Đã mấy năm tôi quên mất thế nào là mùa đông. Cái nắng hừng hực của bầu trời không một gợn mây, rồi đến cái lò hấp làm sôi mặt biển, đôi khi lại có những guồng cát thổi tới từ hoang mạc Nubie làm cho da thịt khô đét như những xác ướp mômi: đó là tất cả những hiện tượng khí tượng mà tôi quen biết từ mấy năm nay. Bây giờ, khi nhìn qua cửa kính tàu hỏa đang chạy ngược dòng sông Rhône, tôi quan sát những cảnh tượng buồn bã của xứ lạnh giống như một kẻ xa lạ đang xem một vở kịch. Xen giữa những nếp gấp của dải đất đen là những vũng nước lấp lánh như những đồng tiền hiện ra trong ánh hoàng hôn. Những con đường nhão nhoét, được ghi dấu bởi bước chân của gia súc, chạy dài về phía xa với những nét vạch tô điểm màu hoa cà và màu nâu. Bầu trời bị rạch nát bởi những đám mây xám và với những đàn quạ bay lượn. Ở chỗ khác, người ta nhìn thấy những ngôi nhà có những bức tường ẩm thấp, những ngọn đèn nêông run rẩy sau cửa kính nhòa hơi nước, những bãi đỗ xe hiện ra nhấp nhô dưới ánh điện màu da cam. Một cơn mưa tuyết làm cho vỉa hè lấp lánh nước như những vỉa than đá, vỡ ra thành những vòng hạt trai xung quanh các cột đèn.
Bà giúp việc là một người có khuôn mặt mòn mỏi và nhợt nhạt như một bánh xà phòng. Bà nói chuyện chậm rãi, dài dòng, vì bà phải tìm câu chữ, không phải vì bà khó diễn đạt, mà có lẽ là vì bà muốn diễn đạt cho chính xác. Món tiêu khiển của bà là một chiếc máy thu hình và một con mèo. Khi tôi đến, bà tắt máy thu hình và đuổi con mèo ra hành lang: thái độ lịch sự này làm tôi rất biết ơn. Bà không tỏ ra ngạc nhiên khi gặp một người lạ từ cảng Xuđăng đến, điều này như thể cũng chẳng khác gì chuyện một người khách hàng xóm sang chơi. Bà hỏi han tôi đôi điều về những trò giải trí và về những chuyện lạ ở nơi tôi sống, bà hỏi vì phép lịch sự hơn là vì quan tâm thật sự. Và vì tôi trả lời là thực ra mà nói thì chẳng có gì lạ nên bà cũng không gặng hỏi thêm nữa. Bà có một nhận xét hơi kỳ lạ: “Điều đó cũng chẳng có gì ngạc nhiên”. Bà tiếp tôi một cốc rượu vang, sau đó bà bắt đầu nói mà không cần tôi phải hỏi. Hình như bà đã đợi từ lâu để được trao tặng món quà ngôn từ này.
Về nàng, bà giúp việc chẳng biết gì ngoài quần áo và đồ đạc của nàng. Tên nàng, khuôn mặt nàng, tuổi tác nàng, bà đều không biết. Nhiều nhất bà chỉ có thể căn cứ vào một số dấu hiệu mà suy ra rằng nàng là một người đàn bà rất trẻ. Chẳng hạn như đôi giầy vải thể thao của nàng, có một đống giầy vải thể thao màu trắng để xếp hàng dưới tủ sách: theo bà, một người đàn bà không trẻ thì không đi giầy vải thể thao. Bà tưởng tượng nàng vừa đi dọc hè phố vừa chú ý không đặt chân vào khớp nối của phiến đá lát đường. Nhẹ nhàng, mơ mộng, nàng hoàn toàn bị cuốn hút bởi cái trò chơi con trẻ này. Hoặc là khi ấy, vào mùa hè, nàng chạy trên bãi cát mịn và cứng ngoài biển, nơi thủy triều xuống đã tạc trên nền cát những đợt sóng gợn im lìm, nàng nhẩy tung tẩy, tóc bay phấp phới, những lạch nước do thủy triều xuống để lại đang tỏa ánh lấp lánh. Nàng chú ý không để bị ướt. Sau đó nàng bỗng dừng lại, hai tay chắp sau lưng, mải mê nhìn trân trân xuống đất tìm kiếm vẩy xà cừ đang lóng lánh ngũ sắc dưới ánh chiều tà, tìm kiếm những chiếc vỏ sò màu vàng chanh hoặc màu mơ mà cái miệng vỡ của chúng để lộ cho thấy một hình xoắn ốc hoàn hảo, giống như chiếc cầu thang của một ngọn tháp trong đó có các nàng tiên sinh sống. Hoặc bà còn hình dung thấy nàng đứng một chân làm trụ xoay người nghịch ngợm vẽ nên những vòng tròn hoàn hảo trên mặt cát. Khi ấy, chiếc váy của nàng, một chiếc váy rộng may bằng vải ca rô đen trắng, tung bay quanh hông nàng. Và, bà khẳng định với tôi rằng những chuyện đó chắc là diễn ra vào lúc ánh nắng quét sát đất đang làm cho những chiếc bóng dài ra vô tận – mặt trời gần như đang chạm sát vạch chân trời dưới vòm mây tía. Có thể có cả một đàn ngựa phi dọc theo dải đá ngầm chắn sóng: và khi đó ta có thể nghe thấy tiếng vó ngựa gõ dồn dập làm tung tóe bọt nước, nghe tiếng đàn ngựa khịt mũi, tiếng vỗ nước chậm chạp của thủy triều, và tiếng la hét của tốp kỵ sĩ đang xa dần về phía vách đá dựng đứng in hình tối sẫm. Những lúc này, bà nghĩ (nếu như những chuyện đó thật sự xảy ra), có lẽ là A. vô cùng hạnh phúc. Sau đó họ dắt tay nhau đi ăn tối ở một khách sạn mà tại phòng ăn của nó ánh hoàng hôn từ sau mấy hòn đảo chiếu vào đang nhuộm màu hồng cho những chiếc khăn trải bàn.
