Cảng Xu Đăng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 2 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 13

❊ ❊ ❊

Cuốn sổ ghi chép của tôi giờ đây gần như sắp kết thúc. Tôi sẽ không đi quá trang cuối cùng, giấy không phải thứ dễ kiếm nhất ở đây, vả lại tôi có cảm tưởng là mình đã nói hết những điều mình có thể nói. Tôi đã cố gắng làm tròn cái mà tôi cho là bổn phận đối với A.: ban cho mối tình đã chết của anh, nhưng không được liệm, một sự mai táng bằng ngôn từ. Tôi đã muốn làm điều đó như tôi cảm thấy là đáng ra chính anh ấy đã có thể làm như vậy. Tôi đã trải qua cái thử thách khó khăn này, thậm chí vượt qua khả năng, về lòng trung thành tưởng tượng. Có thể là tôi đã nhầm. Nhưng tôi không tin, ít nhất là không tin nhiều. Nếu như bản thân anh có thời gian hoặc sức lực để viết thì có thể anh đã có những lời lẽ ít cứng rắn hơn tôi, bởi là anh đã yêu nàng đến cùng, bất chấp nỗi đau khổ mà nàng đã gây ra cho anh, điều đó là hoàn toàn chắc chắn. Tôi tin chắc rằng anh đã cố hết sức đấu tranh để tự kiềm chế không khinh ghét nàng. Nhưng kết quả của cuộc đấu tranh nội tâm này ra sao thì tôi không biết. Thậm chí có thể anh vẫn cứ tiếp tục yêu nàng lại vẫn vừa khinh ghét nàng.

Những người có tâm hồn nhẹ nhõm, tức là những người chưa bao giờ trải qua những tình cảm mãnh liệt cùng cực, có thể sẽ đánh giá một cách nghiêm khắc hoặc mỉa mai sự yếu đuối rõ ràng của anh. Đó là vì họ không hiểu được sự hi sinh quên mình trong tình yêu, và họ cũng không được cái gì là cao thượng trọng sự hi sinh này. Luôn luôn có một thói hèn hạ muốn chấp nhận sự chế ngự của người nào muốn biến điều bó buộc thành công cụ uy lực của mình. Trong việc công nhận sự phụ thuộc ái tình sẽ không có điều bó buộc, bởi vì nguyên tắc của sự phụ thuộc này không phải là nỗi sợ hãi, mà, theo lời dạy của Platon, là ước vọng cao thượng muốn trở thành bất tử, muốn được sinh ra trong cái đẹp theo thể xác và tâm hồn: và ước vọng này cho dù bị nhạo báng, bị chế ngự, thì những gì bị thất bại không có nghĩa là chúng ta ít tham gia hơn vào thế giới của thần linh. Bất hạnh thay cho những kẻ không hiểu điều đó, hoặc tồi tệ hơn nữa là nàng có biết mà vẫn muốn quên đi: bởi vì nàng sẽ không bao giờ đạt được điều ấy, và nó sẽ ám ảnh nàng, hoặc là khi ấy đó là vì tâm hồn nàng đã chết.

Đối với những người thân của chúng tôi, sở dĩ tôi đã không gặp ai là bởi vì tôi không còn biết họ ở đâu. Biết bao thời gian đã trôi qua. Và khi tôi nói không gặp ai thì cũng không hoàn toàn chính xác. Dù sao thì ngay trước khi lại lên đường ra đi, tôi đã gặp một người thân, người đó làm nghề cổ xưa là người bán hàng ngũ kim. Với mái tóc gần như bạc trắng, ông ta có vẻ như một người thuộc thế hệ cũ xưa. Có thể tôi cũng gây ra cho ông một ấn tượng như vậy. Chúng tôi trở thành cha của riêng mình, vì chúng tôi sẽ không có con cháu nối dõi. Ông ta bán đinh: có lúc chúng tôi thích thú nhớ lại trước đây chúng tôi đã sử dụng những cái đinh ấy như thế nào: vứt chúng ra đường trước những mũi xe của cảnh sát. Ông ta cho tôi biết về cái chết của một số người họ hàng của chúng tôi, ông ta báo cho tôi biết A. đang nằm ở đâu, nhưng tôi không muốn tới đó. Về chuyện kết thúc mạng sống của anh ông cũng chẳng biết gì hơn tôi, hoặc có thể vì giữ ý mà ông không nói gì, còn về phần tôi, có thể là tôi cũng chẳng muốn nghe nữa. Tôi cũng có cảm tưởng rằng chúng tôi đã bầy tỏ với nhau thứ tình cảm được nảy sinh từ cuộc công nhận một tình cảm anh em cũ xưa. Sau đó chúng tôi đã phải chia tay nhau. Chúng tôi biết rằng có thể chúng tôi sẽ không còn gặp lại nhau nữa. Tương lai không phải là sở trường của chúng ta.

