổ mẫu từ quan điểm tâm lí học thay vì triết học hay siêu hình học chúng ta cần phải đưa nó vào cuộc sống giống như cơ thể con người đang tồn tại, nơi nó cũng trở nên gắn với lịch sử cá nhân và sự phát triển tâm lí. Lí thuyết cổ mẫu là những gì làm cho bản đồ tâm thần của Jung có tính Plato nhưng sự khác biệt giữa Jung và Plato là ở chỗ Jung nghiên cứu “ý niệm” như là những yếu tố tâm lí học chứ không phải là những hình thức vĩnh cửu hay sự trừu tượng.
Như tôi đã nói lúc bắt đầu cuốn sách này, Jung có ý định khảo sát tâm thần tới những ranh giới xa nhất của nó. Nếu không phải là nhà tư tưởng có hệ thống thì chắc chắn ông cũng là một người đầy tham vọng, và tham vọng đó đã thúc đẩy ông suy ngẫm vượt ra ngoài những giới hạn của kiến thức khoa học thuộc thời đại mình. Khoa học vẫn đang gắn chặt với nhiều khả năng trực giác của ông. Thám hiểm sâu hơn vào những miền tối của tâm thần, ông đã có những đóng góp độc đáo nhất cho tâm lí học và phân tâm học trong lí thuyết về vô thức tập thể và các nội dung của nó. Đôi khi người ta có thể tự hỏi là những gì ông mô tả như là những sự kiện tâm thần có phải là những khám phá hay phát hiện hay không. Nhưng đây là số phận của người vẽ bản đồ khi những lục địa ông đang phác thảo là mới mẻ và vẫn hoàn toàn không được biết hay điều tra. Người vẽ bản đồ trước đó buộc phải dựa vào trực giác và mạo hiểm với việc dự đoán. Ông cũng nghiên cứu bản đồ của những người khác và thậm chí cả những văn bản cổ. Chúng có thể là hữu ích hoặc là sai lạc. Jung nhận thức đầy đủ những “cạm bẫy” của công việc khó khăn này và ông thận trọng trong việc hình thành những suy đoán cũng như khi ông mạo hiểm chấp nhận nó lúc ban đầu78.
Trong chương này, tôi chủ yếu nói tới việc tóm lược lí thuyết sau này của Jung, tác phẩm cổ điển “Về bản chất của tâm thần”. Tiểu luận này không mô tả vô thức tập thể theo một cách hoa mĩ bằng những hình ảnh lớn mà Jung rất thích trong những tác phẩm khác, đặc biệt trong những tác phẩm sau này của ông sử dụng những hình ảnh và văn bản giả kim thuật. Đây là một giải thích lí thuyết trừu tượng và nghiêm túc, tương đối khó đọc và gây chán cho những người tìm đến Jung với cảm hứng huyễn ảo. Nhưng tác phẩm này đưa ra một nền tảng lí thuyết là điểm tựa cho những mô hình khác, và không có sự hiểu biết lí thuyết căn bản này thì phần còn lại rất giống với một bộ sưu tập động vật trong một vườn thú có trang thiết bị tốt: một tập hợp hỗn độn nhiều màu sắc nhưng không có nhiều lí tính79. Những nhà phê bình đọc Jung theo cách này chắc chắn sẽ không hiểu bản chất của công trình của ông. Lí tính cho những sự kiện khó hiểu và thâm thúy được nêu ra ở nhiều nơi, nhưng đặc biệt rõ ràng trong tác phẩm lí thuyết này.
Tiểu luận này được viết trong hai năm 1945-1946 và sửa đổi vào năm 1954. Tôi coi nó chắc chắn là một công trình lí thuyết tổng hợp và toàn diện nhất của Jung. Việc hiểu được toàn bộ tác phẩm này thực sự đòi hỏi kiến thức sâu rộng về tất cả những tác phẩm trước đó của Jung. Nó chỉ trình bày một số ít ỏi những tư tưởng mới của ông nhưng lại nêu lại những chủ đề đã bị bỏ qua í trong nhiều tác phẩm ba thập kỉ trước đó. Việc xem xét một cách ngắn gọn tư tưởng đã đưa tới tác phẩm này sẽ là hợp lí và đưa ra một bối cảnh cho việc hiểu tầm quan trọng của nó.
Tham vọng của Jung ngay từ lúc đầu là tìm cách tạo ra một tâm lí học chung mô tả được tâm thần từ những khía cạnh cao nhất đến thấp nhất, gần nhất đến xa nhất, thật sự là một bản đồ về tâm hồn con người. Tham vọng này có thể thấy ngay từ những năm đầu trong sự nghiệp của ông. Trong một lá thư viết năm 1913 cho hai biên tập viên Smith Eli Jelliffe và William Alanson White của tờ tạp chí mới xuất bản Tạp chí phân tâm học và được in trong số đầu tiên của tờ tạp chí, Jung đã phác thảo một cái nhìn táo bạo vào tâm lí học mới này. Ông ca ngợi những nhà biên tập về kế hoạch của họ nhằm “thống nhất trong tạp chí của mình những đóng góp của các chuyên gia có khả năng trong nhiều lĩnh vực”80. Những lĩnh vực mà ông trích dẫn có liên quan và hữu ích cho tâm lí học là ngữ văn học, lịch sử, khảo cổ học, thần thoại học, nghiên cứu văn hóa dân gian, dân tộc học, triết học, thần học, giáo dục học và sinh học! Nếu như tất cả những lĩnh vực này đóng góp những kiến thức chuyên khoa của chúng cho việc nghiên cứu tâm thần con người, Jung viết, sẽ có một cơ hội đạt được “một mục tiêu rất xa là một tâm lí học phát triển sẽ khai mở cho chúng ta một tâm lí học y học, giống như giải phẫu so sánh được thực hiện đối với cấu trúc và chức năng của cơ thể con người”81. Jung cũng nói trong lá thư này về một “giải phẫu so sánh tâm thần”82 sẽ đạt được bởi việc tập hợp năng lực từ nhiều lĩnh vực nghiên cứu. Mục tiêu của ông là có được một cái nhìn tổng quan rộng rãi về tâm thần và nắm bắt nó như một tổng thể mà từ đó chúng ta có thể quan sát những phần khác nhau trong tương tác năng động giữa chúng.
