Bà giúp việc bảo tôi rằng từ cái ngày mà đồ đạc riêng của nàng biến mất, thì sự đổ vỡ bắt đầu xuất hiện trong căn nhà. Những thứ ấy không biến mất hẳn một lúc, nhưng chúng biến cũng khá nhanh, và theo thứ tự, giống như sự rút lui có sắp xếp của một đạo quân. Một hôm, những bộ quần áo treo trên giá tủ hoặc để trên bàn không còn nữa, rồi đến quần bò và áo ngắn đen, đến áo may ô ngắn tay trắng, đến giày vải thể thao dưới gầm tủ sách. Trong vòng một tháng, có thể là trên bệ đá trong buồng tắm vẫn còn để một chiếc hộp màu đen đựng đồ mỹ phẩm. Sau đó, đến một ngày kia người ta không còn nhìn thấy nó nữa, rồi gần như ngay sau đó người cũng không thấy mấy thứ đồ cá nhân rất quý hiếm của nàng để trong đó: một chiếc quạt lông công, chiếc hộp bằng xà cừ hoặc bằng đồi mồi, một chiếc vòng xuyến bằng gỗ mun nạm bạc, một chiếc va li nhỏ bằng liễu: theo lời bà giúp việc, đây chắc là quà của A. đem về sau những chuyến đi xa hơn là những kỷ vật gắn bó nàng với một câu chuyện xẩy ra trước khi họ gặp nhau. Đến một hôm, chẳng còn lại một cái gì nữa. Trại đã nhổ.
Từ ngày đó, – bà giúp việc bảo tôi – sự đổ vỡ bắt đầu thâm nhập vào nhà. Sự việc diễn ra như thể mỗi việc đã bị đặt sai lệch một cách không nhận thấy khỏi địa điểm và phạm vi dành cho nó, như thể mỗi việc đã trở nên lệch lạc và biến dạng. Thậm chí một mùi thuốc lá cay ngạt đã xâm nhập vào những phòng mà trước đó nó không được vào, đó là phòng tắm và phòng ngủ. Giờ đây khắp nơi chỗ nào cũng có vỏ bao thuốc lá rỗng, bị bóp nát bằng nắm tay xiết chặt: những hình khối biến dạng, bị vò nhàu được bọc bằng giấy bóng. Biểu hiện của thần kinh bị giằng xé. Ở đây có tất cả các nhãn hiệu, trong khi đó bà giúp việc cho biết rằng từ nhiều năm nay A. chỉ quen hút thuốc Chesterfield loại nhẹ: và điều đó, theo lời bà, chứng tỏ một sự từ bỏ qui tắc một cách bất ngờ, là sự phát triển khủng khiếp của cái điều mà trước đây chỉ là một tật xấu mà tất nhiên là nàng chê bai nhưng nó vẫn có thể tha thứ được. Một dấu hiệu khác nữa về tình trạng thần kinh này là số lượng điếu thuốc lá mới được hút dở một chút rồi nói chung là bị dập tắt dưới vòi nước: cái thứ đồ thải thuốc lá này tiết ra một chất nước màu nâu nhạt đọng lại trên những chiếc đĩa cốc, những chiếc gạt tàn, hoặc trên miệng bồn rửa bát, vì A. chẳng thèm để tâm vứt chúng vào thùng rác mà bỏ mặc chúng ở đó, chứng tỏ rằng chắc là sự buồn nôn đã làm cho cổ họng anh co thắt lại vì có lẽ đã hút đến điếu thứ năm mươi trong ngày. Những đám tro vẩy vương vãi khắp nơi, và những mẩu giấy bạc bị đốt cháy dở vãi tung khắp nhà đến nỗi người ta có thể nói là đã có một vụ cháy sách vở ở đây – trong khi chính A. mới là người đang tự thiêu cháy mình.