Tôi lại theo con đường của cái mà Niza, một cái tên vẫn còn nói lên được điều gì đó cho thời trẻ của chúng tôi, gọi khá đúng là “cái kênh sâu xa của địa ngục”. Tôi chẳng có gì phải làm ở Paris nữa, ở đó chẳng có chỗ nào dành cho tôi. Thế là tôi quay về cảng Xuđăng. Tôi sẽ chết ở đây. Đó là một việc đã được quyết định rồi: tôi sẽ chết ở giữa đám nhà kho bị đốt nóng như những chiếc lò cao bốc mùi vải bông và mùi gôm A Rập, giữa những căn nhà tồi tàn làm bằng gạch papanh và bằng gỗ, giữa những đống rác rưởi nằm dưới vòng lượn của đám diều hâu, trên một đường phố bụi bặm đầy rẫy dưới ánh nắng mặt trời. Ở của nam của thành phố có một lò mổ nằm bên bờ biển, hàng ngày người ta đưa đến đây từng đàn cừu và dê bị đói ăn, vì thức ăn của chúng chỉ là giấy lộn và giẻ rách. Từ xa người ta đã ngửi thấy mùi nước tiểu và mùi lông cừu, nghe thấy những tiếng rên rỉ thảm thương, tiếng dao thớt lách cách. Phân súc vật chảy ra biển qua hai đường ống to. Một tấm thảm máu giăng ra như một dòng nước bùn từ một cửa sông, nó nhuộm đỏ nước biển ra cả khu vực xung quanh bãi đá ngầm. Ở đây trôi nổi đầy những di hài của lò mổ như dầu, lòng, da. Những con cá mập mắt vàng và bất động như mắt rắn lượn lờ giữa đống hàng thịt này với những chiếc mõm há to như những chiếc cổ họng bị cắt ngang. Trong một ngày gần đây, có thể tôi sẽ bơi ra đó để nhẩy múa theo điệu vũ của những hàm răng ấy.

Người con gái đankali đã biến mất. Tôi cho rằng người của gã Nimour đã đem cô đi. Tôi không biết giờ đây cô ra sao, mặc dù tôi có thể tưởng tượng được. Tôi chẳng thể làm được gì cho cô. Tôi cũng chẳng làm được gì cho tôi. Tôi sẽ không ra chơi ngoài bãi xác tàu nữa. Ở cuối con đường hẻm đầy cát, nơi có căn nhà của tôi, dưới tán cây phượng có một khu nhà cũ của hải quan nước Anh, chúng có màu đỏ son và mái lợp tôn. Một trong những căn nhà kín này có hàng rào thép gai vây quanh, trong đó người ta bắt người tra tấn một cách không tính toán, không có chứng cớ thực sự, chủ yếu là do thói quen, nhưng người ta vẫn sẵn sàng làm. Để bị nghi ngờ là có thông đồng với những kẻ phản nghịch ở miền Nam, chỉ cần anh là người da đen là đủ. Thế là bọn đao phủ tha hồ mà lựa chọn: tất nhiên sự dễ dãi này tước bỏ đi nhiều niềm thích thú cho công việc của chúng. Chúng không hề ngại ngùng lôi xác nạn nhân đem đi giữa ban ngày, chúng buộc dây xung quanh chân họ và kéo họ ra những chiếc xe tải cũ kĩ của Liên Xô mang nhãn hiệu “GAZ” rồi đem họ đi đâu không ai biết. Người ta cho rằng chúng đem họ đi cho cá mập ăn. Trong một ô nhỏ kín khác có Nimour sống giữa đám đàn bà con gái của y. Một ô nhỏ khác nữa là nhà của bọn vệ sĩ của y. Vào lúc mặt trời mọc, trước khi trong loa phóng thanh vang lên lời báo cầu kinh, thì bọn kia đã đánh thức tôi dậy bằng những tràng súng máy bắn lên bầu trời trong xanh. Có lẽ đó là cái cách chào thượng đế của chúng. Hàng xóm của tôi như thế đấy.

