Chúng tôi tiến đến lâu đài, và khi lại gần, thấy bốn hiến binh đang đi lại tuần tra trước một cánh cửa nhỏ ở tầng trệt của tòa tháp pháo đài. Chẳng mấy chốc chúng tôi được biết rằng tại tầng trệt này, nơi trước đây từng dùng làm nhà giam, vợ chồng ông bà quản gia Bernier đang bị giam giữ.
Ông Robert Darzac dẫn chúng tôi vào phần hiện đại của lâu đài qua một cánh cửa lớn, được che chở bởi một mái hiên nhô ra—thường gọi là mái vòm che "marquise". Rouletabille, người đã giao phó con ngựa và chiếc xe ngựa thuê cho một người đầy tớ chăm sóc, không rời mắt khỏi ông Darzac. Tôi dò theo ánh nhìn của cậu ấy và nhận ra nó hướng thẳng vào đôi găng tay của vị giáo sư Đại học Sorbonne. Khi chúng tôi đã ở trong một phòng khách nhỏ bày trí đồ đạc cổ kính, ông Darzac quay sang Rouletabille và hỏi cộc lốc:
— Anh muốn gì?
Phóng viên đáp với giọng sắc lạnh không kém:
— Muốn bắt tay ông.
Darzac lùi lại.
— Ý anh là sao?
Hiển nhiên là ông ấy hiểu, và tôi cũng hiểu, rằng bạn tôi đang nghi ngờ ông về vụ mưu sát tàn độc nhắm vào tiểu thư Stangerson. Vết tay đẫm máu trên bức tường của "Căn phòng vàng" đang hiện lên trong tâm trí cậu ấy. Tôi quan sát kỹ người đàn ông này. Gương mặt kiêu hãnh với vẻ ngoài thường ngày rất đỗi ngay thẳng lúc này lại đang bối rối một cách kỳ lạ. Ông giưa bàn tay phải ra, và hướng về phía tôi, nói:
— Vì anh là bạn của ông Sainclair, người đã giúp đỡ tôi vô điều kiện trong một lẽ phải, thưa anh, tôi chẳng thấy lý do gì để từ chối bắt tay anh cả—
Rouletabille không đưa tay ra bắt. Cậu cất lời dối trá một cách trơ trẽn:
— Thưa ông, tôi đã sống vài năm ở Nga, nơi tôi nhiễm cái thói quen không bao giờ bắt tay ai nếu người đó không cởi găng.
Tôi cứ nghĩ vị giáo sư Sorbonne sẽ nổi giận đùng đùng, nhưng trái lại, bằng một nỗ lực kìm nén thấy rõ, ông bình tĩnh lại, tháo găng tay ra và đưa hai bàn tay ra cho thấy; chúng hoàn toàn không có một vết sẹo nào.
— Anh đã vừa lòng chưa?
— Chưa! — Rouletabille đáp. — Bạn thân mến của tôi ơi, — cậu quay sang nói với tôi, — tôi đành phải nhờ anh rời khỏi đây một lát.
Tôi cúi đầu bước ra, ngẩn ngơ trước những gì mình vừa chứng kiến và nghe thấy. Tôi không tài nào hiểu nổi tại sao ông Robert Darzac lại chưa tống cổ cái tên bạn tôi vô lễ, xấc xược và ngốc nghếch kia ra ngoài. Bản thân tôi lúc ấy cũng đâm ra bực mình Rouletabille, chính vì những mối nghi ngờ của cậu ta đã dẫn đến màn kiểm tra găng tay này.