Đối với cái giường mà nàng bỏ trống, thì A., trong thời gian anh còn sống, – và thời gian đó kéo dài khoảng sáu tháng – đã không bao giờ thay vải trải giường nữa. Không biết sự vô tình này có phải là do một sự sùng bái quái dị muốn giữ lại dấu ấn của cái cơ thể yêu dấu từ lâu, hay đó chỉ là sự vô tâm đột xuất đối với mọi việc, chẳng hạn giống như đối với những bóng đèn bị cháy hết cái nọ đến cái kia anh cũng chẳng buồn thay, để mặc cho bóng tối dần dần tỏa lan khắp ngôi nhà. Cho đến khi chỉ còn ít ánh sáng yếu ớt trong cảnh mờ tối (cái cách bà giúp việc diễn đạt làm tôi nghĩ tới hiện tượng những ánh lửa của đất liền ngập chìm dần khi con tàu rời xa bờ biển vào ban đêm: đó là một màn kịch diễn ra rất thong thả và êm dịu mà tôi không bao giờ thấy chán, suốt trong những năm đi biển của tôi, và nó lưu lại trong đầu óc tôi trong sự liên tưởng với một tổ khúc viết cho đàn viôlôngxen của Bach). Dần dần, chất sợi bông của vải trải giường bắt đầu bị xổ lông, màu vải bị phai nhạt, những sợi tóc – trong đó chắc chắn có một số sợi là của nàng – vướng chặt vào kẽ vải, như bị đan vào một tấm lưới, và cuối cùng, với cái mùi chua chua của nó bốc ra, người ta có thể nói, – theo lời bà giúp việc – đó là chiếc bao tải cũ: tôi nhớ đến ý nghĩa cũ của từ này (serpillière) có nghĩa là vải liệm.
Có lẽ từ nay ngay cả cái hành động vất rác đơn giản cũng đã vượt quá sức lực của anh. Cụ thể là chỗ nào trong nhà anh cũng có vỏ bao thuốc tân dược với những mẩu giấy bạc bị xé rách nằm lóng lánh trong bóng tối cùng với những đống vỏ bao thuốc lá bị bóp nát. Những tờ giấy bị vò nát, vo viên nằm lăn lóc đó đây. Bà giúp việc đỏ mặt thú nhận với tôi rằng đã hơn một lần bà đã không giữ được thái độ kín đáo, rằng, bà khẳng định với tôi là, bị xúc động bởi sự lo lắng và thông cảm chứ không phải vì tò mò, bà đã tìm cách vuốt phẳng những tờ giấy này và cố đọc những dòng chữ bị gạch xóa, với nét chữ thường là run rẩy (trong khi, mặc dù chưa bao giờ đọc sách của anh, nhưng có một trong những điều mà bà thán phục ở A., như thể đây là một vị quan của nước Trung Hoa cổ đại, đó là nét chữ rắn rỏi, cứng cáp của anh): đây toàn là những bản nháp những bức thư của anh gửi cho nàng, trong đó anh van nài nàng suy nghĩ về những gì nàng sắp sửa thực hiện. Hình như anh chẳng bao giờ nhận được thư trả lời, bởi vì, với thời gian trôi qua, càng ngày anh càng ngạc nhiên về một sự im lặng khó hiểu làm cho nỗi đau buồn của anh được cộng thêm sự xúc phạm.
Nếu như anh không vứt bỏ một thứ gì, thì anh cũng chẳng mua thêm một thứ gì. Một thời gian trước đây anh vẫn còn có càphê trong tủ lạnh, nhưng sau đó thì hết. Xà phòng, nếu có, thì đó là những bánh nhỏ anh mang từ khách sạn về mỗi lần vắng nhà. Nhưng đáng ngạc nhiên nhất là sự vắng bóng hoàn toàn của báo chí, mà trước đây A. là một người đọc sách báo như điên, báo chí thường để chất đống trước cửa và luôn luôn được thay báo mới. Chuyện xảy ra như thể sự sôi động của thế giới không còn liên quan đến anh nữa, như thể nỗi đau quá mức này, nỗi đau mà các nhà sinh lý học gọi là “đau nhói”, đã giết chết trong anh mọi khả năng đau khổ và phẫn nộ khác (cái mà trước đây, theo lời khẳng định của bà giúp việc, được ban phát rất hậu hĩnh cho anh), thậm chí giết chết cả khả năng quan tâm đến bất cứ điều gì của anh. Một hôm, – bà bảo tôi – một trong số lần hiếm hoi mà bà bắt gặp A. trong thời gian này (nói chung là anh thường thu xếp sao cho mình vắng nhà khi bà đến, để tránh khỏi làm phiền bà cũng như để khỏi bị làm phiền), bà ngạc nhiên nhận thấy thói quen hàng ngày của anh đã bị đảo lộn. Anh tỏ ra là đã nhiều ngày không cạo râu, và phần nào có vẻ ngây dại. Anh nhìn bà với một vẻ lạ lùng và vừa đáp lại bà vừa gần như mỉm cười, nhưng với một nụ cười hung dữ, méo xệch, bằng một câu nói mà bà nhớ là (vì chuyện đó đã làm bà ghê sợ) nó giống như chuyện bị gai đâm vào mắt. “Ai mà bị gai đâm vào mắt thì chẳng quan tâm đến cái gì cả, – tôi nói.” “Đúng như thế, thưa ông, – bà bảo tôi – vậy đó là một câu thông thường phải không ạ?” Câu hỏi của bà, nếu đúng là một câu hỏi, được phát biểu bằng một giọng quá ít nghi vấn nên tôi chỉ bằng lòng nhún vai một cách mơ hồ.
Tuy nhiên, thành thực mà nói thì vẫn có một việc mà A. vẫn đều đặn mua sắm cho mình, đó là những chai rượu whisky. Mỗi tuần hai, ba lần, thường là nhiều hơn, và những chiếc vỏ chai được xếp thành hàng dọc theo tấm lưới mắt cáo ngăn cách phòng bếp với lối vào, trông giống như một trường bắn của hội chợ phiên. Có thể nói rằng tất cả cái tính gàn dở của bạn tôi – bởi vì anh đúng là một kẻ bị ám ảnh bởi sự ngăn nắp, điều này không làm tôi thực sự ngạc nhiên, vì có nhiều kẻ hay lo nghĩ cũng tỏ ra như vậy – là dựa vào sự sắp xếp ngăn nắp dãy vỏ chai này mà thông qua chúng sự mất trật tự không ngừng chảy trong máu anh, làm xáo tung tinh thần của anh và làm xói mòn cơ thể anh. Chuyện đó xảy ra, – bà bảo tôi – như thể anh đang xây dựng một cái gì đó, một ngôi nhà hoặc một nấm mồ bằng thủy tinh màu nâu vàng, trong khi cố trát vữa cho mọi cấu kiện. Khi mọi việc bị hỏng – như những bức thư chẳng hạn, trước đây chúng được xếp rất ngăn nắp, nhưng từ nay trở đi chúng vương vãi khắp nơi, thường là không được bóc ra xem – thì một cách nghịch lý, chỉ còn lại bức thành lũy thủy tinh này để ánh sáng có thể chiếu qua nó như chiếu qua cánh cửa kính màu để làm chứng cho một ý nghĩa đã mất về sự đúng đắn và mực thước.
Bà giúp việc còn bảo là bà còn thấy có những vết máu trên tường. Chắc là anh đã đấm tay vào tường làm cho chảy máu.
Bà giúp việc đã không quá đỗi ngạc nhiên khi bà đến nhà A. để làm việc, như bà vẫn thường làm vào các ngày thứ tư từ mấy năm nay, thì thấy cửa bị niêm phong. Bà không hẳn ngạc nhiên, nhưng khổ tâm thì có. Về sau, vì căn phòng cần phải để cho thuê lại, nên người ta đã mời bà đến để dọn dẹp cho sạch, và đến khi ấy bà mới phát hiện ra bức thư gửi cho tôi, một bức thư chẳng có dấu hiệu gì ngoài dấu hiệu về một tình bạn lâu đời, nó đã khiến tôi rời bỏ bờ Biển Đỏ để trở về Paris, một thành phố đã trở nên xa lạ đối với tôi và lạnh lẽo trong những ngày cuối đông.