Tôi không biết tôi có làm cho mọi người hiểu được những chuyển vận của trái tim đã diễn ra như thế, những biến động của số phận mà khi ấy tôi đã tưởng tượng ra một cách rõ ràng. Giờ đây đối với bản thân tôi, khi mà tôi đã hạ thấp vĩ tuyến để trở về với bờ biển Châu Phi cháy bỏng, nơi mà tôi sẽ kết thúc những ngày tháng cuối cùng của đời mình, cách xa mọi cảnh Paris thật hoặc giả, thì những sự việc này lại có vẻ như ít chắc chắn hơn: một lần nữa bức thư tuyệt mệnh của A. lại trở về với tối mù, những tính cách được lặp lại lẫn lộn với nhau cho đến khi gần như biến mất. Phải chăng tôi đã nằm mơ thấy tất cả cái đó? Có những bữa tối, trong lúc ngồi trước ngọn đèn dầu, khi vọng lên những tiếng rên rỉ của những kẻ bị hành hạ ở khu nhà bên cạnh, tôi đã uống quá nhiều rượu pha tạp, tôi có ý nghĩ mình chính là A., rằng chúng tôi không phải là hai con người khác biệt mà là hai trạng thái, hai giai đoạn phát triển của cùng một con người, rằng cảng Xuđăng chỉ là một phiên bản, một biến cách quái quỷ của Paris. Dần dần, tôi đi đến chỗ xây dựng cho mình về một người đàn bà mất tích của A., một hình ảnh không ít chính xác hơn và cũng không ít phàm tục hơn so với những gì mà sự lãng quên đã giữ lại về một người đàn bà được quen biết một cách thực sự. Tôi có thể tin rằng tôi đã bắt gặp từ lâu cái nhìn của người phụ nữ vô tình như nàng, rằng chúng tôi đã ăn tối cùng nhau trong một quán ăn Latin, rằng nàng đã theo tôi về nhà, rằng để cho nàng khỏi hoảng sợ, thoạt tiên tôi đã trải qua nhiều đêm chỉ hôn nàng rất nhẹ nhàng, rất âu yếm, rất lâu lên cổ nàng, ở chỗ giữa tai và xương đòn, nơi có làn da thật mịn màng và thơm ngát. Tôi có thể tin rằng tôi đã dắt tay nàng đi dạo chơi dọc theo các bãi cát sỏi dưới ánh chiều tà, trong đám sương mù màu hồng, rằng chúng tôi đã làm tình với nhau ở nhiều chỗ, trong đó có căn phòng với những bức tường phản chiếu ánh nắng nhảy múa của những làn sóng gợn lăn tăn. Tôi có thể tin rằng nàng đã không ngần ngại đâm mũi kiếm vào vai tôi. Tất cả những việc này giờ đây đã trở thành niềm hạnh phúc của tôi, hay đúng hơn là nỗi bất hạnh của tôi, là những điều tôi đã trải qua hoặc đã tái diễn được lòng trung thành đối với một người bạn.
Chuyện này thôi không nói nữa.
Khi kể cho tôi nghe về những buổi sáng giá lạnh mà A. đem thức ăn cho chim ăn, Ouria đã gợi lên hình ảnh về một ông già cô đơn mà A. đã nhân tiện kể cho cô nghe, đó là một trong những người mê chim mà người ta có thể bắt gặp tại những vườn hoa công cộng, nơi có những bãi cứt chim vương rải rác và những đám lông chim vãi xung quanh, người đó đang ngồi chìa những ngón tay đỏ máu cho chim ăn nhúm hạt ngũ cốc hoặc những mẩu bánh vụn. Vào một ngày gió bấc giá lạnh thổi về, quét sạch những đám mây trên bầu trời xanh màu côban, tôi tình cờ đi dạo trong vườn Luxembourg. Những cành cây trụi lá in hình ngoằn ngoèo lên bức tường cao màu xanh lam trông như những sợi dây thần kinh trơ thịt bị đốt cháy đen. Tuy nhiên, ở đầu múp những cành cây dẻ đã thấy nhú lên những nụ nhỏ màu son và những chồi non óng ánh: và, nếu mở chúng ra, ta sẽ thấy những chiếc mầm lá tí xíu khép chặt, dính dáp, nó chứng thực cho một tương lai mỏng manh nhưng tất yếu, một tương lai không phải của con người. Những cái bóng đổ dài và nhợt nhạt, mặt trời, xuống thấp làm cho đám cỏ cắt ngắn ánh lên muôn vàn tia sáng, những tia nắng phản chiếu lóe lên từ các ô cửa kính ở xung quanh công viên. Ở giữa bể nước đóng băng, vòi nước phun làm thành hình một con cò bạch bằng pha lê.
