Ngày sang quá trưa lúc chàng dậy. Người hầu phòng nhiều lần nhón chân rón rén vào phòng xem chàng có trở mình hay không, và thắc mắc điều gì đã khiến cậu chủ mình ngủ muộn đến thế. Cuối cùng chuông cũng vang, và Victor nhẹ nhàng bước vào với tách trà, cùng chồng thư, trên cái khay nhỏ bằng sứ Sèvres cổ, và vén các tấm màn xa- tanh màu ô-liu, với lớp lót màu lam bóng, đang rủ dài trước ba ô cửa sổ cao.
“Sáng nay Me-xừ ngủ say quá,” anh ta mỉm cười nói. “Mấy giờ rồi, hả Victor?” Dorian Gray ngái ngủ hỏi. “Một giờ một khắc, thưa Me-xừ.”
Muộn đến thế kia! Chàng ngồi dậy, rồi, nhấp vài ngụm trà, lần giở đống thư từ. Một bức trong đó đến từ Ngài Henry, và được giao bằng tay sáng nay. Chàng do dự giây lát, rồi đặt chúng sang một bên. Các thư khác chàng mở lơ đãng. Chúng bao gồm tập hợp quen thuộc các bưu thiếp, giấy mời ăn tối, vé đến triển lãm cá nhân, chương trình hoà nhạc lạc quyên, và những thứ tương tự, được trưng ra trước các chàng trai trẻ tân thời hằng sáng trong suốt mùa. Có một hoá đơn khá nặng, về bộ bồn vệ sinh Louis-Quinze chạm bạc, mà chàng chưa đủ can đảm đề xuất với người giám hộ của mình, một người hủ lậu cùng cực và không nhìn ra rằng ta đang sống trong thời đại khi những thứ không cần thiết thảy đều tối cần thiết cho ta; và có vài thông tri trình bày nhã nhặn đến từ giới cho vay Phố Jermyn đề nghị ứng trước bất kì khoản tiền nào vào bất kì thời điểm nào với lãi suất phải chăng nhất.
Sau khoảng mười phút chàng đứng lên, rồi, quàng lên người áo choàng tắm bằng len ca-sơ-mia dệt lụa, bước vào phòng tắm lát mã não đen. Nước mát làm chàng tỉnh người sau giấc ngủ dài. Chàng dường như quên hết những chuyện mình vừa trải qua. Một cảm giác lờ mờ liên đới đến bi kịch kì lạ nào đó quét qua chàng một đôi lần, nhưng đó là chuyện mơ màng hão huyền.
Ngay khi đã mặc áo, chàng vào thư phòng và ngồi xuống dùng bữa điểm tâm nhẹ kiểu Pháp, đã được đặt chờ chàng trên chiếc bàn tròn con kê sát cửa sổ mở. Một ngày đẹp vô cùng. Bầu không ấm áp dường như chở đầy hương vị. Một con ong bay vào, rồi vo ve quanh chiếc bát lam long, chứa đầy hồng vàng màu lưu huỳnh, được đặt trước mặt chàng. Chàng cảm thấy hoàn toàn hạnh phúc.
Bất thần mắt chàng chiếu đến tấm bình phong mình chắn trước bức chân dung, và chàng giật thót người.
“Quá lạnh sao Me-xừ?” người hầu phòng hỏi, đặt món trứng tráng lên bàn. “Tôi đóng cửa sổ nhé?”
Dorian lắc đầu. “Tôi không lạnh,” chàng nói nhỏ.
Thảy có phải sự thật? Bức chân dung đã thật sự thay đổi ư? Hay đó đơn thuần do trí tưởng chính chàng làm chàng thấy ánh nhìn nanh ác nơi đã từng là ánh nhìn vui vẻ? Chắc chắn vải bạt tô vẽ không thể biến đổi chứ? Chuyện này thật ngớ ngẩn. Nó sẽ thành câu chuyện kể cho Basil một ngày kia. Nó sẽ làm anh mỉm cười.
Và, dầu vậy, hồi tưởng của chàng về toàn bộ chuyện đó sống động lắm thay! Đầu tiên trong ánh rạng đông nhạt nhoà, và rồi trong ánh bình minh rực rỡ, chàng đã thấy nét tai ác quanh đôi môi oằn cong. Chàng gần như sợ người hầu rời phòng mất. Chàng biết rằng khi còn một mình chàng sẽ phải xem xét bức chân dung. Chàng cầm chắc nỗi sợ. Khi cà-phê và thuốc lá được mang vào và người đàn ông quay đi, chàng cảm nhận nỗi khát khao dữ dội giữ anh ta ở lại. Đoạn cánh cửa đóng lại sau lưng, chàng gọi anh ta. Người đàn ông đứng chờ lệnh. Dorian nhìn anh một chốc. “Tôi không tiếp bất kì ai ở nhà nhé, Victor,” chàng nói, kèm tiếng thở dài. Người đàn ông cúi chào và lui ra.
Rồi chàng rời bàn, châm thuốc, và ném mình xuống chiếc ghế nằm bọc đệm sang trọng đặt trước tấm bình phong. Tấm bình phong bằng da thuộc Tây Ban Nha cũ kĩ, thếp vàng, được chạm trổ và chế tác bằng hoa văn Louis-Quatorze khá sặc sỡ. Chàng tò mò rà quét, lòng tự hỏi liệu có thật là nó đứng chắn trước bí mật cuộc đời một con người hay không.
