Khi người đầy tớ bước vào, chàng nhìn anh ta không rời mắt, và tự hỏi liệu anh ta có ý nghĩ nhòm ngó ra sau tấm bình phong không. Người đàn ông hoàn toàn vô cảm, và đứng đợi lệnh. Dorian châm điếu thuốc, rồi bước tới bên cửa kính và liếc vào. Chàng có thể thấy bóng phản chiếu gương mặt Victor rõ mồn một. Nó là chiếc mặt nạ điềm tĩnh của phận ở đợ. Chẳng có gì đáng lo ngại, ở đó. Dầu vậy chàng nghĩ tốt nhất vẫn nên đề phòng.
Nói rất chậm, chàng bảo anh ta nhắn với bà quản gia rằng mình muốn gặp bà, và rồi đến chỗ người làm khung mà yêu cầu ông ta cử hai người qua đây ngay lập tức. Chàng cảm tưởng như lúc người đàn ông rời phòng đôi mắt anh ta lượn lờ về hướng tấm bình phong. Hay đó chỉ là huyễn tưởng của chàng?
Chỉ lát sau, trong bộ đầm lụa đen của mình, cùng đôi găng ren hở ngón kiểu cũ trên bàn tay nhăn nheo, Bà Leaf lăng xăng vào thư phòng. Chàng hỏi bà chìa khoá căn phòng học.
“Căn phòng học cũ ư, Cậu Dorian?” bà la lên. “Cớ làm sao, nó đầy bụi bặm. Tôi phải chỉnh đốn nó, và xếp đặt đâu ra đấy trước khi cậu vào đã. Nó không thích hợp cho cậu xem đâu, thưa cậu. Không hề, quả thế.”
“Tôi không muốn nó phải đâu ra đấy, bà Leaf. Tôi chỉ muốn chiếc chìa.”
“Chà, thưa cậu, cậu sẽ mắc đầy mạng nhện nếu vào đó.
Cớ làm sao, nó đã không mở gần năm năm nay, từ khi ông lớn qua đời.”
Chàng nhăn nhó lúc nhắc đến ông ngoại mình. Chàng có nhiều kí ức hằn học về lão. “Chuyện đó quan trọng gì,” chàng trả lời. “Tôi chỉ muốn xem chỗ đó – thế thôi. Đưa cho tôi chìa khoá.”
“Thế thì chìa đây, thưa cậu,” bà phu nhân già nói, rà soát chùm chìa khoá bằng đôi bàn tay run run nắm hờ. “Chìa đây cậu. Tôi sẽ gỡ nó khỏi chùm chốc lát. Nhưng cậu chớ nghĩ đến việc sống trên đó, thưa cậu, và cậu vẫn rất thoải mái ở đây chứ?”
“Vâng, vâng,” chàng kêu lên, vẻ giận lẫy. “Cảm ơn bà nhé, bà Leaf. Vậy tốt rồi.”
Bà già nán lại đôi phút, và ba hoa về chuyện lặt vặt nào đó trong căn hộ. Chàng thở dài, và bảo bà cứ quản lí các thứ theo cách tốt nhất mà bà nghĩ. Bà rời phòng, mỉm cười rất đỗi vui vẻ.
Đoạn cửa đóng lại, Dorian đút chìa vào túi, và nhìn quanh phòng. Mắt chàng đáp xuống tấm khăn trải giường rộng bằng xa-tanh tím nặng nề vì thêu vàng, một mẩu lộng lẫy từ tác phẩm xứ Venice cuối thế kỉ mười bảy mà ông ngoại chàng đã tìm được trong tu viện gần Bologna. Vâng, nó sẽ được dùng để phủ lên vật đáng sợ ấy. Nó có lẽ đã từng thường được dùng làm vải liệm quan tài cho người chết. Giờ nó dùng để giấu giếm thứ thối rữa vì chính mình, tồi tệ hơn cả thối rữa vì cái chết – thứ sẽ dung dưỡng nỗi kinh hoàng và lại không bao giờ chết. Điều mà loài giòi bọ làm với thây ma, những tội lỗi chàng sẽ làm tương tự với tấm hình vẽ trên nền vải bạt. Chúng sẽ huỷ hoại sắc đẹp nó, và đục khoét vẻ duyên dáng nó. Chúng sẽ bôi nhơ nó, và khiến nó nhục nhã. Và dầu vậy vật đó vẫn cứ sống mãi. Nó sẽ sống đời đời.
