Sau khi được tôi trả công một trăm franc cho cái thói bép xép xấu xa của bà, bà gác cổng mới hở ra cho tôi biết rằng có một lúc A. “đã đi chữa bệnh” ở một nơi mà bà đã phải gửi thư tín đến cho anh và chắc chắn là bà đã giữ địa chỉ. Chỉ có điều bà không tìm thấy nó nữa: lại thêm một tờ một trăm franc mới làm cho bà moi được cái địa chỉ ấy từ đống giấy tờ lưu trữ đầy mỡ của bà. Thế là tôi lần theo địa chỉ tìm đến một biệt thự có những cánh cửa sổ màu xanh lam nằm ở sâu trong một công viên thuộc ngoại ô phía tây. Giờ đây tôi nhớ lại rằng khi ấy con sông Seine mùa nước lên đang chảy cuộn qua những chiếc cầu làm thành những xoáy nước lớn màu đồng đỏ, tôi nhớ lại một ngày có gió, nhớ lại những đám mây màu xám trôi nhanh in hình những cành cây đen thẫm trông như bầu trời làm bằng thủy tinh rạn vỡ. Tất nhiên là các bác sĩ đã từ chối không tiết lộ cho tôi biết mọi điều, lấy cớ bí mật nghề nghiệp. Nhưng tôi đã biết thuyết phục một nữ y tá người Pháp lai Angiêri, có một khuôn mặt khá đẹp giống như vua Jugurtha[1], khiến cô đến gặp tôi sau giờ làm việc tại một quán bia nằm ở một góc ngã tư có tên là Ơn Trời: cái tên gợi cho tôi một bài hát của Mac Orlan, và sự lạ thường của nó càng được nhân lên đối với tôi bởi một điều là cái ơn huệ ấy, hay chỉ là sự thương hại, đã bị khước từ đối với một người đã nằm chữa bệnh ở đây suốt sáu tuần.
Với một vẻ nghiêm trang khắc khổ, cô y tá bảo tôi rằng không phải vì thích vui chuyện mà cô chiều theo lời đề nghị của tôi: mà bởi vì cô có cảm tình với A., và cô còn khẳng định với tôi sau một chút do dự, rằng thậm chí cô còn có một cái gì đó giống như tình cảm luyến ái: cô nói với tôi bằng những lời lẽ như vậy và chắc là tôi vô tình tỏ ra ngạc nhiên, bởi vì cô liền nói thêm rằng cô đọc sách nhiều, rằng tình tiết này không phải là ít quan trọng trong sự cộng tác của cô đối với bạn tôi, người mà trên giường lúc nào cũng chất đầy sách, và rằng tôi không nên ngạc nhiên về chuyện cô đã sử dụng những lời lẽ kiểu cách khi nói chuyện chứ không dùng những từ ngữ chuyện trò bình thường của những người thuộc địa vị như cô. Câu nói có phần nào thô bạo này đã làm cho tôi đỏ mặt. Tôi cảm thấy trước mặt tôi là một nghị lực mãnh liệt, được tôi luyện trong những cuộc tranh đấu từ thời ấu thơ chống lại một số phận đối nghịch và cô đã thắng hết trận này đến trận khác: tôi tỏ ra khâm phục cô, và cảm thấy rụt rè e sợ hơn so với trước thái độ nhã nhặn kín đáo của các bác sĩ tâm thần kia. Cùng lúc đó, tôi có cảm tưởng rằng cô gái có lòng can đảm có thể nói là đàn ông này, người mà tự giới thiệu với tôi là Ouria, nghĩa là “tự do”, là mẫu người hoàn toàn đối lập với người bạn gái đã mất tích của A., người mà tôi hình dung rằng sự thiếu kinh nghiệm sống và thậm chí cả sự khước từ đầy lo âu không dám tìm hiểu cuộc đời và không dám đối đấu với những thử thách đã sai khiến hành vi của nàng: và có thể bằng cách đó mà tôi tìm hiểu được nhiều hơn về nàng hơn là những lời nói rõ ràng. Tôi phải thú nhận một lần nữa rằng chẳng có cái gì cho phép tôi lập luận như vậy: không có gì ngoài một chuỗi các giả thiết mà tôi không cho là quá mạo hiểm khi đặt ra chúng từ trước, và từ nay chúng liên kết các suy nghĩ của tôi lại với nhau.
