Bức Họa Dorian Gray

Lượt đọc: 118 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG IX

❊ ❊ ❊

Lúc chàng đang ngồi dùng điểm tâm sáng hôm sau, Basil Hallward được dẫn vào trong phòng.

“Anh rất mừng vì đã tìm được em, Dorian ạ,” anh nghiêm trang nói. “Anh có ghé đến đêm qua, và người ta nói em đang ở rạp Opera. Tất nhiên anh biết chuyện đó là không thể. Nhưng anh mong em để lại vài lời nơi em đã thật sự đến. Anh đã trải qua buổi tối kinh khủng, lòng thấp thỏm sợ bi kịch này kéo theo bi kịch kia. Anh nghĩ có thể em đã gửi điện báo cho mình khi lần đầu hay tin. Anh đọc tin hoàn toàn tình cờ trong ấn bản muộn tờ Hoàn Cầu, mà anh nhặt lấy ở hội quán. Anh đã đến đây ngay, và đã khổ sở vì không thấy em. Anh không nói em hay được mình đau lòng nhường nào về toàn bộ sự việc. Anh biết em phải chịu đựng những gì. Nhưng em đã đi đâu? Có phải em xuống gặp mẹ cô gái? Trong một thoáng anh đã nghĩ sẽ theo chân em đến đó. Họ đưa địa chỉ lên báo. Đâu đó trong Đường Euston, phải chứ? Nhưng anh sợ phải nhúng tay vào nỗi buồn mà mình không thể xoa dịu. Người đàn bà khốn khổ! Bà lâm cảnh ngặt nghèo quá! Và đứa con độc nhất của bà nữa chứ! Bà ấy nói gì về tất thảy chuyện này?”

“Basil thân mến, sao mà em biết được?” Dorian Gray lẩm bẩm, nhấp vài ngụm rượu phớt vàng trên lớp bọt vàng tinh tế trong chiếc li xứ Venice, và vẻ mặt chán chường kinh khủng. “Em đã ở rạp Opera. Anh đáng lẽ nên đến đấy. Em gặp Phu Nhân Gwendolen, chị gái anh Harry, lần đầu tiên. Chúng em ngồi trong buồng chị ấy. Chị ta quyến rũ tuyệt trần; còn Patti hát như thần thánh. Đừng nói nữa những chủ đề gớm guốc. Nếu chuyện gì ta không nói về, chuyện đó chưa từng xảy ra. Đó là biểu hiện đơn giản, như Harry nói, mang lại thực tế cho mọi chuyện. Em có thể nhắc rằng bà ấy không chỉ có một người con duy nhất. Còn một người con trai, một cậu chàng xinh trai, em tin vậy. Nhưng cậu ta không sống đời sân khấu. Cậu ta là thuỷ thủ, hoặc gì đó. Và giờ, kể cho em về anh và tranh anh đang vẽ đi.”

“Em đã đến rạp Opera?” Hallward nói, lời buông rất chậm, với giọng nói căng ra trong nỗi đau. “Em đã đến rạp Opera khi Sibyl Vane nằm chết trong căn trọ hèn mọn đâu đây? Em nói được với anh về những phụ nữ quyến rũ khác, và về Patti hát như thần thánh, trước cô gái em từng yêu ngủ sâu trong ngôi mộ thậm chí câm tiếng? Tại sao, trời ơi, những thứ kinh hoàng dành sẵn chờ đợi cơ thể nhỏ nhoi trắng bệch của cô bé!”

“Thôi, Basil! Em không nghe đâu!” Dorian kêu lên, đứng bật dậy. “Anh không được nói với em những thứ đó. Chuyện đã qua là đã qua. Chuyện quá khứ là quá khứ.”

“Em gọi hôm qua là quá khứ ư?”

“Khoảng cách thời gian thực tế có gì can hệ? Chỉ những kẻ nông cạn mới cần hàng năm trời để thoát khỏi một cảm xúc. Một người làm chủ nhân ông chính mình có thể kết liễu một nỗi buồn dễ dàng như cách y tạo ra một khoái lạc. Em không muốn nhân từ với cảm xúc của mình. Em muốn sử dụng chúng, thưởng thức chúng, và thống trị chúng.”