Chàng rùng mình, và trong một thoáng chàng hối tiếc vì đã không nói với Basil lí do thật tại sao chàng mong muốn giấu nhẹm bức hoạ. Basil hẳn sẽ giúp được chàng chống lại ảnh hưởng của Ngài Henry, và cả những ảnh hưởng độc hại từ trong khí chất chàng. Tình yêu anh có với chàng – vì đó là tình yêu đích thực – chẳng chứa gì trong đó ngoài cao thượng và trí tuệ. Đó không đơn thuần là lòng ngưỡng mộ sắc đẹp thể xác được sinh ra từ cảm giác, và chết đi khi cảm giác cùn mòn. Đó là thứ tình yêu như chính Michael Angelo hằng biết, và Montaigne, và Winckelmann, và Shakespeare. Vâng, Basil hẳn cứu được chàng. Nhưng giờ đã quá muộn. Quá khứ luôn luôn bị triệt tiêu. Hối tiếc, cự tuyệt, hay quên lãng làm được điều đó. Nhưng tương lai là không tránh khỏi. Những đam mê trong chàng sẽ tự tìm cho chúng lối thoát kinh khiếp, những giấc mơ sẽ tự chúng đổ bóng đen ma quỉ có thật.
Chàng lấy khỏi chiếc ghế nằm tấm vải dệt tím vàng đang phủ nó, rồi, cầm trong tay, đi ra sau bình phong. Liệu gương mặt trên nền vải có đê tiện hơn trước? Dường như với chàng nó không thay đổi; dầu cho lòng ghê tởm của chàng đến nó tăng thêm. Mái tóc vàng, đôi mắt xanh, và đôi môi đỏ hoa hồng—thảy chúng vẫn đấy. Chỉ có nét biểu cảm đã biến đổi. Rất khủng khiếp trong vẻ tai ác của nó. Đối chiếu giữa sự chỉ trích và mắng mỏ chàng nhìn ra từ nó, lời quở trách của Basil về chuyện Sibyl Vane mới hời hợt làm sao! – Hời hợt lắm, và ít so đo lắm thay! Linh hồn chính chàng đang nhìn chàng từ nền vải và gọi chàng lên nghe phán xét. Một ánh nhìn đau đớn lướt ngang chàng, rồi chàng quăng miếng vải liệm đắt tiền trùm lên bức hoạ. Đoạn chàng làm vậy, một tiếng gõ nổi lên ngoài cửa. Chàng bước ra lúc người đầy tớ đi vào.
“Người đã đến, thưa Me-xừ.”
Chàng cảm thấy người đàn ông này cần được sa thải ngay lập tức. Anh ta không được phép biết nơi bức hoạ
được mang đi. Có gì đó tẩm ngẩm ở anh ta, và anh ta mang đôi mắt thâm trầm, phản trắc. Ngồi xuống bàn viết, chàng ngoáy tờ biên ngắn cho Ngài Henry, hỏi mong gã gửi lại thứ gì đó để đọc, và nhắc gã rằng họ có cuộc hẹn lúc tám giờ mười lăm tối đó.
“Đứng chờ thư phúc đáp,” chàng nói, trao nó cho anh ta, “và dẫn mấy người vào đây.”
Đôi ba phút sau có thêm tiếng gõ cửa, và đích thân Ông Hubbard, người làm khung lừng danh ở Phố Nam Audley, bước vào cùng một phụ tá trẻ nom hơi thô kệch. Ông Hubbard có tạng người nhỏ thó, ria đỏ, da hồng hào, mang lòng ngưỡng mộ nghệ thuật bị sụt giảm nghiêm trọng vì cảnh túng thiếu kinh niên của phần đa giới nghệ sĩ từng mua bán với mình. Theo qui tắc, ông không bao giờ rời cửa hiệu. Ông chờ người đời đến với ông. Nhưng ông luôn luôn đặt ngoại lệ chiếu cố Dorian Gray. Có gì đó ở Dorian quyến rũ tất cả mọi người. Nhìn chàng thôi cũng là một niềm vui.