Khoảng chừng hai mươi phút, tôi thẫn thờ đi lại trước lâu đài, hoài công xâu chuỗi các sự kiện rời rạc trong ngày. Trong đầu Rouletabille đang mưu tính điều gì? Lẽ nào cậu ta lại nghĩ ông Robert Darzac chính là kẻ sát nhân? Làm sao có thể tưởng tượng được một người sắp sửa kết hôn với tiểu thư Stangerson chỉ trong vài ngày tới lại lẻn vào "Căn phòng vàng" để ám hại vị hôn thê của mình? Tôi chẳng thể tìm ra lời giải thích cho việc làm thế nào kẻ sát nhân có thể tẩu thoát khỏi "Căn phòng vàng"; và chừng nào điều bí ẩn dường như bất khả kháng đó còn chưa được làm sáng tỏ, tôi cho rằng tất cả chúng ta có bổn phận không nên nghi ngờ bất kỳ ai. Thế nhưng, câu nói tưởng chừng vô nghĩa ấy — "Nhà xứ chẳng mất đi vẻ quyến rũ, vườn tược chẳng phai mờ ánh quang" — vẫn cứ vang vọng bên tai tôi. Nó có nghĩa là gì? Tôi vô cùng nóng lòng muốn gặp lại Rouletabille để gặng hỏi cho ra nhẽ.
Đúng lúc ấy, chàng thanh niên bước ra khỏi lâu đài đi cùng ông Robert Darzac, và điều kỳ lạ là, chỉ liếc qua thôi, tôi cũng thấy họ đang vô cùng hòa hợp với nhau.
— Chúng tôi sắp vào "Căn phòng vàng". Đi cùng bọn tôi nhé, — Rouletabille bảo tôi. — Anh biết đấy, bạn hiền của tôi ơi, tôi sẽ giữ anh đi cùng tôi suốt cả ngày hôm nay. Chúng ta sẽ ăn sáng đâu đó quanh đây—
— Các ông ăn sáng với tôi, ở đây này—
— Không, cảm ơn, — chàng thanh niên đáp. — Chúng tôi sẽ ăn sáng ở Quán trọ Tháp Pháo.
— Ở đó các cậu sẽ khổ sở lắm đấy, chẳng có gì ăn đâu—
— Anh nghĩ vậy sao? Chà, tôi hy vọng là sẽ kiếm được cái gì đó ở đó, — Rouletabille đáp. — Ăn sáng xong, chúng ta sẽ bắt tay vào việc tiếp. Tôi sẽ viết bài báo của mình và nếu anh vui lòng mang nó về tòa soạn giùm tôi—
— Cậu không quay lại Paris cùng tôi à?
— Không; tôi sẽ ở lại đây.
Tôi quay sang nhìn Rouletabille. Cậu nói rất nghiêm túc, và ông Robert Darzac trông cũng chẳng mảy may ngạc nhiên chút nào.
Chúng tôi đang đi ngang qua tòa tháp pháo thì nghe thấy những tiếng than khóc. Rouletabille hỏi:
— Tại sao những người này lại bị bắt?
— Cũng có một phần lỗi ở tôi, — ông Darzac nói. — Hồi hôm qua, tôi tình cờ nhận xét với quan án sát rằng thật khó lòng giải thích nổi vì sao hai vợ chồng quản gia lại có thời gian nghe thấy tiếng súng, thay quần áo và vượt qua một khoảng cách xa xôi từ nhà trọ đến dãy nhà phụ chỉ trong vỏn vẹn hai phút; bởi vì khoảng thời gian trôi qua từ lúc phát ra tiếng súng cho đến khi họ chạm trán cha già Jacques không quá chừng đó.
— Hiển nhiên là đáng ngờ rồi, — Rouletabille đồng tình. — Thế họ có mặc quần áo không?
— Đó mới là điều khó tin—họ mặc quần áo—hoàn chỉnh—không thiếu một thứ gì. Người phụ nữ đi guốc gỗ, còn người đàn ông đi giày có dây buộc. Thế mà họ khăng khăng khai rằng họ đã lên giường đi ngủ từ lúc chín giờ rưỡi. Sáng nay khi đến đây, quan án sát đã mang theo từ Paris một khẩu súng lục có cỡ nòng y hệt khẩu tìm thấy trong phòng (vì ông không thể dùng khẩu đang giữ làm vật chứng), rồi ra lệnh cho thư ký của mình bắn hai phát trong "Căn phòng vàng" khi tất cả các cửa ra vào và cửa sổ đều đóng kín. Chúng tôi ở cùng ông ấy trong phòng trọ của hai vợ chồng quản gia, vậy mà chúng tôi chẳng nghe thấy gì sất, không một tiếng động. Vợ chồng quản gia đã nói dối, điều đó là không thể chối cãi. Chắc chắn họ đã đợi sẵn ở đâu đó không xa dãy nhà phụ, chờ đợi một điều gì đó! Quả thật họ không phải là thủ phạm gây ra vụ án, nhưng sự đồng lõa của họ là hoàn toàn có thể xảy ra. Đó là lý do vì sao ông de Marquet lập tức cho bắt giữ họ.