“Dorian, khủng khiếp quá! Thứ gì đó đã thay đổi em hoàn toàn. Em trông vẫn y hệt như cậu bé tuyệt vời, ngày lại ngày, từng xuống phòng hoạ của anh ngồi mẫu cho bức hoạ của mình. Nhưng em đã từng đơn sơ, tự nhiên, và tình cảm. Em từng là tạo vật bất hoại trong khắp thế gian này. Giờ thì anh không biết thứ gì đã ập vào em. Em nói chuyện như kẻ không trái tim, không lòng thương trong mình. Tất cả là ảnh hưởng của Harry. Anh biết.”

Chàng trai mặt đỏ rần, rồi, bước đến cửa sổ, nhìn ra trong giây lát mảnh vườn xanh rờn, lấp lánh, chìm trong nắng. “Em mang lòng ơn lớn với Harry, Basil ạ,” rốt cuộc chàng nói – “nhiều hơn lòng ơn với anh. Anh chỉ dạy em điều sáo rỗng.”

“Chà, anh đã bị trừng phạt vì điều ấy, Dorian ạ – hoặc sẽ bị một ngày kia.”

“Em không hiểu ý anh, Basil,” chàng than, quay mặt lại. “Em không biết anh muốn gì. Anh muốn gì?”

“Anh muốn chàng Dorian Gray mình từng vẽ,” người hoạ sĩ buồn rầu nói.

“Basil ạ,” chàng trai nói, lại bên anh, rồi đặt tay lên vai anh, “anh đã đến quá trễ. Hôm qua khi em hay tin Sibyl Vane tự vẫn –”

“Tự vẫn ư! Trời đất ơi! Hẳn là vậy đấy ư?” Hallward kêu lên, ngước nhìn chàng với biểu cảm kinh hãi.

“Basil thân mến! Chắc chắn anh không nghĩ đấy là một tai nạn thông thường chứ? Hẳn nhiên là nàng tự vẫn.”

Người đàn ông lớn tuổi hơn vùi mặt mình vào đôi tay. “Thật đáng sợ,” anh lẩm bẩm, kèm một cơn lạnh sống lưng chạy dọc qua.

“Không,” Dorian Gray nói, “chẳng có gì đáng sợ trong chuyện này. Nó là một trong những bi kịch lãng mạn vĩ đại của thời đại. Như qui luật, người diễn kịch sống cuộc đời tầm thường nhất. Họ là những ông chồng tử tế, các bà vợ đoan trinh, hay những dạng người tẻ nhạt khác. Anh hiểu ý em đấy – đức hạnh của tầng lớp trung lưu, và thảy những thứ tương tự. Sibyl mới khác biệt lắm thay! Nàng sống trong bi kịch đẹp nhất của mình. Nàng mãi là nữ chính. Đêm cuối cùng nàng diễn – cái đêm anh xem nàng

– nàng diễn tồi bởi nàng đã biết thực tế tình yêu. Khi nàng biết tính không thực của nó, nàng chết, như Juliet có lẽ đã chết. Nàng lại một lần nữa trở lại địa hạt nghệ thuật. Có gì đó của thánh tử đạo trong nàng. Cái chết của nàng mang tất thảy tính vô dụng thống thiết của sự tử đạo, tất thảy vẻ đẹp bị hoài phí của nó. Nhưng, như em đang nói, anh không được nghĩ em đã không đau khổ gì. Nếu anh đến đây hôm qua vào chính cái thời khắc ấy – độ năm rưỡi, có lẽ, hoặc sáu giờ kém một khắc – sẽ tìm thấy em trong nước mắt. Ngay cả Harry, người đã ở đấy, người báo tin cho em, thực tế, cũng không biết được em đã trải qua những gì. Em đau đớn tột cùng. Rồi nó qua đi. Em không lặp lại một cảm xúc được. Không ai làm được, ngoại trừ người của chủ nghĩa đa cảm. Và anh phi lí khủng khiếp, Basil ạ. Anh xuống đây để an ủi em. Đó là thú vui của anh. Anh thấy em đã nguôi ngoai, và anh nổi giận. Anh cảm thông như thế đấy! Anh làm em nhớ đến câu chuyện anh Harry từng kể với em về một gã lạc quyên nào đó bỏ hai mươi năm cuộc đời để cố gắng bồi thường cho mối bất bình nào đấy, hay thay đổi bộ luật bất công nào đấy – em quên mất chính xác chuyện thế nào. Cuối cùng hắn thành công, và chẳng gì thảm hơn cơn vỡ mộng của hắn. Hắn tuyệt đối chẳng còn gì để làm, gần như chết mòn vì chán đời*, và trở thành một gã thù người bất biến. Vả lại, anh bạn già Basil, nếu anh thật sự muốn an ủi em, đáng ra phải chỉ cho em cách quên chuyện đã rồi, hoặc nhìn nó dưới quan điểm nghệ thuật phù hợp. Há chẳng phải Gautier từng viết về niềm an ủi nghệ thuật*? Em nhớ đã lấy lên một cuốn sách nhỏ bìa da bê trong phòng hoạ của anh ngày ấy và tình cờ bắt được cụm từ thú vị đó. Chà, em không còn giống chàng trai anh nói chuyện cùng khi ta cùng xuống Marlow với nhau, chàng trai từng nói rằng xa- tanh vàng có thể an ủi một lần cho tất thảy thống khổ cuộc đời. Em yêu cái đẹp mà ta có thể động chạm và cầm nắm. Thổ cẩm xưa, đồng xanh, đồ sơn mài, tượng ngà, những vật thanh tú quanh ta, sang trọng, hoa lệ, có nhiều điều để nhận từ tất thảy chúng. Nhưng khí chất nghệ thuật mà chúng tác tạo, hay biểu lộ thế nào đi nữa, vẫn còn nhiều nữa cho em.

