Chín giờ sáng hôm sau, người đầy tớ bước vào với một cốc sô-cô-la trên khay, và mở cửa chớp. Dorian đang ngủ hết sức bình yên, nằm nghiêng sang phải, với một bàn tay dưới má. Chàng trông như một cậu bé đã mệt vì chơi, hay học.
Người đàn ông phải lay vai chàng hai lần trước khi tỉnh hẳn, và lúc chàng mở mắt một nụ cười thoáng lướt qua môi, như thể chàng vẫn đang lạc bước trong giấc mơ thú vị nào đó. Dầu vậy chàng không mơ gì cả. Giấc đêm của chàng không bị quấy rầy bởi bất kì hình bóng khoái lạc hay đau đớn nào. Ấy là tuổi trẻ mỉm cười chẳng lí do. Đó là một trong những nét quyến rũ chính yếu nhất của nó.
Chàng quay ra, rồi, ườn mình chống khuỷu tay, bắt đầu nhấp miệng sô-cô-la. Nắng tháng Mười Một ngọt dịu chảy vào phòng. Bầu trời sáng, và có hơi ấm thân tình trong bầu không. Gần như một buổi sáng tháng Năm.
Dần dần các sự kiện đêm trước rón rén đôi bàn chân im tiếng nhuốm máu vào trí não chàng, rồi tái dựng lại chính mình trong đấy một cách rõ nét kinh khủng. Chàng nhăn mặt lúc hồi tưởng lại tất thảy những gì mình chịu đựng, và trong một thoáng cảm xúc ghê tởm kì lạ dành cho Basil Hallward, đã xui chàng giết anh lúc đang ngồi trong ghế, ập về trong chàng, rồi chàng lạnh người đi vì thống khổ. Người chết vẫn ngồi đó, cũng, dưới ánh nắng trời lúc này. Khủng khiếp thay! Những thứ gớm guốc như thế dành cho bóng đêm, không phải ánh ngày.
Chàng cảm thấy nếu mình còn ấp ủ những việc vừa trải qua chàng sẽ phát bệnh hoặc hoá điên. Có những tội lỗi mang sức mê hoặc trong hồi tưởng lớn hơn trong việc thực hiện, những khúc khải hoàn lạ lùng thoả lòng kiêu hãnh hơn những đam mê, và trao cho trí tuệ một cảm giác nhen nhúm niềm vui, lớn lao hơn bất kì niềm vui nào chúng mang, hay từng mang, đến cảm giác. Nhưng chuyện này không thuộc số chúng. Nó là một chuyện cần bị đẩy khỏi tâm trí, bị mê man bằng á phiện, bị bóp nghẹt kẻo không biết chừng nó bóp nghẹt chính ta.
Lúc chuông nửa giờ điểm, chàng vuốt tay lên trán, và rồi hấp tấp đứng dậy, và tự sửa soạn mình với sự chu đáo hơn nhiều thường lệ, chăm chút lựa chọn ca-vát cùng ghim cài, và thay nhẫn nhiều hơn một lần. Chàng dành thời gian dài bên bữa điểm tâm, nếm nhiều đĩa khác nhau, nói chuyện với người hầu phòng về dăm bộ nô phục mới chàng nghĩ sẽ sắm cho các đầy tớ ở Selby, và điểm qua chồng thư từ. Ở vài bức chàng mỉm cười. Ba bức trong đó phiền lòng chàng. Một bức chàng đọc nhiều lần, và rồi xé toạc ra với ánh nhìn khinh rẻ khó chịu trên gương mặt. “Thứ kinh khiếp, bộ nhớ của giống đàn bà!” như Ngài Henry có lần nói.
Sau khi uống hết cốc cà-phê đen, chàng chậm rãi chùi môi bằng khăn ăn, ra hiệu cho người đầy tớ đợi, và đến bên bàn ngồi xuống viết hai bức thư. Một chàng đút vào túi, cái kia chàng trao cho người hầu phòng.
“Chuyển cái này đến 152, Phố Hertford, nhé Francis, và nếu Ông Campbell vắng mặt khỏi thành phố, thì hỏi lấy địa chỉ anh ta.”
Ngay khi chỉ còn một mình, chàng châm thuốc, và bắt đầu phác lên một mẩu giấy, vẽ hoa trước, và những mảnh kiến trúc, và rồi những mặt người. Đột nhiên chàng nhận thấy mọi gương mặt mình vẽ đều có vẻ giống Basil Hallward quái lạ. Chàng cau mày, rồi, đứng dậy, đi đến tủ sách và lấy hú hoạ xuống một tập. Chàng quyết tâm sẽ không nghĩ về chuyện đã rồi cho đến lúc rõ ràng cần phải làm vậy.
Khi duỗi người trên ghế dài, chàng nhìn trang tựa quyển sách. Đó là tập Men và Đá Chạm* của Gautier, ấn bản giấy Nhật từ mộc bản, với thuật khắc a-xít Jacquemart. Bìa bọc bằng da thuộc màu xanh chanh yên, với thiết kế kẻ lưới mạ vàng và chấm lựu. Nó được gửi đến chàng từ Adrian Singleton. Đoạn lật trang sách, mắt chàng rơi xuống bài thơ về bàn tay của Lacenaire, bàn tay vàng vọt lạnh ngắt “chưa sạch hết thống khổ*”, với những sợi lông tơ đỏ và “những ngón tay dâm thần*” của nó. Chàng liếc về những ngón tay búp măng trắng của mình, không cưỡng được thoáng rùng mình, và lướt qua, cho đến lúc chàng gặp khổ thơ đáng yêu về Venice:
“Trên nền nhạc âm giai nửa cung, Một bầu ngực chảy xuôi dòng nước, Nàng Vệ Nữ biển Adriatic vẫy vùng
Trắng và hồng tấm thân nàng nâng bước.
Hình vòm cong, trên xanh biếc sóng mặn Nối điệu múa đường nét tinh khôi, Phồng lên tựa đôi bầu ngực đầy đặn
Cho não nề tình ái dâng lên môi.
Thuyền con đậu bến, ta đáp đất, Quăng dây chạc quấn quanh cọc tiêu, Trước mặt tiền ngôi nhà hồng ngát,
Trên bậc thang cẩm thạch bóng chiều.”[1]
Gợi cảm đến thế! Khi ta đọc chúng, ta tưởng như được lênh đênh xuôi thuỷ lộ xanh của thành phố hồng và ngọc trai, ngồi trong con thuyền gôn-đô-la đen với mũi thuyền và màn che bạc. Những dòng chữ đơn thuần với chàng trông như những dòng nước lạ lùng màu xanh ngọc lớp lớp xô nhau ngoài bãi biển Lido. Màu sắc bất ngờ vụt loé gợi nhắc chàng về ánh tán xạ từ bầy chim cổ ngũ sắc màu đá ô-pan và i-rít vỗ cánh quanh lầu chuông Campanile cao vút hình lỗ chỗ tổ ong, hoặc diễu qua, với vẻ oai vệ rất mực, xuyên mái vòm tối mờ, nhuốm bụi. Dựa lưng với đôi mắt khép hờ, chàng nhẩm đi nhẩm lại một mình:
“Trước mặt tiền toà nhà hồng ngát, Trên bậc thang cẩm thạch bóng chiều.”
Toàn bộ Venice nằm trong hai dòng này. Chàng nhớ về mùa thu mình từng có ở chốn ấy, và một tình yêu tuyệt vời đã khuấy chàng vào những dại khờ cuồng điên, thú vị. Lãng mạn có ở khắp nơi. Nhưng Venice, như Oxford, nắm giữ phông nền cho lãng mạn, và, đối với lãng mạn đích thực, phông nền là mọi thứ, hay gần như mọi thứ. Basil từng đến cùng chàng quãng thời gian ngắn, và phát cuồng danh hoạ Tintoret. Basil đáng thương! Kết cục một đời người ôi sao khủng khiếp thay!
Chàng thở dài, rồi cầm lại tập sách, và cố quên đi. Chàng đọc về đàn én bay ra bay vào quán cà-phê* nhỏ ở Smyrna nơi những người Hadji ngồi đếm các hạt mã não và những thương nhân chít khăn xếp hút các tẩu thuốc đính tua và nghiêm nghị nói chuyện với nhau; chàng đọc về đài cao Obelisk trong Quảng Trường Concorde đã khóc những giọt lệ hoa cương trong cảnh tha hương lẻ loi thiếu nắng, và mong mỏi trở về bên dòng Nile nóng hổi phủ đầy sen, nơi có Nhân Sư, có hồng hạc, có kền kền trắng với móng vuốt thếp vàng, có cá sấu, với đôi mắt nhỏ lục ngọc, bò trên bùn xanh ẩm; chàng bắt đầu ấp ủ những câu thơ, kéo ra tiếng nhạc từ khối cẩm thạch đầy dấu son môi, vịnh về bức tượng kì lạ được Gautier so sánh với giọng nữ trầm, bức “quái nhân quyến rũ*” nằm dài trong phòng đá poóc-phi của bảo tàng Louvre. Nhưng một lúc sau quyển sách rơi khỏi tay chàng. Chàng dần căng thẳng, và một cơn kinh hãi khủng khiếp ập lên chàng. Sẽ ra sao nếu Alan Campbell vắng mặt ở Anh? Mất nhiều ngày trôi xa trước khi anh ta trở về. Biết đâu anh ta từ chối đến gặp. Vậy chàng có thể làm gì? Mỗi khoảnh khắc đều mang tầm quan trọng sống còn.
Họ đã từng là bạn thiết, năm năm trước – gần như không rời nhau nửa bước, quả vậy. Rồi sự thân thiết đột ngột đi vào hồi kết. Giờ đây khi họ gặp nhau ngoài xã hội, chỉ có Dorian Gray mỉm cười: Alan Campbell không đời nào.
Anh là một chàng trai vô cùng thông minh, dù anh không thật sự biết thưởng lãm nghệ thuật hữu hình, và bất kì chút ít tri giác về vẻ đẹp của thơ nào mà anh sở hữu đều hoàn toàn lấy từ Dorian. Niềm đam mê chính yếu đầy trí tuệ của anh được dành cho khoa học. Ở trường Cambridge, anh dành lượng thời gian khổng lồ làm việc trong Phòng Thí Nghiệm, và đạt hạng giỏi trong kì thi Tripos Khoa Học Tự Nhiên ở năm của mình. Quả vậy, anh vẫn đang hiến mình cho nghiên cứu hoá học, và mở một phòng thí nghiệm cho riêng mình, nơi anh nhốt mình suốt cả ngày, rất làm phiền lòng mẹ mình, người hết lòng thèm khát một chỗ đứng cho anh trong Nghị Viện và ôm quan niệm tù mù rằng hoá học gia là người kê đơn thuốc. Tuy nhiên, ngoài ra, anh còn là một nhạc công ưu tú, và chơi cả vĩ cầm lẫn dương cầm thạo hơn hầu hết các tay ngang. Thực tế, ban đầu chính âm nhạc đã mang anh và Dorian Gray lại với nhau – âm nhạc và sức hấp dẫn khó cắt nghĩa mà Dorian dường như có thể thực hiện bất cứ khi nào chàng mong, và thực tế là thường xuyên thực hiện chẳng hề hay biết. Họ gặp gỡ ở cái đêm nghệ sĩ Rubinstein chơi tại nhà Phu Nhân Berkshire và sau đó rất năng thấy cùng nhau vào rạp Opera, và bất cứ nơi nào có nhạc hay. Trong mười tám tháng, tình thân của họ kéo dài. Campbell lúc nào cũng hoặc ở Hoàng Gia Selby hoặc ở Quảng Trường Grosvenor. Với anh, cũng như nhiều người khác, Dorian Gray là hình mẫu của mọi điều tuyệt vời và mê hoặc trên đời. Liệu có chăng một cuộc cãi lẫy diễn ra giữa họ không ai biết cả. Nhưng đột nhiên người đời để ý thấy họ hồ như không nói chuyện khi gặp nhau, và Campbell dường như luôn bỏ về sớm khỏi bất cứ bữa tiệc nào Dorian Gray góp mặt. Anh cũng thay đổi – trở nên sầu muộn lạ lùng khi ấy, có vẻ gần như không thích nghe nhạc, và đích thân sẽ không bao giờ chơi nhạc, viện cớ được miễn thứ, lúc anh được mời gọi, rằng mình quá miệt mài với khoa học mà không còn thời gian luyện đàn. Và điều này là đúng. Mỗi ngày anh dường như càng thêm hứng thú với sinh học, và tên anh đã xuất hiện một hai lần trong vài điểm tin khoa học, liên quan đến các thí nghiệm kì lạ nhất định.
Đây là người Dorian Gray mong ngóng. Chàng dán mắt vào đồng hồ từng giây. Cứ mỗi phút vụt qua chàng trở nên bồn chồn kinh khủng. Rốt cuộc chàng đứng dậy, và bắt đầu hớt hải đi lên đi xuống phòng, như một vật đẹp bị giam lồng. Chàng sải bước dài dè dặt. Đôi bàn tay chàng lạnh lạ kì.
Lòng thấp thỏm trở nên không chịu nổi. Thời Gian với chàng dường như lết bằng đôi chân chì, trong khi chàng bị cơn gió quái đản quét về phía bờ vực lởm chởm của khe núi đen nào đó. Chàng biết điều gì đang chờ mình ở đấy; quả thật là đã thấy, rồi, rùng mình, ép vào bằng đôi bàn tay ướt đôi mi mắt nóng rực của mình như thể chàng phải tống đi mọi hình bóng ám ảnh bộ não, và đẩy cho hai tròng mắt lui về cái hốc của chúng. Vô hiệu. Bộ não có thức ăn của riêng nó để phình ra, và trí tưởng tượng, hoá thành kì khôi bởi nỗi kinh hoàng, xoắn vặn và méo mó như một vật sống nhờ nỗi đau, múa may như con rối hôi hám trên bục, và nhe nhởn cười xuyên thấu chiếc mặt nạ lâm li. Rồi, bất thần, Thời Gian ngừng lại vì chàng. Vâng: vật mù loà, thở chậm ấy không lết nữa, và những suy nghĩ kinh khủng, Thời Gian đang chết, mau mắn phóng lên phía trước, và lôi ra một tương lai gớm guốc từ nấm mồ của nó, và đưa chàng xem. Chàng nhìn nó chằm chằm. Kinh hoàng đến mức toàn thân hoá đá.
Rốt cuộc cánh cửa mở, và đầy tớ của chàng bước vào.
Chàng hướng đôi mắt đờ đẫn lên anh ta.
“Ông Campbell, thưa ông,” người đàn ông nói.
Tiếng thở phào vỡ ra từ đôi môi khô rang của chàng, và màu sắc trở về với má chàng.
“Mời anh ta vào ngay, Francis.” Chàng cảm thấy mình lại là mình. Tâm trạng bạc nhược đã trôi xa.
Người đàn ông cúi đầu, và lui ra. Một thoáng sau Alan Campbell đi vào, trông hết sức nghiêm nghị và có phần nhợt nhạt, vẻ tái xanh của anh càng tăng thêm bởi mái tóc sẫm than và đôi mày tối.
“Alan! Đích thị là bạn rồi. Tôi hàm ơn bạn vì đã đến.” “Tôi đã định không đời nào bước chân vào nhà anh lần nữa, Gray. Nhưng anh nói có chuyện can hệ đến sống chết.” Giọng anh cứng và lạnh. Anh nói với sự thận trọng chậm rãi. Có cái nhìn khinh miệt trong ánh mắt dò xét kiên định anh chĩa vào Dorian. Anh đút tay vào túi chiếc áo khoác Astrakhan, và dường như không để tâm đến cử chỉ chào đón mình.
“Vâng: đúng là chuyện can hệ đến sống chết, Alan ạ, và nhiều hơn một mạng người. Ngồi đi.”
Campbell lấy cái ghế kê bên bàn, còn Dorian ngồi đối diện. Mắt hai người đàn ông gặp nhau. Trong mắt Dorian có tiếc thương vô hạn. Chàng biết việc mình sắp làm rất khủng khiếp.
Sau khoảnh khắc im lặng căng thẳng, chàng chúi người và nói, rất lặng lẽ, nhưng quan sát tác động của mỗi lời trên gương mặt anh do chàng buông ra, “Alan, trong căn phòng khoá trên đỉnh ngôi nhà, căn phòng không một ai ngoài tôi vào được, có một người chết đang ngồi bên bàn. Ông ta chết được mười giờ đồng hồ tính đến nay. Đừng giật mình, và đừng nhìn tôi như thế. Người đó là ai, sao ông ta chết, chết như thế nào, đều là chuyện không dính dáng đến bạn. Việc bạn phải làm là –”
“Thôi, Gray. Tôi không muốn biết gì thêm. Bất cần biết chuyện anh nói là thật hay dối, không dính gì đến tôi. Tôi thẳng thừng khước từ việc lôi thôi vào đời anh. Cứ giữ lấy bí mật kinh khiếp của anh vào thân. Chúng không còn hấp dẫn tôi nữa.”
“Alan, chúng hẳn sẽ hấp dẫn bạn. Nó hẳn sẽ hấp dẫn bạn. Tôi hết sức xin lỗi bạn, Alan. Nhưng tôi không tự giúp mình được. Bạn là người duy nhất cứu được tôi. Tôi buộc phải lôi bạn vào chuyện này. Tôi không còn cách khác. Alan, bạn là khoa học gia. Bạn biết về hoá học, và những thứ kiểu đó. Bạn đã làm nhiều thí nghiệm. Việc bạn phải làm là tiêu huỷ vật trên lầu – tiêu huỷ không chừa một vết tích nào sót lại. Không ai thấy người này vào nhà cả. Thực tế, trong lúc này ông ta được cho là đang ở Ba Lê. Ông ta sẽ không được nhớ ra trong nhiều tháng. Khi ông ta được nhớ ra, thì hẳn chẳng còn dấu vết nào của ông ở đây. Bạn, Alan, bạn phải biến ông ta, và mọi thứ thuộc về ông ta, thành một nắm tro mà tôi có thể rải vào không khí.”
“Mày điên rồi, Dorian.”
“A! Tôi đang chờ bạn gọi tôi bằng Dorian.”
“Mày điên rồi, tao nói mày – hoạ điên mới tưởng đến chuyện tao sẽ động một ngón tay giúp mày, hoạ điên mới buông lời thú nhận quái đản này. Tao sẽ không làm gì trong chuyện này, bất kể thế nào. Mày nghĩ tao sẽ mạo hiểm thanh danh của mình vì mày ư? Mấy trò ma quỉ mày bày ra thì có việc gì đến tao?”
“Đó là tự tử, Alan ạ.”
“Tao lấy làm mừng. Nhưng ai dồn ông ta phải làm vậy?
Mày, tao nên mường tượng thế.”
“Bạn vẫn từ chối làm cho tôi chuyện này ư?”
“Tất nhiên tao từ chối. Tao sẽ tuyệt đối không làm gì. Tao không quan tâm nhục nhã nào ập lên mày. Mày đáng chịu tất thảy. Tao cũng không buồn thương khi thấy mày bị hạ nhục, hạ nhục công khai. Sao mày dám nhờ tao, trong tất thảy người trên đời, để bản thân lôi thôi vào chuyện ghê rợn này? Tao hẳn nghĩ mày biết nhiều về tính cách con người hơn cơ. Bạn mày Ngài Henry Wotton không dạy được mày nhiều về tâm lí học, bất kể những thứ khác gã đã dạy được mày. Không gì xui được tao nhích một bước đến giúp mày hết. Mày tìm nhầm người rồi. Đến chỗ các bạn mày ấy. Đừng đến tao.”
“Alan, đó là giết người. Tôi đã giết ông ta. Bạn không biết ông ta đã khiến tôi chịu đựng những gì. Cho dù đời tôi thế nào, ông ta đã làm hỏng nó nhiều hơn Harry tội nghiệp đã làm. Ông ta có thể không chủ tâm, kết quả vẫn y nguyên.”
“Giết người! Chúa lòng lành, Dorian, đây là thứ mày đã đâm đầu đến? Tao sẽ không tố giác mày. Đó không phải việc của tao. Vả lại, chẳng cần đến sự khuấy tay của tao, mày chắc chắn sẽ bị bắt. Không kẻ nào từng làm ác mà không phạm phải điều gì ngu xuẩn. Nhưng tao sẽ không làm gì cả.”
“Bạn phải làm gì đó. Đợi, đợi một lát, nghe tôi. Chỉ nghe thôi, Alan. Thảy tôi đòi ở bạn là thực hiện một thí nghiệm khoa học nhất định. Bạn đến bệnh viện và nhà xác, và những kinh hoàng bạn làm ở đó không ảnh hưởng gì bạn. Nếu trong phòng mổ gớm guốc hoặc phòng thí nghiệm bốc mùi nào đó bạn thấy người đàn ông này nằm trên bàn chì với những rãnh đỏ dẫn máu ra thành dòng, bạn sẽ đơn thuần nhìn ông ta như một đối tượng đáng kính trọng. Bạn sẽ không sởn tóc gáy. Bạn sẽ không tin rằng mình làm gì sai quấy. Trái lại, có thể bạn sẽ cảm thấy mình đang giúp ích cho nhân loại, hay tích luỹ kiến thức cho thế giới, hay thoả mãn lòng hiếu kì trí tuệ, hay thứ gì đó tương tự. Việc tôi muốn bạn làm đơn thuần là việc bạn vẫn thường làm trước giờ. Thực tế, tiêu huỷ một xác người hẳn phải ít khủng khiếp hơn nhiều những công việc bạn đã quen làm. Và, xin nhớ cho, đây là mảnh chứng duy nhất chống lại tôi. Nếu nó bị phát hiện, tôi thất bại; và nó cầm chắc bị phát hiện nếu bạn không giúp tôi.”
“Tao không có mong muốn giúp mày. Mày quên đấy. Tao đơn thuần lãnh đạm với toàn bộ chuyện này. Chẳng có gì để làm cho tao.”
“Alan ơi, tôi van bạn. Hãy nghĩ về địa vị tôi đang có. Ngay trước lúc bạn đến tôi gần như lịm đi vì kinh hoàng. Bạn có thể đích thân biết đến kinh hoàng một ngày kia. Không! Đừng nghĩ về nó. Hãy nhìn chuyện này thuần tuý từ quan điểm khoa học. Bạn không gạn hỏi những xác chết mình làm thí nghiệm đến từ đâu. Đừng hỏi bây giờ. Tôi vốn đã nói cho bạn quá nhiều. Nhưng tôi xin bạn hãy làm. Chúng ta từng là bạn, Alan ạ.”
“Đừng nói về những ngày ấy, Dorian: chúng chết rồi.” “Cái chết vẫn nấn ná đôi khi. Người đàn ông trên lầu sẽ không đi xa. Ông ta đang ngồi bên bàn với cái đầu gục và cánh tay dang rộng. Alan! Alan! Nếu bạn không đến phù trợ tôi sẽ thân bại danh liệt. Cớ sao, họ sẽ treo cổ tôi, Alan ơi! Bạn không hiểu ư? Họ sẽ treo cổ tôi vì những việc đã làm.”
“Không hay ho gì việc kéo dài cảnh này. Tao thẳng thừng từ chối làm bất cứ gì trong chuyện này. Mày mất trí rồi mới nhờ tao.”
“Bạn từ chối ư?”
“Đúng.”
“Tôi van bạn, Alan ạ.” “Vô dụng thôi.”
Ánh nhìn thương hại tương tự cũng loé lên trong mắt Dorian Gray. Rồi chàng với tay, lấy mảnh giấy, và viết gì đó vào. Chàng đọc hai lần, gấp lại cẩn thận, và đẩy qua bên kia bàn. Xong việc, chàng đứng lên, và bước đến bên cửa sổ.
Campbell nhìn chàng trong kinh ngạc, và rồi nhặt lấy cục giấy, và mở ra. Đoạn anh đọc nó, mặt anh cắt không còn giọt máu, và anh ngã ngửa ra ghế. Cảm giác phát bệnh khủng khiếp ập lên anh. Anh cảm thấy như thể tim mình đang đập đến chết trong lồng ngực rỗng không nào đấy.
Sau dăm ba phút im lặng kinh khủng, Dorian quay lại, và bước tới đứng sau lưng anh, đặt tay lên vai anh.
“Tôi rất tiếc cho bạn, Alan ạ,” chàng lẩm bẩm, “nhưng bạn không cho tôi cách nào khác. Tôi có một bức thư viết sẵn. Nó đây. Bạn thấy địa chỉ rồi đấy. Nếu bạn không giúp tôi, tôi phải gửi nó đi. Nếu bạn không giúp tôi, tôi sẽ gửi nó đi. Bạn biết hậu quả hẳn sẽ ra sao. Nhưng bạn sẽ giúp tôi. Bất khả cho bạn để từ chối bây giờ. Tôi đã gắng dung thứ cho bạn rồi. Bạn sẽ đền đáp lại tôi để được phép đón nhận nó. Bạn đã nghiêm khắc, lỗ mãng, xúc phạm. Bạn cư xử với tôi theo cách không ai từng dám làm – không ai còn sống, sao chăng nữa. Tôi chịu tất. Bây giờ đến lượt tôi ra điều kiện.”
Campbell vùi mặt vào tay, và một cơn rùng mình lướt qua chàng.
“Vâng, đến lượt tôi ra điều kiện, Alan ạ. Bạn biết chúng là gì. Việc này vô cùng đơn giản. Đi, đừng đày bản thân phát sốt lên. Việc này phải xong. Đối mặt, và xử lí.”
Một tiếng rên vỡ ra khỏi môi Campbell, và anh run rẩy khắp mình. Tiếng tích tắc của đồng hồ trên kệ lò sưởi với anh dường như chia cắt Thời Gian thành nhiều nguyên tử rời rạc quằn quại, từng cái một đều quá khủng khiếp để chịu đựng. Anh cảm thấy như có chiếc vòng sắt chầm chậm siết quanh trán mình, như thể sự ô nhục mình bị đe doạ đã ập đến rồi. Bàn tay đặt trên vai anh nặng như bằng chì. Nó ngoài sức chịu đựng. Nó như đè nát anh.
“Đi, Alan, bạn phải quyết định ngay lập tức.”
“Tôi không làm được,” anh nói một cách máy móc, tựa như lời nói có thể biến đổi sự tình.
“Bạn phải làm. Bạn không còn lựa chọn. Đừng chần chừ.”
Anh do dự giây lát. “Có lửa trong căn phòng trên lầu không?”
“Có, một ngọn đèn khí a-mi-ăng.”
“Tôi sẽ phải về nhà và lấy vài thứ từ phòng thí nghiệm.”
“Không, Alan ạ, bạn không được rời nhà này. Viết ra một tờ thư những thứ bạn muốn, và đầy tớ tôi sẽ đánh xe kéo và mang mọi thứ về cho bạn.”
Campbell viết tháu vài dòng, thấm mực, và đề địa chỉ ngoài phong bì gửi phụ tá mình. Dorian cầm tờ biên và đọc cẩn thận. Rồi chàng rung chuông, và đưa nó cho người hầu phòng, với mệnh lệnh quay về càng sớm càng tốt, và mang các thứ về cùng.
Đoạn cửa đại sảnh đóng lại, Campbell bắt đầu bồn chồn, rồi, đứng dậy khỏi ghế, bước đến bệ lò sưởi. Anh run rẩy với căn bệnh dạng sốt rét. Trong gần hai mươi phút, cả hai người không nói gì. Một con ruồi vo ve ồn ĩ khắp phòng, và tiếng tích tắc đồng hồ như tiếng đập búa đinh.
Lúc chuông báo giờ đánh lần nữa, Campbell quay đầu, rồi, nhìn vào Dorian Gray, thấy đôi mắt chàng đầy ứ nước. Có điều gì ở vẻ trong sạch và tinh khiết trên gương mặt buồn ấy dường như làm anh nổi cáu. “Bỉ ổi, tuyệt đối bỉ ổi!” anh lầm bầm.
“Suỵt, Alan: bạn đã cứu đời tôi,” Dorian nói.
“Đời mày? Trời ơi! Thứ đời gì! Mày đi từ thối nát này đến thối nát khác, và giờ mày chạm đến tột cùng tội ác. Cái việc tao sắp làm, việc mày ép tao làm, không phải để cứu đời mày, tao đang nghĩ thế đấy.”
“A, Alan,” Dorian lẩm bẩm, với tiếng thở dài, “tôi mong bạn dành cho tôi một phần nghìn lòng trắc ẩn mà tôi dành cho bạn.” Chàng quay đi lúc nói, và đứng trông ra khu vườn. Campbell không trả lời.
Sau khoảng mười phút có tiếng gõ lên cửa, và người đầy tớ bước vào, mang theo một rương gỗ gụ lớn đựng hoá chất, với một cuộn thép dài và dây bạch kim và hai kẹp sắt hình dáng khá lạ kì.
“Tôi sẽ để mọi thứ ở đây nhé, thưa ông?” anh ta hỏi Campbell.
“Phải,” Dorian nói. “Và tôi e là, Francis, tôi có việc vặt khác nhờ cậu. Tên gã ở Richmond chuyên cung cấp phong lan cho Selby là gì nhỉ?”
“Harden, thưa ông.”
“Phải – Harden. Cậu phải xuống Richmond ngay, gặp đích thân Harden, và bảo gã ta gửi cho gấp đôi số phong lan tôi đã đặt, và có càng ít hoa trắng càng tốt. Thực ra, tôi không muốn một bông trắng nào. Nay là ngày đẹp, Francis, và Richmond là nơi rất xinh tươi, nếu không thì tôi đã chẳng phiền cậu chuyện này.”
“Không phiền gì, thưa ông. Vào giờ nào thì tôi nên về?”
Dorian nhìn Campbell. “Thí nghiệm của bạn sẽ mất bao lâu, Alan?” chàng nói, bằng giọng bình tĩnh, lãnh đạm. Sự hiện diện của một người thứ ba trong phòng dường như tiếp cho chàng lòng can đảm lạ thường.
Campbell cau mày, và cắn môi. “Sẽ mất khoảng năm giờ,” anh trả lời.
“Sẽ có đủ thì giờ, vậy, nếu cậu trở về lúc bảy rưỡi, Francis. Hoặc ở lại đó: chỉ cần bày sẵn đồ cần mặc ra cho tôi. Cậu có thể tự dùng bữa tối. Tôi không ăn tối ở nhà, nên tôi sẽ chưa cần cậu.”
“Cảm ơn ông,” người đàn ông nói, rời phòng.
“Giờ, Alan, không được phút nào uổng phí. Cái rương này nặng quá đỗi! Tôi sẽ bê nó giúp cậu. Cậu mang những thứ khác.” Chàng hấp tấp nói, và bằng giọng ra lệnh. Campbell cảm thấy bị chàng át trị. Họ rời phòng cùng nhau.
Lúc họ đặt chân lên tầng thượng, Dorian rút chìa khoá và xoay trong ổ. Rồi chàng ngừng lại, và ánh nhìn phiền muộn loé trong mắt chàng. Chàng rùng mình. “Tôi không nghĩ mình vào được, Alan ạ,” chàng nói khẽ.
“Chẳng việc gì với tôi. Tôi không cần đến anh,” Campbell lạnh lùng nói.
Dorian hé cửa. Lúc làm vậy, chàng thấy gương mặt trên bức chân dung đang nhìn đểu dưới ánh nắng trời. Dưới mặt sàn trước nó là tấm màn bị giật xuống đang nằm. Chàng nhớ ra đêm trước mình đã quên, lần đầu tiên trong đời, che đi tấm vải bạt chết người, và chuẩn bị lao đến, lúc chàng lùi lại với một cơn rùng mình.
Có gì như giọt sương đỏ ghê tởm đang loé sáng, ướt át và bóng nhẫy, trên một bàn tay, như thể tấm vải bạt đổ mồ hôi máu kia? Kinh khủng lắm thay! – Dường như với chàng lúc đó, còn kinh khủng hơn cả vật câm lặng chàng biết vẫn đang ườn người bên bàn, vật đổ bóng đen méo mó kì khôi trên tấm thảm lốm đốm cho chàng thấy rằng nó không hề cựa mình, mà vẫn ở yên đấy, như lúc chàng bỏ lại.
Chàng hít một hơi sâu, mở cánh cửa thêm chút nữa, và với đôi mắt nheo lại cùng cái đầu ngoảnh đi, bước vội vào trong, quyết tâm rằng mình sẽ không nhìn dù chỉ một lần lên người chết. Rồi, cúi rạp người, và nhặt tấm trướng vàng tím lên, chàng quăng nó lên bức hoạ.
Tại đấy chàng dừng lại, thấy sợ phải quay đầu, và đôi mắt chàng dán lên những hoa văn phức tạp trước mặt mình. Chàng nghe tiếng Campbell bê vào cái rương nặng, và hai cục sắt, và các thứ khác cần cho công chuyện kinh khủng của mình. Chàng bắt đầu tự hỏi liệu anh ta và Basil Hallward đã từng gặp nhau chưa, và, nếu có, họ đã nghĩ gì về nhau.
“Bỏ tôi lại một mình ngay,” giọng nghiêm khắc sau lưng chàng nói.
Chàng quay lưng và vội vã rời đi, chỉ nhận thấy rằng người chết đã được đẩy ngửa ra lưng ghế, và rằng Campbell đã nhìn chằm chằm vào gương mặt vàng bủng bóng nhẫy. Lúc xuống lầu chàng nghe tiếng chìa khoá xoay trong ổ.
Hồi lâu sau bảy giờ khi Campbell vào lại thư phòng. Anh tái nhợt, nhưng hoàn toàn bình tĩnh. “Tôi đã xong việc anh đòi hỏi,” anh lẩm bẩm. “Còn giờ, vĩnh biệt. Đừng để có lúc nào ta gặp lại nhau.”
“Bạn đã cứu tôi khỏi thân bại danh liệt, Alan ạ. Tôi không thể quên được,” Dorian đơn giản nói.
Ngay khi Campbell rời đi, chàng lên lầu. Một mùi nồng nặc a-xít ni-tơ-rích trong phòng. Nhưng vật từng ngồi bên bàn đã biến mất.
❀ ❀ ❀
[1] Trích đoạn Phần II: Sur les lagunes trong bài thơ Variations