— Nếu họ là đồng phạm, — Rouletabille nói, — thì họ đã chẳng có mặt ở đó làm gì. Khi người ta tự lao đầu vào vòng pháp luật mang theo cả những bằng chứng đồng lõa trên người, thì anh có thể chắc chắn họ không phải là đồng phạm. Tôi không tin có bất kỳ kẻ đồng lõa nào trong vụ án này cả.
— Vậy thì, tại sao nửa đêm họ lại lang thang bên ngoài? Tại sao họ không chịu mở miệng?
— Chắc chắn họ có lý do gì đó để giữ im lặng. Lý do đó là gì, chúng ta phải tìm cho ra; bởi vì ngay cả khi họ không phải là đồng phạm, thì điều đó cũng có thể rất quan trọng. Mọi thứ diễn ra trong đêm hôm đó đều quan trọng.
Chúng tôi đã băng qua một chiếc cầu cổ bắc ngang sông Douve và bước vào phần công viên mang tên Rừng Sồi. Những cây sồi ở đây đã có tuổi đời hàng thế kỷ. Mùa thu đã làm héo úa những chiếc lá ngả màu nâu đỏ của chúng, và những cành cây vươn cao đen đúa, xoắn xuýt trông giống như những mái tóc ghê rợn, quyện lẫn với những loài bò sát kỳ dị hệt như những gì các nhà điêu khắc cổ đại từng tạo hình trên đầu của Medusa. Nơi chốn này, từng được tiểu thư xem là vui tươi và là nơi bà sống qua những tháng hè, giờ đây hiện lên trước mắt chúng tôi thật ảm đạm và tang tóc. Đất đai đen sì và lầy lội vì những trận mưa gần đây cùng lá rụng mục nát; những thân cây đen ngòm và bầu trời phía trên thì u ám, nặng trĩu những đám mây đen lớn như đang để tang.
Và chính trong chốn ẩn dật âm u và điêu hưu này, chúng tôi đã nhìn thấy những bức tường trắng của dãy nhà phụ khi tiến lại gần. Một công trình kiến trúc kỳ lạ không một ô cửa sổ nào lộ ra ở phía mà chúng tôi tiếp cận. Chỉ có một cánh cửa nhỏ đánh dấu lối vào. Nó trông chẳng khác nào một ngôi mộ, một lăng mộ khổng lồ giữa lòng khu rừng rậm rạp. Khi đến gần hơn, chúng tôi mới có thể hình dung ra bố cục của nó. Tòa nhà thu nhận toàn bộ ánh sáng cần thiết từ hướng nam, nghĩa là hướng nhìn ra khoảng không gian rộng mở. Cánh cửa nhỏ khép lại hướng về phía công viên. Ông và tiểu thư Stangerson hẳn đã thấy đây là chốn ẩn mình lý tưởng cho công việc và những giấc mơ của họ.
Đây là bản vẽ mặt bằng của dãy nhà phụ. Nó có một tầng trệt mà người ta phải bước qua vài bậc thềm mới tới, và phía trên là một tầng áp mái, thứ mà chúng ta không cần bận tâm tới. Sơ đồ mặt bằng tầng trệt, được phác thảo qua loa, chính là những gì tôi trình bày ở đây cho độc giả.
