Bức Họa Dorian Gray

Lượt đọc: 146 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG XIII

❊ ❊ ❊

Chàng bước ra khỏi phòng, rồi bắt đầu đi lên, Basil Hallward theo sát sau lưng. Họ bước nhẹ nhàng, như bản năng của những kẻ đi đêm. Cây đèn hắt bóng quái lên tường và cầu thang. Một ngọn gió thổi lên làm các cửa sổ lạch cạch.

Khi họ đặt chân lên tầng thượng, Dorian đặt cây đèn xuống sàn, rồi lấy ra chiếc chìa khoá mà xoay vào ổ. “Anh vẫn cứ muốn biết đấy chứ, Basil?” chàng hỏi, trong giọng trầm.

“Phải.”

“Em rất vui lòng,” chàng trả lời, mỉm cười. Rồi chàng nói thêm, hơi gay gắt, “Anh là người duy nhất trên đời được phép biết mọi thứ về em. Anh đã làm nhiều việc đến đời em hơn mình nghĩ,” và, nhặt cây đèn lên, chàng mở cửa rồi bước vào. Một luồng khí lạnh thổi qua họ, và ánh đèn bùng lên thoáng chốc trong ngọn lửa vàng cam tăm tối. Chàng rùng mình. “Đóng cửa sau lưng anh lại,” chàng nói thầm, lúc đặt cây đèn lên bàn.

Hallward liếc quanh, với vẻ mặt bối rối. Căn phòng khoá như chưa từng được ở trong nhiều năm. Một thảm treo xứ Flanders bạc màu, một bức tranh phủ rèm, một rương* cổ Ý, và một tủ sách gần như trống – đó là thảy những gì dường như nó chứa, bên cạnh một ghế và một bàn. Lúc Dorian Gray thắp cây nến cháy dở đặt trên kệ lò sưởi, anh thấy toàn bộ nơi này đóng đầy bụi, còn tấm thảm thủng lỗ chỗ. Một con chuột sột soạt chạy sau ván lát chân tường. Có mùi ẩm

ướt của nấm mốc.

“Vậy ra anh nghĩ chỉ có Chúa mới nhìn thấy linh hồn, hả Basil? Kéo tấm màn ra, rồi anh sẽ thấy linh hồn em.”

Giọng nói phát ra lạnh lùng và tàn nhẫn. “Em điên rồi, Dorian, hoặc đang giả cách,” Hallward lẩm bẩm, chau mày.

“Anh không à? Thế thì em phải tự làm lấy,” chàng trai nói; và chàng giật tấm màn khỏi tay đòn, rồi ném xuống đất.

Một tiếng thét kinh hoàng vỡ ra từ đôi môi người hoạ sĩ lúc anh thấy trong ánh sáng tù mù gương mặt gớm guốc trên nền vải bạt đang nhăn nhở với mình. Có điều gì trong biểu cảm của nó dâng đầy trong anh ghê tởm và kinh ghét. Trời ơi! Đó chính là gương mặt Dorian Gray anh đang nhìn! Vẻ kinh hoàng, dù thế nào, vẫn chưa tàn phá toàn bộ sắc đẹp tuyệt diệu ấy. Vẫn còn sắc vàng đâu đó trong mái tóc lưa thưa và sắc đỏ đâu đây trên cái miệng dâm dật. Đôi mắt đờ đẫn còn giữ chút gì vẻ đáng yêu của sắc xanh, những đường cong cao quí vẫn chưa rời đi hoàn toàn khỏi lỗ mũi như tạc và cổ họng như nặn. Vâng, đích thị là Dorian. Nhưng ai đã tạo ra nó? Chừng như anh nhận ra hoạ phẩm của mình, và chiếc khung chính mình thiết kế. Ý tưởng thật quái đản, dầu vậy anh thấy sợ. Anh chộp lấy cây nến sáng, và giơ trước bức hoạ. Ở góc dưới trái chính là tên anh, thảo bằng lối chữ dài mực chu sa đỏ tươi.