Khi Jung xâm nhập sâu hơn vào những nguồn của các nội dung vô thức - chủ yếu là giấc mơ và huyễn tưởng - từ các bệnh nhân của ông và phát hiện ra trong việc tự nghiên cứu bản thân, ông bị dẫn dắt tới việc lí thuyết hóa một số những cấu trúc chung của tầm trí con người, những cấu trúc thuộc về mọi người chứ không chỉ thuộc về ông hay một bệnh nhân riêng lẻ nào. Lớp sâu nhất của tâm thần con người được ông gọi là “vô thức tập thể” và nhận biết những nội dung của nó như là sự kết hợp của những hình thức và sức mạnh phổ biến chung được gọi là “cổ mẫu” và “bản năng”. Theo quan niệm của ông, không có gì là cá nhân hay duy nhất cho con người ở cấp độ này. Mọi người đều có cùng những cổ mẫu và bản năng. Tính duy nhất thì chỉ có ở trong nhân cách từng người. Cá tính thực sự, như ông nêu trong Các loại hình tâm lí và Hai tiểu luận về tâm lí học phân tâm, là sản phẩm của nỗ lực cá nhân hướng tới ý thức mà ông gọi là quá trình cá nhân hóa (xem chương 8). Cá nhân hóa là thành quả của sự tham dự có ý thức của một người với nghịch lí của tâm thần trong một giai đoạn thời gian dài. Mặt khác, những bản năng và cổ mẫu là những tài sản của chúng ta. Tất cả chúng ta đều có nó như nhau, và tất cả mọi người đều có chúng dù là giàu hay nghèo, màu da đen hay trắng, cổ xưa hay hiện đại. Chủ đề về tính phổ quát này là đặc trừng cơ bản của sự hiểu biết của Jung về tâm thần con người. Ông dành cho nó một sự mô tả súc tích sau này trong bản sửa đổi của một công trình có tên “Người cha trong số phận cá nhân”:
Con người sở hữu nhiều thứ mà không phải do mình học được mà thừa hưởng từ tổ tiên mình. Anh ta sinh ra không phải là một tabula rasa (tấm bảng trắng), anh ta được sinh ra với vô thức. Nhưng anh ta mang trong mình một hê thống được tổ chức và sẵn sàng hoạt động theo một cách đặc thù của con người và anh ta có được chúng do hàng triệu năm phát triển con người. Giống như những bản năng di cư và làm tổ của loài chim không bao giờ được học hay đạt được một cách cá nhân, con người mang theo mình lúc mới chào đời toàn bộ bản chất của mình và không chỉ bản chất cá nhân mà còn cả bản chất tập thể. Những hệ thống di truyền này tương ứng với những hoàn cảnh sống của con người đã tồn tại từ thời nguyên thủy: tuổi trẻ và tuổi già, sinh và tử, con trai và con gái, cha và mẹ, kết bạn và v.v. Chỉ ý thức cá nhân trải qua những cái đó lần đầu tiên, chứ không phải toàn bộ hệ thống cơ thể và vô thức. Với chúng, đó là hoạt động thông thường của các bản năng được định hình từ lâu83.
Các cổ mẫu (những yếu tố tâm thần chung)
Nguồn gốc của khái niệm cổ mẫu của Jung có thể xem xét ngược trở lại trong những tác phẩm viết giữa giai đoạn 1909 và 1912 khi mà, trong khi vẫn hợp tác với Freud, ông nghiên cứu thần thoại và viết Tâm lí học vô thức. Trong tác phẩm này, ông nghiên cứu những huyễn tưởng của cô gái Frank Miller, được xuất bản công khai trong một cuốn sách của người bạn và cũng là đồng nghiệp của Jung ở Geneva là Gustav Flournoy. Jung muốn tìm hiểu ý nghĩa của những huyễn tưởng này từ quan điểm mới của ông đã được ấp ủ từ nghiên cứu tâm thần học thời đầu của ông với một người họ hàng có khả năng lên đồng, Helene Preiswerk. Việc tìm hiểu nội dung huyễn tưởng của Miller trở thành một cơ hội cho Jung bắt đầu tách ông dần khỏi lí thuyết libido của Freud và bắt đầu thảo luận những hình thức chung mà sau đó ông gọi là vô thức tập thể.
Theo tự truyện của mình, Jung có ấn tượng đầu tiên về những lớp phi cá nhân của vô thức từ một giác mơ trong chuyến sang thăm Mĩ với Freud năm 1909. Ông mơ về một ngôi nhà (được gọi là nhà của tôi trong bối cảnh giấc mơ) gồm nhiều tầng. Trong giấc mơ ông khảo sát các tầng của ngôi nhà đó từ tầng chính (thời hiện đại) xuống đến tầng nền (quá khứ lịch sử gần) và dưới nó là một số hầm rượu (quá khứ lịch sử cổ xưa, giống như thời La Mã và Hi Lạp, và cuối cùng là quá khứ tiền sử và thời đồ đá cũ - Paleolithic). Giấc mơ này đã trả lời một câu hỏi mà ông đã tự hỏi trong suốt hành trình “những tiền đề mà tâm lí học của Freud được tạo dựng nên là gì? Nó thuộc về phạm trù nào của tư tưởng con người?”84 Hình ảnh giấc mơ, ông viết “trở thành một hình ảnh dẫn đường cho tôi” để nhận biết cấu trúc tâm thần là gì. “Nó là ấn tượng đầu tiên của tôi về một yếu tố tập thể tiên nghiệm nằm dưới tâm thần cá nhân”85.
Khi lần đầu tiên tìm hiểu tác phẩm của Flournoy, Jung đã biết chút ít về Miller và cuộc đời riêng của cô. Có lẽ đây là một lợi điểm cho lí thuyết, Jung nghĩ, từ nay tư tưởng của ông sẽ không bị ảnh hưởng bởi những liên tưởng và phóng chiếu cá nhân. Ông sẽ thấy được rừng chứ không phải là cây. Ông cũng tự do suy đoán về những hình thức tâm lí chung hơn. Và ông đã thực hiện suy đoán này bằng cả niềm say mê và thoải mái đáng kể. Khi xem xét những huyễn tưởng của Miller, ông tưởng tượng ra thực tế của cô ta từ một số ít những sự kiện trong phần ghi chép: một người phụ nữ trẻ chưa kết hôn một mình du lịch sang châu Âu, yêu một thủy thủ Italia nhưng không thể thể hiện được, kiềm chế libido tình dục không được sử dụng đến và rơi vào một sự thoái lùi sâu sắc. Sử dụng những gì mà ông biết tại thời điểm đó về động lực tâm lí - chủ yếu học được từ Freud và những đồng nghiệp phân tâm học - Jung cũng đánh bạo mở rộng ở một chừng mực những kiến thức đó đến lúc ông thấy rằng libido, bản chất là tình dục, có một bản chất kép. Một mặt, nó tìm kiếm sự thỏa mãn trong những gì liên quan đến tình dục và thích thú; mặt khác, nó ức chế những can dự tình dục như vậy và thậm chí tìm kiếm mặt đối lập, cái chết. Ông mạo hiểm đề xuất rằng, ước muốn chết cũng ngang với ước muốn sống, và ước muốn thứ hai này trở nên trội hơn trong nửa thứ hai của cuộc đời khi một người sẵn sàng chờ chết. Với tâm thần con người, bẩm sinh là xu hướng hi sinh sự thỏa mãn này, tình dục hay gì khác, và theo đuổi những khuynh hướng và ham muốn phi tình dục không thể được thỏa mãn bằng hoạt động tình dục với một số lượng lớn.