“Tôi có thể giúp gì cậu, hả Cậu Gray?” ông nói, xoa xoa đôi bàn tay chuối mắn đầy tàn nhang. “Tôi nghĩ mình lấy làm hân hạnh được tự thân đến đây. Tôi mới có một tấm khung đẹp, xin thưa. Đang được bày bán. Kiểu Florence cổ. Xuất xứ Fonthill, tôi tin vậy. Ăn rơ tuyệt hảo với chủ đề tôn giáo, Cậu Gray ạ.”
“Tôi rất xin lỗi đã để ông phải cảm phiền quá bộ sang đây, Ông Hubbard. Chắc chắn tôi sẽ ghé đến và nhìn ngắm tấm khung – mặc dù lúc này tôi không ưa nghệ thuật tôn giáo cho lắm – nhưng hôm nay tôi chỉ muốn khiêng giúp một bức hoạ lên đỉnh ngôi nhà thôi. Vì nó cũng nặng, nên tôi nghĩ mình sẽ hỏi mượn ông một đôi người.”
“Không phiền hà gì cả, Cậu Gray ạ. Tôi rất vui lòng phục vụ cậu bất kì việc gì. Nghệ phẩm nào đây, xin thưa?”
“Bức này,” Dorian đáp, đẩy tấm bình phong ra. “Ông khiêng nó được chứ, vải phủ và tất tật, như nguyên trạng? Tôi không muốn nó bị xước xát lúc lên lầu.”
“Sẽ chẳng gợn chút khó khăn, xin thưa,” người làm khung tốt tính nói, khởi sự, cùng sự trợ giúp của cậu phụ tá, để tháo móc bức hoạ khỏi chuỗi xích đồng thau dài đang treo lơ lửng. “Và, giờ, chúng ta sẽ khiêng nó đi đâu, hả Cậu Gray?”
“Tôi sẽ dẫn đường, Ông Hubbard, nếu hai người vui lòng theo sau. Hay chăng tốt hơn là các ông ra bên ngoài. Tôi e chỗ đó ở trên đỉnh ngôi nhà. Chúng ta sẽ đi lên bằng cầu thang ngoài, vì nó rộng hơn.”
Chàng giữ cửa mở cho họ, rồi họ băng ra đại sảnh và bắt đầu đi lên. Thiết kế công phu của khung bao khiến bức hoạ vô cùng cồng kềnh, và thi thoảng, bất chấp lời phản đối khiêm nhường của Ông Hubbard, người sở hữu tinh thần đích thực của một thương gia không ưa phải thấy một quí tộc làm việc gì đó hữu dụng, Dorian đặt tay lên nó để giúp họ.
“Quả thật nặng đáng để khiêng đấy, xin thưa,” người đàn ông nhỏ thó hổn hển, lúc họ đã lên tầng thượng. Rồi ông lau cái trán bóng nhẫy của mình.
“Tôi sợ nó còn nặng nữa,” Dorian lẩm bẩm, khi chàng mở khoá cánh cửa vào căn phòng sẽ giữ cho chàng bí mật lạ kì đời mình và giấu linh hồn chàng khỏi con mắt người đời.
Chàng đã không bước vào nơi này hơn bốn năm nay – không hề, quả vậy, kể từ lúc ban đầu chàng dùng nó như phòng chơi hồi còn bé thơ, cho đến như phòng học lúc mình lớn thêm đôi chút. Nó là căn phòng rộng, đối xứng, đặc biệt được xây bởi người cuối cùng trong họ nhà Ngài Kelso nhằm cho đứa cháu nhỏ ở, vì vẻ giống tạc kì lạ mẹ nó, với vài lí do khác nữa, lão lúc nào cũng ghét bỏ và chỉ muốn né cho xa. Nó xuất hiện trước Dorian với rất ít thay đổi. Đây là
cái rương* Ý cỡ đại, với các mặt sơn vẽ đẹp lạ cùng những đường gờ thếp vàng xỉn màu của nó, trong nó chàng vẫn thường vào hú tim. Kia là tủ sách gỗ sơn tiêu lèn đầy những tập sách giáo khoa đã quăn mép của chàng. Trên bức tường sau lưng nó treo tấm thảm xứ Flanders cũng đã sờn nát nơi có vị vua và hoàng hậu bạc màu đang đánh cờ, trong khi một tốp lính săn chim ưng đi ngựa qua, đặt những con chim đầu-mũ đậu trên bao tay đi cùng. Từng thứ chàng vẫn nhớ rõ lắm thay! Từng khoảnh khắc của tuổi thơ cô độc ùa về trong chàng khi đảo mắt nhìn quanh. Chàng gọi về sự thuần khiết không hoen ố của thời thơ ấu, và dường như quá kinh khủng với chàng rằng ở nơi đây bức chân dung chết chóc bị giấu nhẹm. Chàng đã từng vô lo đến thế, trong những ngày đã chết ấy, về tất thảy những điều dành sẵn đợi mình!