Ở cảng Xuđăng, hoàng hôn phải tuân theo một nghi thức không đổi. Trong chốc lát những mái nhà, những tán lá cây, những cành cọ uốn cong, như bị cái nóng tích tụ ban ngày thiêu cháy, chúng phát ra những đám hơi lửa tỏ màu sắc dữ dội của iốt và lưu huỳnh. Trạng thái kịch phát này chắc là làm cho lũ kền kền phát điên lên đến nỗi bỗng nhiên chúng trở nên hoảng loạn lao cả vào nhau. Những đàn chim kêu ầm ĩ bay xáo xác trên trời, những đám lông chim vấy máu xoay tròn rơi lả tả trên thành phố như một tấm khăn voan nhọ nồi. Một sự điên loạn tương tự cũng làm cho lũ súc vật tràng nhạc lao vào cắn xé nhau, chúng là một loại giống lai ghê người giữa loài chó và loài linh cẩu, chúng thường đi lang thang dọc theo bờ biển để tìm ruột cá – và đôi khi chúng tìm thấy cả những khúc ruột dài thối hoắc của một xác người chết đuối nằm vắt trên bờ đá. Người ta nhìn thấy chúng nhe những chiếc răng nanh ngoạm vào cổ, vào mạng sườn kẻ thù và chúng chỉ nhả ra khi con vật kịp tắt thở hoặc bị liệt: hai con mắt lộn tròng trắng dã. Và ngay lập tức chúng xâu xé con mồi. Bỗng nhiên đêm tối đổ ập xuống giống như một con sóng khổng lồ ồ ạt kéo về từ khắp bờ biển của bán đảo Ả Rập, tất cả bỗng nhiên chìm vào vương quốc của bóng đêm, trong đó có những lò lửa bắt đầu bập bùng lửa đỏ và những chiếc đèn dầu bắt đầu phát ra những quầng sáng lốm đốm xác muỗi.
Màu đen và màu trắng là những màu quần áo của nàng. Giày vải trắng, ủng màu đen, quần bò và áo ngắn màu đen, áo sơ mi nữ và may ô ngắn tay màu trắng: ngoài ra không còn thứ y phục nào khác nữa. À có, còn chiếc váy ca rô. Đó là một phụ nữ mãn tang. Theo bà giúp việc, nàng chắc là phải có nước da xanh tái, ít đánh phấn son. Theo bà, điều đó cho ta đoán trước một bản tính dè dặt và nghiêm nghị, thích mơ mộng hơn là chuyện trò. Bà tưởng tượng thấy nàng thường tự chìm đắm trong suy tư, bị trói buộc vào một nút thắt bí mật mà nàng không thể cởi được và thậm chí không thể mô tả được mối buộc phức tạp của nó. Nó giống như một cái mỏ neo ngoắc vào trong một cái bình nội tâm, và nó neo nàng lại trong bản thân nàng một cách đau đớn (tất nhiên bà không nói chính xác những câu chữ như vậy, mà gốc rễ Tây Ban Nha của bà đã khiến bà sử dụng cái từ dễ nghe là ensmismada, tức là một tính từ hóa của từ “trong bản thân nàng”). Đó chính là hình ảnh của nàng dưới con mắt của bà, một cô gái thần tượng có nước da vàng như sáp, ít lời và không thích giao du, luôn luôn bị dày vò vì những nỗi sợ hãi mà nàng không thể mô tả được, nhưng có lẽ là nàng đã biết cách thu xếp và thậm chí vun đắp chúng như thể chúng là một bộ phận hiển nhiên nhất của chính cuộc đời nàng. Nhưng cũng có thể bà nhầm, và nàng đúng là một người đàn bà ngốc nghếch phù phiếm và nhẫn tâm. Điều đó cũng có thể xảy ra.
