Cái chết tự sát của A. đã làm cho anh đáng chú ý. Người ta được biết tôi là bạn của anh, rằng tôi đã đi biển nhiều, rằng tôi trở về Pháp từ bờ biển Đỏ xa xôi: tôi cho rằng điều này đã làm cho tôi có phần nào giống Kimbaud pha lẫn Conrad. Người ta mời tôi đi ăn tối vài lần, và tôi lại không quen xuất hiện ở những chỗ này. Những người đàn bà đánh phấn tô son bước tới đón chào tôi; còn những người khác thì có nước da tái xanh của những bức tranh tiền Raphael. Tóm lại cũng chẳng có gì là hệ trọng. Bạn thân mến, – họ vừa bảo tôi vừa cầm lấy tay tôi và nhìn tôi bằng ánh mắt đẹp nhòa lệ, – thật là bất hạnh, thật là tổn thất! Các quý ông nhỏ nhắn, mà cách ăn mặc lôi thôi lếch thếch và màu mè cho thấy họ là những nghệ sĩ, nắm lấy tay tôi như nắm tay một người bạn cũ mà họ phải đỡ đần trong cơn thử thách. Người ta không khó khăn hiểu ra rằng tôi ít quen với những tục lệ của thế giới này. Tôi không biết là cái thể lệ đóng kịch ấy phải diễn tới mức nào, và vai anh hề của tôi phải diễn ra sao. Tôi thực tâm tưởng rằng những người đàn ông và đàn bà tỏ ra thương tiếc A. như vậy là đã yêu quí anh: song, điều thoạt tiên làm tôi ngạc nhiên là hình như chẳng có ai giữ một kỉ niệm cá nhân nào về anh cả, và lại càng không có kỉ niệm nào về người đàn bà trẻ mãn tang. Chẳng bao lâu tôi hiểu rằng lúc anh còn sống hầu như họ cũng chẳng buồn chào hỏi anh. Anh là một người hoàn toàn xa lạ với họ, họ chỉ biết đến sự ra đi của anh, bởi vì sự ra đi ấy hàng ngày lại có tác dụng làm cho họ vui hơn và gần như làm cho họ kiêu hãnh hơn khi nhận thấy họ vẫn còn được sống, bất chấp những hiện tượng bề ngoài: đó là điều huyền diệu mà họ cảm nhận không biết chán bằng những lời lẽ hóm hỉnh, bằng những chuyện ngồi lê đôi mách và bằng cách sờ mó bằng tay.
Ít nhất tôi cũng nghĩ rằng đối với họ anh cũng có giá trị theo một cách nào đó thông qua những điều anh đã viết, và rằng họ đã giả vờ khen ngợi anh. Sau đó tôi nhanh chóng nhận ra rằng sự hiểu biết của họ về mặt này nói chung chỉ giới hạn ở việc tưởng nhớ mơ hồ về một số dư luận mà họ nghe được. Tôi cũng lập tức hiểu rằng sự hiểu biết của họ, cho dù khi nói đến những cuốn sách lớn mà niềm vinh quang đã công nhận chúng từ lâu, thì nó cũng không hề sắc sảo và rộng lớn. Bản thân tôi là người quê kệch, vừa mới từ xứ sở hoang mạc về đây, tôi còn là người đọc nhiều hơn họ. Đúng là tôi đọc theo dòng suy nghĩ của tôi, theo sở thích của riêng tôi. Họ thì đọc những cái “cần phải đọc”, nghĩa là đọc cái mà, trong thời gian một tuần hoặc một tháng, một nửa thế giới rộng lớn, nhưng cũng khá tinh tế, phải say mê, trong đó họ chỉ là một bộ phận nhỏ: và những điều kì cục của thế giới thượng lưu có thể làm cho những cái “cần phải đọc” đó lúc thì là Seneca, lúc thì là chuyện một ngôi sao vô tuyến truyền hình mà bỗng nhiên họ nảy ra ý muốn đưa tên cô vào danh sách dài vô tận và không chút lẫy lừng của các nhà văn.