Đây là một hướng lạ đối với suy nghĩ của Jung để tìm cách suy tư về trạng thái tâm lí của người phụ nữ trẻ này. Về một mặt, rõ ràng là cô ta đang tìm kiếm một lối thoát tình yêu trong cuộc sống và không thể tìm thấy nó. Do đó, những sự thoái lùi và nỗ lực của cô ta hướng vào sự thăng hoa: những ảo ảnh, làm thơ, mơ mộng, tất cả những điều đó, Jung cảm thấy, nó đã chỉ ra bằng chứng của trạng thái tiền bệnh lí và cuối cùng có thể dẫn đến bệnh tâm thần. Về mặt khác, có lẽ những ức chế tình dục của Miller phản ánh một xung đột sâu hơn trong tâm thần của cô, một xung đột có thể nhận thấy là có tính nhân loại phổ biến và thực sự là cổ mẫu. Có nhiều vấn đề lớn hơn rất nhiều trong toàn bộ sự tiến hóa và phát triển của con người, và Jung đang lí thuyết hóa rằng libido tình dục, qua nhiều thời đại phát triển của con người, đã hội tụ theo những hướng văn hóa thông qua những ẩn dụ và những gì tương tự lúc ban đầu, và sau đó là những chuyển dạng sâu hơn. Cuối cùng có thể chúng không còn được định nghĩa là tình dục nữa. Ông đã đi đến một lí thuyết hoàn toàn mới về văn hóa khi theo dõi những hẫng hụt libido của Miller. Không nghi ngờ gì là có nhiều độc giả cảm thấy cuốn sách này có gì đó khó hiểu.
Khi Jung nghiên cứu sự tiến hóa của con người, rút ra những sự tương tự giữa những gì đang diễn ra có tính bệnh lí với Miller và những gì đã xảy ra hàng trăm, hàng ngàn năm và thực sự là hàng trăm ngàn năm trước trong quá khứ, ông cũng phác họa sự hội tụ của huyền thoại anh hùng và gán cho anh hùng vai trò của người tạo ra ý thức. Anh hùng là hình mẫu con người căn bản - đặc trưng cho cả phụ nữ cũng như nam giới - đòi hỏi sự hi sinh “người mẹ”, có nghĩa là hi sinh một thái độ trẻ con thụ động, từ đó chấp nhận trách nhiệm với cuộc sống và đương đầu với thực tế theo hướng phát triển. Cổ mẫu anh hùng đòi hỏi sự hi sinh suy nghĩ có tính huyễn tưởng trẻ con và khẳng định sự gia nhập cuộc sống theo một cách tích cực. Nếu con người không có khả năng chấp nhận thách thức này, họ sẽ bị diệt vong như nhiều thời đại trước. Tuy nhiên, để đáp ứng thực tế một cách vững chắc thì sự hi sinh to lớn ham muốn và ước vọng về sự thoải mái thời thơ ấu là điều đòi hỏi. Đó chính là vấn đề khó xử của Miller: cô phải đương đầu với nhiệm vụ trưởng thành và đáp ứng những vai trò người lớn trong cuộc sống nhưng lại lảng tránh sự thách thức đó. Cô ta không bỏ lại phía sau suy nghĩ huyễn tưởng, và cô đang lạc vào một thế giới huyễn ảo mang tính bệnh lí, cái thế giới dường như không có liên quan gì đến thực tế đang sống. Cô đang thoái lùi mạnh về “người mẹ” và vấn đề là: cô sẽ tắc ở đây, giống như Theseus ở Heda và sẽ không bao giờ trở lại được? Jung không chắc chắn lắm, nhưng ông dự đoán Miller sẽ rơi vào trạng thái loạn tâm.
Khi ông xem xét những huyễn tưởng của Miller, ông đã xem xét nhiều thần thoại, truyện cổ tích, và môtip tôn giáo liên quan từ nhiều nơi trên thế giới để diễn giải những hình ảnh đó. Ông cảm thấy hết sức ngạc nhiên trước sự giống nhau đáng ngạc nhiên giữa chúng và ông cố gắng tìm cách giải thích tại sao người phụ nữ này lại tự phát tạo ra những hình ảnh và chủ đề giống với những chủ đề và hình ảnh của thần thoại Ai Cập, của những bộ lạc thổ dân ở Úc và những người dân bản địa ở Mĩ. Tại sao những sự tương tự đáng ngạc nhiên như vậy lại xảy ra cho tâm thần con người mà không hề có liên hệ gì? Điều này có nghĩa là gì? Ông gắn sự kiện này với giấc mơ về các tầng của ngôi nhà và bắt đầu nhận ra là mình đang phát hiện bằng chứng cho sự tồn tại của một lớp tập thể của vô thức. Điều này cũng có nghĩa là có những nội dung vô thức không bao giờ là kết quả của sự dồn nén từ ý thức. Nó đã có sẵn ngay từ đầu.
Việc theo đuổi những ý niệm chung về tâm thần này, điều này cần phải lưu ý, cũng hấp dẫn Freud, nhưng theo một cách rất khác. Freud tìm kiếm một ham muốn vô thức đơn lẻ - một phức cảm trung tâm - có thể giải thích được mọi xung đột tâm thần, và ông nghĩ là đã phát hiện được nó trong câu chuyện về bầy đàn nguyên thủy. Trong khi Jung đang viết Tâm lí học vô thức, thì Freud cũng đang viết Vật tổ và điều cấm kị. Với tư liệu lâm sàng về một mặt và mặt kia là tác phẩm Cành vàng của Frazer, Freud theo đuổi cùng một dự án giống như Jung và cuộc đua bắt đầu xem ai là người tìm ra “phát hiện lớn” đầu tiên. Cho dù sách của Freud hay của Jung có được mọi người ưu ái hay không, mẫu số chung là ở chỗ tâm thần con người có những cấu trúc phổ biến chung, giống như cơ thể, và chúng có thể được phát hiện thông qua phương pháp diễn giải và so sánh.
Do đó, theo một nghĩa nào đó, Freud, giống như Jung, cũng đưa ra một lí thuyết về cổ mẫu. Khái niệm của ông về những vết tích cổ xưa thừa nhận những hình thức cổ. Mặc dù thái độ của Freud đối với tư liệu này rất khác với những nghiên cứu của Jung về thần thoại và mối quan hệ của nó với tâm thần, tuy nhiên cả hai người đều theo những suy nghĩ tương tự và vươn tới một kết luận chung.