Đây là trò giễu nhại dơ dáy nào đó, trò trào lộng ti tiện, bỉ ổi nào đó. Anh chưa từng tạo ra nó. Tuy thế, nó chính là bức hoạ của anh. Anh biết, và anh cảm nhận như thể máu mình vừa thay đổi thoáng chốc lờ đờ từ lửa thành băng. Bức hoạ của chính anh! Nghĩa là sao? Cớ sao nó biến đổi? Anh quay lại, và nhìn Dorian Gray bằng đôi mắt một người bệnh. Miệng anh giần giật, và cái lưỡi khô rang tưởng như không phát âm được cho rõ ràng. Anh vuốt tay lên trán. Nó nhớp nháp mồ hôi lạnh.

Chàng trai đang dựa vào kệ lò sưởi, quan sát anh bằng biểu cảm lạ lùng như người ta thấy trên gương mặt những kẻ bị cuốn vào vở kịch lúc nghệ sĩ vĩ đại nào đó đang diễn. Không có nỗi buồn đích thực trong nó mà cũng chẳng có niềm vui đích thực. Đơn thuần là niềm đam mê của khán giả, với có lẽ là một ánh le lói của chiến thắng trong đôi mắt chàng. Chàng gỡ bông hoa khỏi áo khoác, rồi ngửi nó, hay vờ làm vậy.

“Chuyện này là sao?” cuối cùng Hallward kêu lên. Âm giọng nghe chói lói và kì dị trong tai anh.

“Nhiều năm trước, lúc em là một cậu bé,” Dorian Gray nói, bóp nát bông hoa trong tay, “anh gặp em, nịnh nọt em, và dạy em những phù phiếm về vẻ tốt mã của mình. Ngày nọ anh giới thiệu em với một người bạn, người đã phơi bày trước em sự kì diệu của tuổi trẻ, rồi anh hoàn thành bức chân dung đã biểu lộ trước em sự kì diệu của vẻ đẹp. Trong khoảnh khắc rồ dại, mà, ngay đến giờ, em không biết mình có hối tiếc hay không, em buông lời ước, có lẽ anh sẽ gọi là lời cầu nguyện…”

“Anh còn nhớ! Ôi, anh còn nhớ rõ lắm thay! Không! Chuyện này là không thể. Căn phòng ẩm thấp. Nấm mốc đã ăn lên vải bạt. Loại sơn anh dùng có chứa khoáng chất độc hại kém chất lượng nào đó. Anh bảo em chuyện này là không thể.”

“A, có gì là không thể?” chàng trai lẩm bẩm, bước đến cửa sổ, và áp trán lên mặt kính lạnh, mờ sương.

“Em từng bảo anh mình đã phá huỷ nó.” “Em nhầm. Nó đã phá huỷ em.”

“Anh không tin đấy là bức hoạ của anh.”

“Anh không thấy ý tưởng của mình trong đó ư?” Dorian cay đắng nói.

“Ý tưởng, như em nói…” “Như anh từng nói.”

“Không có gì nanh ác trong đó, không có gì đáng hổ thẹn. Em từng đối với anh như một ý tưởng mình sẽ không bao giờ gặp lại. Còn đây là gương mặt một gã dâm thần.”

“Đấy là gương mặt linh hồn em.”

“Chúa ơi! Con đã tôn thờ thứ gì đây! Nó mang đôi mắt của tên ác quỉ.”

“Mỗi chúng ta đều có Thiên Đường và Địa Ngục trong hắn, Basil,” Dorian thốt lớn, kèm cử chỉ tuyệt vọng hoang dại.