Trở thành khán giả của chính đời mình, như Harry nói, là để trốn khỏi đau khổ cuộc đời. Em biết anh ngạc nhiên về cách em nói với anh thế này. Anh chưa nhận ra em đã mở mang đến thế nào. Em là một cậu học trò hồi anh biết em. Giờ em là một người đàn ông. Em có đam mê mới, suy nghĩ mới, lí tưởng mới. Em đổi khác, nhưng anh đừng bớt thích em. Em thay đổi, nhưng anh mãi là bạn em. Dĩ nhiên em rất thích anh Harry. Nhưng em biết rằng anh tử tế hơn anh ấy. Anh không mạnh mẽ hơn – anh quá sợ cuộc đời – nhưng anh tử tế hơn. Và chúng ta đã từng hạnh phúc bên nhau ra sao! Đừng bỏ em, Basil, và đừng cãi lẫy với em. Em là em thôi. Chẳng còn gì khác để nói.”

Người hoạ sĩ nghe lòng chấn động kì lạ. Chàng trai vô ngần yêu dấu với anh, và nhân cách chàng làm bước ngoặt vĩ đại trong nghệ thuật anh. Anh không chịu được ý định quở trách chàng thêm nữa. Suy cho cùng, tính lãnh đạm của chàng có thể chỉ là một tâm trạng rồi sẽ qua đi. Có rất nhiều điều tử tế trong chàng, rất nhiều điều cao thượng trong chàng.

“Chà, Dorian,” anh nói, sau hồi lâu, kèm nụ cười buồn, “anh sẽ không nói với em về chuyện khủng khiếp này nữa, sau hôm nay. Anh chỉ mong tên em không dính dáng đến nó. Cuộc điều tra sẽ mở chiều nay. Họ có triệu tập em không?”

Dorian lắc đầu, và một ánh nhìn khó chịu lướt ngang mặt chàng lúc nhắc đến từ “điều tra”. Có thứ gì sỗ sàng và dung tục trong mọi sự dạng đó. “Họ không biết tên em,” chàng trả lời.

“Nhưng chắc chắn cô ấy biết chứ?”

“Chỉ tên thánh của em thôi, và em cầm chắc nàng chưa bao giờ nhắc đến tai ai. Nàng từng nói với em rằng mọi người thảy đều khá tò mò muốn biết em là ai, và nàng một mực nói với họ tên em là Hoàng Tử Quyến Rũ. Đó là điểm đáng yêu ở nàng. Anh phải cho em một bức vẽ Sibyl nhé,

Basil. Em thích được có thêm gì đó về nàng ngoài hồi ức của dăm nụ hôn và vài lời thống thiết rạn vỡ.”

“Anh sẽ gắng làm gì đó, Dorian ạ, nếu đẹp lòng em. Nhưng chính em phải đến ngồi mẫu cho anh lần nữa. Anh không tiếp tục được nếu vắng em.”

“Em không bao giờ có thể ngồi mẫu cho anh được nữa, Basil. Không thể nào!” Chàng la lên, giật lùi lại.