Hai mươi năm sống ở Châu Phi đã dạy cho tôi thói quen không coi ma thuật là một chuyện phi thường. Có thể ở đây có cả sự trợ giúp của rượu. Trong cái đêm mà tôi nghe thấy tiếng rên rỉ của những kẻ bị tra tấn ở căn nhà bên cạnh, với hai mắt bị thôi miên bởi ngôi sao đang sôi ầm ầm của ngọn đèn dầu, tôi thả mình vào luồng suy nghĩ cho rằng sở dĩ tôi gán cho bạn tôi những lời lẽ mà thoạt tiên anh ấy muốn gửi cho tôi, thì đó là vì có thể là tôi đã nuốt phải tâm hồn của anh, như ở đây người ta thường nói, và rằng anh đã sống lại trong tôi bên bờ biển này, nơi mà cái sống và cái chết trao đổi cho nhau như những đồng tiền, và là nơi rất giống cái xứ sở địa ngục. Hoặc rất có thể không phải là anh đã chết thật, cũng như không phải thực sự là tôi đang sống ở cảng Xuđăng, cái thành phố có vẻ như là một vở kịch khôi hài sầu thảm, mặc dù bản Chỉ dẫn hàng hải đã đưa ra tọa độ địa lý cụ thể của nó: 19o36’ vĩ Bắc/ 37o14’ kinh Đông: liệu có phải chúng tôi là hai anh em sống ngoài rìa thế giới? Nói cho cùng, tôi chỉ gặp và nghe những người không quan trọng, không ai là người đã nhìn thấy bộ mặt vàng như nghệ của anh, nhìn thấy cái quai hàm cuốn băng của anh, nhìn thấy anh nằm trong nệm quan tài. Thế cho nên những điều mà bàn tay run rẩy của tôi sắp viết xong trong quyển sổ này có thể sẽ là bức thư cuối cùng gửi cho người đàn bà mất tích, cái bức thư mà sau một thời gian dài im lặng như thế nó không còn đợi lời phúc đáp nữa, thậm chí nó cũng không mong là được người ấy đọc: vả lại đôi mắt nàng, cho dù chúng phản ánh cái cảnh tượng gì đi chăng nữa, thì chúng cũng không còn là đôi mắt mà chúng tôi tưởng là quen biết và yêu quý đến thế, kể cả tinh thần và trái tim nàng, cho dù chúng có gắn bó với một đối tượng nào, chúng là những cái mà chúng tôi đã mong là sẽ tìm được sự thanh thản trong đó. Những giọt mồ hôi trên trán tôi nhỏ xuống, rắc lên tờ giấy xấu những vết trong suốt làm cho mực loang ra trông giống như một sợi dây thần kinh đang dần dần bị nhổ rễ, chẳng khác gì như người ra cẩn thận nhổ rễ một gốc cây mảnh mai, làm cho từng mẩu đất rơi xuống từ mỗi sợi rễ nhợt nhạt. Từ niềm hy vọng của chúng tôi muốn được hướng tới thế giới của thần linh bằng cách sản sinh ra cái đẹp, sẽ chỉ còn lại bằng chứng nghèo nàn này. Ít nhất thì chúng tôi cũng sẽ đưa ra bằng chứng ấy.