1. Căn phòng vàng, với một cửa sổ duy nhất và một cửa ra vào duy nhất mở thông sang phòng thí nghiệm.
2. Phòng thí nghiệm, với hai cửa sổ lớn có chấn song sắt và các cửa ra vào, một cửa dùng làm tiền sảnh, cửa kia dẫn vào Căn phòng vàng.
3. Tiền sảnh, với cửa sổ không có chấn song và cửa ra vào mở ra công viên.
4. Phòng vệ sinh.
5. Cầu thang dẫn lên gác mái.
6. Ống khói lớn và cũng là duy nhất trong dãy nhà phụ, phục vụ cho các thí nghiệm của phòng thí nghiệm.
Bản vẽ do chính Rouletabille thực hiện, và tôi tự nhủ rằng chẳng có một đường nét nào trong đó là thừa thãi trong việc giúp giải quyết bài toán đang đặt ra cho cảnh sát lúc bấy giờ. Với các đường nét của bản sơ đồ này và mô tả về các bộ phận của nó trước mắt, độc giả của tôi sẽ nắm rõ tình hình chẳng kém gì Rouletabille khi cậu bước chân vào dãy nhà phụ lần đầu tiên. Cùng với cậu ấy, giờ đây họ có thể đặt câu hỏi: Kẻ sát nhân đã tẩu thoát khỏi Căn phòng vàng bằng cách nào?
Trước khi bước lên ba bậc thềm dẫn tới cửa dãy nhà phụ, Rouletabille dừng lại và hỏi thẳng ông Darzac:
— Đâu là động cơ của vụ án?
— Riêng đối với tôi, thưa Monsieur, không thể có sự nghi ngờ gì về vấn đề này, — vị hôn của tiểu thư Stangerson đau khổ nói. — Những dấu vết ngón tay, những vết cào sâu trên ngực và cổ tiểu thư Stangerson cho thấy kẻ khốn nạn tấn công bà đã mưu toan thực hiện một tội ác tởm lợm. Các chuyên gia y tế đã kiểm tra những dấu vết này ngày hôm qua khẳng định chúng được gây ra bởi chính bàn tay đã để lại dấu vết đỏ như máu trên tường; một bàn tay khổng lồ, thưa Monsieur, quá to để có thể nhét vừa vào găng tay của tôi, — ông nói thêm với một nụ cười khó tả.
— Liệu bàn tay đẫm máu đó, — tôi ngắt lời, — có thể là bàn tay của tiểu thư Stangerson, trong lúc ngã đã tì mạnh lên tường, và do trượt chân nên đã làm cho vết in ấy lớn ra hay không?
— Không có một giọt máu nào trên cả hai tay của bà khi người ta nhấc bà dậy, — ông Darzac đáp.
— Giờ thì chúng ta có thể chắc chắn, — tôi nói, — rằng chính tiểu thư Stangerson đã cầm khẩu súng lục của cha già Jacques, vì bà đã bắn bị thương bàn tay của kẻ sát nhân. Vậy là bà đã sợ hãi một ai đó hoặc một điều gì đó.
— Có lẽ vậy.
— Ông có nghi ngờ ai không?
— Không, — ông Darzac đáp, nhìn Rouletabille.
Rouletabille bấy giờ mới quay sang nói với tôi:
— Bạn tôi ơi, anh phải biết rằng cuộc điều tra đã tiến triển hơn một chút so với những gì ông de Marquet chọn tiết lộ cho chúng ta. Ông ấy không chỉ biết rằng tiểu thư Stangerson đã tự vệ bằng súng lục, mà ông ấy còn biết hung khí được dùng để tấn công bà là gì. Ông Darzac nói với tôi đó là một khúc xương đùi cừu. Tại sao ông de Marquet lại bao bọc khúc xương đùi cừu này trong ngần ấy điều bí ẩn? Chắc hẳn là để tạo thuận lợi cho các mật thám của Sở Cảnh sát Sûreté chăng? Có lẽ ông ta tưởng rằng chủ nhân của công cụ gây án này, thứ vũ khí khủng khiếp nhất từng được phát minh, sẽ lộ diện trong số những kẻ cộm cán chốn lầu xanh ổ chuột ở Paris chăng? Nhưng ai mà đoán được những gì diễn ra trong bộ óc của một vị quan án sát chứ? — Rouletabille nói thêm với vẻ mỉa mai đầy khinh bỉ.
