Con tàu nào mà cập bến cảng Xuđăng – tôi bảo với bà ấy là chuyện này càng ngày càng hiếm – đều phải vận hành như sau: sau khi tiến sang vị trí 243 cho đến khi xác định được ngọn hải đăng phía Nam bãi đá ngầm Wingate nằm ở phía Tây Bắc, khi ấy chúng sẽ rẽ sang phía Tây, tắt máy và chạy theo đà. Trước đây, vào thời hoàng tộc trước thời của tôi, và thậm chí ở cả thời kì khi tôi thực sự thực thi nhiệm vụ trưởng bến, người ta buông một chiếc thang bên sườn vỏ tầu để cho một hoa tiêu, được chở tới bằng thuyền, leo lên tàu hướng dẫn giai đoạn vận hành cập bến cuối cùng. Nói đúng ra, không hiếm khi anh ta bị say rượu, và rằng viên thuyền trưởng, sau khi nhiệt tình chào đón chúc tụng anh ta, đã cho nhốt anh ta vào một buồng cùng với một cốc rượu whisky đầy tràn, trong khi họ cho máy thong thả khởi động lại. Những người viên chức này không hề khó chịu cho rằng uy tín của họ như vậy là bị nhạo báng, nhất là nếu như có thêm vài đồng đô la ngoài cốc rượu mạnh. Người ta sẽ không than phiền hơn nếu phải nằm lại ở cảng Xuđăng so với ở những nơi khác, và ai ai cũng thấy hài lòng. Thời bấy giờ (dù sao cũng sẽ là quá phóng đại nếu nói là một thời kì tốt lành) đã qua từ lâu rồi. Từ nay trở đi, tàu bè phải thả neo ở bãi đá ngầm san hô, cách đường ranh giới một chút, nơi mà màu sắc của nước biển, từ màu thạch anh tím chuyển sang màu lá chuối già, chỉ ra một sự dốc ngược lên bất ngờ của đáy biển. Thay vì một chiếc thang, người ta hạ xuống một cửa tàu dọc theo thành tàu.
Không phải là các hoa tiêu trở nên bất lực (mặc dù là quả thực trong số họ có người mất một cánh tay hoặc một ống chân: nhưng điều đó không hề ngăn cản họ tỏ ra hoạt bát nếu có dịp): chỉ có điều họ đến để được trả công bằng hiện vật, đó là các cô gái cướp được hoặc mua được với giá rẻ mạt tại Sri Lanka, tại Philippin, tại Kalimantan và ở những nơi khác, họ bị quẳng xuống hầm tàu, chân bị xiềng, và, sau khi phải phục vụ giải trí cho các thủy thủ trong suốt chặng đường, họ được trao cho các “nhà chức trách” độc địa như là món thuế nhập cảng. Họ được chuyển từ tàu xuống thuyền trong những chiếc bao đay có in nhãn “gạo” hoặc “cà phê”, còn các ông chủ mới cũng chẳng buồn mở ra xem: họ chú ý tới chất lượng của những món hàng này ít hơn so với những người mua nô lệ xưa kia, những người mà, theo những câu chuyện cổ Ba Tư kể lại, đã vét hết cả kho gấm vóc châu báu vàng bạc chỉ để được sở hữu một ánh mắt to dịu hiền, hai hàm răng xà cừ lấp lánh trên một khuôn mặt trái xoan màu đất nung. Sự thực là những người con gái bất hạnh kia bị đem dâng hiến không phải chỉ để phục vụ chuyện tình dục, mà thông thường là để làm kiếp trâu ngựa, kể cả nguy cơ phải làm gái điếm. Gã Mặt Hủi, người nhân viên bưu điện gớm ghiếc đã đem đến cho tôi bức thư thông báo về cái chết của A., là nằm trong số những tên ma cô dắt gái này.