Vô thức
Những sự tương tự Jung phát hiện thấy giữa những hình ảnh và thần thoại của các cá nhân hay nhóm trong những thời đại và địa điểm lịch sử không có liên quan với nhau đã thúc đẩy ông tìm sự giải thích. Liệu có một điểm chung về nguồn gốc giữa một mặt là những hình ảnh loạn tâm, những hình ảnh trong giấc mơ và quá trình tạo huyễn tưởng với mặt kia là những hình ảnh và tư tưởng tôn giáo cùng thần thoại tập thể? Jung đang nghiên cứu những sự tương đồng trong suy nghĩ và tưởng tượng của con người. Để tiến hành nghiên cứu này xa hơn, ông phải làm cho các bệnh nhân bộc lộ những huyễn tưởng và suy nghĩ vô thức.
Trong tác phẩm Về bản chất của tâm thần, Jung kể về việc ông đã hoạt hóa hoạt động huyễn tưởng ở các bệnh nhân của mình như thế nào: "Tôi thường quan sát những bệnh nhân mà giấc mơ của họ cho thấy một khối lượng lớn nội dung huyễn tưởng. Cũng vậy, từ chính các bệnh nhân đó, tôi có ấn tượng rằng họ bị tràn ngập bởi những huyễn tưởng, nhưng lại không thể kể cho tôi áp lực nội tâm này ở đâu. Do đó tôi chọn một hình ảnh mơ hay một liên tưởng của bệnh nhân như là một điểm khởi đầu và yêu cầu họ mô tả chi tiết hay phát triển chủ đề này bằng cách để cho tự do hoàn toàn các huyễn tưởng”86. Kĩ thuật liên tưởng tự do của Freud cũng tương tự vậy, nhưng Jung để cho sự liên tưởng đi xa hơn và tự do hơn. Ông khuyến khích bệnh nhân mở rộng nội dung huyễn tưởng: “Theo khả năng và sở thích của bệnh nhân, điều này có thể được thực hiện bằng nhiều cách, dưới dạng kịch, đối thoại, hình ảnh, âm thanh, hoặc dưới hình thức nhảy múa, vẽ tranh, phác thảo, hoặc nhào nặn tạo hình. Kết quả của kỹ thuật này là một số lớn những kiểu loại phức tạp mà sự đa dạng của chúng làm bối rối tôi trong nhiều năm cho tới khi tôi có thể nhận ra rằng với phương pháp này tôi đang chứng kiến biểu hiện tự phát của một quá trình vô thức mà chỉ được hỗ trợ bởi khả năng kỹ thuật của bệnh nhân, và sau này tôi gọi nó là “quá trình cá nhân hóa”87. Quá trình hình ảnh hóa những nội dung vô thức này đã dẫn chúng đi đến dạng ý thức.
Sự phân loại hỗn độn những hình ảnh này mà lúc đầu đã gây khó khăn cho tôi trong quá trình làm việc đã tự giảm xuống thành những chủ đề được xác định rô và những yếu tố hình thức, tự lặp lại dưới những hình thức giống nhau và tương tự với nhiều cá nhân hoàn toàn khác nhau. Tôi trình bày, những đặc điểm trầm lặng nhất, sự đa dạng và trật tự hỗn loạn; tính nhị nguyên, sự đối lập giữa ánh sángvà bóngtối, cao và thấp, phải và trái; sự thống nhất của những mặt đối lập trong một yếu tố thứ ba; bộ tứ (hình vuông, hình chữ thập); sự xoay tròn (vòng tròn, hình cầu); và cuối cùng là quá trình tập trung và sự sắp xếp mạnh mẽ thường theo hệ thống bộ tứ... Quá trình tập trung là, theo kinh nghiệm của tôi, đỉnh cao không bao giờvượt qua được của sự phát triển tổng thể, và được đặc trưng bời sự kiện là nó mang theo tác động chữa bệnh có thể lớn nhất88.
Jung tiếp tục nói về “những nguyên tắc hình thành có tính vô thức”89. Ngoài sự xem xét nội dung huyễn tưởng được tạo ra bởi những người loạn tâm, kinh nghiệm của Jung với những bệnh nhân nhiễu tâm khuyến khích ông nghĩ rằng những yếu tố hình thành chính tồn tại trong vô thức. Bởi vì bản ngã ý thức không quyết định quá trình này, nguồn gốc của những hình thức xuất hiện phải nằm ở đâu đó. Một số hình thức có lẽ được quyết định bởi các phức cảm, những hình thức còn lại có tính nguyên thủy và phi cá nhân hơn và không thể giải thích bằng kinh nghiệm sống cá nhân.
Jung trình bày tác phẩm này năm 1946 tại Hội nghị Eranos tại Ascona, Thụy Sĩ, nơi nhiều tác phẩm lớn của ông được trình bày và ông tham dự từ lúc đầu năm 1933 tới năm 1960, một năm trước khi ông mất. Ở đây, hằng năm, mọi người tập hợp từ khắp nơi trên thế giới. Những mối quan tâm chính của họ chủ yếu nằm ở tâm lí học và tôn giáo, đặc biệt là các tôn giáo phương Đông. Olga Froebe-Kapetyn, người sáng lập và mối quan tâm lâu dài đến tư tưởng phương Đông và tất cả những hình thức của chủ nghĩa thần bí thúc đẩy việc tổ chức, hội tụ các chuyên gia có tiếng để thảo luận nhiều chủ đề. Khán giả dường như kích thích Jung và cố gắng tìm kiếm những cố gắng lớn nhất của ông. Họ là những thành viên của một cộng đồng cấp quốc tế các nhà khoa học và học giả, và họ đòi hỏi những bài viết có chất lượng hết sức cao.
Về bản chất của tâm thần là một tóm lược chín chắn lí thuyết tâm lí của Jung. Những khía cạnh lịch sử của tác phẩm xem xét vô thức trong triết học và tâm lí học học thuật. Ở đây, Jung trình bày nền tảng cho những định nghĩa của mình về vô thức, sự hiểu biết của ông về mối liên hệ của nó với ý thức và những động lực nội tâm. Khái niệm vô thức mang tính căn bản cho mọi tâm lí học chiều sâu. Chúng tách tâm lí học chiều sâu khỏi những mô hình tâm lý học khác. Để làm bằng chứng cho sự tồn tại của vô thức, Jung trích dẫn khả năng phân li của tâm thần. Trong những trạng thái ý thức biến đổi nào đó, chẳng hạn khi con người phát hiện thấy một tự ngã hay chủ thể tiềm thức, một hình ảnh nội tâm không phải là bản ngã nhưng lại thể hiện ý định và ý chí. Bản ngã có thể tham gia vào sự đối thoại với tiểu nhân cách khác này. Chẳng hạn như hiện tượng “Jekyll và Hyde” đã chỉ ra cho thấy sự hiện diện của hai trung tâm khác nhau của ý thức trong một nhân cách. Điều này cũng tồn tại, Jung viết, ở những nhân cách bình thường dù là họ không nhận thức được điều này.
