Bí Ẩn Căn Phòng Màu Vàng

Lượt đọc: 109 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 14
“Tôi Chờ Đợi Kẻ Sát Nhân Vào Tối Nay”

❊ ❊ ❊

Rouletabille nói: “Tôi phải đưa anh đi xem xét các hiện trường để anh có thể hiểu rõ mọi chuyện. Bản thân tôi tin rằng mình đã khám phá ra điều mà tất cả mọi người đang tìm kiếm, đó là cách thức tên sát nhân tẩu thoát khỏi Căn phòng Vàng mà không cần đồng phạm, và tiểu thư Stangerson hoàn toàn vô can. Nhưng chừng nào chưa chắc chắn về kẻ thủ ác thực sự, tôi chưa thể công bố giả thuyết mà mình đang theo đuổi. Tôi chỉ có thể nói rằng tôi tin nó chính xác và, dù thế nào đi nữa, nó cũng rất tự nhiên và giản đơn. Còn về những gì đã xảy ra ở nơi này ba đêm trước, tôi phải thú nhận rằng nó đã khiến tôi trăn suốt một ngày một đêm. Thật vượt quá mọi sức tưởng tượng. Giả thuyết mà tôi rút ra từ sự kiện ấy vô lý đến mức tôi thà để mọi việc cứ tiếp tục bỏ ngỏ còn hơn.”

Nói rồi, chàng phóng viên trẻ mời tôi cùng đi một vòng quanh lâu đài. Âm thanh duy nhất vang lên là tiếng lá khô lạo xạo dưới bước chân chúng tôi. Sự tĩnh mịch bao trùm sâu đến mức người ta có thể ngỡ rằng lâu đài đã bị bỏ hoang từ lâu. Những bức tường đá cổ kính, làn nước đọng u ám nơi hào nước quanh tháp canh, mặt đất lạnh lẽo rải đầy lá khô, cùng bóng cây đen đúa giống như những bộ xương khô, tất cả đều góp phần tô điểm cho chốn hoang tàn vốn đang ngập tràn điều bí ẩn kinh hoàng này một vẻ tang tóc đến rợn ngợp. Khi chúng tôi đi vòng qua tháp canh, chúng tôi bắt gặp Lão Sĩ quan Xanh, người gác rừng, ông ta chẳng thèm chào hỏi mà cứ thế lướt qua như thể chúng tôi không hề tồn tại. Trông ông ta vẫn y hệt như lần tôi từng thấy qua cửa sổ của Quán trọ Tháp Canh. Vẫn chiếc súng săn vắt vẻo sau lưng, điếu tẩu ngậm trên miệng và cặp kính gọng tròn đeo trên sóng mũi.

Rouletabille nhỏ giọng thì thầm với tôi: “Đúng là một kẻ kỳ cục!”

Tôi hỏi: “Anh đã nói chuyện với hắn lần nào chưa?”

“Rồi, nhưng tôi chẳng khai thác được gì từ hắn cả. Phản ứng duy nhất của hắn chỉ là những tiếng gầm gừ trong cổ họng và cái nhún vai dửng dưng. Hắn thường sống ở tầng một của tháp canh—một căn phòng rộng từng được dùng làm nhà nguyện. Hắn sống lầm lì như một con gấu, ra khỏi nhà là kè kè khẩu súng bên mình, và chỉ tỏ ra niềm nở với phụ nữ. Đàn bà con gái trong bán kính mười hai dặm đều đang tìm cách liếc mắt đưa tình với hắn. Hiện tại, hắn đang để ý đến phu nhân Mathieu, khiến người chồng ghen tuông của bà ta phải canh chừng vợ như trừng trừng dòm ngó qua cặp mắt cú vọ.”

Sau khi đi qua tháp canh nằm ở tận cùng cánh trái, chúng tôi tiến ra phía sau lâu đài. Rouletabille chỉ vào một ô cửa sổ mà tôi nhận ra chính là ô cửa duy nhất thuộc về căn hộ của tiểu thư Stangerson, rồi bảo tôi:

“Nếu anh có mặt ở đây hai đêm trước, anh hẳn đã thấy vị gia nhân khiêm nhường của anh đang leo thang để đột nhập vào lâu đài qua khung cửa sổ kia.”

Trước vẻ ngạc nhiên của tôi trước màn nhào lộn ban đêm ấy, cậu ta liền giục tôi hãy quan sát thật kỹ cấu trúc bên ngoài của lâu đài. Sau đó, chúng tôi quay trở lại tòa nhà.

Bạn tôi cất lời: “Bây giờ tôi phải dẫn anh đi xem tầng một của lâu đài, nơi tôi đang ở.”