Cô y tá bảo tôi rằng khi đến bệnh viện, A. là một người bị hủy hoại bởi rượu và thuốc chống suy nhược. Nước da tái xám, hai má xanh xao hốc hác, đôi mắt thâm quầng sâu hoắm, hai bàn tay run rẩy. Ouria vừa nói vừa nhìn thẳng vào mắt tôi, như thể cô muốn kiểm tra xem tôi có thể chịu được những điều phát giác nhẫn tâm như thế này không và có hiểu được ý nghĩa của chúng không, cô bảo rằng A. không còn sai khiến được cơ thể mình nữa. Người anh ướt đẫm vì những đợt toát mồ hôi bất ngờ, ngay cả khi trời lạnh. Có lúc anh đái dầm, thậm chí ỉa đùn cả ra quần. “Em hi vọng là sẽ không làm ông bị sốc khi kể cho ông nghe điều đó. Em kể ra điều đó là vì em tin rằng anh ấy là một người quan tâm đến vẻ ngoài của cơ thể mình, một người đàn bà có thể nhận ra những chuyện ấy: và em cảm thấy rằng anh chấp nhận sự suy thoái chắc là không chịu nổi này với một thái độ mỉa mai và đồng thời gần như với một niềm vui độc địa”. Và khi thấy tôi đáp là tôi không bị sốc, rằng tôi biết là nỗi đau không phải là một bữa dạ tiệc, cũng không phải là một bài thơ bi thương, rằng đó là máu, là mồ hôi và là cứt, thì cô hạ giọng nói thêm mấy lời sáo rỗng nhưng qua đó tôi vẫn thấy toát lên tất cả lòng thương cảm của thế giới: “Đó không phải là lỗi của anh ấy”.
Và không chỉ có những dấu hiệu ấy là những cái bộc lộ trạng thái tàn tạ của anh, mà còn có cả cái cách anh để mặc cho đôi mắt dõi nhìn đờ đẫn vào cõi xa xăm, hoặc ngược lại là cái cách anh nhìn trân trân, giống như một người nào đó thỉnh thoảng mới chợt tỉnh cơn mơ làm kiệt sức và hoài nghi tính hiện thực của những điều anh phát hiện ra; và anh còn có một cách hơi cúi khom người như bị gục ngã bởi một cú đánh, anh ngồi như thế để khép mình quanh một nỗi đau không bao giờ từ bỏ anh, một nỗi đau mà sự đối xử độc quyền của nó đã chiếm đoạt anh tới mức làm cho anh quên mất mọi thứ còn lại, những thứ mà anh chỉ nhớ lại một cách ngẫu nhiên, rời rạc, và luôn luôn dưới dạng ghê sợ: một tiếng động, âm thanh của một giọng nói cũng làm cho anh bất ngờ giật mình kinh hãi, tiếng rụng của một chiếc lá khô trong công viên cũng làm cho anh suýt ngã ngửa.
