Tối đó, tám giờ ba mươi, phục trang chỉnh tề, và cài lên khuyết áo rộng những bông hoa tím Parma, Dorian Gray được dẫn vào phòng khách nhà Phu Nhân Narborough bởi những đầy tớ cúi đầu. Trán chàng rộn lên những cơn căng thẳng điên cuồng, và chàng cảm thấy kích động hoang dại, nhưng điệu bộ chàng lúc cúi mình xuống tay bà chủ tiệc lại khoan thai và duyên dáng như vốn dĩ. Có lẽ người đời không bao giờ mang vẻ thanh thoát đến thế khi dự tiệc. Chắc chắn không ai trông Dorian Gray đêm ấy có thể tin rằng chàng vừa trải quả một thảm kịch khủng khiếp như bất kì thảm kịch nào ở thời đại chúng ta. Những ngón tay dáng đẹp ấy không bao giờ từng chộp lấy lưỡi dao tội lỗi, cũng như đôi môi cười kia từng khóc gọi Chúa Trời và lòng nhân. Chính chàng cũng không ngăn được mình kinh ngạc về sự điềm tĩnh trong phong thái, và trong khoảnh khắc cảm nhận mãnh liệt niềm khoái lạc kinh khủng của cuộc đời kép.
Đó là một bữa tiệc nhỏ, được bày có phần vội vàng bởi Phu Nhân Narborough, một người đàn bà khôn ngoan, như Ngài Henry miêu tả là phần sót lại của sự xấu băm xấu vằm thực sự đáng lưu tâm. Bà là minh chứng của một bà vợ xuất sắc cho những đại sứ tẻ nhạt nhất của chúng ta, và vừa chôn cất ông chồng mình một cách thích đáng trong lăng tẩm cẩm thạch, do tự tay bà thiết kế, và gả các cô con gái mình cho những gã luống tuổi, lắm tiền nào đó, giờ đây bà hết mình dâng hiến cho niềm vui trong văn chương Pháp, ẩm thực Pháp, tinh thần* Pháp mỗi khi mình có thể.
Dorian là một trong những khách quí đặc biệt của bà, và bà luôn miệng bảo chàng rằng mình vô cùng lấy làm mừng khi không gặp chàng những năm đầu đời. “Chị biết, em thân yêu, chị hẳn đã phải mê em si dại,” bà thường nói, “và quăng mũ bô-nê lên cối xay gió vì em. Thật là vận may nhất hạng rằng em chưa được biết đến hồi đó. Chứ nếu có, đống mũ bô-nê của bọn chị mãi chẳng đội vừa đầu, còn các cối xay thì mãi bận rộn lấy gió, mà chị chắc không bao giờ có được cuộc ve vãn với ai. Tuy nhiên, thảy là lỗi ở lão Narborough. Lão bị cận thị khủng khiếp, và chẳng có niềm vui nào trong việc lấy một ông chồng mù dở.”
Khách khứa của bà tối nay khá nhạt nhẽo. Thực tế là, như bà giãi bày với Dorian, sau chiếc quạt rách bươm, một trong những cô con gái thành gia của bà đã hết sức đột ngột đến ở lại, và, vấn đề càng thêm tệ, đã thực sự dẫn cả chồng mình theo. “Chị nghĩ con bé ấy xấu tính vô cùng, em thân yêu,” bà thì thầm. “Dĩ nhiên chị đến và ở lại với chúng mỗi mùa hạ sau khi từ Homburg về, nhưng rồi một bà già như chị phải hít thở khí lành đôi khi, vả lại, chị thật sự đã đánh thức chúng dậy. Em không biết kiểu tồn tại của chúng như thế nào đâu. Đó là cuộc đời thôn dã thuần tuý không pha tạp. Chúng dậy sớm, vì có quá nhiều việc phải làm, và ngủ sớm vì có quá ít chuyện phải nghĩ. Chẳng có lấy một vụ tai tiếng nào trong khu dân cư kể từ thời Nữ Hoàng Elizabeth, và do đó thảy bọn họ đi ngủ hết sau bữa tối. Em đừng ngồi cạnh hai đứa chúng. Em sẽ ngồi bên chị, và giúp chị vui.”