Để giúp bạn đọc dễ dàng hình dung bố cục của các gian phòng này, tôi xin đính kèm bản vẽ tầng một cánh phải do chính tay Rouletabille thực hiện vào ngày hôm sau khi hiện tượng kỳ lạ xảy ra—những chi tiết mà tôi chuẩn bị thuật lại sau đây.

1. Vị trí Rouletabille bố trí Frédéric Larsan.

2. Vị trí Rouletabille bố trí Bố già Jacques.

3. Vị trí Rouletabille bố trí Monsieur Stangerson.

4. Cửa sổ mà Rouletabille đã dùng để đột nhập.

5. Cửa sổ được Rouletabille tìm thấy ở trạng thái mở khi anh rời khỏi phòng. Anh đã khép nó lại. Tất cả các cửa ra vào và cửa sổ khác đều đã được khóa kín.

6. Sân thượng nằm trên một căn phòng nhô ra ở tầng trệt.

Rouletabille ra hiệu cho tôi bước theo cậu ta lên một cầu thang nguy nga dẫn đến khoảng chiếu nghỉ ở tầng một. Từ chiếu nghỉ này, người ta có thể đi sang cánh phải hoặc cánh trái của lâu đài thông qua một hành lang mở rộng. Hành lang này vừa cao vừa rộng, kéo dài suốt chiều dài của tòa nhà và được chiếu sáng từ mặt tiền hướng về phía bắc của lâu đài. Các căn phòng với những ô cửa sổ nhìn về hướng nam đều mở thông ra hành lang ấy. Giáo sư Stangerson cư ngụ ở cánh trái của tòa nhà, trong khi tiểu thư Stangerson sở hữu căn hộ ở cánh phải.

Chúng tôi bước vào hành lang bên phải. Một tấm thảm hẹp trải trên sàn gỗ sồi đánh sáp bóng lộn như gương đã làm dịu đi tiếng bước chân của chúng tôi. Rouletabille nhỏ giọng nhắc tôi đi nhẹ chân vì chúng tôi đang đi ngang qua cửa phòng của tiểu thư Stangerson. Căn hộ này bao gồm một phòng ngủ, một tiền sảnh, một phòng tắm nhỏ, một phòng trang điểm và một phòng khách. Người ta có thể đi từ phòng này sang phòng khác mà không cần phải đi qua hành lang chung. Hành lang tiếp tục chạy thẳng đến đầu phía tây của tòa nhà, nơi nó được chiếu sáng bởi một ô cửa sổ cao (cửa sổ số 2 trên bản vẽ). Khoảng hai phần ba chiều dài hành lang, có một nhánh rẽ vuông góc nối liền với một hành lang khác chạy dọc theo cánh phải.

Để bạn đọc dễ bề theo dõi câu chuyện, chúng tôi sẽ gọi đoạn hành lang dẫn từ cầu thang đến cửa sổ phía đông là hành lang “phải”, và đoạn hành lang rẽ vuông góc với nó là hành lang “nhánh” (hành lang uốn khúc trên bản vẽ). Chính tại điểm giao nhau giữa hai hành lang này là phòng ở của Rouletabille, nằm sát vách với phòng của Frédéric Larsan. Cửa phòng của cả hai đều mở ra hành lang “nhánh”, trong khi các cửa dẫn vào căn hộ của tiểu thư Stangerson lại mở ra hành lang “phải”. (Xin xem bản vẽ).

Rouletabille đẩy cửa phòng mình ra, và sau khi chúng tôi bước vào, cậu ta cẩn thận cài then lại. Tôi chưa kịp đảo mắt quan sát căn phòng nơi cậu ta đang ở thì cậu ta bỗng thốt lên một tiếng kêu ngạc nhiên và chỉ tay về phía cặp kính gọng tròn đặt trên chiếc bàn kê sát tường.

Cậu ta hỏi: “Thứ này làm gì ở đây thế nhỉ?”

Tôi chẳng biết đường nào mà lần để trả lời cậu ta.

Cậu ta lẩm bẩm: “Tôi tự hỏi... tôi tự hỏi đây có phải là thứ mình đang tìm kiếm bấy lâu hay không. Tôi tự hỏi đây có phải là cặp kính lấy từ nhà xứ hay chăng!”

Cậu ta chộp lấy chúng với vẻ đầy háo hức, những ngón tay mân mê tròng kính. Đoạn, quay sang nhìn tôi với nét mặt hiện rõ vẻ kinh hoàng, cậu ta thì thào: “Ôi!... Ôi!...”