Hallward quay sang bức chân dung, và nhìn nó chằm chằm. “Lạy Chúa! Nếu đúng là thật,” anh than, “và đây là thứ em đã làm với cuộc đời mình, tại sao, em hẳn phải tồi tệ hơn nhiều so với những người nói xấu em mường tượng được!” Anh giơ ánh nến lên tấm vải bạt lần nữa, và xem xét nó. Bề ngoài dường như hoàn toàn không tổn hại, vẫn như lần gần nhất anh thấy. Chính từ bên trong, rõ ràng, sự dơ dáy và kinh hoàng xảy đến. Bằng quẫy đạp kì lạ từ cuộc sống bên trong mà bệnh hủi của tội lỗi ăn rụng dần mòn vật này. Cảnh thối rữa của xác chết trong ngôi mộ ngập nước cũng chẳng đáng sợ bằng.

Tay anh run, và cây nến rơi từ chân đế xuống sàn nhà, rồi nằm đó leo lét. Anh giẫm chân lên và dập tắt lửa. Rồi anh quăng mình vào chiếc ghế ọp ẹp kê cạnh bàn và vùi mặt mình vào lòng bàn tay.

“Chúa lòng lành, Dorian ơi, bài học đấy! Bài học đầy kính sợ!” Không có câu trả lời, nhưng anh nghe được tiếng chàng trai thổn thức bên cửa sổ. “Cầu nguyện, Dorian, cầu nguyện đi,” anh lẩm bẩm. “Điều gì người ta được dạy để nói trong tuổi thơ mình? ‘Dẫn chúng con xa khỏi cám dỗ. Xá chúng con tội lỗi. Rửa trôi những nghịch đạo chúng con.’ Ta hãy nói cùng nhau. Lời nguyện cho tính tự phụ đã được đáp lời. Lời nguyện cho mối ăn năn cũng sẽ được đáp. Anh tôn thờ em quá đỗi. Anh bị trừng phạt vì thế. Em tôn thờ mình quá đỗi. Hai ta đều bị trừng phạt.”

Dorian Gray chầm chậm quay lại, và nhìn anh bằng đôi mắt nhoè nước. “Đã quá muộn, Basil,” chàng lúng búng.

“Không bao giờ là quá muộn, Dorian. Ta hãy quì gối và gắng nếu không nhớ ra lời nguyện nào. Phải chăng đâu đó có câu, ‘Mặc tội lỗi ngươi như hồng điều, dầu vậy ta sẽ biến chúng trắng tựa tuyết’?”

“Những lời đó vô nghĩa với em bây giờ.”

“Suỵt! Đừng nói thế. Em đã làm đủ việc ác trong đời. Lạy Chúa! Em không thấy vật đáng rủa đó đang nhìn đểu ta sao?”

Dorian Gray liếc về bức hoạ, và bất thần một cảm xúc căm uất không kìm được dành cho Basil Hallward ập lên chàng, như thể được gợi lên trong chàng từ tấm hình trên vải bạt, thì thầm vào tai chàng từ đôi môi nhăn nhở. Đam mê điên cuồng của một con thú bị săn khuấy động trong chàng, và chàng thấy ghê tởm người đàn ông ngồi bên bàn, hơn bất kì thứ gì toàn bộ cuộc đời chàng từng ghê tởm. Chàng cuồng dại nhìn quanh. Cái gì đó lấp lánh trên mặt rương sơn màu trước mặt chàng. Ánh mắt chàng rơi xuống nó. Chàng biết đó là gì. Đó là con dao chàng từng mang vào, vài bữa trước, để cắt đoạn thừng, và đã quên mang ra theo. Chàng chầm chậm đi đến phía nó, bước ngang Hallward lúc đó. Ngay khi đã ra sau lưng anh, chàng chộp lấy, và quay phắt. Hallward cựa mình trong ghế như thể dợm đứng dậy. Chàng lao vào anh, và chọc lưỡi dao vào tĩnh mạch chủ sau tai, nghiến đầu người đàn ông xuống mặt bàn, và đâm rồi lại đâm.