Dorian đưa khẽ một lời khen nhã nhặn, và nhìn quanh phòng. Vâng: đích thị là một bữa tiệc nhạt nhẽo. Có hai người chàng chưa bao giờ thấy trước đây, và số còn lại có cả Ernest Harrowden, một trong nhiều gã xoàng xĩnh trung tuổi gặp nhan nhản ở các hội quán Luân Đôn chẳng có lấy kẻ thù nào, nhưng bạn bè thì tuyệt nhiên không ưa; Phu Nhân Roxton, một người đàn bà diêm dúa bốn mươi bảy tuổi, với cái mũi khoằm, lúc nào cũng cố ra vẻ bị tổn thương, nhưng đặc biệt rõ ràng với nỗi thất vọng lớn của bà rằng chẳng ai tin được có bất kì cái gì chống lại bà; Bà Erlynne, một người không nổi bật, với tật nói ngọng thú vị, và mái tóc đỏ xứ Venice; Phu Nhân Alice Chapman, con gái bà chủ tiệc, một cô nàng đần độn tồi tàn, mang bộ mặt đặc trưng Ăng-lê, mà, một khi đã nhìn, là không bao giờ nhớ; còn chồng nàng, một tạo vật má đỏ, ria trắng, như rất nhiều người cùng tầng lớp, ngộ nhận rằng tính thân thiện suồng sã có thể bù trừ cho toàn bộ tính nghèo ý tưởng.
Chàng hơi hối hận vì đã đến, cho đến khi Phu Nhân Narborough, nhìn vào chiếc đồng hồ hoàng đồng mạ vàng lớn nằm trong khúc lượn loè loẹt trên kệ lò sưởi phủ rèm hoa cà, ta thán: “Henry Wotton đến muộn quá thể! Sáng nay tôi đã tình cờ mời anh ta, và anh ta đã thành thật hứa sẽ không làm tôi thất vọng.”
Được an ủi phần nào rằng Harry có ở đây, và khi cửa mở và chàng nghe chất giọng chậm rãi đầy tính nhạc điểm thêm quyến rũ vào lời biện giải dối dá nào đó, chàng thôi nghe lòng buồn chán.
Nhưng trong bữa ăn chàng chẳng dùng gì. Đĩa nối đĩa chuyển đi chẳng hề động thìa. Phu Nhân Narborough luôn miệng mắng chàng vì cái bà gọi là “sự mạo phạm đến Adolphe tội nghiệp, người nghĩ ra thực đơn riêng cho em”, và thi thoảng Ngài Henry nhìn sang chàng, thắc mắc về sự im lặng và thái độ lơ đãng của chàng. Chốc chốc người tổng quản lại rót đầy li sâm-panh cho chàng. Chàng uống ừng ực, và cơn khát dường như càng tăng thêm.
“Dorian,” rốt cuộc Ngài Henry nói, lúc món thịt đông* được bưng ra, “cậu có vấn đề gì tối nay thế? Cậu hoàn toàn không ổn.”
“Tôi tin cậu ấy đang yêu,” Phu Nhân Narborough thốt lớn, “và cậu ấy ngại nói với tôi vì sợ tôi nổi ghen. Cậu ấy đúng lắm. Tôi đoan chắc sẽ thế.”
“Phu Nhân Narborough thân mến,” Dorian nói khẽ, mỉm cười, “em đã không yêu đương cả tuần nay – không hề, thực thế, từ khi Bà Đầm Ferrol rời thành phố.”
“Làm sao đám đàn ông các người yêu được người đàn bà ấy!” bà phu nhân già ta thán. “Tôi thật không hiểu được.”
“Đơn giản bởi bà ấy nhớ chị khi chị còn là một bé gái, Phu Nhân Narborough,” Ngài Henry nói. “Bà ấy là kết nối hàng đầu giữa chúng tôi và bộ váy ngắn của chị.”
“Bà ấy không nhớ bộ váy ngắn của tôi chút nào, Ngài Henry. Nhưng tôi nhớ bà ấy rõ lắm lúc ở Vienna ba mươi năm trước, và kiểu diện cổ trễ* quá thể của bà ấy nữa.”
“Bà ta vẫn diện cổ trễ*,” gã trả lời, nhón một quả ô-liu bằng những ngón tay dài; “và khi diện bộ áo dài hết sức thanh nhã trông bà ta như một ấn bản xa xỉ* của cuốn tiểu thuyết Pháp tồi. Bà ta thực sự tuyệt vời, và đầy bất ngờ. Sức chịu đựng tình cảm gia đình của bà ta thật phi thường. Khi người chồng thứ ba chết, mái tóc bà chuyển vàng tuyền phần vì buồn tang.”
“Sao anh dám, Harry!” Dorian kêu lên.