— Người ta đã tìm thấy một khúc xương đùi cừu trong Căn phòng vàng ư? — tôi hỏi cậu ấy.
— Vâng, thưa Monsieur, — Robert Darzac đáp, — ở dưới chân giường; nhưng tôi xin anh đừng nói gì về chuyện đó nhé. (Tôi ra hiệu đồng ý.) — Đó là một khúc xương đùi cừu khổng lồ, phần đầu trên, hay đúng hơn là phần khớp xương, vẫn còn vấy máu từ vết thương khủng khiếp. Đó là một khúc xương cũ, bề ngoài cho thấy có lẽ nó từng được dùng trong những vụ án mạng khác. Đó là suy nghĩ của ông de Marquet, người đã cho gửi nó đến phòng thí nghiệm thành phố ở Paris để phân tích. Thực ra, ông ấy cho rằng mình đã phát hiện ra trên đó không chỉ máu của nạn nhân mới nhất, mà cả những vết máu khô khác, bằng chứng của những tội ác trước đây.
— Một khúc xương đùi cừu trong tay một sát thủ kỳ cựu là thứ vũ khí khủng khiếp, — Rouletabille nói, — một thứ vũ khí chắc chắn hơn cả một chiếc búa tạ.
— Tên khốn ấy đã chứng minh điều đó là thực, — ông Robert Darzac buồn rầu nói. — Khớp của khúc xương tìm thấy khớp hoàn hảo với vết thương gây ra. Tôi tin rằng vết thương ấy đã có thể lấy mạng nạn nhân, nếu cú đánh của kẻ sát nhân không bị chặn đứng giữa chừng bởi khẩu súng lục của tiểu thư Stangerson. Bị thương ở tay, hắn đánh rơi khúc xương đùi cừu và tháo chạy. Đáng tiếc là cú ra đòn đã kịp thực hiện, và tiểu thư đã ngất lịm sau khi suýt bị bóp cổ đến chết. Nếu bà bắn trúng gã đó ngay phát súng đầu tiên của khẩu súng lục, thì chắc chắn bà đã tránh được cú đánh bằng khúc xương rồi. Nhưng quả thật bà đã dùng súng quá muộn; phát súng đầu tiên lệch hướng và găm lên trần nhà; chỉ có phát thứ hai mới trúng đích.
Nói xong, ông Darzac gõ cửa dãy nhà phụ. Tôi phải thú nhận rằng mình cảm thấy sự nôn nóng cồn cào muốn đặt chân tới nơi tội ác đã xảy ra. Phải một lúc sau cửa mới được mở bởi một người mà tôi nhận ra ngay lập tức là cha già Jacques.
Ông có vẻ đã hơn sáu mươi tuổi. Ông để một bộ râu trắng dài và mái tóc trắng, trên đầu đội chiếc mũ beret xứ Basque phẳng lì. Ông mặc một bộ đồ nhung kẻ màu hạt dẻ hoàn toàn, đã mòn ở hai bên hông; chân đi guốc gỗ. Gương mặt ông có vẻ khá cau có, nhưng biểu cảm ấy lại dịu hẳn đi ngay khi ông nhìn thấy ông Darzac.
— Những người quen, — người dẫn đường của chúng tôi nói. — Không có ai trong dãy nhà phụ chứ, cha già Jacques?
— Lẽ ra tôi không được phép cho ai vào cả, ngài Robert, nhưng tất nhiên mệnh lệnh đó không áp dụng cho ngài. Mấy vị bên quan tòa đã xem xét mọi ngóc ngách có thể thấy được, vẽ vời chán chê và lập đủ loại biên bản rồi—
— Xin lỗi ông Jacques, một câu hỏi trước tất cả những chuyện khác, — Rouletabille nói.