Nhưng một khi nêu ra một tâm thần vô thức, vậy thì giới hạn của nó sẽ được xác định như thế nào? Nó có thể được xác định, hay chúng không xác định đến mức có thể coi là vô hạn? Là một nhà khoa học và một nhà tư tưởng, Jung muốn một số định nghĩa rõ ràng hơn và trong tác phẩm này ông đã đề xuất một vài điểm. Một điểm quan trọng nhất là khái niệm lí thuyết gọi là khía cạnh giống tâm thần (psychoid) của tâm thần, hình thành nên một ngưỡng:
Các tần số âm thanh mà tai người có thể nghe được có phạm vi từ 20 đến 20.000 dao động một giây; bước sống ánh sáng có thể được mắt người nhận biết có phạm vi từ 7.700 đến 3.900 đơn vị angstrom. Sự tương tự này khiến người ta có thể nghĩ rằng có một ngưỡng cao cũng như một ngưỡng thấp cho các sự kiện tâm thần và do đó mà ý thức, hệ thống trigiác đặc biệt, có thể so sánh được với thang âm thanh và ánh sáng có thể tri giác đo được, và giống như chúng, có một giới hạn trên và dưới. Có lẽ sự so sánh này có thể mở rộng cho tâm thầnnói chung, mà không phải là không thể nếu có những quá trình giống tâm thần “psychoid” ở hai đầu thang đo tâm thần90.
Quan điểm của Jung về tâm thần cho tầng nó chuyển động dọc theo thang đó mà những giới hạn bên ngoài của chúng dần dần biến mất vào miền psychoid (tức là giống tâm thần). Jung thừa nhận rằng mình mượn từ “psychoid” từ Bleuler, người định nghĩa das Psychoide là “tổng số tất cả những chức năng có mục đích, trí nhớ, bảo tồn sự sống của cơ thể và hệ thần kinh trung ương, ngoại trừ những chức năng vỏ não đó mà chúng ta thường quen gắn cho tâm thần”91. Do đó Bleuler đề xuất một sự phân biệt giữa (a) những chức năng tâm thần, mà trong thuật ngữ của Jung bao gồm cả bản ngã ý thức và vô thức (cá nhân và tập thể), và (b) những chức năng bảo tồn cuộc sống khác của cơ thể và hệ thần kinh trung ương, mà một số trong đó xuất hiện gần như là tâm thần. Cơ thể tự nó có thể nhớ và học. Ví dụ, khi một người học lái xe đạp, anh ta không nhất thiết nhớ kĩ năng này một cách có ý thức. Cơ thể ghi nhớ việc thực hiện chúng như thế nào. Cơ thể cũng có tính mục đích và hướng tới việc bảo tồn cuộc sống, đấu tranh cho sự tồn tại của nó theo cách riêng của nó, ngoài phạm vi của tâm thần. Chủ yếu Jung xem xét trong những định nghĩa về tâm thần, gần như tâm thần, và phi tâm thần này.
Jung sử dụng thuật ngữ “giống tâm thần” của Bleuler trong nhiều tác phẩm của mình, nhưng với một chút thận trọng. Ông phê phán Bleuler về sự gắn thái quá psychoid và những cơ quan của cơ thể con người cũng như sự cổ vũ cho một thuyết tâm thần luận tràn lan92 có thể thấy tâm thần ở mọi nơi có sự sống. Psychoidvới Jung chỉ là một thuật ngữ mô tả những quá trình giống tâm thần hay bán tâm thần chứ không phải là tâm thần một cách chuẩn xác. Thuật ngữ này cũng dùng để phân biệt các chức năng tâm thần của các cơ thể sống với nhau. Quá trình psychoid nằm ở giữa năng lượng sống thể xác và những quá trình thể xác về một mặt và những quá trình tâm thần thực sự về mặt kia.
Các bản năng
Vào lúc này trong lập luận của mình, Jung xem xét vấn đề bản năng con người. Bản năng có gốc rễ trong thể chất sinh học và xâm nhập vào tâm thần như những xung lực, suy nghĩ, trí nhớ, huyền tưởng và xúc cảm. Chắc chắn là toàn bộ chủ đề bản năng là một vấn đề khi nghiên cứu về con người. Bởi vì con người có khả năng chọn lựa, suy ngẫm, và hành động hay không hành động dựa trên những xung lực được coi là bản năng, mà loài vật không có, có thể đặt câu hỏi là bản năng đóng vai trò lớn đến mức nào trong hành vi con người. Jung thừa nhận rằng đối với con người, khía cạnh bản năng của hành vi ít mang tính quyết định hơn ở động vật. Tuy nhiên, trong một chừng mực nào đó con người bị ảnh hưởng bởi các nhu cầu và quá trình sinh lí, khác với tâm thần. Sử dụng thuật ngữ của Janet, Jung gọi phần này làphân cấp thấp của cuộc sống con người. Phần này bị kiểm soát bởi các hormone và thể hiện một đặc điểm có tính thúc ép đến mức chúng ta có thể nói về “các động cơ”93. Trong trường hợp các hormone thúc đẩy chúng ta thực hiện hay cảm nhận, chúng ta phải tuân theo những động cơ và bản năng. Phần cấp thấp này, tức là cấp độ thể xác của tâm thần, chịu ảnh hưởng nặng nề của những quá trình hoạt động của cơ thể.
Thừa nhận cơ tầng thể xác này, Jung đã nói:
Từ những suy nghĩ này, rõ ràng là tâm thần là biểu hiện sự giải phóng hoạt động khỏi hình thức bản năng và do vậy cũng từ những thúc ép của nó, mà với tư cách lã yếu tố quyết định duy nhất hoạt động, thắt chặt nó thành một cơ chế. Điều kiện hay phẩm chất tâm thần bắt đầu khi hoạt động mất điyếu tố quyết định bên trong và bên ngoài và trở nên có thể áp dụng sâu sắc hơn và tự do hơn...94
Khi thông tin chuyển từ thể xác đến tâm thần, nó chuyển qua miền psychoid, và kết quả là có sự làm yếu đi đáng kể tính quyết định sinh học, cái sẽ đưa tới “sự áp dụng sâu sắc hơn và tự do hơn... ở đó nó bắt đầu tự thể hiện khả năng đạt tới ý chí được thúc đẩy từ những nguồn khác”95. Sự xuất hiện của ý chí là mang tính quyết định cho việc thiết lập một chức năng tâm thần. Chẳng hạn, cảm giác đói và tình dục là những động cơ dựa trên thể xác bao gồm việc giải phóng hormone. Cả hai đều là các bản năng. Một người phải ăn và cơ thể ham muốn sự giải phóng tình dục. Nhưng ý chí can thiệp vào bởi vì những lựa chọn có thể được thực hiện đối với những gì được ăn và làm cách nào thỏa mãn những khao khát tình dục. Ý chí có thể can thiệp ở một chừng mực dù là nó hoàn toàn không thể kiểm soát hành vi của con người một cách tuyệt đối trên tất cả các mặt.
