Tôi đã thuê một phòng trong một khách sạn nửa sang trọng thuộc khu phố Latin[1]. Không có một đường phố nào ở xung quanh, không có một thước đất vỉa hè nào là không gợi cho tôi nhớ lại những năm tháng xa xưa, nhưng đồng thời chúng cũng thật là xa vời đến thế, và chúng trở nên gần như xa cách chẳng khác gì những ngày tháng của Công xã Paris hoặc của tháng Sáu năm 1848. Mạng lưới đường phố vẫn như cũ, được đánh dấu từng quãng vẫn bằng những mốc chính như xưa, đó là đài nước Saint-Michel, là Trường đại học Sorbone, là nhà hát Odéon, là vườn Luxembourg, là đền Panthéon và thư viện cái khối hình học này, dường như tất cả đã được tháo rời ra một cách tỉ mỉ và từng bộ phận được thay thế bằng đồ mới và đồ vô giá trị. Ở cái chỗ mà tôi nhớ là có một hiệu sách thì lại là quán hàng bán quần áo may sẵn, một hiệu cà phê cũ đã nhường chỗ cho một quán điểm tâm, những cánh cửa của nó trước đây trông ra sân vườn mát mẻ thì từ nay trở đi đã được khóa kín bằng điện. Song đối với những con đường dạo chơi thì cái đó chẳng sao cả: người ta đến đây để trốn tránh cảnh sát, người ta trốn ở đây để ban cho nhau những cử chỉ vuốt ve vô ý tứ sau những nụ hôn đầu, hoặc chỉ đơn giản là người ta đến đây để đi dạo. Ngay đến cả những quán ăn tồi tàn ở vùng phụ cận Saint-Séverin, cho dù chúng vẫn nhỏ bé và tồi tàn, cúng không thoát khỏi trở thành những quán căng tin phục vụ cho khách du lịch.
Thành phố Paris vào thời chúng tôi sinh ra và lớn lên vẫn còn giống với thành phố Paris hồi đầu thế kỉ, người ta thấy ở đây có những viên cảnh sát mặc áo choàng gân cổ thổi còi, và những chiếc xe ôtô buýt bắt đầu khởi hành khi người bán vé kéo một sợi dây nhỏ trông chẳng khác gì một chiếc dây giật nước ở nhà xí. Xe điện ngầm có các toa xe màu xanh-đỏ và những chiếc ghế dài đóng bằng những thanh gỗ ghép trông gần giống như ghế ngồi tắm nắng; người lái xe, ngồi giữa chùm đèn sáng chói, hạ những cái tay gạt có quả nắm bằng sứ, trong những quãng đường hầm có ghi dòng chữ Dubo Dubon Dubonnel, ở đây có những người bấm vé ngồi dưới những vòm bằng sành trắng; và những nhân viên đưa thư đi bằng xe đạp, và những chiếc tàu kéo chạy trên sông Seine trông giống như trong một bức tranh của Marquet[2]. Những viên đá lát đường làm cho đường phố có hình vảy cá trông như những con cá sácđin; các nhà máy, hàng ngày nuốt vào rồi lại nhả ra những dòng người công nhân vô sản áo xanh, đang gồng những cái lưng rồng của chúng lên ngay giữa thành phố, làm cho nó vừa mang tính công nghiệp lại vừa mang tính nông thôn, bởi lẽ tôi tin chắc là ở đây vẫn còn nhiều cây xanh, và những đài phun nước Wallace làm cho người ta nghe thấy tiếng nước chảy rì rào trên những quảng trường nhỏ. Con sông Seine vẫn còn chưa nằm giữa những con đường xa lộ cao tốc, các vùng ngoại vi vẫn còn chưa bao gồm hai mươi quận trong một vành đai bê tông.