Nhưng chẳng có nơi nào khác trong ngôi nhà được an toàn khỏi những cặp mắt tọc mạch như thế. Chàng cầm chìa khoá, và chẳng ai khác vào được. Bên dưới tấm vải liệm tím, gương mặt được vẽ trên nền vải bạt cứ việc cục súc, nhầy nhụa, và bẩn tưởi thêm. Có còn gì quan trọng? Không ai thấy nó. Chính chàng sẽ không nhìn nó nữa. Tại sao chàng phải nhìn sự thối rữa tởm lợm của linh hồn mình? Chàng cầm giữ tuổi trẻ – thế là đủ. Với, vả lại, biết đâu bản chất chàng sẽ tốt lên, rốt cuộc? Chẳng có lí do gì cho thấy tương lai hẳn chất đầy hổ thẹn. Tình yêu nào đó có thể lướt ngang đời chàng, và thanh tẩy chàng, và che chở chàng khỏi những tội lỗi dường như đang khuấy động trong tinh thần và xác thịt lúc này – những tội lỗi ẩn mình kì lạ mà đích thân sự bí ẩn cho chúng mượn vẻ tinh vi và quyến rũ của mình. Có lẽ, một ngày kia, ánh nhìn tai ác sẽ trôi xa khỏi cái miệng đỏ nhạy cảm, và chàng có thể trưng ra trước nhân thế kiệt tác của Basil Hallward.
Không; đó là việc bất khả. Giờ lại giờ, tuần lại tuần, thứ trên nền vải đang già đi. Nó có thể thoát khỏi vẻ gớm guốc từ tội lỗi, nhưng vẻ gớm guốc từ thời gian vẫn dành sẵn chờ nó. Đôi má sẽ trở nên hóp và nhão. Dấu chân chim vàng vọt sẽ giẫm quanh đôi mắt mờ và khiến chúng kinh khiếp. Mái tóc sẽ mất đi độ sáng, cái miệng sẽ há hoặc xệ, sẽ trông xuẩn ngốc hoặc phì nộn, như miệng của những lão già. Sẽ đến cổ họng nhăn nheo, đôi tay lạnh toát, nổi gân xanh, thân hình dặt dẹo, mà chàng nhớ ở người ông đã quá nghiêm khắc với mình trong tuổi thơ. Bức tranh phải được ẩn giấu. Không còn cách nào khác.
“Mang nó vào đây, Ông Hubbard, xin vui lòng,” chàng nói, mệt mỏi, quay đầu lại. “Tôi rất xin lỗi vì giữ ông lâu quá. Tôi đang nghĩ những chuyện khác.”
“Được nghỉ thì lúc nào cũng mừng, Cậu Gray ạ,” người làm khung trả lời, ông vẫn còn thở hổn hển. “Ta đặt nó ở đâu đây, xin thưa?”
“Ồ, đâu cũng được. Đây: chỗ này nhé. Tôi không muốn treo nó. Cứ dựa vào tường thôi. Xin cảm ơn.”
“Mạn phép tôi nhìn qua nghệ phẩm một cái chứ, xin thưa?”
Dorian giật mình. “Nó sẽ không hấp dẫn ông đâu, Ông Hubbard,” chàng nói, để mắt đến người đàn ông. Chàng cảm thấy sẵn sàng nhảy bổ vào du ông ta xuống sàn nếu ông dám nhấc tấm trướng lộng lẫy đang ẩn giấu bí mật đời mình. “Giờ tôi không làm phiền hai người nữa. Tôi rất cảm kích tấm lòng ông đã quá bộ đến.”
“Chẳng vần gì, chẳng vần gì, Cậu Gray. Bao giờ cũng sẵn sàng giúp cậu bất cứ việc gì, xin thưa.” Và Ông Hubbard bước xuống lầu, theo sau là phụ tá, còn liếc lại Dorian với vẻ ngạc nhiên ngượng nghịu trên gương mặt thô kệch, kém duyên của mình. Cậu ta chưa từng thấy người nào tuyệt diệu đến thế.