Nếu có một giới hạn lên tâm thần ở phần thể xác cuối của dãy (phần cấp thấp) thi cũng có một giới hạn ở phầncấp cao của ý thức: “với sự tự do tăng lên từ bản năng thuần túy,phần cấp thấp [ý thức] cuối cùng sẽ đạt đến mức mà năng lượng nội tại của chức năng sẽ hoàn toàn không bị định hướng bởi bản năng theo nghĩa nguyên thủy của từ này và đạt được một hình thức tinh thần (spiritual form)”96. Bản năng mất sự kiểm soát đối với tâm thần ở một điểm nhất định, nhưng những nhân tố khác bắt đầu kiểm soát và định hướng nó. Những nhân tố này mà Jung gọi là “tinh thần”, dịch từ tiếng Đức “geistlich” lại gây ra một vấn đề ở đây. Một tính từ khác bằng tiếng Anh cũng có thể sử dụng như vậy là “tâm thần” (mental). Những nhân tố kiểm soát này là tâm thần - chúng thuộc về tâm trí, theo nghĩa từ Hi Lạp nous - và chúng không dựa trên nền tảng thực thể nữa. Chúng có thể hoạt động giống như các bản năng, theo nghĩa chúng kêu gọi ý chí hoạt động và thậm chí chúng có thể làm cho cơ thể tiết ra hormone. Jung muốn gắn toàn bộ hệ thống thể xác, tâm thần và tinh thần (spirit) lại với nhau trong khi duy trì những sự khác biệt trên nhiều mặt.
Bản ngã một phần bị thúc đẩy bởi các bản năng, một phần bởi những hình thức và hình ảnh tâm thần. Và bản ngã có sự tự do lựa chọn trong nhiều lựa chọn. Nó có được một lượng “libido có thể sử dụng”97 dù các động cơ của nó dựa trên bản năng hay bị tinh thần chi phối. Jung, một người từng là nhà sinh vật học và tâm lí học y học không muốn tách mình quá xa khỏi những động cơ và bản năng. Thậm chí cả ý chí, chính bản chất của những gì xác định tâm thần, cũng được thúc đẩy bởi những động cơ sinh học: “động cơ của ý chí trước tiên phải coi về căn bản là có tính sinh học”98. Tuy nhiên, các bản năng mất năng lực của chúng tại phần cuối tâm thần của phổ tâm thần: “tại giới hạn trên của tâm thần, khi mà hoạt động thoát khỏi mục tiêu ban đầu của chúng, các bản năng mất ảnh hưởng của chúng như là lực thúc đẩy ý chí. Mặc dù hình thức của nó biến đổi, hoạt động sẽ buộc phải phục vụ lĩnh vực những yếu tố quyết định hay những động cơ khác mà rõ ràng là không có liên hệ gì với các bản năng”99.
Những gì tôi đang cố gắng làm sáng tỏ là sự kiện ý chí không thể vượt qua những ranh giới của lĩnh vực tâm thần; nó không thể ép buộc bản năng và nó cũng không có sức mạnh với tinh thần, trong chừngmực chúng ta hiểu bởi những gì khác hơn là trí tuệ. Tinh thần và bản năng về bản chất là tự trị và cả hai đều hạn chế ngang nhau trong phạm vi có thể áp dụng của ý chí100.
Ranh giới psychoid xác định vùng mờ giữa những mặt hoạt động của con người - cái có khả năng biết được và cái hoàn toàn không thể biết được - cái có khả năng kiểm soát được và cái hoàn toàn không thể kiểm soát được. Đây không phải là một ranh giới chính xác mà đúng hơn là một lĩnh vực của sự biến đổi dạng thức. Những ngưỡngpsychoid cho thấy một tác động mà Jung gọi là “tâm thần hóa”: thông tin phi tâm thần được tâm thần hóa, được chuyển từ vùng không thể biết sang vùng không biết (tâm thần vô thức) và sau đó hướng tới vùng biết (bản ngã ý thức). Bộ máy tâm thần con người, nói một cách ngắn gọn, có một khả năng tâm thần hóa các nội dung từ hai cực thân thể và tinh thần của thực tế phi tâm thần.
Nếu chúng ta quan sát đời sống tâm thần một cách cụ thể và về lâm sàng, điều không bao giờ đúng là dữ liệu động cơ dựa trên bản năng hoàn toàn không bị ràng buộc vào những hình thức và hình ảnh dựa trên tâm thần. Biểu hiện thực sự luôn luôn là một sự hỗn hợp. Sở dĩ như vậy là vì bản năng “tự mang trong mình một hình thức tình huống của nó. Nó luôn luôn đáp ứng một hình ảnh, và hình ảnh này có những phẩm chất xác định”101. Bản năng hoạt động rất chính xác bởi vì chúng được định hướng bởi những hình ảnh và được định hình bởi những hình thức, mà cũng tạo nên ý nghĩa của bản năng. Tại điểm này trong tiểu luận của mình, Jung liên kết các cổ mẫu, những hình thức tâm thần cơ bản, với các bản năng. Các bản năng được định hướng và dẫn đường bởi các hình ảnh cổ mẫu. Tuy nhiên về một mặt khác, các cổ mẫu có thể hoạt động như các bản năng:
Trong phạm vi mà các cổ mẫu can thiệp vào việc định hình những nội dung ý thức bằng cách điều phối, biến đổi và thúc đẩy chúng, chúng hoạt động như là những bản năng. Do đó, hoàn toàn bình thường khi giả định rằng những nhân tố này (các cổ mẫu) có sự gần với các bản năng, và xem xét xem liệu những hình thức tình huống tiêu biểu mà những nguyên lí - hình thức tập thể biểu hiện rõ ràng cuối cùng có đồng nhất với những hình thức bản năng không, tức là những hình thức của hành vi không102.