Có thể là cuộc sống cô đơn của tôi, cái dốc trượt của đời tôi từ nay trở đi, một cách vô vị đã dẫn tôi đi đến chỗ nhớ lại với một thái độ thỏa mãn thái quá những gì mà thời gian đã xóa sạch. Tuy nhiên, tôi cho rằng không phải sự luyến tiếc vô ích là cái đã làm cho tôi nhớ lại những sự việc này. Chúng không thể tránh khỏi đập vào mắt tôi khi tôi gặp lại chúng sau một phần tư thế kỉ vắng mặt, nhưng sở dĩ hôm nay tôi cầm bút viết ra để kể về chúng, mà chắc chắn là khi trở về với cái nắng thiêu đốt của châu Phi hàng ngày dội xuống đầu tôi thì tôi sẽ lại từ bỏ cây bút mãi mãi, đó là vì tôi cảm thấy rằng theo một cách nào đó đáng ra chúng đã phải có mặt trong cái bức thư của bạn tôi mà tôi đang cố tái lập một cách hết sức chu đáo ấy. Bởi vì chính cái phong cảnh về một thành phố Paris trong cảnh đen trắng này – cái phong cảnh mà đứng nhìn từ xa sẽ làm cho nó nhạt nhòa đi trong đám sương mù – là cái mà anh đã quen biết, anh đã được hình thành và tạo dựng bởi nó, còn nàng thì không. Và trong trường hợp này không phải bản thân phong cảnh là cái quan trọng, mà chính là câu chuyện diễn ra rung động ở bên trong những tuyến đường và bề mặt của nó, là tiếng vọng âm vang trong các hình khối của nó – là cái mà bộ mặt vật chất của một thành phố nắm giữ và diễn đạt bộ mặt tinh thần của một thời đại. Trong cái thành phố Paris của thời trẻ chúng tôi, quan niệm cho rằng có tồn tại một dân tộc là một quan niệm vẫn còn có thể đứng vững được. Những tên tuổi như tên tuổi của Pesguy hoặc của Marc Bloch, của Jacques Decour hoặc của Jean Cavailles vẫn chưa hoàn toàn bị coi là khó nghe. Và không thể nói rằng khi đó chúng tôi đã ở mức ngang tầm với những tên tuổi ấy, mà chỉ là chúng có một ý nghĩ nào đó đối với chúng tôi, rằng chúng làm thành một bộ phận xuất sắc của nền văn hóa của chúng ta. Trong khi vừa đi dạo lang thang trên các đường phố vừa lơ đãng quan sát mọi người xung quanh, và nhất là vào buổi tối, trong những lúc vô công rồi nghề, tôi vừa đi vừa ngắm nhìn như một cái máy những cái đã trở thành phong cảnh lớn vừa mang ý nghĩa phổ biến lại vừa mang ý nghĩa riêng tư, trở thành một tấm vải lớn óng ánh in hình các hình ảnh trải rộng khắp nơi và gập lại ở mỗi xó xỉnh, làm cân bằng và che giấu đi mọi thứ, trong những lúc ấy, tôi dần dần hiểu ra một cách không thể nghi ngờ được rằng tất cả những cái đó đã kết thúc, rằng đây không còn là vấn đề lịch sử, cũng không phải là vấn đề đạo đức, hoặc nói thực ra thậm chí nghiêm túc hơn cũng không phải là vấn đề chính trị: rằng những thứ đồ cũ kĩ này đánh dấu ngày tháng cho chúng ta một cách chắc chắn hơn là mái tóc hoa râm của chúng ta.
Cũng như Pe’guy, chúng ta không nên nói rằng chúng ta là những người anh hùng. Điều đó không đúng, bởi vì nỗi đam mê của chúng ta đã bị lầm lạc, rằng ý chí cao thượng của chúng ta muốn dẫn chúng ta gia nhập vào làn sóng của lịch sử đã bị hủy hoại vì những người anh hùng ngu xuẩn. Sự hi sinh quên mình và lòng can đảm theo một truyền thống đã bị đánh mất bởi sự ngu ngốc mà ta vẫn phải tôn trọng, vẫn phải nhắc đi nhắc lại một truyền thống. Sự khắc khổ cùng chia sẻ và tính nghiêm trọng ngây thơ không tha thứ được cho tất cả. Tự do nói, tự do đọc, tự do viết, tự do phán xét, tự do yêu, tự do