Tôi nhớ lại những ngày hạnh phúc: chúng đã trở nên xa vời giống như cái thành phố Paris giá lạnh và mù sương, như lịch sử, như cái thời mà khi ấy chúng tôi còn cảm thấy mình khỏe mạnh, bất chấp mọi thứ, như niềm hi vọng và tình yêu, và niềm ảo vọng cho rằng mọi thứ có thể xảy ra. Tôi nhớ lại A.: Anh ấy là một bản ngã khác của tôi. Đó là một người bạn có đôi tay thật êm ái mà mỗi buổi sáng vị thần Vĩnh biệt lại chia cắt chúng tôi, với tiếng gà gáy ầm ĩ gọi chúng tôi lên đường. Tôi nhớ lại là chúng tôi đã thức canh khá lâu trên boong của con tàu trở về nhà đến nỗi chúng tôi không còn nhận ra được đâu là bờ, đâu là nước, đâu là trời, không còn nhận ra cái gì vào cái gì, cũng không còn biết được dòng sông đang chảy đi đâu, cũng không biết liệu chúng tôi còn sống hay đã chết, những kẻ trực đêm già nua không thuộc nơi nào, những kẻ mơ mộng bất trị. Chúng tôi đã không bao giờ biết rõ được là chúng tôi đang sống ở thế giới nào, và đây có vẻ như là lỗi của chúng tôi. Tôi nhớ là đã mong đợi giống như anh với cả trái tim và tâm hồn của mình. Tôi nhớ lại những sự việc nhỏ nhặt (chúng ta sẽ không nói đến những sự việc khác), nhớ những buổi đi dạo trên bãi biển lúc hoàng hôn, nhớ tiếng vỏ sò kêu răng rắc dưới chân chúng tôi, nhớ hình một trái tim lớn mà có một ngày nàng đã vẽ lên trên cát, nhớ ánh phản chiếu của những làn sóng gợn lăn tăn trên tường một căn phòng, nhớ một vết trầy da của nàng do nàng va phải một tảng đá, nhớ những con tàu chạy ầm ĩ vào những buổi tối màu hoa cà khi chúng tôi đang đợi nàng, nhớ khuôn mặt nàng nằm dưới bàn tay tôi trong khi tôi đang lái xe, tôi nhớ rằng nàng thích tắm nước rất nóng, tắm rất lâu, trong bóng tối, nàng ngồi bất động trong bồn, lặng lẽ, rằng tôi bất ngờ hé mở cửa làm cho nàng giật mình hoảng sợ, tôi nhớ đến bầu trời nổi những cơn gió lốc màu xanh trên cánh đồng lúa mì mịn như len, nhớ những bông hồng bạch ở trong vườn đã bị những cơn mưa giông làm cho mắc bệnh gỉ, trong khi một thanh tra cảnh sát xướng to những vật kiểm kê căn nhà trong đó có một người bạn của tôi bị chết, nhớ một con sông trong một đất nước có chiến tranh mà ở bên kia bờ sông, trên một quả đồi, có một bệnh viện, và trong cái nhà xác lợp ngói xi măng của nó, nơi mà các xe cấp cứu và xe tắcxi chở đến những người mặc quần áo lao động người đầy máu me, có cái xác lạnh lẽo của một người bạn khác, đó là cái thời tàn nhẫn đang qua đi, và tôi nhớ lại sự nghỉ ngơi thanh thản mà chúng tôi đã tìm kiếm nó sau biết bao tang tóc, và chúng tôi tưởng rằng đã tìm thấy nó ở nàng, thấy nó trong vòng tay mảnh mai của nàng, trong đôi mắt nghiêm trang trong sáng của nàng, đôi mắt chưa bao giờ nhìn thấy xác chết. Tôi sẽ không bao giờ nhìn thấy cái bóng tối u ám trong đôi mắt nàng do sự nhận thức cuối cùng về nỗi đau thực sự gây ra, hoặc trái lại là ánh mắt bồn chồn mà sự nhận thức đó sẽ nhóm lên. Thậm chí tôi cũng không biết liệu nàng sẽ biết được tin về cái chết của bạn tôi không, liệu cái đó có làm cho nàng đau khổ không.