Vả lại, thái độ kính trọng giả tạo mà họ dành cho A. ấy chỉ kéo dài ngang với thời gian mà sự có mặt của tôi đối với họ tỏ ra là một chuyện mới mẻ và là một sự tiêu khiển. Ngay từ khi sự quen thuộc làm cho tôi trở thành người dễ đoán tâm tính, giống như một bộ quần áo cũ đã dùng quá nhiều, thì người ta không còn ngượng ngùng khi nói ra mọi điều xấu xa họ nghĩ về một kẻ quấy rầy, cái kẻ mà lòng kiêu hãnh của anh đã ngăn cách anh ta khỏi xã hội và giọng văn day dứt của anh đã vi phạm những chuẩn mực của thị hiếu thượng lưu của người Pháp. Sự reo rắc ác tâm nhỏ nhặt là một trong những công việc của loại người này. Sự độc ác giả định phải có một sức mạnh mới lạ của những tính khí bực dọc ấy, tuy nhiên, theo như tôi có thể phán đoán, nó không phải là căn nguyên của thói nói xấu của họ: mà đúng hơn đó là mối buồn phiền, là tính phù phiếm, là bản năng bầy đàn, và chắc là cả nỗi ngượng ngùng mà họ nghiệm thấy để đo lường, trong tòa án lương tâm của họ cái mức độ sâu sắc của sự vô tình của họ và để tự thú nhận rằng, ngay cả khi vì tôn trọng lề thói mà họ phô trương những niềm tin nghệ thuật theo chủ nghĩa hiện đại, thì cái thị hiếu tự phát của họ vẫn đưa họ về với tiểu thuyết tự nhiên chủ nghĩa, với thơ ca của phái thi sơn và với hội họa theo phong cách khoa trương.
Văn chương, như tôi đã nói, mặc dù rất chăm chỉ tiếp xúc với nó, nhưng tôi cũng không có tham vọng muốn biết nó là gì: ít nhất tôi cũng tự tin rằng nó không phải là cái thứ tiểu thương mà dựa vào đó đám người kia sống lay lắt. Đôi khi tôi cảm thấy rằng con người giống như những bức tượng lớn mà từ trong cái ruột rỗng tối tăm của chúng phát ra một tiếng ồn giận dữ, bị méo mó bởi vô số những tiếng vọng hỗn loạn: và khi ấy, viết văn chính là một mưu toan phối hợp cái tiếng ồn ào hỗn độn ấy. Dưới cái bầu trời hùng vĩ câm lặng này, chúng ta đang chứa chấp những tiếng vang vọng của những chiếc xe cứu hỏa, chứa chấp những tiếng gầm rú của đại dương trong các hang động, của những con vật bị cắt cổ dưới tầng hầm. Điều này có liên quan đến sự điên rồ và chết chóc, hoặc nếu muốn thì có thể nói là có liên quan đến lí trí và cuộc sống được coi như là cuộc đấu tranh mở hồ và bị thua ngay từ đầu mà chúng ta tiến hành chống lại các thế lực hư vô, chống lại sự chậm trễ mà các thế lực ấy đem đến để bắt chúng ta im lặng. Viết văn là công việc soạn nhạc đứng giữa sự ồn ào huyên náo với sự im lặng vĩnh hằng. Tôi phải công nhận là những quan niệm này là thiếu rõ ràng: nhưng về những vấn đề đó có đúng là như vậy không? Cũng với những ý nghĩ tương tự mà tôi đi đến chỗ tưởng tượng ra một mối quan hệ rõ ràng, gãy gọn và khó tả, giống như đường đi của một tia chớp, giữa một số mớ từ ngữ với độ cao chóng mặt của cơn giông.