đi lại, tự do lựa chọn, chẳng có cái gì mà một quá trình sử dụng hơi lâu dài và chín chắn của thế giới đã dạy cho chúng ta biết kính trọng lại tránh được những cơn cuồng nhiệt lạ lùng của chúng ta. Tôi không quên rằng chúng ta đã bắt đầu cuộc đời người lớn của chúng ta bằng cách lựa chọn quyền được sai lầm thay cho tất cả những quyền lợi khác. Tất nhiên chúng ta không phải là những người đầu tiên, nhưng những thần tượng đáng sợ mà những người đi trước chúng ta đã ngưỡng mộ thì, đến lượt chúng ta – khi chúng ta hiến dâng những hi sinh cho các thần tượng đó (và trước hết là sự hiến sinh trí thông minh của chúng ta) – những thần tượng ấy chỉ còn là những vị thần thoái hóa, thảm hại và bất lương mà Borges đã gợi tả trong câu chuyện nhan đề “Ragnarok”. Cái nghịch lí mở đầu của cuộc đời chúng ta, cái nghịch lí đã đánh dấu cuộc đời bằng một con dấu không thể xóa nhòa được và có thể bằng một lời nguyền không thể thoát khỏi được, chính là việc chúng ta đã đem quá nhiều đức hạnh để phục vụ cho những quan niệm quá cũ kĩ như vậy. Không bao giờ chúng ta được nói mình là những người anh hùng, chúng ta phải chế diễu những ai nói ra điều đó và làm cho họ hổ thẹn về thói ba hoa của họ, và phải chứng minh cho họ rằng thói ba hoa ấy là bằng chứng cho tính giả dối của những điều mà họ đề xuất; nhưng chúng ta cũng không nên quên rằng trong chúng ta cũng có một khát vọng mù quáng hướng tới chủ nghĩa anh hùng, hoặc là hướng tới sự thánh thiện, như người ta muốn gọi như thế: cũng không nên để người ta nói là chuyện đó không phải như vậy. Và ngược lại, cái mà chúng ta có thể khẳng định cùng với tác giả cuốn sách “Tuổi trẻ của chúng ta” – bởi vì những người xuất sắc nhất trong số chúng ta vẫn còn cảm thấy điều đó, và càng ngày lại càng cảm thấy rõ hơn (còn những kẻ xấu xa nhất, những anh hề, thì chúng ta không quan tâm) – chính là việc trong những năm đó chúng ta đã bước vào vương quốc của sự bất an không thể chữa trị được. Rằng chúng ta đã mãi mãi từ bỏ sự yên bình, đặc biệt là sự yên bình mua được ở siêu thị trong giai đoạn cuối thế kỉ này.
Tôi đã nói rằng tôi đang cố gắng tái lập lại một cách hết sức trung thành bức thư bỏ dở của bạn tôi. Thật khó mà xác định chính xác được cái thái độ chu đáo này là gì, bởi vì có lẽ một bức thư chỉ bao gồm vẻn vẹn có ba từ mở đầu như vậy thì người ta có thể diễn giải nó như thế nào cũng được. Nhưng thực tế không phải như vậy. Rằng anh đã nghĩ đến chuyện viết thư cho tôi vào hôm trước ngày chết của anh, mà tôi lại là người anh chưa hề gặp lại sau gần hai mươi nhăm năm, rằng cuối cùng anh lại từ bỏ ý định ấy, thì mỗi sự kiện đó đều có một ý nghĩa có khả năng thu hẹp các giả thiết tái lập bức thư ấy. Rõ ràng là anh đã muốn giải thích cho tôi biết những lí do hành động của anh, những lí do mà, đằng sau sự từ bỏ có thể được coi là nguyên nhân cơ bản và cuối cùng, chắc là chúng cũng phải có một mối quan hệ nào đó với tình trạng chưa được thoải mãn, với tình trạng bất an, những cái đã gắn bó chúng tôi với nhau qua bao năm tháng. Và chắc là những lí do này là cực kì phức tạp khó có thể làm sáng tỏ, cho nên ngòi bút của anh mới sững lại sau ba chữ rất tầm thường là “Bạn thân mến”, và rằng cuối cùng anh đã quyết định giữ im lặng.