Tôi nhớ lại cái thời khi mà nàng chỉ cho tôi thấy những đốm mắt hổ. Burning bright in the forests of the night[1]. Tôi nhớ lại một buổi pique-nique mà chúng tôi đã tổ chức bên bờ một con kênh, gần một chiếc cống, và hôm ấy cả hai chúng tôi đều vui vẻ, nhớ lại một bữa ăn tối yên bình bên bờ một chiếc hồ mà ánh hoàng hôn vô tận của tháng bảy đã làm cho nó tỏa sáng như được tráng bạc. Tôi nhớ lại nỗi đau mà chúng tôi đã phải trải qua khi nhìn thấy nàng tỏ ra buồn rầu một cách thật khó hiểu và thật tuyệt vọng bất chấp tình yêu của chúng tôi. Tôi nhớ lại nỗi sợ hãi của nàng đối với tất cả mọi thứ, thậm chí đối với cả chúng tôi. Tôi nhớ lại cái cơ thể yếu ớt của nàng, nhớ những cái còn lại giữa cái của nàng và cái của chúng tôi, nếu nàng không bán hết chúng như nàng đã bán tôi, và rất có thể đó là những bí mật nghèo nàn của chúng tôi, nhớ chiếc váy carô đen trắng xòe ra vào buổi chiều. Tôi biết rằng tôi đã yêu nàng không giống như bất cứ ai, với một tấm lòng hay tin hơn, ngây thơ hơn bao giờ hết, trong khi tôi vẫn cho mình là người hay nghi ngờ, và cùng với mọi sự yếu đuối của tôi, đáng ra tôi không được có những điều nghi ngờ, những sự yếu đuối đó làm cho người ta là một con người chứ không phải là một hoàng tử trong chuyện thần tiên, và tôi tin rằng không ai sẽ yêu nàng như chúng tôi. Tôi biết rằng nàng không hề có một khái niệm về những gì “chúng tôi” muốn nói ra, về việc người ta có thể là “tôi” và “chúng tôi” như thế nào, và có khả năng hơn là cái tôi bởi vì người ta có thể còn là chúng tôi, và rằng nhiều cái trong câu chuyện của chúng tôi, và có lẽ cả sự kết thúc của nó, đều xuất phát từ đây: từ cái sự không biết này. Tôi biết rằng nàng sẽ không hiểu được những điều tôi nói, và thậm chí nàng sẽ không hiểu được liệu cái chết của tôi có dồn sức nặng da thịt tôi cho lời nói của tôi không: tôi không tin là nàng có thể hiểu là, rằng nàng sẽ là Đức bà đau khổ dịu hiền dành cho tôi. Nàng là người quá hiện đại, trái với những gì tôi đã tưởng.

Tôi nhớ lại A., tôi đọc đi đọc lại những gì Conrad đã viết về huân tước Jim, một trong những cuốn sách mà tôi không rời ở đây, nó đã theo tôi nhiều năm, bị quăn góc, ố vàng, được ghi chú những điều nhận xét của tôi mà, tôi phải công nhận đã hơn một lần trạng thái say rượu đã gợi cảm hứng cho tôi, bìa sách đã bị rách, các trang sách thì bị dây bẩn xác muỗi, cứt gián, vết rượu đổ, vết mồ hôi, và tôi cho là cả vết nước mắt nữa, nhưng cuốn sách này làm thành một trong những sợi dây liên hệ cuối cùng của tôi với thế giới bên ngoài, nơi vẫn còn tồn tại sách vở, nhưng chắc là chỉ trong một thời gian ngắn nữa thôi: nghĩa là ở đó nỗi đau được chuyển thành chữ nghĩa in trên giấy chứ không phải được khắc trực tiếp vào da thịt như ở đây: “Tất cả những gì mà bản thân Stein thấy rằng cần phải nói với tôi, đó là chuyện về một chàng mơ mộng. Còn tôi, tất cả những gì tôi biết, đó là chàng là một người trong số chúng ta. Với tư cách là người mơ mộng, chàng muốn dính vào chuyện gì? Sở dĩ tôi nói với các anh về ngần ấy chuyện tình cảm bản năng của tôi và những suy nghĩ mơ hồ của tôi, thì đó là vì tôi chẳng còn chuyện gì quan trọng để nói về anh ta… Anh ta vẫn còn tồn tại đối với tôi, và nói tóm lại chỉ có thông qua tôi thì anh ta mới tồn tại đối với các anh”. Cuốn sách cũ này, cùng với cuốn “Bữa tiệc” và một vài cuốn khác nữa, có thể sẽ là vật trang trí cho căn nhà của Nimour, khi mà cuối cùng hắn sẽ đi đến chỗ bắt giam tôi: hắn sẽ giam giữ tôi giữa đống sọ đầu lâu, đống dao phay và bao đạn. Bọn súc sinh, cho dù ở nơi có khí hậu như thế này, chúng vẫn thích nhất là được tỏ ra có học. Chuyện đó chắc là sẽ thú vị.