Việc người ta giễu cợt tính kiêu ngạo của bạn tôi cho tôi thấy rằng anh chẳng thay đổi mấy kể từ một phần tư thế kỉ xa cách giữa chúng tôi tới nay. Tôi thấy vui về chuyện đó, mặc cho chuyện đó có thể đã gây cho anh nhiều điều phiền nhiễu, và ta có thể đo lường được những điều phiền nhiễu đó thông qua những lời châm chọc hầu như không giấu giếm mà giờ đây người ta dùng để tưởng nhớ anh. Những năm tháng đang chạy đua tới cuối thiên niên kỉ này đã trải qua từ thời trai trẻ của chúng tôi đến thời đứng tuổi, đồng thời chúng cũng là những năm tháng mà khi đó không chỉ có những đức tính cũ như lòng trung thực, danh dự, tinh thần cương nghị đã không còn được tôn trọng nữa, mà ngay cả những từ ngữ dùng để chỉ những đức tính đó cũng đã mất đi mọi ý nghĩa sinh động của chúng, khi mà sợi dây liên hệ lịch sử giữa hiện tại với thời cổ xưa đã bị cắt đứt, bởi lẽ ý nghĩa sâu sắc dễ hiểu của thời gian đã bị xóa bỏ bởi một thực tế vô định hình và rườm rà. Tôi hiểu rằng cái mà người ta ghét ở tính kiêu ngạo là nó khẳng định tính lập dị, thậm chí cả tính kén chọn, của người đòi hỏi nó, và nó không hề né tránh những điều rủi ro và những nghĩa vụ mà nó yêu cầu – trong khi mà thói kiêu căng ở dạng hiện đại và thoái hóa của nó không bó buộc điều gì ngoài một sự đua nhau nói khoác. Từ nay tính kiêu ngạo được coi như một căn bệnh của các giai cấp lãnh đạo Châu Âu, và cũng là căn bệnh đã lỗi thời như bệnh giang mai hoặc bệnh lao.
Trái lại, cái được kính trọng, và lại còn được kính trọng một cách thái quá, chính là tiền. Khi tôi rời nước Pháp, theo lề thói người ta vẫn chưa có can đảm vãi tiền ra khắp nơi. Giờ đây tôi ngạc nhiên thấy rằng tỉ giá của thị trường chứng khoán, lãi suất và giá trị tiền tệ, tất cả đã thay thế, trên những trang đầu của báo chí và cho tới những cuộc chuyện trò của người bình dân, cho sự vận hành của các cuộc cách mạng, rằng những nhà kinh doanh lớn đang thôi miên những trí tưởng tượng mà trước đây các giả giải phóng thực sự hoặc giả định của nhân dân cầm giữ, và cuối cùng là điều tôi thấy rằng danh tiếng và địa vị của một người trước sự kính trọng của những người khác là tùy thuộc vào những dấu hiệu về sự giàu có mà anh ta có thể đưa ra một cách thừa thãi. Hơn nữa, chủ nghĩa xu thời nhạt nhẽo nhất đã đặt ra những qui tắc và giới hạn cho sự phô trương này: không phải sự lập dị là cái người ta ham muốn và khen ngợi, mà ngược lại chính là sự giống hệt với các mô hình hành vi, mô hình y phục, mô hình giải trí, mô hình văn hóa vv… mà sự lặp lại không ngừng có tính chất quảng cáo đối với chúng đã làm cho tâm hồn con người ngây dại.