Khi tiếng bước chân lịm hẳn, Dorian khoá cửa, rồi đút chìa vào túi. Giờ chàng cảm thấy an toàn. Không một ai sẽ nhìn thấy vật kinh khủng ấy. Không con mắt ai ngoài chàng sẽ được nhìn thấy nỗi hổ thẹn của mình.
Lúc vào đến thư phòng chàng thấy mới năm giờ hơn, và trà đã được bày sẵn. Trên chiếc bàn con bằng gỗ thơm sẫm màu khảm xà cừ dày cui, món quà từ Phu Nhân Radley, vợ người giám hộ chàng, một nữ bệnh nhân mẫu xinh đẹp, vừa mùa đông trước đi chơi Cairo về, nằm đó một tờ biên từ Ngài Henry, và cạnh đấy một quyển sách bọc giấy vàng, bìa đã hơi rách và mép thì ố bẩn. Một số báo từ ấn bản thứ ba tờ Công Báo Thánh James được đặt trên khay trà. Rõ ràng là Victor đã quay về. Chàng tự hỏi liệu anh ta có gặp mấy người kia ở đại sảnh lúc họ rời nhà, và có moi được từ họ những chuyện vừa xong không. Anh ta hẳn sẽ thấy thiếu bức hoạ – hẳn đã chẳng nghi ngờ gì là đã thấy thiếu nó rồi, trong lúc anh ta bày trà. Tấm bình phong chưa được kéo lại, và một khoảng trắng lù lù trên tường. Có thể một đêm nọ chắc chàng bắt gặp anh ta lén lút lên lầu và cố cậy cửa căn phòng ấy. Thật kinh khủng khi chứa một tên tai mắt trong nhà. Chàng biết nhiều người giàu có đã bị tống tiền suốt đời từ tên đầy tớ nào đó đã đọc trộm một lá thư, hoặc nghe lỏm một cuộc chuyện, hoặc nhặt được tấm thiệp có địa chỉ, hoặc tìm thấy dưới gối một bông hoa héo hay một mảnh ren nhàu. Chàng thở dài, rồi, tự rót chút trà, mở tờ biên của Ngài Henry. Nó đơn thuần viết rằng gã đã gửi lại chàng một tờ tin tối, và một cuốn sách có thể hấp dẫn chàng, và rằng gã sẽ có mặt ở hội quán lúc tám giờ mười lăm. Chàng uể oải mở tờ Thánh James, và đọc lướt nó. Một dấu chì đỏ ở trang năm lọt vào mắt chàng. Nó kéo chú ý xuống đoạn sau: –
VỤ ĐIỀU TRA CÔ ĐÀO HÁT. – Cuộc điều tra được tiến hành sáng nay tại Bell Tavern, Đường Hoxton, bởi Ông Danby, Thanh Tra Quận, về xác của Sibyl Vane, một đào hát trẻ gần đây từng diễn tại Hí Viện Hoàng Gia, Holborn. Quay trở lại phán quyết cái chết do tai nạn. Lòng cảm thông sâu sắc được bày tỏ đến mẹ của người quá cố, đã bị ảnh hưởng nặng nề trong suốt quá trình đưa lời khai, và đến Bác Sĩ Birrell, đã thực hiện khám nghiệm tử thi cho người quá cố.
Chàng cau mày, rồi, xé tờ báo làm hai, băng ngang phòng và ném mảnh giấy đi. Thảy chuyện này mới xấu xí làm sao! Và cái xấu xí hiện thực sinh ra mọi chuyện mới kinh khủng thế nào! Chàng gợn chút phiền lòng với Ngài Henry vì đã gửi tờ bản tin. Và chắc chắn là ngu xuẩn khi gã đánh dấu chì đỏ vào. Victor có thể đã đọc nó. Người đàn ông đó có đủ vốn Anh ngữ cho việc này.
Có lẽ anh ta đã đọc, và đã khởi sự nghi ngờ điều gì. Và, dầu vậy, có gì quan trọng? Dorian Gray phải làm gì với cái chết của Sibyl Vane? Chẳng có gì phải sợ hãi. Dorian Gray không giết nàng.