Người hoạ sĩ chằm chằm nhìn chàng. “Cậu bé thân mến, thật bậy quá!” anh kêu lên. “Ý em nói mình không thích thứ anh làm cho em chăng? Nó đâu rồi? Sao em lại kéo bình phong chắn trước nó thế kia? Để anh xem nào. Nó là thứ đẹp nhất anh từng làm. Bỏ bình phong ra đi, Dorian. Đơn giản là không thể chấp nhận được đầy tớ nhà em khi giấu tác phẩm anh đi như thế. Anh cảm thấy căn phòng khang khác từ lúc mới vào.”

“Đầy tớ của em chẳng động gì đến nó hết, Basil. Anh đừng tưởng em để anh ta bài trí phòng cho mình. Anh ta cắm hoa giúp em đôi khi – vậy thôi. Không; em tự làm đấy. Ánh sáng quá mạnh với bức chân dung.”

“Quá mạnh ư! Hẳn là không, em thân mến? Đó là vị trí đáng mơ ước cho nó đấy. Để anh xem thử.” Và Hallward bước về phía góc phòng.

Một tiếng thét kinh hãi vỡ ra từ đôi môi Dorian Gray, và chàng lao vào giữa người hoạ sĩ và tấm bình phong. “Basil,” chàng nói, trông rất tím tái, “anh không được nhìn nó. Em không mong anh thấy.”

“Không được nhìn tác phẩm của chính mình! Em bỡn anh rồi. Tại sao anh lại không nên nhìn chứ?” Hallward la toáng, cười phá lên.

“Nếu anh cố nhìn nó, Basil, xin thề danh dự em sẽ không

đời nào nói chuyện với anh nữa một khi em còn sống. Em hoàn toàn nghiêm túc. Em không đưa ra lời giải thích nào, và anh cũng đừng hỏi câu gì. Nhưng, nhớ lấy, nếu anh chạm vào tấm bình phong, mọi thứ giữa chúng ta chấm hết.”

Hallward như bị sét đánh. Anh nhìn Dorian Gray trong kinh ngạc tột độ. Anh chưa từng thấy chàng như vậy trước đây. Chàng trai thực sự tím mặt vì thịnh nộ. Đôi bàn tay chàng nắm chặt, và đôi đồng tử trong mắt chàng như cặp đĩa lửa cháy xanh. Chàng run rẩy khắp mình.

“Dorian!” “Đừng nói!”

“Nhưng có gì nghiêm trọng thế? Tất nhiên anh sẽ không nhìn nó nếu em không muốn,” anh nói, khá nguội lạnh, quay gót, và đi về phía cửa sổ. “Nhưng, thật tình, có vẻ hơi phi lí khi anh không nên nhìn tác phẩm của chính mình, đặc biệt khi anh sắp trưng bày nó ở Ba Lê mùa thu này. Anh có lẽ sẽ quét cho nó lớp sơn dầu nữa trước khi gửi, vậy nên anh phải thấy nó ngày nào đó, và tại sao không phải hôm nay?”

“Trưng bày nó! Anh muốn trưng bày nó?” Dorian Gray la lên, một cảm giác kinh hoàng kì lạ bò lên chàng. Thế giới sắp được thấy bí mật của chàng ư? Liệu mọi người có há hốc trước bí ẩn đời chàng? Không thể nào. Phải làm gì đó – chàng chưa biết – ngay lập tức.

“Phải; anh không cho là em sẽ phản đối. Phòng Georges Petit sắp sưu tầm tất thảy tranh đẹp nhất của anh cho buổi triển lãm ở Phố Séze, sẽ mở tuần đầu tiên vào tháng Mười. Bức chân dung sẽ chỉ đi xa trong một tháng. Anh nghĩ em có thể dễ dàng rời nó trong khoảng thời gian đó chứ. Thực tế, cầm chắc em vắng mặt khỏi thành phố. Và nếu em lúc nào cũng để nó lấp sau bình phong, em không thể năng tu bổ cho nó được.”