Tất nhiên là tôi biết có chuyện buôn bán ấy. Trạng thái mệt mỏi của tôi, cũng như chủ nghĩa hoài nghi đã gặm nhấm tôi hơn cả bệnh sốt rét, đã không ngăn cản được tôi chỉ trích chuyện này. Tôi công nhận là bản thân tôi cũng đã làm nghề ma cô chút ít, nhưng đó chỉ là chuyện rất đúng theo phong tục truyền thống: các cô gái tự do xuống tàu, và họ cũng tự do lên bờ, tôi không làm chuyện buôn bán súc vật người. Cho nên tôi tin là mình đã làm đúng khi báo trước về những thói làm ăn này cho một anh bác sĩ trẻ mà ý thức bảo vệ, ít nhất tôi cũng tin như vậy, cho một lý do nhân đạo nào đó đã khiến anh ta phải đỗ lại ở cái bến bờ hiu quạnh này, sau đó là cho một viên chức cao cấp của một tổ chức quốc tế mà sự trục trặc không đúng lúc của máy bay đã buộc ông rơi vào cảnh cùng cực nơi đây. Một niềm kiêu hãnh ngây thơ choán hết tâm trí của chàng bác sĩ trẻ tuổi, anh ta mặc toàn đồ kaki như một người hoạt động ở rừng rú mà anh ta tưởng là mình như thế, với một suy nghĩ không ngừng rằng anh ta sai khiến được cả một đại đội xe cơ giới 4x4, và thậm chí cả một chiếc máy bay nhỏ một động cơ mà anh ta liên lạc với nó bằng rađiô. Thái độ thỏa mãn làm rạng rỡ khuôn mặt anh ấy hoàn toàn chỉ là chuyện nực cười: trong những hoàn cảnh nhất định, có thể thái độ thỏa mãn này sẽ làm cho anh ta thiên về những hành động dũng cảm bất ngờ mà theo một cách nào đó thì chúng là một bộ phận của bộ sưu tập vũ khí của anh, giống như bộ râu để hai ngày, như chiếc khăn dài trắng quấn quanh cổ và như đôi kính râm, và cứ coi như với tư cách là thầy thuốc dạ dày-ruột, anh ta thậm chí đã không tưởng tượng ra những thứ đó.
Tuy nhiên cách làm của tôi đã khiến anh ta khó chịu: nó không phù hợp với những kế hoạch tiến hành chiến dịch của anh, những kế hoạch dường như cũng được quyết định một cách nghiêm chỉnh chẳng khác gì kế hoạch sản xuất của một nhà máy liên hiệp của Liên Xô. Anh ta cho tôi biết rằng dư luận là điều chủ chốt trong mọi sự việc. Người ta chỉ hành động khi dư luận thể hiện ý chí của sự việc theo cách không thành lời nhưng kiên trì, theo cách của trẻ em mà tiếng khóc oe oe của chúng cho biết rằng chúng muốn ăn. Như vậy trước tiên ta phải làm cho dư luận nhạy cảm. Căn cứ vào tình hình của tôi, tôi để cho anh ta hiểu rằng việc đó phần nào tỏ ra nằm ngoài khả năng của tôi. Anh ta rất muốn để lại cho tôi số điện thoại của phóng viên AFP ở Cairô, người mà tôi vốn quen biết từ lâu, và chúng tôi chỉ thỏa thuận có thế. Còn đối với người viên chức quốc tế cao cấp, người mà danh tiếng ma cô nghiệp dư của tôi đã đưa ông ta đến gặp tôi, thì sự việc còn tồi tệ hơn: ông ta xẵng giọng vạch cho tôi thấy rằng nhà chức trách của một đất nước có chủ quyền, và mặc cho người ta nghĩ thế nào về họ, thì được phép toàn quyền hành động, rằng, cho dù hơi hướng của chủ nghĩa thực dân mới có như thế nào thì đối với một cái mũi thành thạo như của ông ta, nó vẫn bị đánh hơi thấy trong những lời tố cáo của tôi, và rằng cuối cùng thì vị trí của tôi đáng ra phải buộc tôi thận trọng hơn về vấn đề này. Tôi buộc phải không cung cấp gái cho ông ta, và khuyên ông ta chịu giao nộp một hoặc hai hoặc ba cái bao, nếu ông có lòng hảo tâm, và cuối cùng chúng tôi tức giận chia tay nhau.