— Gì thế, chàng thanh niên? Nếu tôi có thể trả lời được—
— Tối hôm đó, tiểu thư có chải tóc rẽ ngôi không? Ông hiểu ý tôi chứ—vắt qua trán ấy?
— Không, chàng thanh niên ạ. Tiểu thư nhà tôi chưa bao giờ chải tóc theo cách cậu gợi ý, cả ngày hôm đó lẫn bất kỳ ngày nào khác. Tóc cô ấy được bới cao lên như thường lệ, để lộ chiếc trán xinh đẹp, tinh khôi như trán một đứa trẻ chưa ra đời!
Rouletabille hừm một tiếng rồi cắm cúi kiểm tra cánh cửa, nhận ra nó tự động khóa lại. Cậu tự xác minh rằng nó không bao giờ có thể mở toang mà bắt buộc phải dùng chìa khóa mới mở được. Sau đó chúng tôi bước vào tiền sảnh, một căn phòng nhỏ, sáng sủa lát gạch đỏ vuông.
— A! Đây là khung cửa sổ mà kẻ sát nhân đã tẩu thoát! — Rouletabille nói.
— Mấy người cứ nói thế mãi, thưa ngài, cứ nói thế mãi! Nhưng nếu hắn chuồn bằng đường đó, tụi này thể nào cũng thấy. Tụi này có phải mù đâu, cả ngài Stangerson lẫn tôi, hay vợ chồng quản gia đang ngồi tù kia. Sao họ không tống cổ luôn cả tôi vào tù vì tội có súng lục nhỉ?
Rouletabille đã mở sẵn cửa sổ và đang kiểm tra các cánh chớp.
— Lúc xảy ra vụ án, những cái này có đóng không?
— Và cài then sắt ở bên trong nữa, — cha già Jacques nói, — và tôi dám chắc một trăm phần trăm là kẻ sát nhân không ra bằng đường đó.
— Có vết máu nào không?
— Có, trên mấy viên đá ở bên ngoài; nhưng mà là máu gì mới được chứ?
— A! — Rouletabille nói, — có những dấu chân hằn rõ trên lối đi—đất rất ẩm. Tôi sẽ xem xét kỹ chuyện đó sau.
— Nhảm nhí! — cha già Jacques ngắt lời; — kẻ sát nhân không đi đường đó.
— Thế hắn đi đường nào?
— Sao tôi biết được?
Rouletabille quan sát mọi thứ, ngửi mọi thứ. Cậu quỳ sụp xuống và nhanh chóng kiểm tra từng viên gạch lát nền một. Cha già Jacques nói tiếp:
— À!—cậu chẳng tìm thấy gì đâu, ngài ạ. Chẳng có gì được tìm thấy cả. Giờ thì nó bẩn thét lên rồi; quá nhiều người giẫm đạp qua đây. Họ không cho tôi lau chùi, nhưng đúng vào ngày xảy ra án mạng, tôi đã lau dọn sàn nhà sạch bóng, và nếu kẻ sát nhân có đi giày đinh băng qua đây, tôi đã chẳng đời nào bỏ sót những nơi hắn đặt chân tới; hắn đã để lại đủ dấu vết trong phòng của tiểu thư rồi còn gì.
Rouletabille đứng dậy.
— Lần cuối cùng ông lau mấy viên gạch này là khi nào? — cậu hỏi, và đăm đăm nhìn cha già Jacques bằng ánh mắt xoáy sâu nhất.