Dorian Gray quệt tay lên trán. Có lắm giọt mồ hôi ở đó. Chàng cảm thấy mình đang ở miệng vực một mối nguy khủng khiếp. “Mới tháng trước anh nói với em rằng sẽ không bao giờ trưng bày nó,” chàng kêu lên. “Cớ sao anh lại đổi ý? Giới các anh ai cũng nhất mực nổi lắm hứng bất tử như ai. Khác biệt duy nhất là ngẫu hứng của anh khá vô nghĩa. Anh không được quên mình đã quả quyết với em một cách long trọng nhất rằng không gì trên đời xui được anh gửi nó đến bất kì triển lãm nào. Anh cũng nói với anh Harry chính xác điều tương tự.” Chàng bất thần ngừng lời, và một tia sáng loé lên trong mắt chàng. Chàng nhớ ra Ngài Henry từng một lần nói với chàng, nửa thật nửa đùa, “Nếu cậu muốn được một khắc li kì, cứ đòi Basil nói cậu hay tại sao cậu ta mãi không trưng bày bức hoạ của cậu. Cậu ta đã nói tôi hay lí do tại sao, và nó như một mặc khải cho tôi.” Vâng, có lẽ Basil, cũng, có bí mật của mình. Chàng sẽ hỏi anh và thử đánh liều.

“Basil ạ,” chàng nói, tiến đến rất sát, và nhìn thẳng vào mặt anh, “mỗi chúng ta đều có một bí mật. Hãy cho em biết về anh, và em sẽ nói cho anh về em. Lí do gì khiến anh từ chối trưng bày bức hoạ em?”

Người hoạ sĩ không cưỡng được cơn rùng mình. “Dorian, nếu anh nói em hay, có lẽ em bớt thích anh đi, và chắc chắn em sẽ cười cợt anh. Anh không chịu nổi cả hai việc ấy. Nếu em muốn anh đừng bao giờ nhìn lại bức hoạ của em, anh cam lòng. Anh lúc nào cũng có em để nhìn. Nếu em muốn tác phẩm đẹp nhất anh từng vẽ bị giấu đi khỏi thế giới, anh cam chịu. Tình bạn của em quí giá với anh hơn bất kì tiếng tăm hay danh vọng nào.”

“Không, Basil ạ, anh phải nói em hay,” Dorian Gray nằng nặc. “Em nghĩ mình có quyền biết.” Cảm giác kinh hoàng của chàng đã trôi xa, và tính hiếu kì thế chỗ. Chàng quyết tìm ra bằng được bí ẩn của Basil Hallward.

“Ta hãy ngồi xuống đã, Dorian,” người hoạ sĩ nói, trông bất an. “Ta hãy ngồi xuống đã. Và hãy chỉ trả lời anh một câu hỏi. Có phải em đã nhận thấy trong bức hoạ điều gì lạ kì – điều gì có thể ban đầu không dội vào em, mà biểu lộ chính mình trước em một cách đột ngột?”

“Basil!” chàng trai kêu lớn, nắm chặt thành ghế bằng đôi bàn tay run rẩy, và nhìn anh chằm chằm bằng đôi mắt thảng thốt hoang dại.