“Quả là lời giải thích lãng mạn nhất hạng,” bà chủ tiệc cười vang. “Nhưng ông chồng thứ ba của bà ấy, Ngài Henry! Anh không ngụ ý nói Ferrol là thứ tư chứ?”
“Hẳn thế, Phu Nhân Narborough.” “Tôi không tin lấy một lời.”
“Chà, hỏi Cậu Gray xem. Cậu ấy là một trong những bạn thân nhất của bà ta.”
“Đúng thế không, hả Cậu Gray?”
“Bà ấy quả quyết với em rằng vậy, Phu Nhân Narborough
ạ,” Dorian nói. “Em hỏi rằng liệu, như Marguerite xứ Navarre, bà ấy có ướp hương quả tim bọn họ và treo trên nịt eo không. Bà nói em rằng không, bởi chẳng ai trong số họ có trái tim cả.”
“Bốn đời chồng! Trời đất ơi thật quá năng nổ*.” “Quá bạo dạn*, em bảo bà ấy thế,” Dorian nói.
“Ôi! Bà ấy đủ bạo dạn làm tất tật mọi chuyện, em thân yêu. Và Ferrol thuộc mẫu người nào? Chị không biết ông ấy.”
“Mẫu ông chồng của các phụ nữ hết sức xinh đẹp thuộc tầng lớp tội phạm,” Ngài Henry nói, nhấm nháp rượu vang.
Phu Nhân Narborough giơ quạt đánh gã. “Ngài Henry, tôi không bất ngờ chút nào khi người đời bảo anh vô cùng độc miệng.”
“Nhưng người đời nào bảo cơ?” Ngài Henry hỏi, nhướn cặp mày. “Chỉ có thể là người đời cõi kia thôi. Người đời cõi này và tôi đang có mối giao hảo gương mẫu.”
“Tất cả mọi người tôi biết đều bảo anh độc địa,” bà phu nhân già nói, lắc đầu.
Ngài Henry trông nghiêm túc thoáng chốc. “Đúng là quá đỗi quái đản,” sau cùng gã nói, “cái lối mọi người ngày nay nói xấu sau lưng người khác lúc nào cũng tuyệt đối và hoàn toàn đúng sự thật.”
“Hẳn anh ấy hết thuốc chữa rồi?” Dorian thốt lên, chúi người ra trước ghế.
“Tôi mong thế,” bà chủ tiệc nói, cười phá lên. “Nhưng thật tình nếu các anh tôn thờ Bà Đầm Ferrol theo lối lố lăng này, tôi sẽ phải tái hôn để cho hợp mốt.”
“Chị sẽ không bao giờ tái hôn, Phu Nhân Narborough ạ,” Ngài Henry chen lời. “Chị đang quá hạnh phúc. Khi đàn bà tái hôn, bởi chưng thị căm uất đời chồng đầu. Khi đàn ông tái hôn, bởi chưng y si mê đời vợ đầu. Đàn bà thử vận may; đàn ông liều vận rủi.”
“Narborough không hề hoàn hảo,” bà phu nhân già kêu lên.
“Giả như có, chị đã không yêu ông ta, phu nhân thân mến,” là lời đáp. “Phụ nữ yêu chúng tôi vì những khiếm khuyết. Nếu chúng tôi có đủ họ sẽ dung thứ cho mọi điều, ngay cả trí thông minh của chúng tôi. Chị sẽ không lúc nào mời tôi dùng bữa nữa, sau khi nói điều này, tôi e thế, Phu Nhân Narborough; nhưng hoàn toàn là sự thật đấy.”
“Dĩ nhiên là sự thật, Ngài Henry. Nếu phụ nữ chúng tôi không yêu các anh vì khiếm khuyết, thảy các anh sẽ ở đâu? Không ai trong các anh sẽ được kết hôn. Các anh sẽ rặt là đám độc thân bất hạnh. Điều đó, tuy thế, lại không biến đổi các anh nhiều. Ngày nay thảy những gã thành gia sống như độc thân, còn thảy những gã độc thân sống như thành gia.”
“Đoạn cuối thế kỉ[1],” Ngài Henry lẩm bẩm. “Đoạn cuối thế giới,” bà chủ tiệc trả lời.
“Em mong là đoạn cuối thế giới,” Dorian nói, kèm tiếng thở dài. “Cuộc sống là nỗi thất vọng lớn.”