— Thì—như tôi đã bảo với ngài—vào ngày xảy ra án mạng, tầm năm rưỡi chiều—trong lúc tiểu thư và cha cô ấy đang dạo chơi một lát trước giờ ăn tối, ở ngay căn phòng này; họ đã dùng bữa tối trong phòng thí nghiệm. Hôm sau, quan án sát đến và nhìn thấy tất cả các dấu vết trên sàn nhà rõ mồn một như thể chúng được vẽ bằng mực trên giấy trắng. Chà, chẳng có lấy một dấu chân người nào ở cả phòng thí nghiệm lẫn phòng tiền sảnh, cả hai nơi đều sạch như ly như lau. Vì người ta đã tìm thấy dấu chân ở bên ngoài cửa sổ này, nên chắc hẳn hắn đã đột ngột vượt qua trần của Căn phòng vàng để lên gác mái, rồi đục thủng mái nhà nhảy phốc xuống đất ngay ngoài cửa sổ tiền sảnh. Nhưng—chẳng có cái lỗ nào cả, trên cả trần Căn phòng vàng lẫn mái nhà gác mái của tôi—điều đó hoàn toàn chắc chắn! Thế nên ngài thấy đấy, chúng ta chẳng biết gì sất—chẳng biết gì cả! Và sẽ chẳng bao giờ có ai biết được! Đúng là một bí ẩn do ma quỷ nhúng tay vào.
Rouletabille lại quỳ sụp xuống gần như sát sạt một phòng vệ sinh nhỏ ở phía sau tiền sảnh. Cậu duy trì tư thế đó trong khoảng một phút.
— Sao rồi? — tôi hỏi khi cậu đứng lên.
— Ồ! Không có gì quan trọng lắm đâu,—một giọt máu thôi, — cậu đáp, vừa quay sang phía cha già Jacques vừa nói. — Trong lúc ông đang lau phòng thí nghiệm và tiền sảnh này, cửa sổ tiền sảnh có mở không? — cậu hỏi.
— Không, thưa Monsieur, nó đóng; nhưng sau khi lau xong sàn nhà, tôi có nhóm ít than củi cho ngài ấy trong lò của phòng thí nghiệm, và vì nhóm bằng báo cũ nên nó bị khói, thế là tôi mở cả hai cửa sổ trong phòng thí nghiệm lẫn cửa này để tạo luồng gió lùa; rồi tôi đóng mấy cái ở phòng thí nghiệm lại và để ngỏ cái này lúc bước ra ngoài. Khi tôi quay lại dãy nhà phụ, cửa sổ này đã được đóng lại và ngài cùng tiểu thư đã đang làm việc trong phòng thí nghiệm rồi.
— Chắc chắn là ngài hoặc tiểu thư Stangerson đã đóng nó lại chứ gì?
— Chắc thế rồi.
— Ông không hỏi họ à?
— Không.
Sau khi săm soi kỹ lưỡng phòng vệ sinh nhỏ và cầu thang dẫn lên gác mái, Rouletabille—người mà đối với cậu lúc này chúng tôi dường như không còn tồn tại nữa—bước vào phòng thí nghiệm. Tôi bước theo sau. Phải thú thực là tôi đang vô cùng phấn khích. Robert Darzac không bỏ sót bất kỳ cử động nào của bạn tôi. Về phần tôi, mắt tôi dán ngay vào cánh cửa của Căn phòng vàng. Nó đang đóng và, như tôi nhận thấy ngay lập tức, bị vỡ một phần và không còn sử dụng được nữa.
Bạn tôi, người làm việc một cách có phương pháp, lặng lẽ nghiên cứu căn phòng nơi chúng tôi đang đứng. Nó rộng rãi và sáng sủa. Hai cửa sổ lớn—gần như cửa lồi—được bảo vệ bằng những thanh sắt kiên cố và nhìn ra một vùng nông thôn rộng lớn. Qua một khoảng trống giữa khu rừng, chúng thu trọn vào tầm mắt một khung cảnh tuyệt diệu dọc theo thung lũng và băng qua đồng bằng tới thị trấn lớn có thể nhìn thấy rõ vào những ngày đẹp trời. Tuy nhiên, hôm nay, một lớp sương mù bao trùm mặt đất—và cả máu trong căn phòng đó nữa!
Toàn bộ một bên của phòng thí nghiệm chiếm trọn bởi một chiếc ống khói lớn, lò nấu kim loại, lò nung, và các dụng cụ cần thiết cho các thí nghiệm hóa học; những chiếc bàn chất đầy ống nghiệm, giấy tờ, báo cáo, một cỗ máy phát điện tĩnh—một thiết bị, như ông Darzac đã thông báo với tôi, được Giáo sư Stangerson sử dụng để chứng minh hiện tượng Phân ly vật chất dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời—cùng các dụng cụ khoa học khác.