Chàng, suy cho cùng, có nên gạt nó sang bên? Sao không cứ để nó ở đấy? Liệu biết thì có ích gì? Nếu chuyện đó là thật, nó thật kinh khủng. Nếu nó không thật, sao phải phiền lòng về nó? Nhưng sẽ thế nào nếu, do định mệnh hoặc vận hội chết người nào đó, một cặp mắt khác ngoài chàng rình rập bám đuôi, và nhìn thấy sự thay đổi khủng khiếp ấy? Chàng xử trí thế nào nếu Basil Hallward đến và hỏi xem bức hoạ do chính mình vẽ? Cầm chắc Basil sẽ làm thế. Không; vật đó phải được xem xét, ngay bây giờ. Bất kì điều gì cũng còn hơn trạng thái nghi hoặc đáng sợ này.
Chàng đứng dậy, rồi khoá cả hai cửa. Chí ít chàng chỉ có một mình khi nhìn vào lớp mặt nạ hổ thẹn của mình. Rồi chàng kéo tấm bình phong sang bên, và chính mình mặt đối mặt. Điều đó hoàn toàn thật. Bức chân dung đã biến đổi.
Như chàng thường nhớ lại sau này, và luôn luôn không gợn chút thắc mắc, chàng thấy chính mình lần đầu tiên nhìn chăm chú bức chân dung với cảm xúc gần như hứng thú khoa học. Một sự thay đổi như vậy diễn ra là điều không tưởng với chàng. Tuy thế nó lại là hiện thực. Đã có chăng một ái lực tinh vi nào đó giữa các nguyên tử hoá học, tự kết mình thành hình dáng và màu sắc trên nền vải bạt, với linh hồn bên trong chàng? Có thể chăng những điều linh hồn nghĩ, chúng hiểu ra? – những điều nó mơ, chúng nghiệm thực? Hay còn có lí do nào khác, khủng khiếp hơn? Chàng rùng mình, và cảm thấy sợ, rồi, quay lại chiếc ghế nằm, ngả lưng xuống, chằm chằm nhìn vào bức hoạ trong nỗi khiếp đảm bệnh hoạn.
Một điều, tuy thế, chàng cảm thấy nó giúp ích cho mình. Nó khiến chàng nhận ra mình đã bất công, độc ác với Sibyl Vane nhường nào. Vẫn chưa muộn màng để chuộc lại lỗi lầm này. Nàng vẫn có thể làm vợ chàng. Tình yêu hão huyền và ích kỉ của chàng sẽ sản sinh ra ảnh hưởng nào lớn lao hơn, sẽ chuyển hoá thành đam mê nào cao thượng hơn, và bức chân dung Basil Hallward vẽ cho sẽ làm người chỉ lối cho chàng suốt đời, sẽ chỉ cho chàng thánh thiện lúc này, và lương thiện lúc khác, và lòng kính sợ Chúa Trời cho tất thảy chúng ta. Kia là thuốc phiện của lòng ăn năn, thứ ma tuý vỗ về tri giác đạo đức vào giấc ngủ. Nhưng đây là biểu tượng hữu hình của sự suy đồi vì tội lỗi. Đây là dấu vết nhãn tiền của sự tàn hại mà con người gây cho linh hồn mình.
Ba giờ đã điểm, rồi bốn, và tiếng chuông lúc nửa giờ đánh lâu gấp đôi, nhưng Dorian Gray chẳng cựa mình. Chàng đang gắng sức để gom lại những sợi chỉ đỏ cuộc đời, rồi dệt chúng thành tấm; để tìm lối đi xuyên qua mê cung nhuốm máu của đam mê mà chàng bước lạc đường. Chàng không biết làm gì, hay nghĩ gì. Rốt cuộc, chàng đến bên bàn và viết một lá thư nhiệt thành cho cô gái mình yêu, khẩn cầu lòng khoan dung của nàng, và tự kết tội cơn điên của mình. Chàng lấp kín trang lại trang với những từ buồn dữ dội, và những từ đau dữ dội hơn. Có sự xa xỉ trong hành động tự khiển trách. Khi tự trách mình, ta cảm thấy không ai khác có quyền trách ta nữa. Chính lời xưng thú, chứ không phải linh mục, mang cho ta sự miễn xá. Lúc Dorian vừa hoàn thành bức thư, chàng nghe lòng mình đã được tha thứ.
Đột nhiên có tiếng gõ lên cửa, và chàng nghe giọng Ngài Henry bên ngoài. “Cậu bé thân mến, tôi phải gặp cậu. Cho tôi vào ngay nhé. Tôi không chịu được khi cậu nhốt mình như thế.”
Ban đầu chàng chẳng trả lời, mà cứ dứt khoát ngồi yên. Tiếng gõ vẫn tiếp tục, và càng thêm ồn ào. Vâng, tốt hơn là để Ngài Henry vào, để trình bày với gã cuộc đời mới mà chàng sắp sống, để cãi lẫy với gã nếu chuyện trở nên cần thiết phải cãi, để từ nhau nếu từ mặt là không tránh khỏi. Chàng nhảy lên, hấp tấp kéo tấm bình phong chắn bức hoạ, và mở khoá cửa.
“Tôi thành kính chia buồn về mọi sự, Dorian,” Ngài Henry nói, ngay khi bước vào. “Nhưng cậu đừng nghĩ quá nhiều về chuyện đó nữa.”