Cậu ta cứ lặp đi lặp lại tiếng kêu ấy như thể những ý nghĩ trong đầu vừa khiến mình phát điên.

Cậu ta đứng phắt dậy, đặt tay lên vai tôi, cười vang như một kẻ mất trí và nói:

“Cặp kính đó sẽ khiến tôi phát rồ mất thôi! Xét về mặt toán học thì điều này hoàn toàn khả thi; nhưng xét theo tình lý con người thì nó lại bất khả thi—hoặc giả sau đó—hoặc giả sau đó nữa—”

Hai tiếng gõ nhẹ vang lên ngoài cửa. Rouletabille mở cửa ra. Một bóng người bước vào. Tôi nhận ra người đàn bà gác cổng mà tôi từng thấy khi bà ta được dẫn đến tòa nhà phụ để lấy lời khai. Tôi vô cùng ngạc nhiên vì cứ đinh ninh bà ta vẫn đang bị giam giữ. Người đàn bà ấy cất tiếng nói rất khẽ:

“Ở lùm cây sát bãi cỏ.”

Rouletabille đáp: “Cảm ơn.” Người đàn bà liền rời đi. Sau khi cẩn thận khóa chặt cửa lại, cậu ta quay người đối diện với tôi, nét mặt phờ phạc và lẩm bẩm vài câu khó hiểu.

“Nếu sự việc khả thi về mặt toán học, cớ sao nó lại không thể khả thi đối với con người!—Và nếu nó khả thi đối với con người, thì mọi chuyện thực sự quá ư kinh khủng.”

Tôi cắt ngang chuỗi độc thoại của cậu ta:

“Thế ra họ đã trả tự do cho vợ chồng người gác cổng rồi sao?”

Cậu ta đáp: “Đúng vậy, chính tôi đã yêu cầu thả họ ra. Tôi cần những người mà mình có thể hoàn toàn tin tưởng. Người phụ nữ ấy rất mực trung thành với tôi, còn chồng bà ta thì sẵn sàng hy sinh cả tính mạng vì tôi.”

Tôi trố mắt: “Ồ thế á! Khi nào thì anh ta có cơ hội để làm điều đó chứ?”

“Ngay tối nay,—bởi vì tối nay tôi đang chờ đón tên sát nhân.”

“Anh chờ đợi tên sát nhân vào tối nay ư? Vậy ra anh đã biết mặt hắn rồi sao?”

“Tôi sẽ nhận ra hắn; nhưng lúc này mà quả quyết một cách chắc nịch rằng tôi đã biết hắn là ai thì chẳng khác nào kẻ điên. Tư duy toán học của tôi về kẻ sát nhân mang lại những kết quả quá đỗi hãi hùng, quá đỗi quái dị, đến mức tôi vẫn thầm mong mình đã nhầm lẫn. Tôi thực lòng mong là như vậy với tất cả tâm can!”

“Mới cách đây năm phút, anh còn chưa biết tên sát nhân; sao giờ lại có thể nói là đang đợi hắn vào tối nay?”

“Bởi vì tôi biết chắc chắn hắn phải đến.”

Rouletabille thong thả nhồi tẩu thuốc rồi châm lửa hút. Đó là dấu hiệu cho thấy một câu chuyện hấp dẫn sắp bắt đầu. Đúng lúc đó, chúng tôi nghe có tiếng bước chân ai đang đi dọc ngoài hành lang và lướt qua trước cửa phòng. Rouletabille lắng tai nghe. Tiếng bước chân cứ xa dần rồi mất hút.

Tôi chỉ tay về phía bức vách ngăn và hỏi: “Frédéric Larsan có ở trong phòng không?”

Bạn tôi đáp: “Không. Hắn đã đi Paris từ sáng nay—vẫn đang bám theo dấu vết của Darzac, kẻ cũng đã lên đường tới Paris. Rứa rồi mọi chuyện sẽ tồi tệ cho mà xem. Tôi dự đoán là Monsieur Darzac sẽ bị bắt giữ nội trong tuần tới. Điểm tồi tệ nhất là dường như mọi thứ đều đang hùa nhau chống lại anh ta—từ hoàn cảnh, sự việc cho đến con người. Không một giờ nào trôi qua mà không mang đến những bằng chứng mới chống lại anh ta. Quan tòa thụ án đang bị ngợp trước mớ bằng chứng ấy—và ông ta đã mù quáng.”

Tôi lên tiếng: “Tuy nhiên, Frédéric Larsan đâu phải là tay mơ.”