“Anh thấy là em đã. Đừng nói gì cả. Chờ đến khi em nghe hết những lời anh phải nói. Dorian ạ, từ khoảnh khắc anh gặp em, nhân cách của em mang ảnh hưởng lạ thường nhất lên anh. Anh được thống trị, cả linh hồn, bộ não, và sức mạnh dưới tay em. Trong anh em trở thành hoá thân hữu hình của ý tưởng vô hình mà kí ức ám ảnh giới nghệ sĩ bọn anh như một giấc mơ mãnh liệt. Anh đã tôn thờ em. Anh nổi lòng ghen tuông với mỗi người em nói chuyện. Anh muốn sở hữu toàn bộ em cho riêng mình. Anh chỉ hạnh phúc lúc được ở bên em. Khi rời xa, em vẫn hiện diện trong nghệ thuật anh… Tất nhiên anh chưa bao giờ để em biết bất kì điều gì về chuyện này. Đó sẽ là bất khả. Em sẽ không thể nào hiểu được. Chính anh cũng khó lòng hiểu được. Anh chỉ biết rằng mình đã mặt chạm mặt sự hoàn hảo, và rằng thế gian trở nên tuyệt vời trong mắt anh – rất tuyệt vời, có lẽ, trong nỗi cuồng mộ như vậy có hiểm nguy, mối nguy đánh mất chúng, không nhẹ hơn mối nguy nắm giữ chúng… Tuần lại tuần cứ trôi, và anh càng lúc càng được em hấp dẫn. Rồi đi đến một bước tiến mới. Anh đã vẽ em như chàng Paris trong bộ giáp thanh nhã, và như chàng Adonis với áo choàng săn cùng ngọn giáo săn heo sáng choang. Đội miện bằng vòng hoa sen dày em đã ngồi trên mũi con thuyền chiến vùng Adria, nhìn chằm chằm dòng sông Nile xanh đục. Em đã nghiêng mình bên vũng nước lặng trong miền rừng Hi Lạp đâu đây, và nhìn trong mặt nước bạc tĩnh lặng vẻ tuyệt trần gương mặt mình. Và nó mang tất thảy những gì nghệ thuật nên mang, vô thức, ý tưởng, và xa xăm. Ngày nọ, ngày chết chóc mà đôi khi anh tự nhủ, anh quyết định vẽ cho em một bức chân dung tuyệt vời như chính em thực sự thế, không trong trang phục của những thời đại chết, mà trong chính trang phục em và thời đại em. Dù là Chủ Nghĩa Hiện Thực trong phương pháp, hay đơn thuần niềm kinh ngạc về nhân cách chính em, đã trực tiếp hiện hữu trước anh chẳng sương mù hay mạng che, anh không nói được. Nhưng anh biết rằng khi mình vẽ nó, dường như đối với anh từng lớp và mảng màu bộc lộ bí mật mình. Anh nổi lòng hãi sợ người khác sẽ biết lòng sùng thượng của mình. Anh cảm nhận, Dorian, rằng mình đã nói quá nhiều, rằng mình đã đặt quá nhiều bản thân mình trong đó. Thế rồi anh quyết tâm không bao giờ cho phép bức hoạ được trưng bày. Em đã có đôi chút phiền lòng, nhưng rồi em không nhận ra tất thảy ý nghĩa của nó trong anh. Harry, người được anh nói cho hay, đã cười anh. Nhưng anh không để bụng. Khi bức hoạ hoàn thành, và anh ngồi một mình cùng nó, anh cảm nhận mình đã đúng… Chà, sau một vài ngày vật đó rời khỏi phòng hoạ, và ngay khi thoát khỏi vẻ mê hoặc quá sức chịu đựng từ sự hiện diện của nó, dường như với anh rằng mình đã khờ dại khi tưởng tượng nên chuyện nhìn thấy bất kì điều gì trong nó, ngoài điều rằng em vô cùng ưa nhìn và rằng anh đã vẽ ra được. Ngay bây giờ anh không thể ngăn mình cảm thấy đó là một ngộ nhận khi nghĩ rằng đam mê một người cảm nhận được trong quá trình sáng tạo lại thực sự phơi bày lên tác phẩm y tạo ra. Nghệ thuật luôn luôn trừu tượng hơn ta mường tượng. Hình thức và màu sắc kể ta hay về hình thức và màu sắc – thảy có vậy. Trong anh thường cảm tưởng rằng nghệ thuật ẩn giấu nghệ sĩ nhiều hơn muôn vàn lần từng bộc lộ y. Và thế nên khi anh nhận được đề nghị này từ Ba Lê anh quyết định cho bức chân dung em làm điểm chính yếu trong triển lãm anh. Chưa từng có ý nghĩ ập đến anh rằng em sẽ cự tuyệt. Giờ đây anh thấy em đã đúng. Bức hoạ không thể được phơi ra. Em không được nổi giận với anh, Dorian, vì những điều anh vừa nói em hay. Như, đã có lần, anh từng nói với Harry, em được tác tạo cho anh tôn thờ.”

Dorian Gray hít một hơi sâu. Màu sắc về lại đôi má chàng, và một nụ cười đùa chơi đôi môi chàng. Mối nguy đã qua. Chàng an toàn lúc này. Dầu thế chàng không ngăn được cảm giác thương hại vô bờ cho người hoạ sĩ vừa buông lời xưng thú kì lạ trước chàng, và lòng tự hỏi liệu chính chàng có bao giờ bị thống trị bởi nhân cách của bạn bè không. Ngài Henry mang nét quyến rũ của sự nguy hiểm khôn lường. Nhưng thảy là vậy. Gã quá khôn ngoan và quá hoài nghi để thật lòng yêu mến. Liệu có bao giờ có được người nào dâng trào trong chàng một lòng sùng thượng kì lạ? Liệu điều như thế cuộc sống có dành sẵn đợi chàng không?

“Thật lạ thường với anh, Dorian,” Hallward nói, “rằng em đã thấy điều này trong bức chân dung. Có thật em đã thấy không?”

“Em thấy gì đó ở nó,” chàng trả lời, “thứ dường như với em rất hiếu kì.”

“Chà, em không phiền nếu bây giờ anh ghé mắt vào nó chứ?”