“Ý anh nói về Sibyl Vane?” chàng trai trả lời.
“Phải, tất nhiên rồi,” Ngài Henry trả lời, trầm mình xuống ghế, và chậm rãi tháo đôi găng tay vàng. “Chuyện thật kinh khủng, từ hầu hết quan điểm, nhưng không phải lỗi do cậu. Nói tôi hay, cậu đã ra hậu trường gặp cô ấy, sau khi vở kịch kết thúc?”
“Vâng.”
“Tôi đoan chắc là thế. Cậu đã gây chuyện với cô ấy?”
“Tôi đã rất cục súc, Harry – vô cùng cục súc. Nhưng giờ
đây mọi chuyện đều ổn. Tôi không nuối tiếc bất kì chuyện gì đã rồi. Nó dạy cho tôi biết về mình hơn.”
“A, Dorian, tôi mừng thấy cậu xử trí theo cách ấy! Tôi đã sợ mình sẽ thấy cậu lao mình vào ăn năn, và vò xé mái tóc xoăn đẹp đẽ của cậu.”
“Tôi đã làm tất cả,” Dorian nói, lắc đầu, rồi mỉm cười. “Tôi bây giờ hoàn toàn hạnh phúc. Tôi biết lương tâm là gì,
để khởi đầu với nó. Nó không phải thứ anh từng nói cho tôi. Nó là thứ thiêng liêng trong chúng ta. Đừng nhạo báng nó, Harry, đừng bao giờ – ít nhất trước mặt tôi. Tôi muốn được tử tế. Tôi không chịu được ý tưởng linh hồn mình thành tởm lợm.”
“Một nền tảng quyến rũ đầy nghệ thuật về đạo đức học, Dorian ạ! Tôi chúc mừng cậu đấy. Nhưng cậu khởi đầu bằng cách nào?”
“Bằng việc cưới Sibyl Vane.”
“Cưới Sibyl Vane!” Ngài Henry la tướng, bật đứng dậy, và nhìn chàng với nỗi kinh ngạc lúng túng. “Nhưng, Dorian thân mến –”
“Vâng, Harry, tôi biết điều anh sắp nói. Điều gì đó khủng khiếp về hôn nhân. Đừng nói ra. Đừng bao giờ nói những điều dạng đó với tôi lần nào nữa. Hai ngày trước tôi đã hỏi cưới Sibyl. Tôi sẽ không huỷ hôn ước với nàng. Nàng sẽ là vợ tôi.”
“Vợ cậu! Dorian!… Cậu đã nhận thư tôi chưa? Tôi viết cho cậu sáng nay, và gửi tờ biên xuống, bằng chính tay người của tôi.”
“Thư của anh? Ồ, phải, tôi nhớ rồi. Tôi chưa đọc nó, Harry ạ. Tôi e rằng biết đâu trong đó có thứ tôi không thích. Anh chẻ cuộc sống ra từng mảnh bằng lối văn trào phúng của anh.”
“Vậy ra cậu chưa biết gì?” “Ý anh là sao?”
Ngài Henry bước ngang phòng, rồi, ngồi xuống cạnh Dorian Gray, nắm cả đôi bàn tay chàng, và giữ chặt chúng. “Dorian,” gã nói, “thư tôi – đừng hoảng sợ – báo với cậu rằng Sibyl Vane đã chết.”
Một tiếng thét đau đớn vỡ ra khỏi đôi môi chàng trai, và chàng nhảy dựng lên, giằng ra khỏi nắm tay siết của Ngài Henry. “Chết! Sibyl chết! Không đúng! Dối trá kinh tởm! Sao anh dám nói thế?”
“Hoàn toàn đúng sự thật, Dorian ạ,” Ngài Henry nghiêm nghị nói. “Chuyện lên khắp mặt báo sáng nay. Tôi viết thư gửi để thỉnh cầu cậu đừng gặp bất kì ai cho đến khi tôi tới. Sẽ có cuộc điều tra, tất nhiên, còn cậu thì đừng lôi thôi vào đó. Chuyện như vậy hợp mốt với dân Ba Lê. Nhưng ở Luân Đôn dân tình nặng thành kiến. Xứ này, ta đừng bao giờ tạo màn ra mắt* bằng một vụ tai tiếng. Ta nên để dành chuyện đó mà gây bão lúc tuổi già. Tôi đồ rằng họ chưa biết tên cậu ở rạp hát? Nếu họ chưa, thì ổn cả rồi. Có ai thấy cậu đi vào phòng cô bé không? Đây là điểm quan trọng.”
Dorian không trả lời trong một lúc. Chàng mụ người đi vì kinh hãi. Cuối cùng chàng lắp bắp, giọng nghẹn đặc, “Harry, có phải anh nói về cuộc điều tra? Ý anh là gì? Sibyl đã –? Ôi, Harry, tôi không chịu nổi! Nhưng mau lên. Kể cho tôi mọi chuyện ngay.”