“A, em thân yêu,” Phu Nhân Narborough kêu lên, đeo găng vào, “đừng bảo chị là em đã vắt kiệt Cuộc Sống. Khi một gã nói vậy người ta biết là Cuộc Sống đã vắt kiệt y. Ngài Henry rất độc địa, và chị đôi khi mong mình thế; nhưng em được tác tạo để tử tế – trông em hết sức tử tế. Chị phải làm mai cho em một người vợ tốt. Ngài Henry, anh không nghĩ rằng Cậu Gray nên kết hôn ư?”
“Tôi luôn bảo cậu ta vậy, Phu Nhân Narborough ạ,” Ngài Henry nói, kèm cái nghiêng đầu.
“Chà, chúng ta phải tìm cho ra một mối đăng đối với cậu ấy. Tôi sẽ cẩn thận tìm trong Debrett tối nay, và kê ra danh sách thảy những quí cô đủ điều kiện.”
“Với lứa tuổi họ ư, Phu Nhân Narborough?” Dorian hỏi.
“Dĩ nhiên, với lứa tuổi họ, thêm bớt đôi chút. Nhưng không việc gì phải gấp gáp. Chị muốn tờ Tin Buổi Sáng gọi là sự thông gia đăng đối, và chị muốn cả hai em hạnh phúc.”
“Có lẩn thẩn mới nói về hôn nhân hạnh phúc!” Ngài Henry ta thán. “Một đàn ông có thể hạnh phúc với bất kì phụ nữ nào, miễn sao y đừng yêu ả.”
“A! Anh cay độc quá thể!” bà phu nhân già kêu lên, xô ghế lùi ra, và gật đầu với Phu Nhân Ruxton. “Anh phải sớm đến ăn tối với tôi lần nữa. Anh đúng là một phương thuốc tuyệt diệu, bổ hơn nhiều so với những toa Đức Andrew kê cho tôi. Tuy nhiên, anh phải nói tôi hay anh thích gặp những người nào. Tôi muốn đó phải là cuộc tụ họp thú vị.”
“Tôi thích những đàn ông có tương lai, và phụ nữ có quá khứ,” gã trả lời. “Hay là chị nghĩ điều đó hẳn tạo thành buổi tiệc váy lót[2]?”
“Tôi e vậy,” bà nói, cười phá trong lúc đứng lên. “Nghìn lần thứ lỗi, Phu Nhân Ruxton thân mến,” bà chêm, “tôi không biết bà vẫn chưa hút thuốc xong.”
“Đừng bận tâm, Phu Nhân Narborough. Tôi hút nhiều lắm. Tôi sẽ hạn chế mình, trong tương lai.”
“Xin đừng, Phu Nhân Ruxton,” Ngài Henry nói. “Tiết chế là một thứ chết người. Sự vừa đủ thì tồi như một bữa ăn. Sự hơn cả đủ thì tốt như một bữa tiệc.”
Phu Nhân Ruxton liếc nhìn gã tò mò. “Anh phải đến và giảng giải với tôi một chiều nào đó, Ngài Henry. Nghe có vẻ là một lí thuyết mê hoặc,” bà nói khẽ, lúc lướt ra khỏi phòng.
“Giờ, các anh nhớ cho đừng dừng quá lâu ở các quan điểm chính trị và vụ tai tiếng của mình,” Phu Nhân Narborough thốt lớn từ cửa. “Nếu không, chúng ta chắc chắn cãi cọ ì xèo trên lầu.”
Mọi người cười ran, và Ông Chapman long trọng đứng dậy từ phía cuối bàn và bước về phía đầu. Dorian Gray đổi chỗ, và bước đến ngồi cạnh Ngài Henry. Ông Chapman bắt đầu nói bằng giọng oang oang về tình hình Hạ Viện. Ông cười hô hố vào những người đối lập. Từ lí thuyết hão* – từ ngữ đầy kinh hoàng đến tâm trí người Anh – chốc chốc lại xuất hiện giữa những cơn nổ của ông. Phép lặp âm đầu tiền-tự được dùng như đồ trang sức cho bài hùng biện. Ông giương Ngọn Cờ Liên Hiệp lên đỉnh cao Suy Tư. Óc ngu xuẩn truyền thừa trong nòi giống – nghe như thói thường dân Ăng-lê mà ông hoan hỉ định danh – đã cho thấy là tường thành thích hợp cho Xã Hội.
Một nụ cười cong lên trên môi Ngài Henry, và gã quay sang nhìn Dorian.