Sự gắn bó giữa những hình thức cổ mẫu và các động cơ bản năng chặt chẽ đến nỗi người ta có xu hướng quy giản cái này thành cái kia, khẳng định rằng cái này hay cái kia có vị trí ưu tiên. Có một sự lựa chọn theo trường phái Freud, nhưng Jung từ chối nó như là thuyết quy giản sinh học. Freud cho rằng những cổ mẫu (dù ông không sử dụng thuật ngữ này) không là gì cả mà chỉ là những phản ánh tưởng tượng của hai bản năng cơ bản, Eros (các bản năng sống) và Thanatos (các bản năng chết). Lựa chọn này chắc chắn sẽ coi cổ mẫu là những hình ảnh của bản năng và bắt nguồn từ chúng. Jung thừa nhận rằng lập luận này là mạnh mẽ: “tôi phải thừa nhận rằng cho tới bây giờ mình vẫn chưa có được bất kì một lập luận nào từ chối khả năng này”103. Bởi vì Jung không thể chứng tỏ một cách chắc chắn rằng các cổ mẫu và các bản năng không phải là một, thuyết quy giản sinh học vẫn là một khả năng. Tuy nhiên, ông cũng biết rằng:
Các cổ mâu, khi xuất hiện, có một đặc điểm hết sức linh thiêng mà chi có thể mô tả như là ‘tinh thần’ nếu từ ‘ma thuật’ là quá mạnh. Kết quả là hiện tượng này có ý nghĩa lớn nhất đối với tâm lí học tôn giáo. Trong những tác động của nó, nó không là gì ngoài tính rõ ràng. Nó có thể hàn gắn hoặc phá hủy, nhưng không bao giờ trung tính, dĩ nhiên miễn là nó đạt được một mức độ rõ ràng nhất định. Trên tất cả, khía cạnh này xứng đáng vời từ ‘tinh thần’. Điều thường không xảy ra là cổ mẫu xuất hiện dưới hình thức một con quỷ trong các giấc mơ và sản phẩm huyễn tưởng, hoặc thậm chí thể hiện như một con ma. Có một vầng thần bí bao quanh tính linh thiêng của nó và nó có một tác động tương ứnglên các xúc cảm. Nó huy động những niềm tin vững chắc có tính triết học và tôn giáo ở chính những người tin rằng mình vượt lên trên tất cả những yếu kém. Thường nó thúc đẩy bằng cảm xúc vô song và logic tàn nhẫn hướng tới mục tiêu của nó và hấp dẫn một người trước ảnh hưởng của nó mà bất chấp sự kháng cự hoàn toàn tuyệt vọng, anh ta không thể và cuối cùng thậm chí không sẵn lòng để phá vỡ nó bởi vì kinh nghiệm mang theo nó chiều sâu và sự đầy đủ về ý nghĩa mà trước đó không thể nghĩ đến104.
Những hình ảnh cổ mẫu và những ý tưởng phát sinh từ chúng có một tác động đặc biệt làm xoay chuyển ý thức, mỗi phần đều mạnh tương đương với các bản năng có thể nhận biết. Điều này đã khiến Jung nghĩ là các cổ mẫu không bị giới hạn bởi các bản năng, tâm thần không thể quy giản về thể xác và tâm trí không thể quy giản về bộ não.
Khi bản ngã gặp một hình ảnh cổ mẫu, nó trở nên bị chi phối bởi nó, bị áp đảo bởi nó, và thậm chí từ bỏ ý muốn chống lại vì kinh nghiệm của nó cảm thấy quá phong phú và có ý nghĩa. Việc đồng nhất hóa với hình ảnh cổ mẫu và năng lượng tạo thành định nghĩa về lộng ngữ (đại ngôn) của Jung, và cuối cùng là định nghĩa loạn tâm. Chẳng hạn, một nhà lãnh đạo có sức hấp dẫn, thuyết phục mọi người với những ngôn từ đầy sức mạnh và kích thích những ý tưởng hành động và thình lình những ý tưởng đó trở nên là những gì quan trọng nhất trong cuộc đời đối với những môn đệ và những tín đồ chân chính bị thôi miên ám thị. Cuộc sống có thể bị hi sinh cho những hình ảnh chẳng hạn như lá cờ hay chữ thập và cho những ý tưởng như chủ nghĩa quốc gia, chủ nghĩa yêu nước, và sự trung thành với tôn giáo hay đất nước. Những cuộc thập tự chinh và những nỗ lực phi thực tế hay phi lí khác được nhiều người tham dự bởi vì họ tin là “điều này làm cho đời tôi có nghĩa! Đây là cái quan trọng nhất mà tôi đã từng thực hiện”. Những hình ảnh và ý tưởng thúc đẩy mạnh mẽ bản ngã và tạo ra những giá trị và ý nghĩa. Sự nhận thức thường vượt qua và chi phối các bản năng.
Trái ngược với tác động của các bản năng lên tâm thần - khi một người cảm thấy bị thúc đầy bởi một nhu cầu hay nhu yếu về thể chất - ảnh hưởng của các cổ mẫu dẫn tới chỗ bị gắn trong những ý tưởng và ảo ảnh lớn. Cả hai đều ảnh hưởng đến bản ngã theo cùng một cách năng động, trong đó bản ngã bị chiếm giữ, chi phối và thúc đẩy.
“Bất chấp hoặc có lẽ do sự gắn bó với bản năng, cổ mẫu phản ánh yếu tố xác thực của tinh thần, nhưng một tinh thần không bị đồng nhất với trí tuệ con người, bởi vì nó là spiritus rector (giám sát tinh thần) của trí tuệ”105. Sự khác biệt giữa tinh thần và trí tuệ dễ bị nhầm lẫn, do vậy Jung cố gắng khẳng định rõ ràng rằng ông không nói về chức năng tư duy mà về spiritus rector (hướng dẫn tinh thần) định hướng bản ngã và những chức năng của nó. Bị chi phối bởi một cổ mẫu, chức năng suy nghĩ của một người có thể dùng để duy lí hóa những ý tưởng cổ mẫu và nhận thức nó thấu đáo. Một người thậm chí có thể trở thành một nhà thần học! Khi bị chi phối bởi các ý tưởng cổ mẫu, các nhà thần học sẽ đưa ra những lập luận chi tiết nhằm hòa nhập những ảo ảnh và ý tưởng cổ mẫu vào khuôn khổ văn hóa. Nhưng đó không phải là chức năng tư duy đã chi phối và thúc đẩy những nỗ lực đó của họ mà đúng hơn đó là yếu tố ảo ảnh có nguồn gốc về mặt cổ mẫu trong “nous” đã định hướng chức năng tư duy. Jung nói thẳng rằng “nội dung cơ bản của tất cả các huyền thoại, các tôn giáo và các chủ nghĩa là cổ mẫu”106.