Dorian lắc đầu. “Anh không được yêu cầu em điều ấy, Basil ạ. Em không thể nào để anh đứng trước bức hoạ đó.”

“Mai kia sẽ được, hẳn thế?” “Không bao giờ.”

“Chà, có lẽ em đúng. Giờ thôi tạm biệt, Dorian. Em vẫn là người duy nhất trong đời đã thực sự ảnh hưởng lên nghệ thuật anh. Với bất kì thứ tốt đẹp gì anh đã tạo, anh đều nợ em. A! Em không biết cái giá anh phải trả để nói em hay tất thảy điều mình vừa nói đâu.”

“Basil thân mến,” Dorian nói, “điều anh vừa nói em hay ư? Đơn thuần là anh cảm thấy ngưỡng mộ em rất nhiều. Đó thậm chí chẳng là một lời khen.”

“Đó vốn không phải là lời khen. Đó là lời xưng thú. Giờ

đây anh đã buông ra, điều gì dường như vừa đi khỏi lòng anh. Có lẽ người đời không bao giờ nên đặt tính tôn thờ vào lời nói.”

“Đó là lời xưng thú rất đáng thất vọng.”

“Tại sao thế, em trông đợi gì sao, Dorian? Em đã không thấy bất kì gì khác trong bức hoạ, phải chứ? Có gì khác ở đó để thấy không?”

“Không; chẳng có gì khác ở đó để thấy. Sao anh lại hỏi thế? Nhưng anh đừng nên nói về tôn thờ. Thật là ngốc nghếch. Anh với em là bạn bè, Basil ạ, và chúng ta sẽ mãi luôn là vậy.”

“Em đã có Harry rồi,” người hoạ sĩ buồn bã nói.

“Ôi, Harry!” chàng trai kêu lên, kèm tràng cười nghe róc rách. “Harry suốt ngày kể những chuyện không tưởng, và suốt đêm làm những việc không thể. Tuy là kiểu sống em thích theo đuổi. Nhưng em vẫn không nghĩ mình sẽ tìm đến Harry nếu gặp phiền muộn. Em sẽ ưa tìm đến anh hơn, Basil ạ.”

“Em sẽ lại ngồi mẫu cho anh chứ?” “Không thể được!”

“Em huỷ hoại đời nghệ sĩ của anh bằng lời cự tuyệt, Dorian. Không ai bắt gặp hai lí tưởng cuộc đời. Vài người mới bắt gặp một.”

“Em không giải thích với anh được, Basil, nhưng em không bao giờ ngồi mẫu cho anh nữa đâu. Có điều gì chết chóc ở bức chân dung. Nó có cuộc sống của riêng mình. Em sẽ đến và dùng trà cùng anh. Chuyện đó hẳn cũng dễ chịu.”

“Dễ chịu hơn với em, anh e thế,” Hallward nuối tiếc lẩm bẩm. “Giờ thôi tạm biệt. Anh rất tiếc khi em không cho anh nhìn lại bức hoạ dù chỉ một lần. Nhưng không hề gì. Anh rất hiểu em cảm thấy gì trong nó.”

Khi anh rời phòng, Dorian Gray mỉm cười một mình. Basil đáng thương! Ít lắm thay hỡi lí do thật sự mà anh biết! Và lạ lùng sao, thay vì bị buộc phải tiết lộ bí mật chính mình, chàng đã thành công, gần như run rủi, trong việc moi ra bí mật bạn mình! Càng lạ lùng sao lời xưng thú đã bộc bạch trước chàng! Tính phi lí của người hoạ sĩ khớp với lòng ghen tuông, lòng sùng bái nhiệt thành, bài tán tụng quá đà, nết kín miệng hiếu kì của anh – giờ đây chàng hiểu tất thảy chúng, và chàng thấy buồn thương. Cảm tưởng với chàng có gì đó bi thảm trong một tình bạn được nhuốm quá đậm màu lãng mạn.

Chàng thở dài, rồi chạm chuông. Bức chân dung phải được giấu biệt bằng mọi giá. Chàng không thể mạo hiểm với mối nguy bị phát giác một lần nữa. Thật rồ dại với chàng khi cho phép vật đó vẫn, dù chỉ trong một giờ, ở trong căn phòng mà bất cứ người bạn nào cũng được quyền vào.

Dịch giả Nguyễn Tuấn Linh và Book Hunter
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.