Dọc theo các bức tường là những chiếc tủ, loại trơn hoặc có mặt kính, qua đó có thể nhìn thấy kính hiển vi, thiết bị chụp ảnh chuyên dụng, và một số lượng lớn các tinh thể.
Rouletabille, đang lúi húi lục lọi trong ống khói, thò ngón tay vào một trong những chiếc lò nung. Đột nhiên cậu đứng thẳng người dậy, trên tay cầm một mẩu giấy cháy dở một nửa. Cậu bước tới chỗ chúng tôi đang đứng nói chuyện bên một khung cửa sổ.
— Giữ cái này hộ chúng tôi nhé, Monsieur Darzac, — cậu nói.
Tôi cúi xuống nhìn mẩu giấy bị xém lửa mà ông Darzac nhận lấy từ tay Rouletabille, và đọc rõ mồn một những từ duy nhất còn đọc được:
— "Nhà xứ—chẳng mất đi—quyến rũ, vườn—ánh quang."
Đã hai lần kể từ sáng nay những từ ngữ vô nghĩa này đập vào tai tôi, và đây là lần thứ hai, tôi thấy chúng tạo ra trên người vị giáo sư Sorbonne cùng một hiệu ứng tê liệt. Sự lo lắng đầu tiên của ông Darzac lộ rõ khi ông đảo mắt nhìn về phía cha già Jacques. Nhưng vì đang bận rộn ở một ô cửa sổ khác, lão chẳng thấy gì cả. Đoạn, tay run rẩy mở ví da, ông cất mẩu giấy vào trong, miệng thở dài: "Lạy Chúa!"
Trong lúc ấy, Rouletabille đã trèo hẳn vào hốc lò sưởi—nghĩa là cậu đã đứng lên những viên gạch của lò nung—và đang chăm chú kiểm tra ống khói, vốn thon nhỏ dần về phía đỉnh, lối thoát khí được bịt kín bằng các tấm sắt gắn chặt vào cấu trúc gạch, xuyên qua đó là ba ống khói nhỏ.
— Không đời nào chui ra bằng đường đó được, — cậu nói, nhảy tót trở lại phòng thí nghiệm. — Hơn nữa, dù hắn có cố làm thế đi chăng nữa, thì hắn cũng đã giật sập toàn bộ đống khung sắt đó xuống đất rồi. Không, không; chúng ta không phải tìm kiếm ở hướng đó.
Rouletabille tiếp tục kiểm tra đồ đạc và mở các cánh cửa tủ. Rồi cậu tiến đến các cửa sổ, qua đó cậu tuyên bố không một ai có thể chui qua nổi. Ở ô cửa sổ thứ hai, cậu bắt gặp cha già Jacques đang đứng trầm ngâm.
— Này cha già Jacques, — cậu nói, — ông đang nhìn gì thế?
— Cái gã cảnh sát cứ đi vòng quanh cái hồ mãi kia kìa. Lại thêm một tên tưởng mình tinh đời hơn người khác nữa chứ!
— Ông không biết Frédéric Larsan đâu, cha già Jacques, bằng không ông đã chẳng nói về ông ấy kiểu đó, — Rouletabille nói với giọng u sầu. — Nếu có ai tìm ra hung thủ, thì đó chính là ông ấy. — Và Rouletabille thở dài thườn thượt.
— Trước khi tìm ra hắn, họ sẽ phải học cách làm thế nào để xổng mất hắn đã, — cha già Jacques điềm nhiên đáp.
Cuối cùng chúng tôi cũng tiến đến trước cửa của Căn phòng vàng.
— Kia là cánh cửa ẩn sau đó một kịch bản kinh hoàng đã diễn ra, — Rouletabille nói, với một vẻ trang nghiêm mà trong bất kỳ hoàn cảnh nào khác sẽ bị coi là buồn cười.