Dư luận… Chỉ riêng âm thanh của từ đó cũng đã gợi lên những cảm giác khó chịu, đó là cảm giác về thứ nước ấm, về mùi hành, về hạt thông trên đường phố… về cái gì đó nhạt nhẽo và mang tính tư sản. Cách đây khoảng hai mươi năm, khi tôi rời nước Pháp, thì khi ấy không có “dư luận” mà chỉ có sự phán xét – thường là gay gắt, nhưng tôi cảm thấy đó là những văn bản bó buộc tinh thần và thường là cả thể xác. Để giữ cái nọ và bỏ cái kia, người ta dựa vào một quan điểm triết học thay cho một truyền thống đang bị xói mòn. Người ta không tắm mình trong cái khối nhau của đa số đang nuôi dưỡng một đám đông mềm yếu, một đống keo thai nhi trí thức khổng lồ. Mà người ta chọn lấy sức lực và niềm kiêu hãnh được làm người thiểu số, được đi theo lá cờ của những kẻ đại nhân bị ruồng bỏ. Sự cô đơn không phải là một điều hổ thẹn. Những từ ngữ như “táo bạo” hoặc “dũng cảm” tỏ ra dễ nghe đối với chúng ta, chúng ta liều lĩnh lấy chúng làm của riêng, lấy chúng làm khẩu hiệu mà theo nó chúng ta không cần phải hy vọng mới hành động, không cần phải thành công mới kiên trì. Điều đó không phải lúc nào cũng tránh cho chúng ta khỏi bị chê cười, nhưng ít nhất nó cũng tránh cho chúng ta khỏi mắc phải chủ nghĩa xu thời. Và tôi không chỉ nói đến thế hệ của chúng tôi, tức là của tôi và của A., mà còn nói tới cả thế hệ cha ông chúng tôi nữa, những con người được thán phục là đã sống như kẻ cô lập, những kẻ bị ruồng bỏ. Người ta biết không phải dư luận là cái đã tái lập danh dự cho đại úy Dreyfus[1], và thế nào thì thế cũng không phải là cho nước Pháp năm 1940. Khi ấy đó cũng là chuyện chính trị, chuyện phê phán, chuyện luận chiến, chuyện văn chương: những chuyện mà được coi là có tranh đấu. Trong khi mà tai mắt của tôi, những cái mà một cuộc sống biệt xứ lâu ngày đã làm cho chúng trở nên ngây ngô, chỉ biết ngạc nhiên trước những điều nhạt nhẽo của tỷ lệ phần trăm và của sự quản lý – đó là những điều nhạt nhẽo của công việc làm ăn, của kinh tế, của nghề nghiệp, của văn bản, của tình cảm. Người ta đặt loại những vấn đề nghiêm trọng nhất; mang tính công dân nhất – đó là án tử hình, là sự sống còn hoặc sự diệt vong của một dân tộc – không phải với sự tùy tiện của tư tưởng, cũng không phải với uy tín của tài hùng biện, mà với sự biến động hình sin của máy móc. Trong cái đất nước mà từ nay trở đi người ta đòi hỏi nó phải giải quyết những vụ việc của con người bằng các số liệu thống kê trong mối quan hệ cái nọ sản sinh ra cái kia, trong đó cái sống và cái chết, cái thiện và cái ác, danh dự và sự ô nhục được tính toán theo thị trường, tôi không còn nhận ra được cái dân tộc mà trước đây có thể được coi là vĩ đại, và trong đó dù sao tinh thần cũng đã không cất giấu mọi thế lực của nó vào các két đăng ký của các thương gia.
Sự phán xét mang trong mình nó một yếu tố quyết định kịch tính: và không có cái gì mà dư luận căm ghét bằng màn kịch. Trái lại, cái làm cho tính phù phiếm của màn kịch bị chỉ trích kịch liệt là sự dẫn trò. Từ nay trở đi người ta diễn trò không nghỉ, diễn điên cuồng ở mọi lĩnh vực. Không phải chỉ ở các cuộc đua, ở thị trường chứng khoán, ở xổ số thể thao, ở vô số những biến thể khác nhau của xổ số đang gieo vào đầu óc những con người bình dân những ước mơ trở nên giàu có bất ngờ, mà còn ở cả việc vờ vĩnh tình cảm, vờ vĩnh tình yêu, và thậm chí vờ vĩnh cả chiến tranh. Trẻ em trở nên động kinh vì bị mờ mắt bởi những trò tung hứng điện tử. Người lớn, được coi là những nô lệ trẻ con lớn tuổi và được ăn uống đầy đủ, thì diễn trò trước máy thu hình hoặc máy tính điện tử. Những trò hề này tìm thấy lý lẽ hợp pháp triết học của chúng, nếu như có thể gọi như vậy, ở niềm tin cho rằng thế giới chỉ là một trò chơi may rủi lớn, trong đó những kẻ nào gặp may, những kẻ nào bịp bợm và lừa đảo thì sẽ thắng. Tôi có cần phải thừa nhận điều đó không? Tất nhiên là tôi đã trở thành một người Châu Phi mà không biết: tôi cho rằng những sự tàn bạo có môn bài ở cảng Xuđăng có lẽ còn có phần chân thực hơn so với những trò làm ăn bất chính của các cỗ máy tư tưởng yếu ớt đang hoạt động hối hả cho đến lúc chết này.