“Tôi chắc chắn đó không phải là tai nạn, Dorian ạ, mặc dù cầm chắc đó là hướng sẽ đưa ra trước công chúng. Có vẻ như cô bé rời rạp hát cùng mẹ mình, khoảng mười hai rưỡi hoặc tầm đó, cô nói mình quên thứ gì trên lầu. Họ đợi cô bé một hồi, nhưng cô không xuống nữa. Họ sau cùng tìm thấy cô bé nằm chết dưới sàn phòng phục trang của mình. Cô bé đã sơ sẩy nuốt nhầm thứ gì, thứ chết chóc gì người ta dùng ở rạp hát. Tôi không rõ là gì, nhưng nó hoặc chứa a-xít pút-xích hoặc chì trắng bên trong. Tôi mường tượng là a-xít pút-xích, vì dường như cô bé đã chết ngay tức khắc.”
“Harry, Harry, kinh khủng quá!” chàng trai kêu lên. “Phải; rất bi thảm, hẳn rồi, nhưng cậu đừng để mình lôi thôi vào đó. Tôi biết qua tờ Chuẩn Mực rằng cô bé đã mười bảy. Tôi đã nghĩ cô bé gần như trẻ hơn thế. Cô trông như một đứa bé, và biết rất ít về diễn xuất. Dorian, cậu đừng quá bận lòng về chuyện này. Cậu phải ra ngoài và ăn tối với tôi, rồi sau đó chúng ta sẽ ghé qua rạp Opera. Đêm nay thuộc về nữ danh ca Patti, và mọi người sẽ tề tựu. Cậu có thể ngồi buồng của chị tôi. Bà ấy dẫn vài phụ nữ lượt là đi cùng.”
“Vậy là tôi vừa giết Sibyl Vane,” Dorian Gray nói, nửa với chính mình – “quả thật giết nàng như thể tự tôi cắt cái cổ họng nhỏ của nàng bằng một lưỡi dao. Dầu vậy hoa hồng không kém đáng yêu đi vì tất thảy điều kia. Bầy chim ca hát như hạnh phúc trong vườn tôi. Và tối nay tôi đi ăn với anh, và rồi đến rạp Opera, và ăn đêm đâu đây, tôi đồ vậy, sau đó. Cuộc sống mới bi hài lắm thay! Nếu tôi đọc thảy những chuyện này trong sách, Harry ạ, tôi nghĩ mình sẽ khóc than. Bằng cách nào đó, giờ đây chuyện xảy ra thật, và vận vào tôi, dường như quá kinh ngạc để trào lệ. Đây là bức thư tình nhiệt thành đầu tiên tôi từng viết trong đời. Lạ thay, bức thư tình nhiệt thành đầu tiên của tôi đề gửi một cô gái đã chết. Bọn họ cảm nhận được chăng, tôi tự hỏi, những con người trắng bệch lặng câm mà ta gọi là người chết? Sibyl! Nàng cảm, hoặc biết, hoặc nghe, được không? Ôi, Harry, tôi đã từng yêu nàng đến thế! Dường như đã nhiều năm trôi qua trong tôi. Nàng từng là mọi thứ với tôi. Rồi đêm định mệnh ấy đến – thực là chỉ mới đêm qua ư? – khi nàng diễn quá tồi, và trái tim tôi như đã vỡ tan. Nàng giải thích tất cả cho tôi. Thống thiết vô cùng. Nhưng tôi đã chẳng động lòng một li. Tôi nghĩ nàng nông cạn. Đột nhiên có chuyện xảy đến làm tôi sợ. Tôi không thể nói anh hay chuyện gì, nhưng nó kinh khiếp. Tôi đã nói mình sẽ quay về bên nàng. Tôi cảm thấy mình đã sai. Và giờ nàng chết. Lạy Chúa! Lạy Chúa! Harry, tôi phải làm sao? Anh không biết mối nguy tôi mắc vào, và chẳng gì gỡ rối được cho tôi. Nàng đã làm thế vì tôi. Nàng không có quyền tự vẫn. Đó là ích kỉ.”
“Dorian thân mến,” Ngài Henry trả lời, lấy một điếu thuốc khỏi bao, rồi quẹt hộp diêm dát vàng, “cách duy nhất để phụ nữ cải tạo đàn ông là làm họ buồn chán hết mức đến nỗi y đánh mất tất thảy hứng thú có được với cuộc sống. Nếu cưới cô gái này cậu hẳn sẽ khốn khổ. Dĩ nhiên cậu hẳn sẽ đối đãi ân cần với nàng. Người ta luôn có thể ân cần với người mà họ không hề quan tâm. Nhưng nàng sẽ sớm thấy ra cậu tuyệt đối lãnh đạm với mình. Và khi người phụ nữ thấy ra điều đó ở chồng mình, nàng trở nên hoặc xuề xoà kinh khủng, hoặc diện mọi chiếc bô-nê tinh tươm khiến đấng chồng các phụ nữ khác phải để ý. Tôi không nói gì về tệ đoan xã hội, thứ hẳn được coi là đê tiện, mà, dĩ nhiên, tôi hẳn không chấp nhận, nhưng tôi cam đoan rằng dù trong trường hợp nào toàn bộ chuyện này vẫn là một sai lầm tuyệt đối.”
“Tôi cho là vậy,” chàng trai lẩm bẩm, đi lên đi xuống trong phòng, vẻ mặt nhợt nhạt khủng khiếp. “Nhưng tôi nghĩ đó là nhiệm vụ của mình. Không phải lỗi do tôi khi thảm kịch kinh hoàng này ngăn trở việc làm đúng đắn của mình. Tôi nhớ lời anh từng nói về điểm trí mạng của quyết định tử tế – rằng chúng luôn được đưa ra quá muộn. Đích xác với tôi.”