Điều bí mật mà tôi phải giải quyết thuộc về một thế cờ hơi đặc biệt mà trong đó, mặc dù không biết được vị trí của một số quân cờ cơ bản, tôi vẫn phải tái lập lại bước đi chính xác của những nước cờ dẫn đến chiếu hết. Một mình ngồi suy nghĩ trong căn phòng nhỏ của khách sạn ở khu phố Latin, tôi đã dựng nên được một giải pháp như sau: người đàn bà rất trẻ này – người mà hầu như tôi chẳng biết gì chắc chắn ngoài những điều là nàng có một sắc đẹp ngọc ngà, nàng thích mặc đồ đen trắng, và rằng mặc dù rõ ràng là hai người đã có những năm tháng yêu nhau mãnh liệt, nhưng nàng luôn luôn tạo cho người ta có một ấn tượng rằng nàng chỉ ở tạm với A., người đàn bà mà cuối cùng tôi đã gọi là người mất tích – người đàn bà đó đã yêu bạn tôi xuất phát từ cùng những lí do mà sau đó đã khiến nàng bỏ anh ra đi, bất chấp nguy cơ để cho anh phải chết. Hoặc là: cái mà nàng đã phản bội và giết hại ở con người anh cũng chính là cái mà thoạt tiên nàng đã say mê. Nàng đã yêu anh như yêu một kẻ đến từ một thế giới khác, hay đúng hơn là một kẻ đến từ thời đại khác, ở đó có một điều, một sức mạnh lớn lao mà về nó nàng chỉ có một khái niệm rất mơ hồ mà nó có tên gọi là lịch sử, và còn có cả những vết thương mà bước đi bất ngờ của nó luôn luôn để lại trong tâm hồn con người: dưới mắt chúng ta cái lịch sử mà chúng ta trải qua đã trở nên khôi hài một cách quá bí hiểm; nhưng nàng không thể hiểu được điều đó, đồng thời nàng cũng không hiểu được cái tiếp tục gắn bó sự trung thành của chúng tôi đối với thái độ châm chọc, mỉa mai.
Nàng đã yêu cái tính khí lạ lùng hơi kịch tính này, cái tính khí đã đưa nàng tránh xa khỏi cái thế giới tầm thường, nhất thời, quá tự mê mình mà ở trong đó nàng đã quen sống: bởi vì nàng, nàng là người thuộc về thời đại mà ở đó thời gian không còn nữa, chỉ còn một thời hiện tại hào nhoáng, không có căn cứ và cơ sở triết học hoặc đạo đức, cũng không có thảm kịch có khả năng tỏ ra kinh khủng hơn cái chết của một con mèo Ba Tư. Nàng đứng về phía mà thành phố Paris xa lạ đối với tôi có thể làm cho nó hiện ra rõ ràng, đó là phía buôn bán, hào nhoáng, hiện dại và thời thượng, trong đó tôi chỉ là một khách qua đường xa lạ: ở đó mỗi một địa điểm có vẻ như là hình ảnh thể hiện của chính bản thân thành phố trong tủ kính bày hàng của một hãng du lịch, mỗi một người đều cố trùng hợp mình với hình ảnh được đề xuất bởi cái kỹ thuật của loài phù du, cái kỹ thuật đã trở thành tư tưởng chủ đạo của thời đại.
Và không phải anh chỉ xuất thân từ khía cạnh lịch sử, mà anh còn xuất thân từ khía cạnh văn chương: đó là một thế lực bí ẩn khác, một phép phù thủy khác mà uy tín của nó càng tăng thêm uy tín của khía cạnh lịch sử, và là cái mà thời đại đã đuổi ra khỏi bàn thờ, chẳng khác gì như nó đã làm đối với lịch sử. Trong cái thành phố Paris đã bị mất của thời trẻ chúng tôi, người ta cũng có thể bắt gặp bóng ma có cái đầu lưu manh của Apollinaire[3] đi lang thang không muốn chết, với chiếc mũ lồi u và chiếc nơ cài ngang, hoặc bắt gặp bóng ma của Breton[4] đi ngang qua dưới bầu trời lốm đốm mây, một bộ mặt mà bạn tôi rất sợ sẽ không bao giờ được gặp lại. Và trong số tất cả các chàng trai mơ mộng thời bấy giờ, A. là một trong những người tin vào hiện tượng ma hiện hình ấy, tức là tin vào văn chương, đến mức sau đó anh đã hiến dâng những cái nhỏ nhặt mà mỗi người đều sở hữu và những cái đó chính là cuộc đời của anh. Nàng, cô gái mất tích, đã yêu cái nguồn gốc phi thường ấy, những cái đã đưa nàng đi quá xa khỏi cái thế giới tầm thường mà nàng đã quen thuộc, quá xa khỏi những cái mà chung qui lại chúng chính là bản thân nàng, bởi lẽ, với cái vẻ ngoài trắng muốt như thiên thần hoặc như một con nữ yêu, nàng không hề xa lạ với cuộc sống hiện tại tẻ nhạt và nặng nề ấy. Còn về phần mình, A. đã bị quyến rũ, bị mê hoặc không những chỉ bởi sắc đẹp của nàng, mà còn bởi cái vẻ trẻ trung của nàng, bởi cái vẻ trắng trong làm nàng dâng tặng anh. Thật tội nghiệp cho anh là anh đã tưởng rằng mình có thể thỏa mãn với nàng như thỏa mãn vẫy vùng trong dòng nước mát. Anh đã nuôi một ảo tưởng do nàng đem đến cho anh giống như một cái lễ rửa tội mới của đời anh. Anh dự định sẽ tắm nước rửa tội một lần nữa với nàng, sẽ tái sinh, và sau đó cũng như nhiều người theo chủ nghĩa lý tưởng khác, anh hình dung là mình có thể dần dần kéo nàng về với mình có thể giáo dục nàng theo một kiểu nào đó, dạy cho nàng cái điều mà thực ra nàng chẳng biết gì về nó, đó là sự sinh tồn: nhưng là một sự sinh tồn nằm dưới sự ảnh hưởng của hai thế lực mạnh mẽ là lịch sử và văn chương – bởi lẽ anh không có quan niệm khác về sự sinh tồn.