Rouletabille khẽ nhếch môi với vẻ hơi khinh miệt: “Tôi từng tưởng thế. Tôi cứ ngỡ hắn là một kẻ tài năng hơn nhiều. Thú thật, tôi từng ngưỡng mộ hắn vô cùng trước khi tìm hiểu phương pháp làm việc của hắn. Thật đáng thất vọng. Hắn có được danh tiếng hoàn toàn nhờ vào sự tháo vát cá nhân; nhưng hắn lại thiếu đi tư duy logic—phương pháp toán học trong các suy luận của hắn quá ư nghèo nàn.”

Tôi đăm đăm nhìn Rouletabille và không khỏi mỉm cười khi nghe một cậu trai mười tám tuổi đánh giá về một người đã chứng minh cho cả thế giới thấy rằng hắn là con chó săn cảnh sát cừ khôi nhất châu Âu.

Cậu ta bảo: “Anh cười đấy à; anh lầm to rồi! Tôi thề là tôi sẽ đánh bại hắn—hơn thế nữa, sẽ đánh bại một cách đầy ngoạn mục! Nhưng tôi phải nhanh chân lên mới được, bởi vì hắn đang dẫn trước tôi một khoảng cách khổng lồ—do chính Monsieur Darzac ban tặng, và tối nay hắn sẽ còn nới rộng khoảng cách ấy hơn nữa. Hãy thử nghĩ xem!—mỗi lần tên sát nhân đến lâu đài, thì ngặt nghèo thay, Monsieur Darzac lại vắng mặt và kiên quyết không chịu giải thích anh ta đã sử dụng thời gian ra sao.”

Tôi kêu lên: “Mỗi lần tên sát nhân đến lâu đài ư! Hắn đã quay trở lại rồi sao—?”

“Đúng vậy, chính trong đêm định mệnh khi hiện tượng kỳ lạ ấy xảy ra.”

Giờ thì tôi sắp được nghe kể về hiện tượng kinh ngạc mà Rouletabille đã ám chỉ nửa giờ trước đó mà không hề đưa ra bất kỳ lời giải thích nào. Nhưng tôi đã tự rút ra bài học là không bao giờ nên ép buộc Rouletabille trong những câu chuyện của cậu ta. Cậu ta chỉ nói khi hứng lên và khi xét thấy đã đến lúc thích hợp. Cậu ta ít bận tâm đến sự tò mò của tôi hơn là việc tự mình tổng kết lại toàn bộ sự việc trọng đại mà cậu ta đang dồn hết tâm huyết.

Cuối cùng, bằng những câu chữ ngắn gọn và dồn dập, cậu ta đã hé lộ cho tôi những điều khiến tôi rơi vào trạng thái bàng hoàng đến tột độ. Quả thực, những kết quả từ môn khoa học hãy còn vô danh lúc bấy giờ là thuật thôi miên chẳng hạn, cũng không hề khó hiểu hơn sự biến mất về mặt “thể xác” của tên sát nhân ngay vào khoảnh khắc mà bốn con người đang đứng ở cự ly có thể chạm tới hắn. Tôi nhắc đến thôi miên cũng giống như nói về điện năng vậy, bởi bản chất của cả hai chúng ta đều mù tịt và chẳng biết gì nhiều về các quy luật của chúng. Tôi viện dẫn những ví dụ này là vì vào thời điểm đó, vụ án dường như chỉ có thể được giải thích bằng những điều không thể lý giải—nghĩa là bằng một sự kiện nằm ngoài các quy luật tự nhiên đã biết. Thế mà, giả như tôi có được bộ óc của Rouletabille, tôi hẳn đã có thể linh cảm được lời giải thích tự nhiên giống như cậu ta; bởi vì điều kỳ lạ nhất trong toàn bộ những bí ẩn của vụ án Glandier lại chính là cách thức vô cùng tự nhiên mà cậu ta dùng để giải thích chúng.

Trong số những tài liệu mà chàng thanh niên ấy gửi cho tôi sau khi vụ án khép lại, tôi vẫn giữ một cuốn sổ tay của cậu ta, trong đó ghi chép lại toàn bộ tường tận về hiện tượng biến mất của “thể xác” tên sát nhân, cùng những suy ngẫm mà nó khơi nguồn trong tâm trí người bạn trẻ của tôi. Thiết nghĩ, gửi gắm những dòng ghi chép này đến bạn đọc sẽ hay hơn là tiếp tục thuật lại cuộc trò chuyện giữa tôi với Rouletabille; bởi vì trong một câu chuyện mang tính chất như thế này, tôi rất e ngại việc thốt ra dù chỉ một từ không đúng với sự thật chuẩn xác nhất.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 24 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.