“Những quyết định tử tế là nỗ lực vô hiệu trong việc cản trở qui luật khoa học. Căn nguyên của chúng thuần tuý phù phiếm. Kết quả của chúng hoàn toàn hư không*. Chúng cho ta, thi thoảng, một vài cảm xúc bất thụ xa xỉ mang vẻ quyến rũ nhất định đến kẻ yếu. Đó là thảy những gì có thể nói về chúng. Chúng là tấm séc đơn thuần người đời rút từ ngân hàng mà mình không mở tài khoản.”
“Harry ơi,” Dorian Gray kêu lên, đến gần và ngồi xuống bên cạnh gã, “tại sao tôi không cảm nhận được thảm kịch này nhiều như mình muốn? Tôi không nghĩ mình không có trái tim. Còn anh?”
“Cậu đã làm quá nhiều chuyện dại dột trong suốt hai tuần qua để được phép định cho mình cái danh ấy, Dorian ạ,” Ngài Henry trả lời, kèm nụ cười sầu muộn ngọt ngào.
Chàng trai cau mày. “Tôi không thích lời giải đáp đó, Harry ạ,” chàng tiếp, “nhưng tôi mừng vì anh không nghĩ tôi không có trái tim. Tôi không thuộc hạng đó. Tôi biết mình không. Và dầu vậy tôi phải thừa nhận rằng chuyện xảy ra này không tác động lên tôi như mức cần thiết. Dường như với tôi nó đơn thuần như một kết thúc tuyệt vời cho một vở kịch tuyệt vời. Nó mang tất thảy vẻ đẹp khủng khiếp của bi kịch Hi Lạp, một bi kịch trong đó tôi đóng vai lớn, nhưng chính vì thế mà tôi không đau thương.”
“Đặt vấn đề rất hay,” Ngài Henry nói, gã thấy một niềm khoái lạc mãnh liệt trong việc vờn chơi bản ngã vô thức của chàng trai – “đặt vấn đề tuyệt hay. Tôi mường tượng thấy lời giải đáp thực thụ bên trong nó. Như vẫn thường xảy ra rằng những bi kịch của đời thực ập đến theo lối phi nghệ thuật, chúng làm ta đau bằng tính bạo lực thô thiển, sự thiếu mạch lạc tuyệt đối, lòng ham muốn ý nghĩa phi lí, sự khiếm khuyết phong cách vô cùng. Chúng tác động lên ta như sự dung tục tác động. Chúng cho ta một ấn tượng về thói vũ lực tột độ, và chúng ta nổi dậy chống lại điều đó. Đôi khi, tuy nhiên, một bi kịch sở hữu yếu tố nghệ thuật của cái đẹp vượt lên trên cuộc sống chúng ta. Nếu những yếu tố của cái đẹp ấy là thật, thì toàn bộ chuyện này đơn thuần gợi lên cho ta tri giác về ấn tượng sân khấu. Đột nhiên ta thấy mình không còn là kép hát nữa, mà là khán giả của vở kịch. Hoặc đúng hơn ta là cả hai. Ta xem chính mình, và chỉ điều kì diệu của màn trình diễn mê say lòng ta thôi. Trong trường hợp hiện tại, chuyện gì đã thực sự xảy ra? Một cô gái tự vẫn vì tình yêu dành cho cậu. Tôi ước sao mình từng có được trải nghiệm như vậy. Nó sẽ khiến tôi phải lòng tình ái trọn cuộc đời. Những người từng cuồng si tôi – không nhiều lắm, nhưng cũng được vài ba – luôn khăng khăng sống tiếp, sống rất lâu sau khi tôi đã ngừng quan tâm họ, hoặc họ ngừng quan tâm tôi. Họ trở nên béo lăn và nhạt toẹt, và khi gặp lại, họ ngay lập tức hồi tưởng. Cái bộ nhớ kinh khiếp của giống đàn bà! Mới đáng hãi lắm thay! Còn tính trì độn phơi ra mới triệt để lắm lắm! Người ta nên tiếp thu sắc màu cuộc sống, nhưng đừng bao giờ nên ghi nhớ chi tiết. Chi tiết luôn luôn dung tục.”