Hôm ấy hình như không có ai ở đó để đương đầu với cơn gió bấc, các lối đi dạo trong công viên đều vắng ngắt, từ xa tôi nhận ra ông bạn của loài chim đang đứng tựa lưng vào thành lan can trước bức tượng Laure de Noves. Ông ta đội mũ đen, quàng khăn màu hạt dẻ, mặc áo khoác lót da cừu, quần nhung và đi giày đế gỗ; ông ta có bộ mặt hốc hác, có đôi mắt lóng lánh, có cả cứt chim vương vào râu. Ông ta đang chuẩn bị bày biện thức ăn cho chim, đó là những đầu mẩu bánh mì và tóp mỡ, thì tôi đến. Tôi nhanh chóng hiểu ra rằng con người chỉ đánh giá những người mà ông buộc phải gọi là đồng loại của mình không phải chỉ tùy theo sự tương hợp mà họ dành cho loài có cánh, mà còn tùy theo sự giống nhau của họ với loài chim, dưới con mắt của ông (về phần mình, ông có cái vẻ của một con chim cắt già bị vặt lông phần nào). Chắc là ông ta đã liên tưởng tôi với một loài có cánh nào đó, bởi vì ông ta không hề có khó khăn gì khi nói ra với tôi điều đó, trong khi xung quanh chúng tôi có vô vàn những con chim nhỏ phàm ăn đang dập cánh. Tôi cho là cái việc tôi không phật ý bởi những bãi phân chim ỉa chảy màu trắng nhợt mà một số con đã thưởng cho tôi, đã đưa tôi đi đến chỗ đáng được coi như vậy.
Ông bạn của loài chim chỉ quan tâm đến những biến cố của con người khi chúng xảy ra trong những cuộc vận động rộng lớn hơn nhưng đồng thời lại tỉ mỉ hơn của thiên nhiên. Ngày nào ông ta cũng có mặt ở vị trí canh gác của mình, trừ những ngày mưa quá to; những cái mà ông thấy chúng cử động, thay đổi, và thay đổi với một sự chính xác phi thường, chính là những chiếc lá, là ánh sáng, là mây, là hậu quả mà rút cục tất cả là những sự biến đổi ấy đã gây ra đối với cái vẻ bề ngoài và tính khí của những con vật được ông bảo trợ. Mọi người chỉ tình cờ đi qua trước mặt ông, thường bổ xung cho môi trường của ông những hành vi khuấy động dư thừa, những cái mà trong khoa học người ta gọi là tiếng ồn. Ông chỉ ghi nhận những tiếng ồn ấy vào tập san của mình tùy theo ý nghĩa điểu học của chúng. Người này thì làm cho chim sẻ hoảng sợ, cô gái kia thì có hai con mắt như chim tổ lò, vv… Về phần các loài chim thì vả chăng ta cần phải biết rằng ông ta đã phân biệt rất rõ ràng giữa những loài chim đi – là những loài ông ghét cay ghét đắng, với những loài chim nhảy – là những loài là ông yêu quí. Loài chim đi là loài đi lại trên mặt đất theo cách của con người, chúng lặng lẽ từng bước từng chân một: đó là chim bồ câu, là quạ, và chủ yếu là chim ác là. Những loài chim này chỉ là những loài khủng long nhỏ sống lạc thời, là những loài vụng về cục mịch, là những loài trì độn. Không thể phủ nhận được rằng chúng cũng biết bay, nhưng nói theo cách nào đó thì đây là một sự lầm lẫn hoặc là một sự giễu cợt của tạo hóa. Chúng bày tỏ ý định