Chỉ có thông qua tôi thì những ngày tháng cuối cùng của A. mới tồn tại đối với các vị: anh ấy là một người trong số chúng ta, một chàng trai mơ mộng. Có lẽ chúng ta không sinh ra để được yên tĩnh. Trái lại chúng ta được gán cho sự châm biếm, mà châm biếm là sự khôn ngoan ít ỏi của những số phận chưa được hoàn tất. Sở dĩ ở đây tôi không hi sinh một cái gì, thì đó là vì tôi không có can đảm: mong mọi người hãy tha thứ cho tôi. Thậm chí chúng ta cũng chẳng khai phá được một vương quốc nhỏ ở Bornéo[2]. Hay là viết một cuốn sách có phải giống như xây một đồn lũy trên một con sông hoang dại không? Nói cho cùng thì có thể là như vậy. Nhưng từ nay trở đi đồn lũy đó dùng để che chở ai, để bảo vệ ai? Thôi nào…

Tôi ra khỏi nhà đi dạo trong đêm. Những cơn sóng bạc vẽ nên một viền sáng huỳnh quang. Trong đêm tối cũng ánh lên hai hàm răng sứt môi lóe sáng của gã Mặt Hủi đang ngồi ỉa dưới một gốc cây trước cửa nhà tôi. Khẩu súng ổ quay của gã trễ xuống bên chiếc mông trần. Trên bờ biển, người ta có thể lờ mờ nhận ra những hình người tụ tập quanh ngọn lửa đốt rác ánh lên màu đỏ nhạt. Burning bright in the forests of the night[3]. Cây đèn biển quét ánh sáng tỏa ra mặt biển bất động và tối đen như mực. Tôi không hiểu làm sao và bằng phép màu nào mà cái vật ấy vẫn còn quay được. Những con dơi bay lượn làm thành tiếng động xào xạc. Cơn gió biển ấm áp thổi vào đem theo cả tiếng vọng nghẹt thở của những tiếng gào thét từ xa. Thật khó mà nói được chúng thuộc thang âm nào: đau đớn, vui mừng, giận dữ, hay hứng khởi? Khuôn mặt của chúng ta bị bóng tối gặm nhấm. Những ngôi sao nhiệt đới có vẻ như rất gần, những đám tinh vân đang uốn cong những bông hoa lớn về phía chúng ta, trên đó có hình những bông hoa huệ chuông, những chùm hoa đinh hương, những bông hoa kim ngân tỏa hương thơm. Và có cả thân thể trắng ngần của những cặp tình nhân nữa. Tất cả những cái đó, như hàm răng của một kẻ giết người, như đống lửa đốt rác, như vệt quét của đèn biển, như mặt biển làm nổi rõ bãi đã ngầm, như những đốm lửa trong đêm tối mênh mông, tất cả chỉ là một vấn đề về quy mô. Một cách phi lí, lời của những bài hát cũ từ thời ấu thơ đang quay cuồng trong đầu tôi, “Chúng ta sẽ không vào rừng nữa, các cây nguyệt quế đã bị chặt mất rồi. Tôi không còn nhớ được những câu hát trước đó là gì, và cả những câu tiếp theo nữa. Không bao giờ tôi còn nhớ được điều gì nữa.

❀ ❀ ❀

[1] Tiếng Anh trong nguyên bản: “Đám cháy sáng trong rừng vào ban đêm” (N.D)

[2] Hòn đảo lớn thứ ba trên thế giới, là lãnh thổ của Ind nêxia và Malaixia (N.D).

[3] Tiếng Anh trong nguyên bản (xem chú thích 14 – N.D).

—★— CẢNG XU ĐĂNG Nguyên tác: Port-Soudan ebook©MotSAch —★— TVE-4u©BookaholicClub Nhà xuất bản: Văn Học 1995
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Olivier Rolin

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.