“Tôi phải gieo hạt á phiện trong vườn,” Dorian thở dài. “Không cần thiết,” người bạn tiếp lời. “Mẹ Cuộc Sống luôn nắm á phiện trong đôi tay bà. Dĩ nhiên, thi thoảng chuyện kéo dài không dứt. Tôi từng chẳng mặc gì khác ngoài màu tím suốt cả một mùa, như một hình thức để tang nghệ thuật cho mối lãng mạn mãi không chết. Sau cùng, tuy nhiên, nó chết. Tôi quên rồi thứ đã giết nó. Tôi nghĩ chính là trù định của bà hi sinh toàn thế gian vì tôi. Đó luôn là khoảnh khắc kinh hoàng. Nó dâng đầy người ta bằng nỗi khiếp hãi tính bất diệt. Chà – cậu tin được không? – một tuần trước, tại nhà Phu Nhân Hampshire, tôi thấy mình ngồi ăn ngay cạnh quí phu nhân đang được nhắc đến ấy, rồi ả nằng nặc mang toàn bộ chuyện ra xét lại, rồi bới móc quá khứ, rồi đào xới tương lai. Tôi đã chôn mối lãng mạn của mình trong chiếc giường lan nhật quang. Ả cời chuyện ra lần nữa, và quả quyết rằng tôi đã hại đời ả. Tôi buộc phải tuyên bố rằng ả đã ăn bữa tối tú ụ, vậy nên tôi chẳng thấy lo ngại chút nào. Nhưng sự vô vị ả trưng ra mới chết khiếp! Vẻ quyến rũ quá khứ chỉ còn trong quá khứ. Nhưng phụ nữ không bao giờ biết lúc nào thì màn hạ. Họ luôn đòi có hồi thứ sáu, rồi ngay khi tính hấp dẫn của vở kịch đã kết thúc trọn vẹn thì họ đề xuất diễn tiếp. Nếu họ được chiều theo ý mình, mọi hài kịch đều kết thúc bi thảm, và mọi bi kịch đều lên cao trào trong một trò hề. Họ mang vẻ quyến rũ nhân tạo, nhưng họ không mang tri giác nghệ thuật. Cậu tốt số hơn tôi. Tôi quả quyết với cậu, Dorian, rằng không một phụ nữ nào tôi biết từng làm cho tôi việc Sibyl Vane đã làm cho cậu. Phụ nữ bình thường lúc nào cũng an ủi bản thân. Vài người họ dùng cách ăn vận màu đa cảm. Đừng bao giờ tin vào phụ nữ bận màu hoa cà, bất kể tuổi bao nhiêu đi nữa, hoặc phụ nữ tầm ba mươi lăm thích ruy-băng hồng. Nó luôn hàm ý rằng họ có một quá khứ. Những người khác tìm an ủi lớn lao trong việc bỗng dưng khám phá ra điểm tốt ở chồng mình. Họ chưng diện niềm sung sướng vợ chồng lên mặt, như thể đấy là tội lỗi mê hoặc nhất. Tôn giáo an ủi chút ít. Bí ẩn của nó chứa tất thảy nét quyến rũ trong cuộc ve vãn, một phụ nữ từng nói tôi hay; và tôi hoàn toàn hiểu được. Vả lại, chẳng gì vô ích như việc kết tội một kẻ tội lỗi. Lương tâm khiến tất cả chúng ta vị kỉ. Vâng; thực sự không có kết thúc cho niềm an ủi mà phụ nữ tìm trong đời sống đương đại. Thực tế, tôi chưa nhắc đến điểm quan trọng nhất.”
“Đó là gì, Harry?” chàng trai nói, lơ đãng.
“Ồ, niềm an ủi hiển nhiên. Cướp đi tình nhân của người khác khi chính mình bị đánh mất. Trong xã hội tử tế luôn tẩy trắng người phụ nữ. Nhưng quả thực, Dorian ạ, Sibyl Vane khác biệt với tất thảy phụ nữ người đời được gặp lắm thay! Với tôi có điều gì vô vàn đẹp đẽ trong cái chết của nàng. Tôi mừng là mình đang sống trong thế kỉ xảy ra những điều kì diệu nhường này. Chúng khiến người đời tin vào tính chân thực của những điều ta diễn bằng kịch, như tính lãng mạn, đam mê, và tình yêu.”
“Tôi đã tàn nhẫn khủng khiếp với nàng. Anh quên điều đó.”
“Tôi e rằng phụ nữ cảm kích sự tàn nhẫn, tàn nhẫn vô độ, hơn bất kì điều gì khác. Họ mang bản năng nguyên thuỷ tuyệt vời. Chúng ta giải phóng họ, nhưng họ vẫn là những nô lệ tìm kiếm chủ nô, dù gì chăng nữa. Họ yêu sự thống trị. Tôi chắc chắn rằng cậu đẹp tuyệt. Tôi chưa từng thấy cậu thật sự và tuyệt đối giận dữ, nhưng tôi có thể mường tượng cậu trông sẽ thú vị ra sao. Và, sau rốt, điều cậu từng nói với tôi hôm kia dường như với tôi lúc đó chuyện chỉ là huyễn tưởng, nhưng giờ tôi thấy tuyệt đối đúng, và nó giữ chìa khoá của mọi thứ.”
“Điều gì, Harry?”
“Cậu nói với tôi rằng Sibyl Vane trong cậu đại diện cho tất thảy nữ chính lãng mạn – rằng nàng là Desdemona đêm này, và Ophelia đêm khác; rằng nếu nàng chết như Juliet, thì nàng sống lại như Imogen.”
“Giờ đây nàng sẽ không bao giờ sống lại nữa,” chàng trai lẩm bẩm, vùi mặt vào đôi bàn tay.
“Phải, nàng sẽ không bao giờ sống lại. Nàng đã đóng vai cuối của mình. Nhưng cậu phải nghĩ về cái chết cô độc trong phòng phục trang loè loẹt đơn thuần như một mảnh vỡ bệch bạc xa lạ từ vở bi kịch nào thời Jacobean, như một cảnh diễn tuyệt vời của Webster, hay Ford, hay Cyril Tourneur. Cô nàng chưa bao giờ thật sự sống, vậy nên nàng chưa bao giờ thật sự chết. Với cậu chí ít nàng luôn là một giấc mơ, một bóng ma lượn qua các vở kịch Shakespeare và để lại chúng thêm đáng yêu trong sự hiện diện của mình, một lưỡi gà qua đó âm nhạc Shakespeare vang lên thêm phong phú và chất đầy thêm niềm vui. Khoảnh khắc nàng chạm vào đời thực, nàng huỷ hoại nó, và nó huỷ hoại nàng, và vì vậy nàng đi xa mãi. Khóc cho Ophelia, nếu cậu thích. Rắc tro lên đầu mình vì Cordelia bị siết cổ. Hờ với Trời Cao vì con gái Brabantio chết. Nhưng chớ lãng phí nước mắt cho Sibyl Vane. Nàng kém thật hơn bọn họ.”