Có phải sự lạm dụng rượu là nguyên nhân đầu tiên của trạng thái nốc-ao chưa ngã ngửa của bạn tôi, hay là do tác động của một nỗi bất hạnh nội tâm, đó là điều mà các bác sĩ tâm thần Diafoirus[2] bàn luận một cách lơ đãng trong những cuộc hội ý buổi sáng của họ, tại đó tất nhiên Ouria không được dự, nhưng cô được nghe lại thông qua bà y tá trưởng. Về phần mình, cô “Tự do”, tôi cho rằng cô suy nghĩ khôn ngoan hơn nhiều khi cô bảo là mỗi một con người đều mang trong mình ngay từ lúc ra đời những nguyên nhân có khả năng làm cho nó tiêu vong cùng với những nguyên nhân làm cho nó có được đại hạnh phúc, những nguyên nhân đó nằm lộn xộn như những quân bài dập. Uống rượu quá nhiều là một bộ phận của cái mà người ta có thể gọi là chương trình bi kịch của A., cũng như niềm vui phóng túng nhất, bởi vì bản thân anh có hai dốc trượt, một dốc trượt dần xuống vực tối và một dốc trượt dẫn ra lối có ánh sáng: cũng giống như mỗi người trong chúng ta, nhưng ở anh cái chương trình ấy diễn ra một cách tàn bạo hơn và tuyệt đối hơn so với ở đa số những người khác. Để nói đến những việc khó lường và có thể khó hiểu này, Ouria đã sử dụng những từ ngữ, những phép ẩn dụ thuộc ngành sơn văn mà có lẽ là cô có được từ văn hóa miền núi Numidi ở Bắc Phi, quê hương gốc gác của dòng họ nhà cô. Cô bảo rằng mọi người ai cũng có hai sườn dốc: nhưng ở một số người những cái sườn dốc ấy tỏ ra ít rõ ràng đến nỗi các dòng nước, dù chảy ở phía nào, chúng cũng đều chảy bình yên, trong khi ở những người khác thì chỉ cần một cơn mưa nhỏ nhất cũng tạo ra trên sườn dốc của họ những dòng lũ có khả năng cuốn phăng mọi thứ trên đường chúng tràn qua.
Tôi không thể không so sánh những điều Ouria kể cho tôi biết với những lời ám chỉ bóng gió của bà già gác cổng, không phải chỉ những tiếng động làm tình, như mụ già nói xa xôi bóng gió, là những cái đã gây ra tiếng ồn trong đêm, mà gần đây còn có cả những tiếng động do những cuộc cãi vã kịch liệt giữa họ gây ra, và vả lại cũng không phải là cãi nhau mà thực ra chỉ là những tiếng kêu khóc của mình anh, là những lời nguyền rủa, là tiếng đập vỡ đồ vật, thậm chí đôi khi còn có cả những cú đánh nhau. Đối với người con gái mất tích, và đối với cả A., tôi không thể phạm lỗi bất công là bỏ qua những gì mà những dấu hiệu chỉ dẫn kia dường như muốn gợi ý cho tôi rằng: bạn tôi đã bị ngập chìm trong một nỗi đau xoắn ốc để cuối cùng nó làm cho anh không thể chịu nổi. Tôi không được bỏ qua những lời làm chứng buộc tội anh, không phải chỉ vì quan tâm đến chân lý, mà còn vì sự tôn trọng chân lý này, là chân lý cao cả hơn mọi chân lý mà đối với anh nó chính là bình yên, qua đó anh giữ được nàng, và nó tuyệt đối ngăn cản tôi lên án nàng, cho dù tôi có bị cám dỗ bởi điều đó như thế nào. Chỉ có điều, cũng chính cái tình yêu không thể nghi ngờ này đã buộc tôi phải đi tìm những lý do của sự lầm lạc mà chắc là từng lúc nó đã đẩy anh xa cách nàng, thậm chí chống lại nàng (cũng có thể nói là làm cho anh xa cách chính mình, chống lại mình), trong những cơn đau đớn mà chắc là do nỗi cô đơn câm lặng của nàng đã gây cho anh, buộc tôi phải đi tìm một thực tế là rút cục, và bất chấp cái vỏ thể chất bên ngoài, nàng càng ngày càng không muốn phó mặc đời mình cho anh. Và có thể thậm chí ít nhiều anh đã đoán trước được cái gì cuối cùng cũng sẽ xẩy ra, hoặc dù sao anh cũng đoán trước được rằng cái phần cay đắng mà nàng đã phải nuốt chỉ có tăng thêm lên, và anh đã hấp tấp đi đón nỗi bất hạnh này, nỗi bất hạnh mà anh cảm thấy nó đang đến gần. Hoặc có thể cả những sự cuồng nhiệt và phóng đãng này là phù hợp với những mưu toan cuối cùng và điên rồ nhằm lập lại bằng các phương tiện bấp bênh nhất vị trí vững chắc cho một tình yêu đã bị mất thăng băng: như ai đó, vì làm mất khả nâng kiên nhẫn, nên cuối cùng đã quẳng chiếc đồng hồ mà anh muốn chữa xuống đất làm cho những bộ phận máy móc tinh vi của nó bật tung ra không thể chữa dược.