Về mọi mặt, người ta đang hấp tấp đổ xô một lúc từ mọi phía vào thời đại của cái dung tục. Những con người này, là những kẻ thừa kế không xứng đáng của một tinh thần khai sáng châu Âu, đã kiếm thú vui và mô hình bình thường từ cuộc chuyện trò của họ về buổi biểu diễn hàng ngày của các con rối bằng cao su và được xem như tượng trưng cho những bậc vĩ nhân của thế giới này, những buổi biểu diễn mà ở đó sự thô bỉ của những nét đặc sắc chỉ chịu thua cái điều vô nghĩa lí được nhắc lại rập khuôn trong các câu đối thoại: họ tưởng đây là kịch của Moliere. Người ta đã bỏ quên sự hài hước để đổi lấy trò đùa, bỏ sự ngạo mạn để đổi lấy tính vô lại. Người ta thán phục những kẻ bịp bợm, những kẻ đã ăn cắp của người khác nội dung và cả hình thức của những cuốn sách của họ, ngay khi mà món ăn cắp tỏ ra đủ mức vô liêm sỉ và con người của kẻ lừa đảo đã trở nên nổi tiếng để cung cấp đề tài cho những bài phát triển phong phú của nghề báo chí; bởi vì, một cách kì lạ, cái mà người ta không tha lỗi cho một thí sinh tú tài, thì người ta lại lượng thứ cho một kẻ mạnh, và người ta có thể luôn luôn tìm thấy có đủ những tâm hồn hèn hạ để gán cho lòng hào hiệp thái quá của thiên tài những điều thiếu tế nhị hiển nhiên nhất.
Sở dĩ tôi gợi ra những điều thấp hèn này (mà vả lại tôi phải công nhận là có thể sự ngây thơ của tôi đã làm cho tôi phóng đại điều mới lạ), đó là vì tôi giả định rằng đáng ra chúng đã có thể có mặt trong bức thư bỏ dở của A. Tôi không thể tin tưởng dứt khoát rằng lí do của anh hoàn toàn là thuộc khía cạnh tình cảm, mà đúng ra tôi không thể không nghĩ rằng, đối với con người mà tôi đang nhớ lại và rằng hình như anh là người ngây thơ đần độn, thì những nỗi thất vọng sâu kín chỉ có thể có được một sức mạnh khủng khiếp như vậy khi chúng gia tăng và làm sâu sắc một cách quá chừng những nỗi buồn bao la hơn và mang tính triết lí hơn. Như vậy tôi phải giả định là bỗng nhiên anh thấy rằng người con gái mất tích là thuộc về cái thế giới đó, rằng sự ra đi của nàng được cảm nhận như là một việc bỏ chạy sang hàng ngũ kẻ thù ngay giữa lúc đang diễn ra trận đánh (giữa lúc hỗn loạn). Thế là bức chân dung của nàng đã được hoàn thành và trở nên phức tạp hơn – theo cách hoàn toàn là giả định – một trong những dây kéo giữ cho nàng bị thắt nghẹn từ bên trong đã được nối với một khát vọng lãng mạn hướng tới những nỗi cô đơn cao thượng hơn được nghệ thuật và dục vọng chia sẻ, một sự khô khan làm cho nàng khát khao những thứ tầm thường nhất của đời sống tư bản thời bấy giờ: một tâm hồn vừa cuồng nhiệt vừa trống rỗng, vừa kịch tính vừa phù phiếm, nàng vừa mơ ước một cách mơ hồ những sự việc quan trọng và bận tâm bởi những chuyện vụn vặt, vừa đau khổ vì thấy mình bị giằng xé bởi những biến động quá mâu thuẫn như thế. Sự mâu thuẫn giữa ý muốn phản bội với nỗi hổ thẹn vì phản bội đã làm cho miệng nàng câm lặng như miệng của Judas trong bữa tiệc chia li với Chúa. Nhưng có thể là tôi đã tự tưởng tượng ra những cơn bão tố mà đầu óc nàng chẳng hề bận tâm, có thể thực tế diễn ra tầm thường hơn nhiều và nàng đã bỏ A. bởi lẽ đơn giản chỉ là vì nàng không thể sống cùng anh được. Dù sao đó cũng là những điều mà những sự việc khác mà tôi biết được đã có thể làm cho tôi tin như thế, và tôi phải chắp nối chúng lại.