muốn được tham dự bữa ăn tập đoàn, nhưng ông ta vẫn thẳng tay xua đuổi chúng, tuy nhiên trong cái giống lòai xấu xa này ông ta cũng giành ngoại lệ cho loài chim sống dưới nước, như loài vịt và chim mòng biển chào mào, tất nhiên là những loài này cũng có dáng đi núng nính nực cười như những loài kia khi chúng đi trên bãi cỏ, nhưng một khi được ở dưới nước thì chúng lại lấy lại vẻ duyên dáng của chúng, và thậm chí chúng còn tạo được một bản sao tinh vi và được phản ánh dưới nước. Tuy nhiên, những loài chim chân chính là những loài luôn luôn cử động, như thể chúng bị điện giật ở chân, và chúng nhảy cả hai chân cùng một lúc: đó là loài chim sẻ, chim cổ đỏ, gà Nhật, chim sẻ ngô, chim sẻ lục, đó là chưa kể đến loài chim chích mi vàng nhanh nhẹn và loài chim đất họng đen mà về loại này ông rất phẫn nộ khi thấy các công trình nghiên cứu mẫu mực chỉ ghi nhận sự có mặt của chúng ở rừng Vincennes, trong khi vào lúc mùa xuân tới, ông đã gặp và nhiều lần cho chúng ăn ở ngay cạnh tượng Laure de Noves này.
Sở dĩ ông ta nhớ được A. và người đàn bà mất tích là bởi vì người đàn bà này, một người thật yếu ớt và duyên dáng, có vẻ quá nhút nhát, ăn mặc thật đen trắng rõ ràng, gợi cho ông ta liên tưởng tới một con chim sẻ ngô màu đen – là loài mà ta không nên lầm lẫn với loài chim sẻ đầu đen thông thường và trâng tráo hơn. Về phần bạn tôi đã từ lâu anh chỉ là một kẻ đi theo một con chim sẻ ngô, nhưng sự biến mất của con chim sẻ ngô này đã nhanh chóng biến anh thành một thứ giống như chim cao cẳng ốm yếu – ta có thể nói là một con diệc phải uống dầu mazut. Câu chuyện của ông ta pha lẫn một cách rối rắm những mẩu giai thoại về cuộc sống con người, với những hoàn cảnh của sự tồn tại rộng lớn hơn và có phần nào điềm tĩnh hơn của phong cảnh công viên, với những từ tượng thanh, những tiếng huýt sáo, tiếng kêu chiêm chiếp, tiếng láy rền, những câu nói ba hoa liến thoắng, tiếng lách cách, tất cả vì những người đối thoại ưu đãi của ông ta, làm cho câu chuyện của ông hơi khó theo dõi. Ông nhớ lại một cuộc hẹn hò mà ông là người chứng kiến, đó là một ngày mùa xuân – những tia nắng mặt trời đội lên cao những đám mây nặng nề và u ám chẳng khác gì những phiến đá lát mộ, làm cho chúng trông giống như những chiếc đòn bẩy phát sáng. Trước đó một lát đã nổ ra một cơn mưa rào dữ dội, làm cho mùi đất và cỏ ướt bốc lên cho những tấm mái kẽm tỏa sáng lóng lánh, cho một mẩu cầu vồng hiện ra trên những ngọn tháp của nhà thờ Saint-Sulpice. Anh đứng nấp sau một cái nhà kiểu như chòi gác bằng gỗ có mái nhọn để đợi nàng, chiếc chòi này được trang trí bằng một rìa mái hình răng cưa như rìa mái một căn nhà gỗ của nông dân Nga, và nó nằm ở cuối lối đi được dùng làm đường chạy cho xe ô tô đạp chân: anh nhìn thấy nàng đến