Có tiếng rên rỉ nghèn nghẹn, và âm thanh khủng khiếp của người nghẹt thở vì máu. Ba lần cánh tay căng rộng duỗi ra co giật, vẫy vẫy bàn tay với những ngón cứng ngắc một cách kì khôi. Chàng đâm anh đôi nhát nữa, mà người đàn ông không động đậy. Thứ gì đó bắt đầu nhỏ giọt xuống sàn. Chàng chờ giây lát, vẫn ấn cái đầu xuống. Rồi chàng quăng con dao lên bàn, và lắng nghe.

Chàng không nghe được gì, ngoài tiếng tong tỏng, tong tỏng xuống tấm thảm cũ rích. Chàng mở cửa và đi ra đầu cầu thang. Ngôi nhà tuyệt đối im ắng. Không ai quanh đây. Trong vài giây chàng đứng chúi người bên lan can, và chăm chú nhìn xuống giếng cầu thang đen ngòm sôi sục trong bóng tối. Rồi chàng rút chìa khoá và về phòng, tự nhốt mình lúc ấy.

Vật đó vẫn ngồi trên ghế, ườn người lên bàn với cái đầu gục, và lưng gù, và cánh tay dài kì quái. Giả như không có vết rách đỏ lởm chởm ở cổ, và vũng đen vón cục chầm chậm loang dần trên bàn, người ta sẽ nói người đàn ông này đơn thuần đang ngủ.

Chuyện đã rồi thật chóng vánh thay! Chàng cảm thấy bình tĩnh kì lạ, rồi, đi đến cửa sổ, mở toang, và bước ra ban- công. Cơn gió đã thổi sương đi, và nền trời như một cái đuôi công quái đản, điểm sao bằng hàng vạn cặp mắt vàng. Chàng nhìn xuống, và thấy có viên cảnh sát đi tuần đang chiếu tia sáng dài từ chiếc đèn lồng của mình lên cửa những ngôi nhà im ắng. Chấm đỏ thắm của chiếc han-xăm loé lên nơi góc đường, và rồi tiêu biến. Một mụ đàn bà trong chiếc khăn san ve vẩy đang chậm chạp lê bước bên hàng rào, vừa đi vừa loạng choạng. Thi thoảng mụ dừng lại, nhìn đằng sau. Thế rồi, mụ bắt đầu hát bằng giọng khản đặc. Viên cảnh sát tản bộ đến và nói gì với mụ. Mụ đi vấp váp, cười phá. Một luồng gió rét buốt quét qua Quảng Trường. Những cột đèn khí bập bùng, và chuyển xanh, còn những cây trụi lá rung lắc cành nhánh như sắt đen của mình đưa qua đưa lại.

Chàng rùng mình, rồi quay vào, đóng cửa sổ sau lưng.

Đi tới cửa, chàng tra chìa khoá, và mở ra. Chàng chẳng cả liếc vào người đàn ông bị giết. Chàng cảm thấy bí mật toàn bộ chuyện này chưa bị phát giác. Người bạn vẽ nên bức chân dung chết chóc chứa tất thảy khốn khổ đáng ra thuộc về chàng, đã bước khỏi đời chàng. Vậy là đủ.

Rồi chàng nhớ ra cây đèn. Nó là vật phẩm khá hiếu kì bằng tài khéo những người Moor, làm từ bạc xỉn dát thép bóng Ả-rập, và đính cùng ngọc lam thô. Biết đâu người đầy tớ có thể thấy thiếu nó, rồi câu hỏi sẽ được đặt ra. Chàng do dự một thoáng, rồi quay lại và nhấc nó khỏi bàn. Chàng không ngăn được mình nhìn vào thứ đã chết. Nó câm lặng quá đỗi! Bàn tay thanh mảnh trông trắng khiếp làm sao! Như thể một hình sáp dễ sợ.

Khoá cửa lại phía sau, chàng lặng lẽ leo xuống cầu thang. Gỗ kêu cót két, và dường như thét lên vì đau đớn. Chàng dừng lại vài lần, và nghe ngóng. Không: mọi thứ vẫn im ắng. Đó chỉ là âm thanh tiếng bước chân chàng.