Mắt chàng đáp xuống quyển sách vàng mà Ngài Henry vừa gửi. Nó có gì, chàng tự hỏi. Chàng bước về phía cái bệ bát giác con con màu ngọc trai, với chàng lúc nào trông cũng như tác phẩm của đàn ong Ai Cập kì lạ nào đó bào nên nó từ bạc, rồi cầm lên tập sách, ném mình xuống ghế bành, và bắt đầu lần giở từng tờ. Sau vài phút chàng đã mê mẩn. Đó là cuốn sách lạ lùng nhất chàng từng đọc. Dường như với chàng rằng trong bộ y phục thanh tú, cùng tiếng sáo mềm mại, tội lỗi của thế gian kéo đến trong màn kịch câm trước mình. Những sự chàng mơ màng chưa tỏ bỗng đột nhiên chân thực trước chàng. Những sự chàng chưa bao giờ mơ đến dần dần được hiển lộ.
Đó là một tiểu thuyết không cốt truyện, chỉ với một nhân vật, mà, thực tế, đơn thuần là sự chiêm nghiệm tâm lí của một tay Ba Lê trẻ, người dành cả đời để nhận ra trong thế kỉ mười chín tất thảy đam mê và phương thức suy tư thuộc về mọi thế kỉ khác ngoại trừ thời của hắn, và tóm lại, theo vậy, trong hắn những tâm trạng khác nhau mà tinh thần thế giới từng lướt qua, yêu thương sự buông bỏ vì tính thuần tuý nhân tạo mà người thiếu khôn ngoan gọi là đức hạnh, cũng nhiều ngang với cuộc nổi dậy chống tự nhiên mà người khôn ngoan gọi là tội lỗi. Văn phong được viết là thứ văn phong ngọc ngà hiếu kì, sống động và mờ mịt đồng thời, đầy những từ lóng và những cổ ngữ, những diễn đạt đầy kĩ thuật và những tái diễn đầy trau chuốt, đặc trưng cho tác phẩm của một trong những nghệ sĩ tài ba nhất từ trường phái Tượng Trưng* Pháp. Trong đó có ẩn dụ quái đản như phong lan, và tinh tế trong màu sắc. Đời sống tri giác được miêu tả bằng thuật ngữ của triết học huyền bí. Người ta đôi lúc khó biết được mình đang đọc về nỗi ngây ngất tinh thần của vị thánh trung cổ nào đó hay lời xưng thú đồi bại của một tội đồ đương đại. Đó là cuốn sách độc hại. Mùi ngào ngạt hương trầm chừng như quyện lấy trang sách và quấy rầy bộ não. Chỉ bằng nhạc điệu trong từng câu, sự đơn điệu tinh tế trong âm nhạc của chúng, chứa đầy như chính nó những điệp khúc và những phần lặp công phu, sản sinh trong tâm trí chàng trai, mỗi lúc chàng chuyển từ chương này sang chương khác, một hình thức mơ tưởng, một căn bệnh mơ mộng, khiến chàng không nhận thấy ánh ngày sụp xuống và bóng tối mon men.
Vắng mây, bị xuyên thấu bằng một ngôi sao đơn lẻ, bầu trời xanh đồng chiếu tia le lói qua cửa sổ. Chàng đọc bằng ánh xanh xao của nó đến khi không đọc thêm được nữa. Rồi, sau khi người hầu phòng nhắc chàng vài lần về sự trễ giờ, chàng đứng dậy, và, bước vào căn phòng kế, đặt quyển sách lên chiếc bàn con xứ Florence vẫn luôn kê cạnh giường mình, và bắt đầu thay đồ ăn tối.
Gần đến chín giờ trước lúc chàng đặt chân vào hội quán, nơi chàng thấy Ngài Henry ngồi một mình, trong phòng chính, trông rất buồn chán.
“Em rất xin lỗi, Harry,” chàng kêu lên, “nhưng thật ra lỗi hoàn toàn ở anh. Quyển sách anh gửi mê hoặc em đến mức em quên bẵng thời gian.”
“Phải: tôi đã nghĩ cậu hẳn thích nó,” gã chủ tiệc trả lời, đứng dậy khỏi ghế.
“Em không nói mình thích nó, Harry ạ. Em nói nó mê hoặc em. Đó là khác biệt lớn.”
“A, cậu đã nhìn ra rồi đấy?” Ngài Henry lẩm bẩm. Rồi họ đi vào phòng ăn.