Ouria không được biết gì chính xác về thảm hoạ đã làm cho cuộc đời của A. suy sụp: anh không hề tâm sự với cô về chuyện riêng, còn cô thì cũng không yêu cầu anh. Cô chỉ biết rằng sau khi một người đàn bà bỏ anh thì anh thấy thế giới không còn tỏ ra biện minh được cho những nỗ lực mà anh đã phải bỏ ra để duy trì sự sống. Bởi vì, theo lời cô – lần này cô sử dụng một kiểu ẩn dụ khác – sống đối với anh cũng khó và mệt mỏi chẳng khác gì như đối với một con cá bị vớt ra khỏi nước, và rằng không khí mà chúng ta thở làm cho anh chết ngạt. Theo cô thì anh bắt đầu uống rượu bởi vì có một cái gì đó, một vết nứt bí mật, ngay từ đầu đã làm rạn vỡ và huỷ hoại cái điều quý giá nhất của anh, đó là cuộc sống chung của anh với cô gái kia. Sau đó, có thể cái thoạt tiên chỉ là tác động hiển nhiên của một loại tuyệt vọng ngấm ngầm có nguồn gốc ở nỗi luôn luôn lo sợ phải chia ly nó cũng có nguồn gốc tiềm tàng ở trong lời nói và thậm chí trong cả những cử chỉ yêu đương mà có vẻ như chúng muốn phủ nhận sự chia ly đó, cái tác động ấy đã trở thành cái cớ hoặc cái nguyên nhân cuối cùng của sự chia ly này. Cô rút ra được niềm tin ấy từ một trong những lần tâm sự hiếm hoi mà A. đã thổ lộ với cô vào một buổi sáng, khi mà, lúc đem bữa ăn sáng đến cho anh, cô thấy anh đứng tỳ trán vào kính cửa sổ nhìn ra bầu trời bên ngoài đang bắt đầu tái xanh – đó là lúc những đống lá vàng khô trong công viên dường như đang tỏa ánh mầu hoa cà, trong khi các bức mặt tiền của những tòa biệt thự ở xung quanh, với những cánh cửa sổ đóng kín và in hình các vệt sáng tối do đám cành cây tạo nên trong như da các con ngựa vằn, làm thành bức phong cảnh trang hoàng mà ở đó, theo như lời anh nói với cô, có một cái gì đó bị ruồng bỏ trong chút ánh sáng nhợt nhạt đã gợi cho anh một cảnh tượng chiến tranh. Hình như anh đã khóc. Anh đã hỏi cô: “Cô có hiểu không, liệu người ta có thể gây chiến với cái mà người ta yêu không?” và khi cô đáp là không thì anh bảo với cô rằng ấy thế mà người đàn bà đã bỏ anh, làm cho anh khốn nạn như thế này, trước đó đã không ngừng tìm cách thoát khỏi anh với một ý chí có lẽ cũng chẳng kém gì mức độ yêu đương mà nàng đã dành cho anh.