Những liên hệ giữa cổ mẫu và bản năng
Mặc dù đúng là cổ mẫu và bản năng gắn bó với nhau “tương ứng”107. Jung rõ ràng không muốn nói rằng các cổ mẫu có thể quy giản thành các bản năng hay ngược lại. Chúng gắn bó mật thiết và chúng “hỗ trợ lẫn nhau như những ánh xạ trong tâm trí chúng ta về sự đối lập làm nền tảng của mọi năng lượng tâm thần”108. Tâm thần tồn tại trong khoảng giữa thân thể thuần túy và tâm trí siêu việt, giữa vật chất và tinh thần, và “những quá trình tâm thần dường như là sự cân bằng của dòng năng lượng giữa tinh thần và bản năng”109. Tâm thần là một hiện tượng nằm ở giữa và các quá trình của nó “hoạt động giống như một cái thước mà dọc theo nó, ý thức ‘trượt’ trên. Một khoảnh khắc nào đó, nó thấy nó trong phạm vi bản năng và nằm dưới ảnh hưởng của bản năng; tại lúc khác, nó trượt theo cực bên kia nơi tinh thần ngự trị và thậm chí đồng hóa những quá trình bản năng đối lập hoàn toàn với nó”110. Có một sự dao động vĩnh cửu giữa phần cấp thấp và phần cấp cao, giữa cực bản năng và cực tinh thần, cổ mẫu của tâm thần. Ý thức nỗ lực “trong một sự lo lắng thường xuyên chống lại khỏi bị nuốt chửng vào sự nguyên thủy và vô thức của tính bản năng thuần túy”111 về một phía, nhưng nó cũng chống lại sự chi phối hoàn toàn của những sức mạnh tinh thần (tức là sự loạn tâm) về mặt kia. Tuy nhiên, khi được điều phối, cổ mẫu sẽ đưa ra hình thức và ý nghĩa cho bản năng và bản năng cung cấp năng lượng sinh học thô cho các hình ảnh cổ mẫu để hỗ trợ chúng nhận biết rõ “mục tiêu tinh thần hướng tới những gì mà bản chất tổng thể của con người cố gắng đạt tới; nó là biển nơi tất cả các con sông đổ ra, là phần thưởng mà anh hùng đạt được từ cuộc đấu tranh với quỷ dữ”112.
Jung vẽ tâm thần như một phổ ánh sáng với cổ mẫu ở phía tử ngoại và bản năng ở phía hồng ngoại. “Bởi vì cổ mẫu là nguyên tắc hình thành nên sức mạnh bản năng, màu xanh được hòa trộn với màu đỏ; nó hiện ra là màu tím hay ngược lại, chúng ta có thể diễn giải ẩn dụ này như là một apocatastasis (sự tái lập) của bản năng hướng tới một tần số cao hơn, giống như chúng ta có thể dễ dàng phân tách bản năng khỏi cổ mẫu “siêu nghiệm” tiềm ẩn thể hiện ở bước sóng dài hơn”113. Trên thực tế và kinh nghiệm thực sự, các bản năng và cổ mẫu luôn luôn được thấy trong một hình thức hỗn hợp và không bao giờ là thuần túy. Hai phần cổ mẫu và bản năng của phổ tâm thần kết hợp với nhau trong phần vô thức, ở đó chúng đấu tranh với nhau, hòa lẫn và thống nhất để hình thành nên những đơn vị năng lượng và động cơ mà sau đó xuất hiện trong ý thức như là những xung lực, nỗ lực, ý tưởng và hình ảnh. Những gì chúng ta trải qua trong tâm thần trước hết được tâm thần hóa và sau đó được kết cầu trong vô thức.
Hãy tưởng tượng có một đường thẳng chạy qua tâm thần và gắn bản năng và tinh thần tại hai đầu của nó. Đường thẳng này gắn với cổ mẫu về một phía và bản năng về phía kia. Nó chuyển thông tin và dữ liệu qua miền psychoid vào vô thức cá nhân và tập thể. Từ đó, những nội dung này tìm đường xâm nhập ý thức. Những nhận thức bản năng và biểu tượng cổ mẫu là dữ liệu của kinh nghiệm tâm thần thực tế, không phải là chính các bản năng và cổ mẫu. Không phần nào của phổ tâm thần có thể được kinh nghiệm một cách trực tiếp vì không phần nào là tâm thần cả. Tại hai đầu, tâm thần dần trở thành vật chất và tinh thần. Và những gì chúng ta trải nghiệm như là những hình ảnh cổ mẫu “là những cấu trúc tâm thần biến đổi luôn hướng ngược trở lại một hình thức cơ bản “không thể phản ánh được”” về bản chất114. Tất cả những hình thức thông tin có tính cổ mẫu đều xuất phát từ một nguồn duy nhất, một thực thể vượt ra ngoài sự hiểu biết của con người mà Jung dùng thuật ngữ tự ngã (self) cho nó. Hình thức cơ bản này “được đặc trưng bởi những yếu tố hình thức nhất định và bởi những ý nghĩa căn bản nhất định, mặc dù chúng chỉ có thể được hiểu biết tương đối”115. Đó là thuật ngữ về chúa của Jung. (Tự ngã sẽ được đề cập kĩ hơn trong chương 7). Những hình ảnh cổ mẫu liên kết tự ngã và bản ngã - ý thức tạo thành một lĩnh vực trung gian mà Jung gọi là anima, và animus, lĩnh vực của linh hồn (được xem xét ở chương 6). Theo quan điểm của Jung, những tôn giáo đa thần bắt nguồn và phản ánh lĩnh vực của anima và animus, trong khi các tôn giáo đơn thần chủ yếu dựa trên và hướng vào cổ mẫu tự ngã.
Trên tấm bản đồ của Jung, tâm thần là một lĩnh vực nằm trọng khoảng giữa vật chất thuần túy và tinh thần thuần túy, giữa thân thể con người và tâm trí siêu nghiệm, giữa bản năng và cổ mẫu. Ông chỉ ra nó kéo dài giữa hai đầu của phổ có những chỗ mở tại hai đầu đó cho phép sự nhập thông tin vào tâm thần. Tại hai đầu của tâm thần là miền psychoid tạo ra những hiệu ứng gần giống tâm thần như những triệu chứng tâm thể và những hiện tượng cận tâm lí. Khi thông tin được truyền qua miền psychoid này, nó được tâm thần hóa và chuyển dạng thành tâm thần. Trong tâm thần, vật chất và tinh thần gặp nhau. Trước tiên những gói thông tin này được truyền vào vô thức tập thể, ở đó chúng hơi hòa lẫn với những nôi dung khác đã có sẵn trong vô thức và cuối cùng chúng có thể xâm nhập ý thức dưới hình thức những trực giác, hình tượng, giấc mơ, tri giác, các động cơ bản năng, hình ảnh, xúc cảm và ý tưởng. Bản ngã phải xem xét với những nội dung vô thức mới xuất hiện bằng cách đưa ra những nhận định về những giá trị của chúng và thỉnh thoảng là những quyết định về việc liệu có nên tác động lên chúng hay không. Gánh nặng chọn lựa đặt lên bản ngã ý thức khi xem xét trên khía cạnh đạo đức những xâm phạm từ nội tâm này.