Khi dòng chảy của hai cuộc đời, cho đến khi ấy vẫn còn thống nhất, nay bị chia rẽ, thì không bao giờ anh có được một quyết định không có lỗi. Nàng, người được coi là trong trắng ngây thơ, có thể vô tình là người xảo quyệt, còn anh, người mà người ta nghĩ là giàu kinh nghiệm, lại ngây thơ một cách đáng ngạc nhiên. Bởi vì trong khi thoạt tiên nàng sẵn sàng đón nhận những điều bí ẩn làm cho nàng bị mê hoặc, và trong khi say xưa với cõi sầu thơ mộng mà có một lúc nào đó những điều bí ẩn ấy đã tạo ra cho nàng, thì nàng cũng rất sớm, và chắc là ngay từ đầu, nhận ra được rằng nàng đã mất nghị lực – mà nàng thì chỉ thích bị chế ngự một cách nhất thời – và nhận ra những bùa bả đe dọa sự thoải mái của nàng, là cái mà nàng đã biết cách nhận ra điều chí thiện trong đó. Còn anh, người đã tưởng là mình nếu không thoát được khỏi sức hút của thế gian thì ít nhất cũng làm dịu được nó, và thậm chí hiểu được nó và chịu đựng được nó với một thái độ khôn ngoan hơn trong một cuộc sống chung trong trắng và êm ái làm cho gánh nặng cuộc đời anh nhẹ bớt đi, thì lại thấy mình rơi vào cảnh cô đơn sầu não hơn tất cả mọi thứ mà anh đã biết cho tới bây giờ. Có thể là với lòng tự phụ và một chút hèn nhát mà anh muốn quên đi mọi sự thất bại trước đây anh đang có một tình yêu tự tin của một thể xác và một tâm hồn mới mẻ đang đè nặng lên anh, chúng được gia tăng và định hình mãi mãi bởi cái khuôn mặt trong sáng có khả năng hủy diệt ấy. Và, về phần nàng, có thể là nàng vẫn còn yêu anh, nhưng giống như người ta yêu một đồ vật mà, mặc dù không phải là một vật trơ ì, nhưng nó vẫn sống một cuộc sống khác và thu nhỏ: đó là kỉ niệm về một người chết, một bức tranh, một quyển sách, một bản nhạc. Có thể là nàng đã yêu đôi mắt của anh, nhưng không phải như là yêu một ngọn lửa sinh động, mà đúng hơn giống như những cánh bướm bị dính vào gỗ cây phao, đẹp và dễ biến đổi, chỉ cần một bàn tay vô ý chạm vào là làm cho chúng biến thành bụi phấn. Cả hai, mỗi người với lứa tuổi của mình, đều giống như hai mép của một vết thương mà, thay vì chuyển thành sẹo để làm liền da thịt, thì chúng lại mở tách mãi ra.
❀ ❀ ❀
[1] Một khu phố ở Pari, nằm bên tả ngạn sông Seine, nơi có những trường đại học cơ bản (N.D).
[2] Một họa sĩ phong cảnh người Pháp (1875-1947) – (N.D).
[3] Nhà thơ hiện đại Pháp (N.D).
[4] Nhà văn hiện đại Pháp (N.D).