“Cậu khá hơn rồi chứ, bạn thân mến?” gã hỏi. “Cậu có vẻ hơi không ổn trong bữa ăn.”
“Em hoàn toàn khoẻ, Harry. Em thấy buồn chán. Vậy thôi.”
“Cậu đã rất quyến rũ đêm qua. Nàng Nữ Công Tước bé bỏng hết lòng với cậu đấy. Con bé bảo tôi mình sắp sửa xuống Selby.”
“Cô ấy đã hứa sẽ đến vào ngày hai mươi.”
“Lão Monmouth cũng đến đấy hả?” “Ồ, vâng, Harry.”
“Lão phiền tôi kinh khủng, gần như bằng mức lão phiền con bé. Con bé rất khôn ngoan, quá khôn ngoan đối với một phụ nữ. Con bé thiếu vẻ quyến rũ khó cắt nghĩa của sự liễu yếu. Nó là đôi chân đất sét khiến cho vàng của bức tượng thêm quí giá. Đôi chân con bé rất đẹp, nhưng không phải đôi chân đất sét. Đôi chân sứ trắng, nếu cậu ưa. Chúng đã qua lửa, và thứ gì lửa không thiêu trụi, sẽ thêm cứng. Con bé đã có nhiều kinh qua.”
“Cô ấy kết hôn bao lâu rồi?” Dorian hỏi.
“Từ ngàn đời, con bé bảo tôi thế. Tôi tin là, theo như giới quý tộc, mười năm, nhưng mười năm bên lão Monmouth hẳn cũng như ngàn đời, với thời gian ném vào. Còn ai khác đến không?”
“Ồ, nhà Willoughbys, Ngài Rugby và vợ, bà chủ tiệc của chúng ta, Geoffrey Clouston, nhóm người như thường lệ. Em mời cả Ngài Grotrian.”
“Tôi thích gã,” Ngài Henry nói. “Rất nhiều người thì không, nhưng tôi thấy gã quyến rũ. Bù lại gã thi thoảng ăn mặc có phần hơi diêm dúa, và luôn luôn học hành rõ ràng là quá cao. Gã là mẫu người rất hiện đại.”
“Em chẳng biết anh ta liệu có đến được không, Harry ạ.
Anh ta phải đi Monte Carlo với cha mình.”
“A! Đúng là đèo bòng! Gắng rủ gã đến nhé. Nhân thể, Dorian, đêm qua cậu rời đi rất sớm. Cậu về trước mười một giờ. Sau đó cậu làm gì? Về thẳng nhà ư?”
Dorian liếc vội gã, và cau mày. “Không, Harry,” cuối cùng chàng nói, “em không về nhà cho đến gần ba giờ.”
“Cậu đến hội quán ư?”
“Vâng,” chàng trả lời. Rồi chàng cắn môi. “Không, ý em không phải thế. Em không đến hội quán. Em đi loanh quanh. Em quên mất rồi… Anh tọc mạch quá, Harry! Anh luôn muốn biết việc người đã làm. Em luôn muốn quên việc mình đã làm. Em về lúc hai rưỡi, nếu anh mong biết giờ chính xác. Em đã bỏ chìa khoá chốt trong nhà, và cậu đầy tớ phải đưa em vào. Nếu anh muốn bất kì bằng chứng xác thực nào trong chuyện này thì có thể hỏi cậu ấy.”
Ngài Henry nhún vai. “Bạn thân mến, làm như tôi quan tâm không bằng vậy! Ta lên phòng khách thôi. Miễn thứ rượu xê-rét, xin cảm ơn, Ông Chapman. Hẳn có gì đó xảy đến với cậu, Dorian. Nói tôi hay. Cậu không còn là mình tối nay.”
“Đừng bận tâm em, Harry. Em cáu bẳn, và mất bình tĩnh. Em sẽ ghé lại gặp anh ngày mai, hoặc ngày kia. Miễn thứ giúp em với Phu Nhân Narborough nhé. Em sẽ không lên lầu. Em sẽ về nhà. Em phải về nhà.”
“Được thôi, Dorian. Tôi mong là mình sẽ gặp cậu ngày mai vào giờ dùng trà. Nàng Nữ Công Tước đang đến.”
“Em sẽ gắng đến, Harry,” chàng nói, rời khỏi phòng. Lúc đánh xe về nhà chàng nhận ra một cảm giác kinh hoàng chàng nghĩ đã bóp nghẹt mình ập về trở lại. Câu hỏi vu vơ của Ngài Henry đã khiến chàng mất tinh thần trong thoáng chốc, và chàng muốn tinh thần mình yên ổn. Những thứ nguy hại phải được tiêu huỷ. Chàng nhăn mặt. Chàng ghét ý nghĩ dù chỉ chạm vào chúng.