Nàng đã tự hành hạ mình và hành hạ anh như vậy ngay từ những ngày đầu, khi mà nàng có vẻ như muốn rút ra từ dục vọng mãnh liệt của họ một nguồn năng lượng dẫn xuất khoái đau để phủ nhận mọi tương lai của anh. Và sự đồi bại ái tình này diễn ra quá kỳ lạ và rút cục là quá bệnh hoạn để đến nỗi có lúc anh phải tự hỏi là khi bỏ anh ra đi, liệu nàng có nghĩ là nàng yêu anh hơn bao giờ hết không, nếu cho dù trên thực tế nàng không yêu anh, thì liệu nàng có nghĩ đến cái cách duy nhất mà nàng đã chứng minh sâu sắc cho tình yêu bằng cách tước bỏ khỏi đối tượng của nàng mọi thực tế và mọi sự tồn tại xác thịt và ngẫu nhiên không? Anh bảo với cô rằng cái làm cho anh nghi ngờ điều đó, và nó có vẻ sai lệch đó là sự say mê của nàng muốn giữ gìn, bất chấp ý muốn của anh, mọi kỷ niệm tích lũy được về anh trong những năm tháng họ sống chung với nhau, ngay cả khi nàng cắt bỏ dứt khoát mối quan hệ sống gắn bó họ với nhau, những kỷ niệm đó là những tấm ảnh, những bức thư, những bài thơ, những món quà của anh sau những chuyến đi xa đem về, những bông hoa ép khô hái bên đường, những chiếc vỏ sò nhỏ xíu lóng lánh vẩy mi ca, một số chiếc có những vết đốm mờ khó nhận ra, trong đó chứa đựng kỷ niệm về những giờ phút yên bình bên nhau khi họ cầm tay nhau trên bãi cát thủy triều ánh bạc như gương (nàng mặc váy carô đen trắng), để lại hai hàng bước chân in trên cát không đều nhau: một hàng bước nhẹ và một một hàng bước nặng in dấu chân rõ ràng hơn, chúng đã bị nước biển xóa sạch và người ta sẽ chẳng bao giờ thấy chúng bên nhau nữa: trong khi đó thì về phần anh lại chưa yên khi chưa quẳng hết hoặc chưa đốt cháy hết mọi đồ vật mà một dấu vết nhỏ nhất của chúng cũng luôn luôn vò xé trái tim anh. Anh ghê sợ nghĩ rằng chuyện đó như thể nàng muốn xây dựng một lăng mộ riêng tư, một con thuyền tang tóc để cho sự vắng bóng của anh được giao du vĩnh hằng giữa đống di vật của một cuộc đời đã tiêu tan.
Anh bảo rằng anh nghi ngờ những chuyện lạ lùng ấy, những chuyện mưu hại chống lại cuộc sống, nhưng anh buộc phải công nhận rằng anh không biết liệu sự lý giải của anh có đúng không, rằng có thể anh đã ưu đãi nàng bởi vì nàng đã giữ gìn ít nhất là cái kỷ niệm về câu chuyện tầm thường của họ rằng ở đây còn có nhiều chuyện khả dĩ khác nữa, và còn tầm thường hơn biết bao nhiêu, ví dụ như chuyện nàng có ý thức về việc không phải nàng khát khao dục vọng, mà là khát khao sự tiện nghi, và nàng đã giấu diếm điều phát hiện này đằng sau cái mặt nạ của chứng loạn thần kinh giả tạo. Trên thực tế, sự im lặng ngoan cố mà nàng nhanh chóng khép mình trong đó, và rằng giờ đây, do kiệt sức và chán chường, A. thậm chí không còn muốn phá vỡ sự im lặng đó nữa, sự im lặng ấy đã mãi mãi ngăn không cho anh biết liệu có phải anh đã bị phản bội bởi một tâm hồn quá phức tạp, bị giằng xé và vò nát theo những cách không thể hiểu nổi, hay trái lại đó chỉ là một tâm hồn tư sản quá tẻ nhạt. Và còn vì bất lực không làm dịu được những gì bị dầy vò và bị thua thiệt quá nhiều trong tính cách của anh, và không gạt bỏ được những gì là lập dị và hách dịch của anh, và vì cũng quá tự tin – điều này cũng có những nét giống với thói ích kỷ và tính kiêu căng – vào cái vương quốc mà anh áp đặt cho nàng, nên có thể chính anh là người đã gây dựng nên nỗi bất hạnh của riêng mình. Có thể – và điều này là một nỗi đau nhỏ nằm trong nỗi đau lớn hơn nhiều – rằng anh là một người vô ý thức và rút cục là một người yếu đuối: bởi vì nếu việc không tự tin được coi là một sự yếu đuối thì còn có một sự yếu đuối khác nữa và còn nực cười hơn nữa, đó là việc không bao giờ nghi ngờ chuyện ấy.
❀ ❀ ❀
[1] Vua xứ Numidie, một xứ ở Tây Bắc Phi thời cổ, sinh năm 160 và mất năm 104 trước Công Nguyên (N.D)
[2] Cha con Diafoirus là hai nhân vật trong vở kịch “Người bệnh tưởng” của Moliere, cả hai đều là những thầy thuốc dốt nát và tự phụ (N.D).