Khi đến thư phòng, chàng thấy cái xắc và áo choàng trong góc. Chúng phải được giấu biệt đâu đó. Chàng mở khoá hốc tủ bí mật đóng ở chân tường, hốc tủ trong đó chàng đựng những đồ giả trang kì lạ, và tống chúng vào. Chàng có thể dễ dàng đốt chúng sau này. Rồi chàng rút đồng hồ. Đã hai giờ kém hai mươi.

Chàng ngồi xuống, và khởi sự suy nghĩ. Mỗi năm – mỗi tháng, gần như vậy – người dân nước Anh bị bóp nghẹt vì những gì chàng làm. Đã có cơn điên giết người trong bầu không. Ngôi sao đỏ nào đấy đã đến rất gần trái đất… Và dầu vậy có bằng chứng nào chống lại chàng không? Basil Hallward đã rời ngôi nhà lúc mười một giờ. Không ai thấy anh ta quay lại. Hầu hết các đầy tớ đều ở vùng Hoàng Gia Selby. Người hầu phòng của chàng đã đi ngủ… Ba Lê! Vâng. Chính Ba Lê là nơi Basil đến, và bằng chuyến tàu nửa đêm, như anh đã định. Với thói quen kín tiếng kì lạ của anh ta, phải mất nhiều tháng trước khi có bất kì nghi vấn nào dấy lên. Nhiều tháng! Mọi thứ có thể được tiêu huỷ từ lâu trước đó.

Một ý nghĩ bất thần đập vào chàng. Chàng mặc lên áo khoác lông và mũ, rồi đi ra đại sảnh. Ở đấy chàng dừng lại, lắng nghe tiếng bước nặng chậm chạp của viên cảnh sát trên vỉa hè ngoài kia, và trông ánh sáng từ chiếc đèn hồng tâm chiếu lên cửa sổ. Chàng chờ, và nín thở.

Sau một lúc, chàng kéo chốt, và lẩn ra, đóng cửa hết sức nhẹ nhàng sau lưng. Rồi chàng bắt đầu rung chuông. Trong tầm năm phút người hầu phòng xuất hiện, quần áo hớ hênh, và trông rất ngái ngủ.

“Tôi lấy làm tiếc phải đánh thức cậu, Francis,” chàng nói, bước vào trong; “nhưng tôi bỏ quên chìa khoá chốt. Mấy giờ rồi?”

“Hai giờ mười, thưa ông,” người đàn ông trả lời, nhìn đồng hồ và hấp háy mắt.

“Hai giờ mười rồi? Muộn quá thể! Cậu phải đánh thức tôi chín giờ ngày mai. Tôi có vài việc phải làm.”

“Được ạ, thưa ông.”

“Có ai đến chơi tối nay không?”

“Ông Hallward, thưa ông. Ông ấy ở đây đến mười một giờ, và rồi rời đi để bắt chuyến tàu.”

“Ồ, tiếc là tôi không gặp được anh ấy. Anh ấy nhắn lại gì không?”

“Không, thưa ông, trừ câu ông ấy nói sẽ viết gửi ông từ Ba Lê, nếu không tìm thấy ông ở hội quán.”

“Vậy tốt rồi, Francis. Đừng quên gọi tôi chín giờ ngày mai.”

“Vâng, thưa ông.”

Người đàn ông lóng ngóng đi xuống hành lang trong đôi dép lê của mình.

Dorian Gray ném mũ và áo khoác lên bàn, rồi bước vào thư phòng. Trong một khắc chàng đi lên đi xuống trong phòng cắn cắn môi, và suy nghĩ. Rồi chàng lấy xuống quyển Lam Thư từ một trong những kệ sách và bắt đầu lật giở. “Alan Campbell, 152, Phố Hertford, Mayfair.” Vâng; đó là người chàng muốn.

Dịch giả Nguyễn Tuấn Linh và Book Hunter
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.