Dù thế nào đi nữa thì vào cái ngày mà A. bắt gặp cái nhìn của nàng thì anh đã nhìn thấy cái chết của mình trong mắt nàng. Có thể anh đã biết điều đó, và anh đã nghiệm thấy một niềm vui nghịch lý: nó giống như niềm vui của một anh lính kỵ binh ngày xưa trong khi xông lên tấn công vào trận tuyến của kẻ thù, hoặc giống như một người ra khỏi nhà vào buổi sáng sớm, hai khẩu súng ngắn nhét trong túi, anh ta bước đi trong đám sương mù tới đấu trường để tham dự một trận đấu tay đôi mà có thể anh sẽ chỉ trở về với tư cách là một cái xác nằm trên cáng, mặt giấu trong áo khoác. “Đó chắc chắn là một cái chết đẹp, thưa ông”, bà bảo tôi. Cuối cùng thì tôi cũng mong điều đó cho anh. Và, sau một tiếng thở dài khẽ: tôi tin là anh đáng được như vậy: nhưng chúng tôi không hiểu liệu cái điều xứng đáng với anh có phải là do một kết cục tốt đẹp, hay do người đàn bà trẻ ấy, hoặc liệu có phải cả hai điều ấy đã trùng hợp nhau trong tinh thần của anh như có lẽ chúng đã trùng hợp nhau trong việc làm cho đời anh cạn kiệt.
Có một điều đáng ngạc nhiên nữa mà thoạt đầu người ta có thể đã không để ý, và một người xa lạ với cuộc sống gia đình chắc là cũng không đề phòng, đó là những thứ đồ đạc của nàng có vẻ như luôn sẵn sàng sửa soạn để nàng ra đi; hoặc chúng được sắp xếp như thể nàng vừa mới đi xa về. Hầu như không có một ngăn kéo tủ nào được xếp đầy, mặc dù vẫn còn có những chỗ trống để dành cho nàng, quần áo của nàng được gấp để trên một cái bàn, hoặc được treo trên móc áo chỗ này chỗ kia, nói chung là móc vào tầng giá của tủ sách mà dưới đáy tủ nàng để xếp hàng những đôi giày vải và ủng bốttin. Vả lại, ngoài số ít chai lọ đựng đồ mỹ phẩm đặt trên bàn và trong buồng tắm ra, người ta chẳng thấy có một đồ vật gì có vẻ là của riêng nàng. Điều đó như thể việc nàng đến ở nhà A. là tuân theo một sự thôi thúc mà ngay sau đó nàng đã phải tự trách mình và không ngừng suy xét lại. Rõ ràng là thay vì trú ở đây, chưa nói rằng sống ở đây, nàng có vẻ như ấn định cho mình một sự cắm trại tạm thời – giống như một người du mục dừng chân bên một giếng nước mà ngay sau khi nó cạn kiệt là anh ta bỏ nó để ra đi không có ngày trở lại.
Và, theo ý kiến của bà giúp việc, trong tình trạng tạm thời này không có dấu hiệu của một tâm trạng hoạt động, của một sự mời chào vui vẻ: trái lại, nhiều lần bà ngạc nhiên nhận thấy rằng khi A. đi vắng – chuyện này được chứng thực bằng sự thiếu vắng một chiếc va li, quần áo, đồ dùng vệ sinh, vv… thì quần áo của nàng vẫn để lại trong căn phòng trống trải, nhưng nàng vấn có cái vẻ dè dặt, xa cách, như nghi ngờ đối với những người xung quanh. Bà cho tôi biết là A. thường đi xa, nhất là để viết văn. Và khi ấy hơn lúc nào hết, có vẻ như nàng sợ sệt và kính cẩn phải sống trong ngôi nhà của một người đã chết: nàng không đụng chạm đến một thứ gì, không ngồi vào chỗ bỏ trống, như thể tất cả đều được bọc bằng thứ vải mà người ta thấy ở đồ đạc của những ngôi nhà bỏ không. Vâng, bà bảo tôi, sự việc như thể A. là một xác chết đối với nàng – một xác chết khủng khiếp, hay là một xác chết gây ấn tượng, hay là một xác chết được yêu thích, nếu không thì người ta đã không ở cùng anh: dù thế nào thì anh cũng là một sinh linh xa cách với nàng (bởi lẽ trong cái mối liên hệ kỳ lạ gắn bó họ với nhau có thể nàng chính là xác chết còn anh lại là người sống: và khi ấy, nàng sống ở đây như một bóng ma mà tình yêu đã làm sống lại một thời gian để rồi lại biến mất khi nghe thấy tiếng gà gáy sáng).
Theo bà, một sự điên rồ như thế là biểu hiện của sự chuẩn bị sẵn sàng cho một chuyến ra đi vĩnh viễn mà mỗi một bộ quần áo của nàng là một dấu hiệu báo trước. Nhưng cũng có thể là bà nhầm, có thể đó chỉ là một cô gái tiểu tư sản có tình yêu chốc lát đối với A. trong khi vