Bức Họa Dorian Gray

Lượt đọc: 118 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG XI

❊ ❊ ❊

Nhiều năm trời, Dorian Gray chẳng thể tự giải phóng mình khỏi ảnh hưởng từ cuốn sách này. Hoặc có lẽ sẽ chính xác hơn nếu nói rằng chàng chưa bao giờ tìm cách tự giải phóng mình khỏi nó. Chàng lùng mua từ Ba Lê không dưới chín bản khổ lớn của ấn bản đầu tiên, và bọc chúng bằng màu sắc khác nhau, để có thể phù hợp với nhiều tâm trạng và thị hiếu thay đổi trong bản chất chàng, thứ mà chàng cảm tưởng như, đôi khi, gần như hoàn toàn mất kiểm soát. Nam chính, tay Ba Lê trẻ tuyệt vời, người mang khí chất lãng mạn và khoa học quyện lẫn một cách lạ lùng trong mình, trở thành với chàng như một dạng tiền thân của chính mình. Và, quả thực, toàn bộ quyển sách với chàng dường như chứa đựng chuyện đời mình, được viết trước khi chàng sống.

Theo mặt khác chàng tốt số hơn tay nam chính kì lạ trong tiểu thuyết. Hắn chưa bao giờ biết – không bao giờ, thực vậy, có bất kì run rủi nào để biết – về đôi chút nỗi kinh hoàng kì khôi của gương, và mặt kim loại bóng, và mặt nước lặng, thứ đã ập đến tay Ba Lê trẻ rất chóng trong đời, nguyên do từ sự ung thối đột ngột xảy đến với sắc đẹp đã từng một lần, rõ ràng là, rất đáng chú ý. Cùng với một niềm vui gần như độc ác – và có lẽ trong hầu hết mọi niềm vui, cũng chính xác như trong mọi khoái lạc, sự độc ác luôn có chỗ – mỗi khi chàng đọc phần cuối cuốn sách, kèm theo bi kịch chân thực của nó, mặc dù phần nào được cường điệu, mức độ buồn đau và tuyệt vọng của kẻ đánh mất chính mình vào người khác, và vào thế gian, hắn đã từng được quí trọng nhất mực.

Vì sắc đẹp tuyệt vời đã quá đỗi mê hoặc Basil Hallward, và nhiều người khác quanh chàng, xem chừng chẳng bao giờ rời bỏ chàng. Ngay cả những người được nghe những chuyện nanh ác nhất bôi xấu chàng, và thi thoảng những đồn đoán lạ kì về lối sống của chàng len lỏi khắp Luân Đôn rồi trở thành chuyện gẫu trong các hội quán, cũng chẳng thể tin bất kì điều gì về tiếng xấu của chàng khi họ thấy chàng. Chàng luôn có vẻ ngoài của người giữ được mình vô nhiễm khỏi thế tục. Những kẻ phũ miệng trở nên câm lặng khi Dorian Gray bước vào phòng. Có điều gì trong vẻ thuần khiết trên mặt chàng như khiển trách họ. Sự hiện diện đơn thuần của chàng dường như gọi về trong họ kí ức của tính ngây thơ đã bị hoen ố. Họ thắc mắc bằng cách nào một người rất mực quyến rũ và duyên dáng như chàng có thể thoát khỏi vết nhơ của tuổi tác đồng thời cả đê tiện lẫn dâm dật.

Thường thường, sau chuyến về nhà từ một trong những lần vắng mặt dài ngày và bí ẩn đã dậy lên nhiều phỏng đoán kì lạ trong số bạn mình, hoặc nghĩ họ thế, chàng sẽ đích thân leo lên lầu đến căn phòng khoá, mở cửa bằng chiếc chìa khoá giờ đây đã bất li thân, và đứng, cùng tấm gương, trước mặt bức chân dung Basil Hallward đã vẽ cho chàng, giờ hãy nhìn vào gương mặt nanh ác và già hoá trên nền vải bạt, và giờ nhìn vào gương mặt đẹp đẽ trẻ trung đang cười đáp chàng từ tấm kính sáng bóng. Độ sắc nét vô cùng của sự tương phản tăng cường cảm giác khoái lạc của chàng. Chàng càng ngày càng mê đắm sắc đẹp mình, càng ngày càng hứng thú với sự thối rữa linh hồn mình. Chàng săm soi với sự chú ý chi li, và đôi khi với sự thích thú quái đản và khủng khiếp, những đường kẻ gớm guốc khắc lên vầng trán nhăn nheo và bò quanh cái miệng dâm dật nặng nề, đôi khi chẳng biết thứ nào kinh khiếp hơn, dấu ấn của tội lỗi hay dấu ấn của tuổi già. Chàng thích đặt bàn tay trắng của mình cạnh bàn tay sưng múp thô kệch của bức hoạ, và mỉm cười. Chàng nhạo báng cái thân hình méo mó và tứ chi suy nhược ấy.

Có những thời khắc, thực vậy, đang đêm, khi, nằm trằn trọc trong căn buồng thơm dịu của mình, hoặc trong căn phòng hèn mọn của quán rượu nhỏ khét tiếng gần Cảng, nơi, dưới cái tên giả, và trong đồ giả trang, đó là thói quen thường lệ của chàng, chàng nghĩ về sự suy đồi mình đổ lên linh hồn, với nỗi thương cảm thảy chỉ thêm nhói buốt, vì nó thuần tuý vị kỉ. Nhưng thời khắc như vậy rất hiếm. Sự tò mò về cuộc đời mà Ngài Henry đã khuấy lên trong chàng lần đầu tiên, buổi họ ngồi cùng nhau trong vườn nhà bạn mình, dường như tăng thêm trong thoả mãn. Càng biết nhiều, chàng càng khao khát biết thêm. Chàng mang cơn đói rồ dại mà càng cồn cào hơn khi được cho ăn.

Dầu thế chàng không hề khinh suất, sao chăng nữa trong các mối quan hệ của mình với giới thượng lưu. Một đôi lần mỗi tháng suốt mùa đông, và mỗi tối Thứ Tư đến hết mùa, chàng rộng cửa nghênh đón người đời đến ngôi nhà đẹp đẽ của mình và cho những nhạc công lừng danh bậc nhất đương đại quyến rũ tân khách bằng món nghệ thuật tuyệt vời của họ. Bữa tối nhỏ của chàng, trong sự xếp đặt luôn có Ngài Henry hỗ trợ, được lưu tâm chọn khách và đặt chỗ với bao nhiêu cẩn thận, là bấy nhiêu thanh tú ở gu thẩm mĩ phô ra trong cách trang hoàng bàn, cùng lối bày biện sao cho cộng hưởng tinh tế với những bông hoa ngoại lai, với vải thêu, với đĩa cổ bằng vàng và bạc. Quả vậy, đã nhiều người, đặc biệt trong đám trai còn trẻ măng, thấy ra, hoặc tưởng mình thấy, trong Dorian Gray một hình mẫu hiện thực sống của thứ họ thường mơ về trong những ngày Eton hay Oxford, một hình mẫu hoà lẫn giữa thứ gì đó của văn hoá học giả đích thực với tất thảy phong thái duyên dáng và ưu tú và hoàn hảo của một thị dân trên đời. Trong họ chàng dường như tổng hoà những con người mà Dante miêu tả đã tìm cách “khiến mình hoàn hảo bằng tôn thờ vẻ đẹp”. Như Gautier, chàng là một trong những “thực thể nhân gian hữu hình”.

Và, hẳn nhiên, với chàng chính Cuộc Sống là môn đầu tiên, môn vĩ đại nhất, trong nghệ thuật, và bởi thế tất thảy nghệ thuật khác dường như là dự bị. Thời Trang, thứ thật sự kì tuyệt trở nên phổ quát thoáng chốc, và Theo Mốt, thứ, bằng cách riêng mình, là nỗ lực khẳng định tính hiện đại tuyệt đối của vẻ đẹp, dành tặng, hiển nhiên, vẻ mê hoặc của chúng đến chàng. Kiểu ăn mặc của chàng, và những phong cách riêng biệt mà thi thoảng chàng gieo tác động, đã in dấu ảnh hưởng của chúng lên những tay cảnh vẻ trẻ tuổi tại những buổi vũ Mayfair và cửa sổ hội quán Pall Mall, họ sao chép mọi sự chàng làm, và cố nhái lại nét quyến rũ hững hờ trong vẻ duyên dáng chàng, mặc dù với chàng chỉ là nửa đùa nửa thật, nhất thời chưng diện.

Tuy, trong lúc chàng quá sẵn sàng đón nhận vị trí gần như ngay lập tức dâng cho mình khi bước vào tuổi trung niên, và thấy, quả thực, một khoái lạc tinh tế trong ý nghĩ rằng chàng với Luân Đôn thời đại mình có thể thật sự trở thành thứ mà tác giả của Satyricon đã từng một lần với đế quốc La Mã thời đại Nero, dầu vậy trong tận đáy lòng chàng khao khát điều gì đó hơn là một vị quan toàn quyền thanh lịch*, được thỉnh ý những việc đeo ngọc, hoặc thắt ca- vát, hoặc mang ba-toong. Chàng tìm kiếm một công nghiệp mới mẻ công phu nào đó của đời mà sẽ hẳn mang trong nó trường phái triết học có lí luận cùng các nguyên tắc có hệ thống, và tìm trong những tri giác hướng thượng sự hiện thực cao nhất của nó.

Lòng tôn thờ cảm giác, cùng với rất nhiều công lí, đã thường bị lên án, người đời cảm thấy rằng bản năng tự nhiên đáng sợ của đam mê và cảm giác dường như mạnh hơn chính mình, và rằng chúng ý thức được sự phân bổ sinh tồn với những hình thái tổ chức cao thấp kém hơn. Nhưng hình như với Dorian Gray rằng bản chất đích thực của cảm giác chưa bao giờ được hiểu, và rằng chúng vẫn còn man di và thú tính đơn thuần bởi thế gian tìm cách để bỏ đói chúng trong qui phục hoặc để giết chúng bằng đau đớn, thay vì hướng đến việc biến chúng thành những yếu tố của tinh thần mới, của thứ bản năng tốt lành để vẻ đẹp trở thành đặc tính ưu trội. Đoạn chàng nhìn về những con người xuyên suốt Lịch Sử, chàng bị ám ảnh bởi cảm giác mất mát. Quá nhiều sự đầu hàng! Còn ý định thì quá nhỏ nhoi! Có nhiều lời cự tuyệt bướng bỉnh rồ dại, hình thức quái đản của hành xác và tiết dục, căn nguyên từ nỗi sợ, và kết cục là sự suy thoái vô chừng còn kinh khiếp hơn sự suy thoái huyễn hoặc từ thứ mà, trong sự vô minh của mình, họ tìm cách trốn tránh, mẹ Tự Nhiên, bằng cảnh trớ trêu tuyệt vời của bà, đẩy giới ẩn sĩ ra làm mồi cho dã thú hoang mạc và trao cho giới khổ hạnh ác thú đồng cỏ như bạn đồng hành.

Vâng: đúng thế, như Ngài Henry đã tiên tri, một Chủ Nghĩa Khoái Lạc mới nhằm tái thiết đời sống, và cứu nó khỏi xã hội Thanh giáo hà khắc, kém duyên mà đang có, trong thời đại chúng ta, sự hồi sinh kì lạ. Nó mang lợi ích cho trí tuệ, hẳn rồi; dầu vậy, nó không bao giờ chấp nhận bất kì lí thuyết hay hệ thống nào dính líu đến sự hi sinh bất kì dạng trải nghiệm đam mê nào. Mục đích nó, thực vậy, là trải nghiệm chính mình, không màng thành quả trải nghiệm, ngọt hay đắng như chúng vốn sẵn. Như chủ nghĩa khổ hạnh làm lu mờ các cảm giác, cũng như sự phóng đãng dung tục làm mê muội chúng, nó không cần biết. Nhưng nó dạy người đời chú tâm mình vào từng khoảnh khắc cuộc đời mà chính nó cũng là một khoảnh khắc.

Một vài trong chúng ta rất hiếm khi thức giấc trước bình minh, hoặc sau một trong những đêm không mộng mị khiến ta gần như đắm mình vào cái chết, hoặc một trong những đêm kinh hoàng và vui vẻ méo mó, khi những bóng ma lướt qua từng khoang não còn kinh khiếp hơn cả chính nó trong thực tế, và bản năng cùng đời sống sống động lẩn núp trong thảy những kì khôi, và cho nghệ thuật Gothic mượn sức sống bền bỉ của nó, thứ nghệ thuật này tồn tại, như người

đời mường tượng, đặc biệt nghệ thuật trong những tâm trí bị quấy rầy bằng căn bệnh tơ tưởng. Từ từ, những ngón tay trắng rón rén qua màn cửa, và chúng hình như run rẩy. Trong những mảng đen kì quái, bóng tối câm lặng bò vào góc phòng, và nép mình ở đấy. Bên ngoài, có tiếng động bầy chim trong vòm lá, hay âm thanh con người ra ngoài làm lụng, hay tiếng thở dài và thổn thức của nàng gió bay xuống từ dãy đồi, rồi tha thẩn quanh ngôi nhà im tiếng, chừng như sợ đánh động người còn ngủ, rồi hãy còn phải dỗ giấc từ hang động tím của mình. Lớp theo lớp tấm mạng sa mỏng tối màu được nâng lên, rồi độ tỏ trong hình dáng và màu sắc vạn vật được trả lại, rồi ta chiêm ngưỡng bình minh tái tạo thế gian bằng kiểu mẫu cổ xưa của mình. Các mặt gương xanh nhợt sống lại cuộc đời sao nhái của chúng. Những cây nến vắng lửa đứng đúng chỗ ta bỏ lại, và bên cạnh nằm đấy quyển sách để mở ta đang học dở, hay đoá hoa thép ta cài trong buổi vũ, hay bức thư ta sợ phải đọc, hoặc ta đã đọc quá siêng. Chẳng thứ gì dường như thay đổi trước ta. Từ bóng đen vô thực của đêm quay về đây cuộc sống thực mà ta hằng biết. Chúng ta tiếp tục ở nơi mình bỏ lại, và lan truyền khắp ta cảm giác bức thiết kinh khủng cho năng lượng để tiếp tục vòng tròn tẻ ngắt những lề thói rập khuôn, hoặc mong ước hoang sơ, có thể lắm, rằng đôi mi chúng ta biết đâu mở ra một buổi sáng nọ ở thế giới đã được tái nặn một lần nữa trong bóng đêm vì niềm khoái lạc của ta, một thế giới trong đó vạn vật mang hình dáng và màu sắc tươi mới, và đổi thay, hoặc mang những bí mật khác, một thế giới trong đó quá khứ sẽ có rất ít hoặc không có chỗ, hay tồn tại, sao chăng nữa, không có hình thái ý thức nào về nghĩa vụ hay nuối tiếc, việc hồi tưởng ngay cả về niềm vui cũng mang đến đắng cay, và kí ức về khoái lạc thì đau đớn.

Sự tác tạo thế giới như vậy dường như đối với Dorian Gray mới là mục tiêu đích thực, hoặc trong số những mục tiêu đích thực, của đời; và trong cuộc tìm kiếm tri giác hẳn có đồng thời cả mới mẻ và thú vị, và sở hữu yếu tố xa lạ mà rất thiết yếu cho sự lãng mạn, chàng thường áp dụng những phương pháp tư duy nhất định mà chàng biết là thật sự lạ lẫm với bản chất mình, bỏ mặc bản thân vào những ảnh hưởng tinh vi, và rồi, để, như vốn thế, bắt lấy màu sắc của chúng và thoả mãn tính ham biết tri thức của mình, bỏ chúng lại với sự lãnh đạm kì lạ chẳng hề xung khắc với khí chất thật sự sôi sục, và điều đó, quả thực, theo những tâm lí gia đương đại nhất định, thường là một điều kiện cho sự tạo tác thế giới ấy.

Từng có đồn đại rằng chàng đã định gia nhập hiệp thông Công giáo La Mã; và chắc hẳn nghi lễ La Mã vẫn luôn có sức hút lớn đến chàng. Sự hi sinh thường nhật, thật sự khủng khiếp hơn tất thảy hi sinh trong thế giới cổ xưa, sự khước từ cao đẹp của nó về thực chứng giác quan khuấy lên trong chàng bao nhiêu, là bấy nhiêu tính đơn giản nguyên sơ của các yếu tố và khơi cảm vĩnh hằng trong bi kịch loài người mà nó tìm cách tượng trưng. Chàng yêu việc quì gối trên nền cẩm thạch lạnh, và trông vị linh mục, trong bộ áo tế lễ hồ cứng thêu hoa của ông, chầm chậm bằng đôi bàn tay trắng vén sang tấm mạng che rạp lễ, hoặc nâng cao chiếc bình thánh thể hình lồng đèn cẩn ngọc chứa thứ nước lạt lẽo mà thi thoảng, người ta vui lòng nghĩ, đó quả thật là “panis cælestis”, bánh thiên thần, hoặc, choàng lên y phục Đam Mê Ki-tô, bẻ Bánh Thánh vào li rượu lễ, và đấm lên ngực mình hối lỗi. Các lư hương toả khói, mà những cậu bé nghiêm trang, trong bộ đồ ren đỏ, tung lên trời như những bông hoa lớn thếp vàng, mang vẻ mê hoặc tinh tế đến chàng. Lúc ra về, chàng thường nhìn vẻ ngạc nhiên về hướng phòng xưng tội tối đen, và mong mỏi được ngồi vào bóng tối mờ một trong số chúng và nghe đàn ông với đàn bà thì thầm qua hàng lưới sắt gỉ câu chuyện đời thực của họ.

Nhưng chàng không bao giờ sa vào sai lầm của việc kìm hãm sự mở mang trí tuệ mình bằng bất kì sự đồng thuận chính thức nào về tín điều hay giáo lí, hoặc ngộ nhận, trong một ngôi nhà để ở, một quán trọ phù hợp để qua đêm, hay chỉ vài giờ trong màn đêm không sao và không trăng hoài thai. Chủ nghĩa thần bí, với quyền năng tuyệt diệu khiến những thứ tầm thường thành xa lạ với chúng ta, và chủ nghĩa chống đạo tinh vi dường như luôn cùng song hành, lay động chàng trong một mùa, và trong một mùa chàng thiên về thuyết duy vật trong phong trào Học Thuyết Darwin* ở Đức, và thấy một khoái lạc lạ kì trong việc theo dấu những suy nghĩ và đam mê của người đời đến tế bào tựa ngọc trai nào đó trong não, hay dây thần kinh trắng nào đó trong cơ thể, cả mừng thấy ra tính phụ thuộc tuyệt đối của tinh thần lên các điều kiện thể chất nhất định, bệnh hoạn hay mạnh khoẻ, bình thường hay đau yếu. Dầu vậy, như đã nói về chàng trước đây, dường như với chàng không lí thuyết nào về cuộc sống được coi là quan trọng nếu so sánh với chính cuộc sống. Chàng cảm nhận ý thức sâu sắc tất thảy suy xét trí tuệ sẽ cằn cỗi đến thế nào khi tách rời khỏi hành động và thực nghiệm. Chàng biết các giác quan, không ít hơn linh hồn, cũng có những bí ẩn tinh thần để bộc lộ.

Vậy nên bấy giờ chàng nghiên cứu mùi hương, và những bí mật trong cuộc chế tạo chúng, dầu thơm nức chưng cất, và gôm đốt tẩm hương từ phương Đông. Chàng thấy không một tâm trạng nào của tâm trí mà không có phần tương ứng trong đời sống giác quan, và cho đích thân mình khám phá mối liên thông thực thụ của chúng, tự hỏi thứ gì trong hương trầm khiến sự thành huyền bí, còn trong long diên hương thì khuấy động đam mê con người, còn trong hoa tím thì đánh thức kí ức những mối lãng mạn đã chết, còn trong xạ hương thì quấy rầy bộ não, còn trong cây xam- pác thì nhuộm màu tưởng tượng; và thường xuyên tìm cách dựng lên một môn tâm lí học đích thực về mùi hương, và đánh giá tầm ảnh hưởng của những củ thơm ngọt, cùng bông hoa thơm trĩu phấn, của nhựa thơm, cùng gỗ hương sẫm màu, của cây cam tùng ốm yếu, của cây khúng khéng khiến người đời hoá rồ, và của cây lô hội được cho rằng có thể trục xuất sầu muộn khỏi linh hồn.

Tại thời điểm khác chàng hết mình dâng hiến cho âm nhạc, và trong căn phòng mắt cáo dài, với trần nhà màu vàng đỏ chu sa cùng các mặt tường sơn xanh ô-liu, chàng cho mở buổi hoà nhạc lạ kì nơi những người gíp-xi cuồng dại giật toạc thứ âm nhạc hoang sơ khỏi những cây tam thập lục con con, hay những người Tunisia quàng khăn san vàng nghiêm trang gảy những dây căng trên cây đàn luýt quái đản, trong lúc những người da màu cười toét miệng vỗ đều đều lên những chiếc trống đồng, và, gập mình trên tấm nệm đỏ, những người Anh-điêng mảnh khảnh đầu chít khăn thổi vào ống tiêu dài bằng sậy hoặc đồng thau, và ếm phép, hay vờ ếm phép, lên những con rắn mang bành cỡ đại và rắn sừng a-đơ khủng khiếp. Thi thoảng các quãng nhạc thô ráp và nốt nghịch chói lói của thứ âm nhạc mọi rợ khuấy động chàng những khi đích thân tính hoa mĩ của Schubert, cùng nỗi buồn đẹp đẽ của Chopin, cùng hoà âm hùng tráng của Beethoven, lọt tai chàng trong vô vị. Chàng sưu tầm về từ tất thảy ngóc ngách trên thế giới những nhạc cụ lạ lùng nhất mình tìm được, hoặc trong nấm mồ những dân tộc đã chết hoặc trong số những bộ lạc man di ít ỏi vẫn còn duy trì liên lạc với nền văn minh phương Tây, và yêu việc sờ vào và thử chúng. Chàng có được cây đàn huyền bí juruparis của người Anh-điêng vùng Rio Negro, thứ phụ nữ không được phép thấy, còn ngay đến trai tráng cũng không được nhìn cho đến khi họ chịu nhịn ăn và bị quất roi, và chiếc vại đất của xứ Peru mang tiếng hét chói tai của loài chim, và ống sáo bằng xương người như tiếng Alfonso de Ovalle từng nghe ở Chili, và những viên thạch anh xanh réo rắt được tìm thấy gần Cuzco và phát ra độc một nốt nhạc ngọt ngào. Chàng có được trái bầu sơn vẽ đựng đầy đá cuội kêu lạo xạo khi được lắc; chiếc kèn clarin dài của xứ Mexico, với nó người trình diễn không thổi, mà xuyên qua nó y hít khí vào; ống ture thô ráp của bộ lạc Amazon, mà được thổi lên từ người lính canh ngồi cả ngày trời trên cây cao, và có thể nghe được, như người ta nói, từ cách xa ba lí đường; trống teponaztli, có hai lưỡi rung bằng gỗ, và được đánh bằng dùi bôi gôm cao su lấy từ mủ của cây; dây chuông yotl của xứ Aztec, được treo thành chùm như quả nho; và một cái trống hình trụ khổng lồ, bọc bằng da những con mãng xà lớn, tựa con mà Bernal Diaz đã thấy khi anh đi cùng Cortes vào ngôi đền xứ Mexico, và âm thanh sầu thảm anh buông lại cho chúng ta như sự miêu tả rất đỗi sống động. Đặc tính kì quái của những nhạc cụ ấy mê hoặc chàng, và chàng cảm thấy thích thú lạ kì trong suy nghĩ rằng Nghệ Thuật, như Tự Nhiên, có cho riêng mình những con quái vật, những thứ mang hình dáng thú vật cùng với giọng gầm ghê tởm. Dầu vậy, sau một thời gian, chàng chán ngấy chúng, và sẽ ngồi trong buồng mình ở rạp Opera, hoặc một mình hoặc với Ngài Henry, lắng nghe trong khoái lạc vô ngần vở Tannhäuser, và xem khúc dạo đầu của nghệ phẩm vĩ đại bày ra bi kịch chính linh hồn mình.

Có đận chàng theo đuổi nghiên cứu đá quí, và trình diện tại buổi khiêu vũ hoá trang dưới hình ảnh ngài Anne xứ Joyeuse, Đô Đốc Pháp, trong bộ y phục đính năm trăm sáu mươi viên ngọc trai. Sở thích này say mê chàng trong nhiều năm, và, quả thật, có thể nói chưa bao giờ rời bỏ chàng. Chàng thường dành cả ngày xếp đi xếp lại trong các hộp đựng chúng những viên đá khác nhau mà mình sưu tầm được, như viên ki-xô-bê-rin màu xanh ô-liu lại chuyển sang đỏ dưới ánh đèn, viên xi-mô-phăng với đường kẻ bạc nom như dây thép, viên pê-ri-đô màu hồ trăn, tô-pa hồng tựa hoa và vàng tựa rượu, ca-bun đỏ lửa với những đoá sao bốn tia run rẩy, đá xi-na-mông hồng hoả, pin-nơ cam và tím, và a-mê-thi với nhiều lớp ru-bi và xa-phia xen kẽ nhau. Chàng yêu màu vàng đỏ của nhật thạch, và trắng ngọc của nguyệt thạch, và ánh cầu vồng loang loáng của ô-pan màu sữa. Chàng lùng mua được từ Amsterdam ba viên lục bảo kích cỡ lạ thường và phong phú màu sắc, và có được viên lam ngọc cổ thạch* là sự ghen tị của tất thảy những tay sành sỏi.

Chàng còn khám phá ra những câu chuyện tuyệt vời về đá quí. Trong cuốn Clericalis Disciplina của Alphonso có con mãng xà được nhắc đến mang đôi mắt bằng cam ngọc đích thực, và trong trang sử lãng mạn về Alexander, người

Chinh Phục đất Emathia được kể rằng đã tìm thấy trong thung lũng xứ Jordan những con rắn “với lục bảo đích thực mọc thành vòng trên lưng”. Có một viên ngọc trong não loài rồng, Philostratus nói cho ta vậy, và “bằng cách phô ra những mẫu tự vàng cùng áo choàng đỏ” con quái vật có thể bị rơi vào giấc ngủ ma thuật, và bị giết. Theo nhà giả kim vĩ đại, Pierre de Boniface, kim cương làm cho một người trở nên vô hình, còn mã não Ấn Độ khiến y có tài hùng biện. Đá cô-na-lin làm nguôi cơn giận, còn đá hai-xin dỗ giấc ngủ, còn a-mê-thi xua tan hơi men. Đá ga-nét trục xuất yêu ma, còn đá ha-rô-pô tước khỏi ánh trăng màu sắc của nàng. Đá xê-lê-nít đánh sáp và xanh xao cùng ánh trăng, còn đá mê-lô, phát giác được kẻ trộm, chỉ có thể phát huy tác dụng khi dùng máu trẻ con. Leonardus Camillus từng thấy một viên đá trắng lấy từ não một con cóc mới giết, làm một phương thuốc giải độc nhất định. Đá bê-dô, được tìm thấy trong quả tim loài hươu Ả-rập, là thứ bùa có thể chữa dịch hạch. Trong tổ bầy chim Ả-rập có đá át-pi-lết, mà, theo Democritus, tránh cho người đeo khỏi mọi mối nguy từ lửa.

Nhà Vua xứ Ceilan rong ngựa khắp thành với viên hồng ngọc trên tay, trong buổi lễ đăng quang của mình. Các cổng trong cung điện của John vị Linh Mục được “làm từ ngọc xa-đi, với chiếc sừng của con rắn sừng dát lên, để không kẻ nào mang được chất độc vào bên trong”. Trên đầu hồi là “hai trái táo vàng, trong đó có hai viên ca-bun”, để vàng được sáng ban ngày, còn ca-bun thì ban đêm. Trong câu chuyện lãng mạn lạ lùng A Margarite of America của Lodge có nói rằng trong căn buồng của nữ hoàng người ta có thể diện kiến “tất thảy trinh nữ trên đời, khảm nạm bạc, nhìn qua mặt gương trong sạch bằng ki-xô-li, ca-bun, xa-phia, và ê-mê-rô xanh”. Marco Polo đã từng trông cư dân Zipangu nhét viên ngọc trai hồng vào miệng người chết. Một con hải quái từng mê đắm viên ngọc trai mà thợ lặn tiến cống lên các Vua Peroz, và đã giết tên trộm, và khóc than bảy mùa trăng cho nỗi mất mát. Khi những người Hun nhử nhà vua sa hố bẫy lớn, ngài liệng nó bay xa – Procopius kể câu chuyện – rồi nó chẳng bao giờ còn được thấy lại, mặc dù Hoàng Đế Anastasius treo giá năm trăm cân vàng miếng cho nó. Nhà Vua xứ Malabar đã phô trương cho một người Venice nào đó tràng hạt kết từ ba trăm lẻ tư viên ngọc trai, tương ứng cho mỗi vị thần ngài thờ phụng.

Lúc Công Tước xứ Valentinois, con trai Alexander VI, thăm viếng Louis XII nước Pháp, ngựa của ông chở đầy vàng lá, theo Brantome, và ở mũ ông có hai hàng hồng ngọc phơi dưới ánh sáng vĩ đại. Charles nước Anh cưỡi ngựa với bàn đạp treo bốn trăm hai mươi mốt viên kim cương. Richard II có chiếc áo khoác, trị giá ba mươi ngàn đồng mác, được phủ kín hồng ngọc ba-lát. Hall miêu tả Henry VIII, trên đường đến Tháp trước lễ đăng quang của mình, đã mặc “áo khoác ngoài đắp kín vàng, bảng thông cáo thêu với kim cương và các loại đá quí khác, và một viên ba-đơ-rích lớn quanh cổ ba-lát rộng của ngài”. Sở thích của James I là đeo bông tai bằng ngọc lục bảo có sợi vàng bện quanh. Edward II ban tặng Piers Gaveston một bộ giáp vàng đỏ cẩn ngọc gia-xin, một vòng cổ bằng hồng vàng đính đá lam ngọc, và một mũ giáp cẩn* ngọc trai. Henry II đi găng dát ngọc dài chạm tận khuỷu, và có một chiếc găng chim ưng khâu với mười hai viên hồng ngọc và năm mươi hai viên ngọc trai vĩ đại. Chiếc mũ công tước của Charles kẻ Liều Lĩnh, vị Công Tước xứ Burgundy cuối cùng của dòng dõi mình, được mắc đầy ngọc trai hình quả lê, và cẩn đầy ngọc bích.[1]

Cuộc đời đã từng thanh tú lắm thay! Sự tráng lệ và đồ trang hoàng mới bóng bảy làm sao! Ngay việc đọc về tính xa xỉ của người chết thôi cũng tuyệt vời.

Rồi chàng chuyển mối lưu tâm đến đồ thêu, và đến tấm thảm treo đảm nhiệm chức năng của tranh bích hoạ trong các căn phòng buốt giá ở những nước Bắc Âu. Khi chàng xem xét nghiên cứu đối tượng – và chàng luôn có một biệt tài lạ thường để trở nên cuốn hút tuyệt đối vào thứ mình theo đuổi những lúc ấy – chàng đã gần như sầu muộn vì hình bóng phản chiếu của suy tàn mà Thời Gian trút lên cái đẹp đẽ và tuyệt vời. Chàng, dù thế nào, cũng thoát được nó. Hạ nối hạ, và cây trường thọ vàng nở rộ rồi chết rũ nhiều lần, và những đêm kinh hoàng thuật lại câu chuyện về nỗi hổ thẹn của chúng, nhưng chàng không thay đổi. Không mùa đông nào tàn phá gương mặt chàng hay làm nhơ tuổi xuân tựa hoa của chàng. Nó khác biệt với vật chất lắm thay! Chúng trôi đến nơi nào? Đâu rồi áo choàng lớn màu nghệ tây, với nó các vị thần đã đánh lại đám khổng lồ, được làm nên từ những cô gái da nâu cho niềm vui của Athena? Đâu rồi, mái che khổng lồ mà Nero chăng dài khắp Colosseum ở thành La Mã, cánh buồm tím của Titan tượng trưng cho bầu trời sao, và chiến xa của Apollo được kéo bằng những con ngựa buộc dây cương thếp vàng? Chàng mong mỏi được thấy tấm khăn trải bàn ăn làm riêng cho vị Linh Mục Mặt Trời, trên nó bày biện tất thảy món ăn và thực phẩm được hằng mong cho một yến tiệc; tấm vải liệm Vua Chilperic, với ba trăm con ong bằng vàng; những tấm áo choàng kì quái đã kích động nỗi căm phẫn của Giám Mục xứ Pontus, và được in hình “sư tử, báo đen, gấu, chó, rừng rậm, đá, thợ săn – tất thảy, thật vậy, thứ một hoạ sĩ có thể sao chép được từ thiên nhiên”; và áo khoác mà Charles xứ Orleans từng mặc, trên ống tay thêu lời bài ca bắt đầu bằng “Phu nhân hỡi, ta hạnh phúc thay*”, phần nhạc đệm cho ca từ được làm từ vàng sợi, và mỗi nốt, hình vuông những ngày ấy, tạo thành từ bốn viên ngọc trai. Chàng đọc về căn phòng được sửa soạn tại cung điện Rheims dành cho Nữ Hoàng Joan xứ Burgundy, và được trang hoàng bằng “một ngàn ba trăm hai mươi mốt con vẹt, thêu mà thành, tô điểm bằng huy hiệu tựa quyền uy của nhà vua, và năm trăm sáu mươi mốt con bướm, đôi cánh trang trí tựa quyền uy nữ hoàng, toàn bộ đều làm bằng vàng”. Catherine nhà Medicis có chiếc giường tang của mình với bột nhung đen cùng trăng lưỡi liềm và mặt trời. Màn giường bằng gấm đa-mát, với vòng hoa và vòng tang rậm lá, in trên nền vàng với bạc, và viền quanh mép là vải thêu ngọc trai, và được đặt trong căn phòng treo hàng đề từ của nữ hoàng bằng nhung đen cắt thêu trên vải bạc. Louis XIV có các trụ tượng nữ thêu vàng cao mười lăm bộ trong phòng ở của mình. Chiếc giường ngai của Sobieski, Vua nước Ba Lan, được làm với thổ cẩm xanh ngọc thêu vàng Smyrna cùng những câu kinh Koran. Trụ mái giường được thếp bạc, chạm trổ đẹp đẽ, lại còn vô vàn bộ huy chương tráng bóng và dát ngọc. Nó được lấy từ trại Thổ trước Vienna, và ngọn cờ của Mohammed đã dựng dưới tấm màn trướng rung rinh thếp bạc của nó.

Vậy là, trong một năm ròng, chàng săn lùng gom góp các mẫu vật thanh tú nhất của công trình dệt thêu mà mình tìm được, kiếm được tấm mu-xơ-lin Delhi, khéo léo tạo ra từ những chân vịt vàng sợi, và đan nên từ đôi cánh bọ óng ánh; khăn sa Dacca, vì độ trong suốt của mình mà được biết đến ở phương Đông như nào “khí dệt”, nào “nước trôi”, nào “sương đêm”; những vải in lạ lùng từ Java; mành treo vàng công phu Trung Hoa; những quyển sách bọc xa- tanh hung vàng hoặc lụa lam mịn, và thêu huệ cách điệu*, chim muông, cùng hình ảnh; mạng ren* làm bằng mũi kim Hungary; thổ cẩm Sicily, và nhung cứng Tây Ban Nha; tác phẩm xứ Georgia có những đồng xu mạ vàng, và Foukousa Nhật Bản với những miếng vàng ánh xanh cùng những con chim mang bộ lông tuyệt diệu của mình.

Chàng còn có đam mê đặc biệt với tế phục giáo hội, mà thực tế chàng có liên hệ mật thiết đến việc tế lễ của Nhà Thờ. Trong những chiếc rương tuyết tùng dài xếp thành hàng trong phòng trưng bày hướng tây, ngôi nhà chàng đã cất kín nhiều mẫu vật hiếm có và đẹp đẽ lấy từ thứ được cho là xiêm y đích thực của Hôn Thê Ki-tô, người phải bận vải lanh tím mịn màng đính ngọc để sao cho nàng giấu đi cơ thể ốm yếu nhợt nhạt đã héo mòn vì gánh chịu nỗi đau khổ mình truy cầu, và đã tổn thương vì cơn đau tự hành xác. Chàng sở hữu một chiếc áo lễ cốp bằng lụa đỏ thắm và đa-mát vàng sợi, in hoa văn điệp điệp những thạch lựu vàng đặt trong đoá hoa sáu cánh sang trọng, hai bên sườn là hoạ tiết trái thơm tạo nên từ những hạt ngọc trai li ti. Dải viền thêu được phân làm nhiều ô đại diện cho từng cảnh trong cuộc đời người Đồng Trinh, và buổi đăng quang của người Đồng Trinh được in lên lụa màu trên mũ trùm. Đây là tác phẩm của Ý hồi thế kỉ mười lăm. Chiếc áo lễ cốp khác bằng nhung xanh, thêu chùm lá ô rô dáng tim, từ đó mọc ra bông hoa trắng cuống dài, các chi tiết đều được chọn làm bằng chỉ bạc và pha lê màu. Cây ghim cài ngực mang hình đầu thiên thần chế tác từ vàng sợi. Dải viền thêu kẻ ca-rô trên lụa đỏ và vàng, được chấm sao đầy những huy chương của bao nhiêu vị thánh và người tử đạo, trong đó có Thánh Sebastian. Chàng cũng có cả áo lễ xa-duy bằng lụa màu hổ phách, với lụa lam cùng thổ cẩm vàng, với lụa đa-mát vàng cùng vải bằng vàng, in tượng trưng cảnh Đam Mê và Đóng Đinh Ki-tô, và thêu hình sư tử cùng khổng tước cùng các biểu trưng khác; áo lễ ma-đa bằng xa-tanh trắng và lụa đa- mát hồng, trang trí hoa uất kim hương cùng cá heo cùng huệ cách điệu*; bàn thờ mặt trước tấm nhung đỏ thắm và vải lanh lam; và nhiều khăn thánh, mạng phủ rượu lễ, và khăn lễ xu-đa-ri. Trong phòng chứa huyền bí những vật như thế đã được cất, có gì đó nhen lên trong trí tưởng của chàng.

Những của báu này, và mọi thứ chàng sưu tầm trong ngôi nhà đáng yêu của mình, đối với chàng cốt để tìm quên, cách thức cho chàng được trốn chạy, trong một mùa, khỏi nỗi kinh hãi mà dường như trong chàng lúc ấy hồ như quá nặng nề để gánh chịu. Trên bức tường của căn phòng khoá cô độc nơi chàng có rất nhiều năm tháng tuổi thơ, chàng đã treo bằng chính tay mình bức chân dung khủng khiếp có khả năng thay đổi để tỏ cho chàng thấy sự suy đồi thật sự của đời mình, và trước nó bị phủ lên miếng vải liệm tím vàng tựa như màn che. Nhiều tuần rồi chàng đã không vào đấy, đã quên đi vật gớm guốc được vẽ, và có lại trái tim tươi sáng, niềm vui tuyệt vời, sức cuốn hút nhiệt thành vào sự hiện tồn đơn thuần của mình. Rồi, đột nhiên, đêm nọ chàng lẻn ra khỏi nhà, đi xuống chốn đáng sợ gần Bãi Cổng Lam, và ở lại đó, ngày qua ngày, đến khi chàng bị xua đi. Trong chuyến quay về chàng ngồi trước bức hoạ, đôi khi ghê tởm nó và đích thân mình, dâng đầy, những lúc đó, lòng kiêu hãnh của chủ nghĩa cá nhân thứ góp phân nửa vào vẻ mê hoặc của tội lỗi, và mỉm cười, với khoái lạc thầm kín, vào cái bóng đen méo mó đã đỡ lấy gánh nặng mà đáng lẽ chàng phải chịu.

Sau một vài năm, chàng chẳng thể chịu đựng được nước Anh thêm nữa, và bỏ lại căn biệt thự mình đã chia sẻ với Ngài Henry ở Trouville, cũng như ngôi nhà nhỏ tường trong sơn trắng ở Algiers nơi họ từng hơn một lần đến sống vào mùa đông. Chàng ghét phải tách khỏi bức hoạ đã như một phần đời mình, và ngoài ra cũng sợ trong thời gian mình vắng mặt ai đó biết đâu lại đột nhập được vào phòng, bất chấp những then khoá kĩ lưỡng chàng đặt trên cánh cửa.

Chàng hoàn toàn ý thức được rằng chuyện này chẳng nói lên điều gì. Sự thật rằng bức chân dung vẫn được bảo quản, dưới tất thảy tính dơ bẩn và xấu xa của gương mặt, nó vẫn còn nét hao hao giống chàng, nhưng người đời có thể biết gì từ chuyện đó? Chàng sẽ cười vào mặt kẻ nào chế nhạo mình. Chàng không vẽ nó. Vẻ đê tiện và tủi nhục của nó đến mức nào thì cũng có sao với chàng? Ngay cả khi chàng nói cho họ, liệu họ có tin không?

Dầu vậy chàng vẫn sợ. Thỉnh thoảng những lúc chàng xuống ngôi nhà lớn ở Nottinghamshire, tiêu khiển với những chàng trai thời thượng cùng tầng lớp cũng là những đồng bạn thiết thân, và làm sửng sốt khắp hạt bằng lối xa xỉ phóng túng và vẻ lộng lẫy tuyệt trần trong cách sống của mình, chàng đột nhiên bỏ khách khứa đấy và lao về thành phố để được thấy cánh cửa chưa bị xâm phạm, và bức hoạ vẫn còn đấy. Sẽ ra sao nếu nó bị đánh cắp? Chỉ nghĩ thôi cũng khiến chàng lạnh người vì kinh hãi. Chắc hẳn sau đó thế gian sẽ biết bí mật chàng. Biết đâu thế gian đã hoài nghi rồi.

Trong khi, chàng mê hoặc được nhiều người, cũng có không ít kẻ nghi kị chàng. Chàng đã gần như bị phủ quyết

ở hội quán West End nơi mà với xuất thân cùng địa vị xã hội của mình, chàng hoàn toàn được phép trở thành hội viên, và người ta nói có dịp, khi chàng đưa bạn mình vào phòng hút của Churchill, Công Tước xứ Berwick và một quí tộc khác ra mặt đứng dậy bỏ đi. Các câu chuyện hiếu kì về chàng trở nên thịnh hành sau khi chàng bước sang năm thứ hai mươi lăm cuộc đời. Có đồn đoán rằng chàng bị trông thấy lúc gây gổ với cánh thuỷ thủ ngoại quốc trong ổ chuột hạ cấp ở những vùng xa xôi khu Whitechapel, và rằng chàng cùng hội với quân trộm cắp và làm bạc giả và biết các ngón nghề của chúng. Những chuyến vắng mặt lạ thường của chàng trở nên khét tiếng, và, khi chàng xuất hiện trở lại trong giới thượng lưu, người đời xì xào với nhau trong góc, hay bước ngang chàng với cái cười khẩy, hay nhìn chàng với đôi mắt dò xét lạnh lùng, như thể họ quyết tâm tìm ra bí mật chàng.

Trước những sự thoá mạ và coi khinh như vậy chàng, hẳn nhiên, không bận tâm đến, và theo nhận định từ hầu hết mọi người thì phong thái hoà nhã ngay thẳng, nụ cười trẻ thơ quyến rũ, và vẻ duyên dáng vô cùng của chàng nơi tuổi trẻ tuyệt vời dường như chưa khi nào rời bỏ ấy, đã là câu trả lời thoả đáng với họ cho những lời vu oan giá hoạ, như họ gọi thế, được đơm đặt quanh chàng. Đáng lưu tâm là, tuy thế, vài người từng nhất mực thân thiết với chàng hình như, sau một thời gian, dần lảng tránh chàng. Những phụ nữ từng cuồng si chàng, đã vì chàng mà bất chấp tất cả chỉ trích xã hội và bất tuân lệ thường, cũng chuyển sang tái mặt vì hổ thẹn cùng kinh hãi khi Dorian Gray bước vào phòng.

Dầu vậy, những vụ tai tiếng rì rầm này chỉ khuếch lên trong mắt người đời, và trong vẻ quyến rũ lạ lùng lẫn nguy hiểm của chàng. Tài sản lớn lao của chàng là một yếu tố nhất định của sự bảo mật. Xã hội, ít nhất là xã hội văn minh, không bao giờ sẵn sàng tin bất kì chuyện gì phương hại đến những người có cả giàu sang và quyến rũ. Cảm nhận theo bản năng thì đối đãi quan trọng hơn đạo đức, và, trong nhận định của nó, sự đáng kính cao nhất có giá trị kém xa sự sở hữu một đầu bếp* cừ. Và, suy cho cùng, sẽ là câu an ủi đáng thương hại nếu nói rằng một kẻ bày ra bữa tối dở, hoặc rượu vang tồi, lại không đáng chê trách trong cuộc sống riêng tư. Ngay đến đức hạnh của hồng y cũng không chuộc được lỗi cho một bàn lễ* nguội lạnh, như Ngài Henry từng lưu tâm, trong cuộc thảo luận về chủ đề này; và có lẽ là ý hay khi nói về quan điểm gã. Các phép tắc trong một xã hội tốt đẹp phải, hoặc nên, giống với các phép tắc trong nghệ thuật. Hình thức là tuyệt đối cần thiết. Nó phải có phẩm chất của một nghi lễ, như là tính không thật, và nên phối hợp tính thiếu chân thành của kịch lãng mạn với sự thông tuệ và vẻ đẹp đã viết nên những vở kịch làm say mê chúng ta. Sự thiếu chân thành là một điều khủng khiếp ư? Tôi nghĩ là không. Đó đơn thuần là phương pháp để ta tăng lên gấp bội số nhân cách của mình.

Đây, sao chăng nữa, là nhận định của Dorian Gray. Chàng từng ngạc nhiên với môn tâm lí học nông cạn quan niệm Bản Ngã trong con người như một thứ đơn giản, vĩnh cửu, đáng tin, và đơn chất. Với chàng, con người là một thực thể với hàng vạn cuộc đời và hàng vạn cảm giác, một sinh vật phức hợp mang trong mình di sản lạ lùng của suy tư và đam mê, còn từng thớ thịt bị ươn mùi căn bệnh quái đản mang tên cái chết. Chàng yêu việc tản bộ khắp phòng tranh lạnh lẽo thê lương trong ngôi nhà gia truyền của mình và nhìn ngắm các bức chân dung khác nhau của những người mang cùng huyết thống. Đây là Philip Herbert, miêu tả bởi Francis Osborne, trong Kí ức về các Triều Đại của Nữ Hoàng Elizabeth và Vua James của chàng, đó là người “được Triều Đình ve vuốt vì gương mặt điển trai của mình, thứ khiến ông chẳng được trọng dụng lâu”. Phải chăng cuộc đời của Herbert thời trẻ chàng đã đôi lần sống? Phải chăng con trùng độc kì lạ nào đó trườn từ người nọ đến người kia cho đến khi bắt được chàng? Phải chăng một tri giác mờ nhạt nào đó về vẻ duyên dáng bị tàn phá đã khiến chàng rất đột ngột, và gần như không nguyên do, buông lời, trong phòng hoạ của Basil Hallward, cho nguyện ước rồ dại đã thay đổi triệt để cuộc đời mình? Đây, trong áo chẽn đỏ thêu vàng, áo ngoài đính ngọc, và cổ xếp nếp cùng băng tay viền vàng, đứng đó là Đức Anthony Sherard, với bộ giáp bạc đen chống cọc dưới chân mình. Di sản của người đàn ông này là gì? Phải chăng tình nhân của Giovanna xứ Naples truyền lại cho chàng đồ thừa kế nào đó về tội lỗi và hổ thẹn? Phải chăng hành động của chàng đơn thuần là giấc mơ mà những người thiên cổ không dám thực hành? Đây, từ tấm vải bạt bạc màu, mỉm cười kìa Phu Nhân Elizabeth Devereux, trong chiếc mũ trùm sa, yếm ngọc trai, và tay áo cắt tua hồng của bà. Một đoá hoa trong bàn tay phải, còn tay trái bà nắm chặt chiếc vòng cổ tráng bóng màu trắng với những bông hồng đa-mát. Trên chiếc bàn cạnh bà đặt một cây măng cầm và một quả táo. Có các nơ hồng xanh lớn trên đôi giày nhọn nhỏ của bà. Chàng biết cuộc đời bà, và những câu chuyện kể về các tình nhân của bà. Phải chăng có khí chất nào đó ở bà trong chàng? Đôi mắt trái xoan có hàng mi dày dường như tò mò nhìn chàng. Điều gì ở George Willoughby, với bộ tóc giả rắc phấn và nốt ruồi giả kì quái của ông? Trông ông mới nanh ác lắm thay! Gương mặt u ám và ngăm đen, còn đôi môi dâm dật dường như cong lên khinh bỉ. Cổ tay xếp nếp vắt trên đôi tay gầy vàng vọt chất nặng những nhẫn. Ông từng là một tay theo mốt đại lục ở thế kỉ mười tám, và bạn bè, thời trẻ, của Ngài Ferrars. Điều gì ở người thứ hai dòng dõi Ngài Beckenham, đồng bạn với Hoàng Tử Regent trong những ngày hoang sơ nhất của ngài, và một trong những nhân chứng tại lễ kết hôn bí mật với Bà Fitzherbert? Trông ông mới kiêu hãnh và điển trai làm sao, với món tóc xoăn cùng thế đứng khinh mạn! Đam mê nào ông đã truyền thừa? Nhân thế nhìn ông trong ô danh. Ông đã dẫn đầu cuộc truy hoan tại Nhà Carlton. Ngôi Sao Garter lấp lánh trên ngực ông. Cạnh ông treo bức chân dung người vợ, một phụ nữ tái nhợt, mỏng môi trong bộ đồ đen. Dòng máu bà cũng khuấy trộn trong chàng. Thảy dường như thật hiếu kì! Và mẹ chàng với gương mặt Phu Nhân Hamilton, cùng đôi môi ướt như quệt rượu của bà – chàng biết mình đã nhận

điều gì từ bà. Chàng đã nhận từ bà sắc đẹp, niềm đam mê sắc đẹp ở mọi sự khác. Bà cười cợt chàng trong bộ váy cô đồng Bacchante luộm thuộm của mình. Có lá nho trên tóc bà. Sắc tím đỏ trào khỏi chiếc cốc bà cầm. Sắc hồng phấn đã úa trên bức tranh, nhưng đôi mắt vẫn tuyệt vời trong chiều sâu và độ sáng ở màu sắc chúng. Chúng như dõi theo mọi nơi chàng đến.

Một kẻ có tổ tiên trong văn học, cũng như trong giống nòi, có thể gần hơn là trong mẫu người và khí chất, nhiều trong số họ, và chắc chắn cùng với sức ảnh hưởng khiến kẻ đó nhận thức thêm rõ ràng. Đã có những lần khi dường như với Dorian Gray, toàn bộ lịch sử chỉ là bản lưu chép cuộc đời của mình, không như chàng sống trong từng hành động và sự kiện, mà như trong tưởng tượng tạo ra cho mình, như nó đã trong bộ não và đam mê chàng. Chàng cảm nhận mình đã biết tất thảy chúng, những nhân vật lạ lùng kinh hoàng lướt qua sân khấu thế gian và khiến tội lỗi thật tuyệt diệu cùng cái ác đầy tinh tế. Dường như với chàng, bằng cách thức huyền bí nào đó, cuộc đời họ chính là của chàng.

Tay nam chính trong tiểu thuyết tuyệt vời đã ảnh hưởng sâu đến cuộc đời chàng, bản thân hắn cũng biết đến tưởng tượng hiếu kì này. Trong chương bảy hắn có nói rằng, đầu đội nguyệt quế, để tránh bị sét đánh, hắn đã ngồi, như Tiberius, trong khu vườn ở Capri, đọc cuốn sách đáng hổ thẹn của Elephantis, trong lúc những chú lùn và bầy công đi khệnh khạng quanh mình còn người thổi sáo chế nhạo cái lư hương đứng thăng bằng; và, như Caligula, đã chè chén với những gã đua ngựa áo xanh trong tàu ngựa của họ, rồi ăn tối trong cái máng ngà cùng con ngựa trán đeo ngọc; và, như Domitian, đã lang thang dọc hành lang lát gương cẩm thạch, nhìn quanh bằng đôi mắt bơ phờ bóng chiếu của con dao găm đã kết liễu đời mình, và phát bệnh vì chán đời*, tædium vitæ kinh khủng, bắt nguồn từ cuộc đời chẳng thiếu thứ gì; và đã nhòm qua viên lục bảo trong suốt tại lò mổ đỏ nọc của Đại Hí Trường, và rồi, trong cái kiệu đầy ngọc trai với đá tím kéo bằng những con lừa móng bạc, được chở suốt từ Phố Lựu đến Nhà Vàng, và đã nghe người dân gào khóc lúc Nero Cæsar ngang qua; và, như Elagabalus, đã sơn màu lên mặt mình, rồi miệt mài kéo sợi cùng đám đàn bà, rồi mang Mặt Trăng từ Carthage về, rồi đẩy nàng vào cuộc hôn nhân huyền bí với Mặt Trời.

Dorian đọc đi đọc lại chương kì quái này, và hai chương liền sau, trong đó, như tấm thảm treo kì lạ hay đồ tráng bóng tinh xảo nào, đã hoạ lên những hình hài kinh khủng và đẹp đẽ được Truỵ Lạc và Máu và Mỏi Mệt tạo ra trong quái đản hoặc rồ dại: Filippo, Công Tước xứ Milan, đã giết vợ mình, và tô lên môi ả chất độc đỏ thắm để gã tình nhân mút lấy cái chết từ xác chết mà y mơn trớn; Pietro Barbi, người Venice, còn biết đến như Paul Thứ Hai, đã hợm hĩnh tìm mong đoạt lấy danh hiệu Formosus, và chiếc miện, trị giá hai trăm ngàn đồng lo-rin, được mua với cái giá của tội lỗi khủng khiếp; Gian Maria Visconti, sử dụng chó để săn thịt người sống, và cái xác bị sát hại của ông được phủ đầy hoa hồng từ một cô điếm đã phải lòng yêu; người nhà Borgia trên con ngựa trắng của mình, với Fratricide rong ngựa bên cạnh, còn áo choàng nhuốm máu Perotto; Pietro Riario, vị Hồng Y Tổng Giám Mục trẻ tuổi xứ Florence, đứa con và tay sai của Sixtus IV, vẻ đẹp ngang bằng với tính trác táng của mình, và đón nhận Leonora xứ Aragon trong túp lều bằng vải trắng và lụa đỏ, đầy những tiểu nữ thần và nhân mã, cùng một cậu bé vàng mà có thể chạy bàn tiệc như Ganymede hay Hylas; Ezzelin, mang nỗi sầu chỉ chữa lành bằng cảnh chết chóc, và mang đam mê với máu đỏ, như người ta mang với rượu vang đỏ – đứa con trai của Quỉ Dữ, như được thông tri, và kẻ bằng quân xúc xắc lừa bịp cha mình trong ván bạc đặt cược linh hồn; Giambattista Cibo, định cái danh Ngây Thơ một cách nhạo báng, và trong tĩnh mạch ngủ lịm là máu ba chàng trai đã truyền cho nhờ một bác sĩ người Do Thái; Sigismondo Malatesta, tình nhân của Isotta, và lãnh chúa xứ Rimini, người có hình nộm bị thiêu tại thành La Mã như kẻ thù của Chúa Trời và loài người, người

đã siết cổ Polyssena bằng khăn ăn, và đầu độc Ginevra xứ Este trong chiếc cốc bằng ngọc lục bảo, và để tôn vinh niềm đam mê đáng hổ thẹn đã cho xây một nhà thờ tà giáo để thờ phượng Ki-tô. Charles VI, đã cuồng si vợ của anh mình và được một người bị phong cùi cảnh báo về cơn điên sắp ập đến, và, khi bộ não ông phát bệnh và trở nên quái gở, chỉ có thể xoa dịu bằng những tấm thiệp Saracen vẽ hình Tình Yêu cùng Cái Chết cùng Cơn Điên; và, trong bộ áo chẽn da bó sát cùng mũ giáp đính ngọc cùng món tóc xoăn như cây ô rô của mình, Grifonetto Baglioni, đã giết Astorre với nàng hôn thê, và Simonetto với chú tiểu đồng, và cũng duyên dáng như vậy, khi chàng nằm chết trong quảng trường vàng ở Perugia, những kẻ ghét chàng chẳng biết làm gì ngoài khóc thương, và Atalanta, người từng nguyền rủa chàng, đã cầu phúc chàng.

Có một sức mê hoặc khủng khiếp trong tất thảy chúng. Chàng nhìn chúng ban đêm, còn chúng quấy rầy trí tưởng chàng ban ngày. Thời Phục Hưng biết nhiều kiểu đầu độc – đầu độc bằng mũ bảo hộ và đuốc cháy, bằng găng thêu và quạt ngọc, bằng cầu thơm thếp vàng và tràng hạt hổ phách. Dorian Gray đã bị đầu độc bằng cuốn sách. Nhiều lúc chàng nhìn cái ác đơn sơ như một phương pháp cho chàng nhìn ra khái niệm của mình về vẻ đẹp.

❀ ❀ ❀

[1] Có đận chàng theo đuổi nghiên cứu đá quí […] và cẩn đầy ngọc bích: Tên tiếng Anh của những loại đá quí trong bốn đoạn trên, lần lượt theo thứ tự xuất hiện: Ki-xô-bê-rin (chrysoberyl), xi-mô-phăng (cymophane), pê-ri-đô (peridot), tô-pa (topaz), ca- bun (carbuncle), xi-na-mông (cinnamon), pin-nơ (spinel), a-mê- thi (amethyst), ru-bi (ruby ), xa-phia (sapphire), ô-pan (opal), cô-na-lin (cornelian), hai-xin (hyacinth ), ga-nét (garnet ), ha-rô- pô (hydropicus ), xê-lê-nít (selenite ), mê-lô (meloceus), bê-dô (bezoar), át-pi-lết (aspilate), xa-đi (sardius), ki-xô-li (chrysolite), ê-mê-rô (emerault), ba-lát (balas ), ba-đơ-rích (bauderike), gia- xin (jacinth).

Dịch giả Nguyễn Tuấn Linh và Book Hunter
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.