Dầu vậy việc phải được làm. Chàng biết rõ thế, và khi đã khoá cửa thư phòng, chàng mở hốc tủ bí mật trong đó mình đã tống áo khoác và xắc của Basil Hallward vào. Một ngọn lửa khổng lồ cháy rực. Chàng chất thêm súc gỗ nữa lên. Mùi quần áo cháy và da thuộc chảy thật khủng khiếp. Mất của chàng ba khắc để tiêu tán mọi thứ. Sau cùng chàng thấy lả người và phát bệnh, rồi đốt vài viên bột thơm xứ Algeria trong lò than đồng khui lỗ, chàng rửa tay và trán bằng giấm xạ hương thơm mát.
Bỗng dưng chàng giật mình. Mắt chàng sáng lạ, và chàng bồn chồn gặm gặm môi dưới. Kê giữa hai cửa sổ là cái tủ kiểu Florence, làm bằng gỗ mun, và khảm ngà cùng đá la- pít lam. Chàng nhìn nó như thể một thứ có thể mê hoặc và hù doạ, như nó nắm giữ điều gì chàng mong mỏi và dầu vậy lại gần như ghê tởm. Hơi thở chàng dồn dập. Một ham muốn điên cuồng ập vào chàng. Chàng châm thuốc rồi lại vứt đi. Đôi mi chàng cụp xuống đến mức hàng mi rậm dài gần như chạm vào má. Nhưng chàng vẫn lặng nhìn cái tủ. Cuối cùng chàng đứng dậy khỏi ghế dài nơi mình đang nằm, bước đến cạnh nó, và, mở khoá, ấn cái lò xo giấu kín đâu đó. Một ngăn kéo tam giác chầm chậm lòi ra. Những ngón tay chàng đưa theo bản năng về phía nó, vục vào, và chạm sát thứ gì đó. Nó là một cái hộp con Trung Hoa sơn đen và vàng nhuyễn, chế tác công phu, các cạnh tạo hoa văn gợn sóng, và nhiều dây lụa treo pha lê xung quanh và đính tua trong những sợi chỉ thép tết đuôi sam. Chàng mở nó. Bên trong là một thứ sáp nhão xanh bóng, mùi hương ngào ngạt và dai dẳng kì lạ.
Chàng do dự vài giây, với nụ cười chết trân khác lạ trên mặt. Rồi run rẩy, mặc cho không khí trong phòng nóng khủng khiếp, chàng nhấc mình dậy, và liếc đồng hồ. Mười hai giờ kém hai mươi. Chàng đặt lại hộp vào, đồng thời đóng cửa tủ, và đi sang phòng ngủ.
Lúc nửa đêm đánh hồi chuông đồng lên bầu không tối mờ, Dorian Gray, ăn mặc bình thường, và với khăn quàng quấn quanh cổ, lặng lẽ lẻn ra khỏi nhà. Trong Phố Bond chàng thấy chiếc han-xăm cùng một con ngựa tốt. Chàng gọi, và bằng giọng thấp nói cho người đánh xe địa chỉ.
Người đàn ông lắc đầu. “Xa xôi cho tôi quá,” ông lẩm bẩm.
“Đồng xô-vơ-ren này cho ông,” Dorian nói. “Ông sẽ có thêm đồng nữa nếu đi nhanh.”
“Được, thưa anh,” người đàn ông trả lời, “anh sẽ đến nơi trong một giờ,” và sau khi tiền xe đã cầm ông ta quay ngựa lại, và mau mắn đánh xe về phía con sông.
❀ ❀ ❀
[1] Fin de siècle: thuật ngữ tiếng Pháp, nghĩa là cuối thế kỉ, nhằm chỉ đến cuối thế kỉ mười chín, bao hàm ý nghĩa về sự suy tàn trong cả nghệ thuật, đạo đức, và các vấn đề xã hội. Tinh thần của Fin de siècle thường chán đời, hoài nghi, yếm thế, và tin rằng nền văn minh này dần suy tàn.
[2] Petticoat party: Buổi tiệc váy lót là buổi tiệc nhóm phụ nữ tụ tập nói chuyện tầm phào với nhau trong những buổi chiều nắng nóng, chỉ mặc áo choàng và váy lót.