Tôi không biết sự mệt mỏi chán ngán do tình trạng suy thoái không cưỡng nổi của tinh thần công chúng gây ra ấy đã góp phần như thế nào vào quyết định của A. Nhưng tôi không thể cho rằng anh ấy thờ ơ với những điều đó. Ngoài ra tôi cũng giả định rằng văn chương đã bị lôi cuốn vào sự suy sụp tinh thần chung này, và rằng chắc là anh ấy đã phải chịu đau khổ vì nó. Nhưng tôi cũng cảm thấy – hoặc là anh ấy có thể đã thay đổi – rằng mối quan tâm của anh có lẽ không chỉ giới hạn ở việc bảo vệ văn chương, rằng chẳng hạn như sự thỏa mãn của đất nước anh giành cho một tên bạo chúa nào đó mà bọn lính hung hãn vô kỷ luật say rượu của hắn có quyền tàn phá những thành phố thanh bình, hoặc cho một tên bạo chúa khác mà lũ cảnh sát của hắn kéo đến tận giữa Pari để ám sát những người đối lập sống lưu vong, sự thỏa mãn đó chắc là phải tháo gỡ liên tục trong anh cái tấm lưới lịch sử của cá nhân. Và cái điều tôi gọi là như vậy, chính là cái làm cho người ta cảm thấy mình thuộc về một thời đại, gắn bó với thời đại đó thông qua hàng nghìn mối ràng buộc tinh vi của trí tuệ và trí nhớ, làm cạn kiệt và triển khai sức mạnh của mình trong thời đại đó, hoặc trái lại sống xa lánh trong môi trường của mình giống như ở giữa bãi hoang mạc, một Don Quihotte thống thiết mà niềm tin vào những sự việc đã qua đã khuấy động chàng một cách vô ích.
Một điều nữa tôi cũng không biết là vai trò của nàng trong tình trạng vỡ mộng giả định này là như thế nào. Trong đề tài này tôi buộc phải xem xét các giả thiết của một nhà tiểu thuyết: nhưng, nói cho cùng thì, căn cứ vào bức thư để giấy trắng gửi cho tôi mà trên đó chỉ có dòng chữ “Bạn thân mến”, có vẻ như A. muốn mời tôi dựng lại, nếu có thể, một câu chuyện đã qua mà chung qui lại anh đã không có thời gian hoặc có can đảm truyền lại cho tôi – thậm chí nếu như sức khỏe đã cho phép anh nghĩ tới nó. Mức độ nghiêm trọng mà bà giúp việc, trong khi tiểu thuyết hóa câu chuyện xuất phát từ một vài dấu vết, dành cho người con gái đã từng là bạn tình của anh, cái khoảng cách mà bà tưởng tượng giữa nàng với thế giới xung quanh, việc bà cho rằng nàng giam mình sống tách biệt một cách bí ẩn, tất cả dường như biến nàng thành một đồng minh trong cảnh cô đơn xã hội – một bàn tay yếu ớt, quen dò dẫm trong nỗi sợ hãi hùng của đêm đen, và bàn tay ấy nắm lấy tay anh khi bóng tối giăng kín đường đi. Nhưng nếu trường hợp đúng là như vậy, thì chính nàng cũng có khả năng đưa ra cú kết liễu: nếu như chẳng hạn giống như đa số những người khác, nàng mang trong lòng mình hai nhân vật trái ngược nhau (tôi nhớ lại rằng ở bạn tôi cũng có một khuynh hướng sa đọa không ngừng đấu tranh với một khát vọng sống khổ hạnh), thì bỗng nhiên chính một người đàn bà nhẹ dạ và muốn quên đi cái phần tăm tối của riêng mình, khát khao ánh sáng và tiếng ồn, có khuynh hướng xu thời hơn là phiêu lưu, thậm chí say mê cả một số điều tầm thường của kẻ hãnh tiến, đã là người như thể được thức dậy từ một giấc mơ, đi bên cạnh thân hình bi – hài cao lớn của A. trên con đường đêm tối không biết dẫn tới đâu: và đến khi ấy nàng đã bỏ chạy, để anh ở lại một mình trong nỗi tuyệt vọng hơn cả một thân cây khô héo.
Đối với những ai ngạc nhiên khi thấy tôi đi từ những động cơ cao cả tới những lý do nhỏ nhặt, từ bước đi của lịch sử đến những sự kiện của đời sống thuần túy, thì tôi sẽ trả lời rằng họ chưa hiểu rõ con người. Sự vận động của thế giới, chiến tranh, cách mạng, chúng tôi đều xem xét chúng thông qua cái lăng kính dục vọng của chúng ta, mà đến lượt chúng, dục vọng của chúng ta lại biến đổi do những hiện tượng kia. Và nếu như hạnh phúc lớn lao chỉ có được trong sự trùng hợp giữa tình yêu với một niềm hy vọng lớn của con người, thì có lẽ nỗi bất hạnh tồi tệ nhất chỉ xẩy ra khi sự từ bỏ lấy đi mọi thứ của anh, kể từ những cái trước đó còn gần gũi nhất với anh về mặt xác thịt cho đến những chân trời bao la mà tư tưởng của anh tin là có thể bao quát được.
❀ ❀ ❀
[1] Một người Pháp gốc Do Thái bị kết án oan là gián điệp nước ngoài (N.D)