Một bầu im lặng. Bóng chiều phủ tối gian phòng. Không thanh âm, với đôi chân bạc, những bóng đen bò vào từ khu vườn. Màu sắc mệt mỏi phai đi khỏi mọi vật.
Một hồi sau Dorian Gray ngẩng lên. “Anh đã tỏ rõ bản thân em cho chính em, Harry ạ,” chàng lẩm bẩm, kèm tiếng gì như thở phào. “Em cảm nhận được tất thảy điều anh nói, nhưng không biết sao em sợ nó, và em không thể biểu lộ được với chính mình. Anh biết rõ em lắm! Nhưng chúng ta đừng nói lại nữa chuyện đã rồi. Đó là một trải nghiệm tuyệt diệu. Vậy thôi. Em tự hỏi liệu cuộc sống có còn dành sẵn đợi mình điều gì tuyệt diệu đến thế.”
“Cuộc sống dành sẵn mọi thứ đợi cậu, Dorian ạ. Chẳng
điều gì mà cậu, với vẻ ưa nhìn tuyệt trần của mình, sẽ không làm được.”
“Nhưng giả sử, Harry, em trở nên hốc hác, và già nua, và nhăn nheo? Thế rồi?”
“A, rồi,” Ngài Henry nói, đứng dậy dợm đi – “rồi, Dorian thân mến, cậu sẽ phải chiến đấu vì chiến thắng của mình. Như tình trạng hiện tại, nó được dâng đến cho cậu. Không, cậu phải gìn giữ vẻ ưa nhìn của mình. Chúng ta sống trong thời đại đọc quá nhiều để được thông thái, và nghĩ quá nhiều để được xinh đẹp. Chúng ta không thể hoài phí cậu. Còn giờ tốt hơn cậu nên thay đồ, rồi đánh xe xuống hội quán. Chúng ta khá trễ rồi, như tình trạng hiện tại.”
“Em nghĩ mình sẽ đến rạp Opera cùng anh, Harry. Em thấy quá mệt để ăn được gì. Buồng của chị anh số mấy?”
“Hai mươi bảy, tôi tin vậy. Nó trên khu tầng lớn. Cậu sẽ thấy tên bà ấy ngoài cửa. Nhưng tôi tiếc vì cậu không đi ăn tối cùng tôi.”
“Em không có tâm trạng,” Dorian lơ đãng nói. “Nhưng em vô cùng biết ơn anh về thảy những điều anh đã nói. Anh chắc chắn là người bạn tốt nhất của em. Không ai từng hiểu em được như anh.”
“Chúng ta chỉ mới ở giai đoạn khởi đầu tình bạn, Dorian,” Ngài Henry trả lời, bắt tay chàng. “Tạm biệt. Tôi sẽ gặp lại cậu trước chín giờ ba mươi, mong là thế. Nhớ nhé, Patti đang hát đấy.”
Đoạn chàng đóng cửa lại sau lưng gã, Dorian Gray chạm chuông, và ít phút sau Victor xuất hiện với cây đèn rồi kéo mành xuống. Chàng sốt ruột chờ anh ta đi ra. Người đàn ông dường như mất vô tận thời gian để làm từng việc.
Ngay khi anh ta rời đi, chàng lao đến tấm bình phong, rồi kéo nó lại. Không; chẳng có thêm thay đổi nào nơi bức hoạ. Nó đã nhận tin Sibyl Vane chết trước khi chính chàng biết. Nó đã ý thức các sự kiện trong đời ngay khi chúng xảy đến. Vẻ tai ác suy đồi phá huỷ đường nét đẹp đẽ của cái miệng, không nghi ngờ gì, đã xuất hiện ngay chính khoảnh khắc cô gái uống chất độc vào, bất kể thế nào. Hay chăng nó dung hoà với kết quả? Nó chỉ đơn thuần biểu thị thứ băng qua linh hồn? Chàng tự hỏi, và hi vọng một ngày kia chàng sẽ được thấy sự thay đổi diễn ra ngay trước mắt mình, run từng cơn lúc chàng ước mong.
Sibyl đáng thương! Mối lãng mạn đi đến chốn nào! Nàng vẫn thường giả chết trên sân khấu. Rồi Cái Chết chính hắn chạm đến nàng, và mang nàng đi theo. Cảnh khủng khiếp cuối cùng ấy nàng đã diễn ra sao? Nàng nguyền rủa chàng không, lúc nàng chết? Không; nàng đã chết vì tình yêu dành cho chàng, và giờ đây tình yêu sẽ mãi là bí tích cho chàng. Nàng đã chuộc mọi tội lỗi, bằng sự hi sinh nàng nguyện dâng cuộc đời mình. Chàng sẽ không nghĩ gì nữa về điều nàng đã bắt chàng trải qua, trong cái đêm nghiệt ngã ở rạp hát. Khi chàng nghĩ về nàng, hẳn sẽ như một hình tượng bi kịch tuyệt vời được gửi xuống sân khấu trần gian để tỏ lộ tính hiện thực tối thượng của Tình Yêu. Một hình tượng bi kịch tuyệt vời ư? Dòng lệ dâng lên mắt chàng lúc chàng nhớ về vẻ mặt trẻ thơ và lối diễn huyền ảo lôi cuốn và dáng hình duyên dáng e thẹn run run của nàng. Chàng vội vàng phẩy chúng đi xa, và nhìn lại bức hoạ.