từ xa, thích thú khi thấy nàng ngước nhìn xung quanh, khi thấy nàng thất vọng khẽ cau hai hàng lông mày hình vòng cung làm cho khuôn mặt trắng mịn như ngà sa sầm xuống vì không nhìn thấy anh: anh thích thú và vui sướng bởi thái độ khó chịu sẽ làm tăng thêm niềm vui khi họ tìm thấy nhau. Chắc là đã lâu họ không gặp nhau. Nàng mặc một chiếc áo trượt tuyết cài khuy kín, một chiếc quần bò, đi ủng bôttin, mang găng tay đen: tất cả đều là đồ đen, trừ ánh mắt nàng, hàm răng nàng, đôi môi nhợt nhạt cùng nàng và một chuỗi hạt lấp ló ở cổ. Đến phút cuối cùng anh mới lộ mặt, anh nhảy xổ ra trước mặt nàng, làm cho nàng dậm chân hoảng sợ, rồi họ ôm nhau rất lâu, rất chặt và say sưa như một cặp tình nhân và chỉ có cái chết mới có thể chia lìa được họ.
Tôi đã nói là tôi viết ra những điều này là theo lời kể của nguời bạn loài chim. Và tôi tin chắc rằng trong trường hợp này lời kể của ông ấy phù hợp với những gì A. nghĩ, và thậm chí có thể phù hợp với cả những gì mà nàng cho là mình nghĩ ra. Thật lạ lùng khi phát hiện ra rằng có biết bao nhiêu người ít vô lý nhất, đã có ảo tưởng về sự nghiêm túc của cuộc đời họ. Vào thời điểm mà họ đứng ôm nhau dưới những cây cột đèn màu trắng và màu hồng cạnh những cây dẻ đang ra hoa, thì nàng đã phản bội anh trong lòng từ lâu rồi, chính vì đến một ngày nào đó nàng sẽ phản bội anh, rằng không phải lưỡi hái tử thần là cái sẽ làm cho họ xa cách nhau, mà chính là cái không khí tẻ nhạt của cuộc sống tư sản. Ngay từ lúc họ yêu nhau, với tất cả sức mạnh và sự thái quá của tình yêu, làm cho tình yêu mất phẩm giá vì bị phủ nhận một cách bí mật, thì đã có mầm mống của sự phản bội tầm thường ấy, bởi vì cuối cùng thì điều đó cũng đã xảy ra: và rằng những người nào không hiểu lời tôi nói, tôi biết là sẽ không thiếu những người như thế, thì họ sẽ bỏ qua cho tôi, nhưng có lẽ tôi đã có một quan niệm quá cực đoan về sự đam mê.
Hôm ấy dưới những gốc cây mùa xuân mà cuối cùng nước mưa đã làm cho ướt át nhỏ giọt, dưới những chồi non mà sức mạnh của nhựa sống đã làm cho chúng xuất hiện gần như có màu đen, nơi mà cơn giông đã gieo rắc những hạt ngọc trai lóng lánh, hôm ấy và tất cả những ngày còn lại, có một điều mà anh điên rồ cho rằng mình ôm ghì được trong tay qua cơ thể nhẹ nhõm của người đàn bà yêu dấu, chính là sự hứa hẹn về một cuộc đổi đời, nó tái xuất hiện khá chắc chắn và mới mẻ để chặn đứng sự ngóc đầu dậy cái chết trong anh: đó là khi nàng là hiện thân của cái chết, và chuyện ấy xảy ra trước ngày cái chết thực sự bắt anh đem đi: nó thong thả mang anh đi, một cách không thể lay chuyển nổi, vào một đợt dưỡng bệnh, giống như sự khô héo và sau đó là sự thối rữa chiếm lĩnh những chiếc lá cây theo những đường gân mà thông qua chúng, lá cây trước tiên sẽ bị rữa ra.