Chàng cảm thấy thời gian đã thật sự đến đưa ra lựa chọn cho chàng. Hay chăng lựa chọn của chàng đã được đưa từ trước? Vâng, thời gian đã quyết định giúp chàng – cuộc sống, và lòng hiếu kì bất tận của chàng về cuộc sống. Tuổi trẻ vĩnh hằng, đam mê bất tận, khoái lạc tinh vi và bí mật, niềm vui hoang sơ và tội lỗi hoang sơ hơn – chàng phải có được tất cả chúng. Bức chân dung đỡ lấy gánh nặng của lòng hổ thẹn nơi chàng: thảy là vậy.
Một cảm giác đau nhói trườn lên khi chàng nghĩ về sự băng hoại chờ sẵn cho gương mặt ngay thẳng trên nền vải bạt. Có lần, bằng trò giễu nhại trẻ con đậm chất Narcissus, chàng đã hôn, hay vờ hôn, đôi môi tranh vẽ lúc này đang mỉm cười tai ác với mình. Sáng lại sáng, chàng ngồi trước bức chân dung mà kinh ngạc về sắc đẹp của nó, gần như mê đắm nó, như đôi khi chàng vẫn cảm tưởng. Liệu giờ đây nó có biến đổi theo từng tâm trạng chàng sinh ra? Liệu nó có trở thành một vật quái đản và ghê tởm, bị giấu nhẹm trong căn phòng khoá, bị đóng kín khỏi ánh nắng đã từng thường xuyên chạm vào làm rạng rỡ ánh vàng bồng bềnh kì diệu trên mái tóc? Tiếc thương thay! Tiếc thương thay!
Trong một thoáng chàng đã nghĩ đến chuyện cầu nguyện cho mối liên thông kinh hoàng nối giữa chàng và bức hoạ hãy chấm dứt. Có thay đổi trong lời hồi đáp ước nguyện; cũng có thể trong lời hồi đáp ước nguyện vẫn chẳng có thay đổi nào. Và, dầu vậy, ai, để biết mọi điều về Cuộc Sống, lại buông bỏ cơ hội được giữ mãi tuổi trẻ, bất kể cơ hội quái lạ nhường nào, hay kết quả định mệnh nào dẫn đến? Vả lại, liệu nó có thực sự nằm dưới quyền điều khiển của chàng? Có thật là lời nguyện tạo ra sự thay thế? Không có lí do khoa học hiếu kì nào cho tất thảy chuyện này chăng? Nếu suy nghĩ có thể gây ảnh hưởng lên vật sống, liệu suy nghĩ có thể gây ảnh hưởng lên vật chết và vật vô cơ không? Dà, vắng suy nghĩ hoặc khao khát ý thức, liệu những thực tại khách quan có rung điệu hoà âm cùng những tâm trạng và đam mê trong ta, nguyên tử gặp nguyên tử trong ái tình bí mật hay ái lực kì lạ? Nhưng lí do gì không quan trọng. Chàng sẽ không bao giờ sa vào cám dỗ của lời nguyện cầu cho bất kì sức mạnh khủng khiếp nào nữa. Nếu bức hoạ bị biến đổi, thì biến đổi. Thảy là vậy. Tại sao phải tìm hiểu quá sâu vào nó?
Rồi sẽ có một khoái lạc thực thụ trong việc nhìn nó. Chàng sẽ được theo bước tâm trí mình vào những chốn bí mật của nó. Bức chân dung này đối với chàng sẽ như tấm gương thần kì nhất. Như nó đã từng phơi bày trước chàng thể xác mình, rồi nó sẽ phơi bày trước chàng linh hồn mình. Và khi mùa đông ập lên nó, chàng sẽ vẫn đứng đây nơi mùa xuân run rẩy bên thềm chớm hạ. Khi dòng máu lén trốn khỏi gương mặt nó, bỏ lại sau lưng tấm mặt nạ tái nhợt màu phấn và đôi mắt xám xịt màu chì, chàng sẽ vẫn giữ vẻ say đắm của tuổi thơ. Không một đoá hoa nào của vẻ đáng yêu nơi chàng sẽ phai tàn. Không một nhịp đập nào của cuộc đời chàng sẽ yếu đi. Như các vị thần Hi Lạp, chàng sẽ khoẻ, và nhanh, và vui. Chuyện xảy ra với bức tranh vẽ trên vải bạt thì có gì quan trọng? Chàng sẽ an toàn. Mọi chuyện là vậy.
Chàng kéo tấm bình phong về lại chỗ cũ nơi chắn trước bức hoạ, mỉm cười khi làm, và bước vào phòng ngủ, nơi người hầu phòng đã đợi chàng sẵn. Một giờ sau chàng đã ở rạp Opera, và Ngài Henry đang dựa lưng trên ghế.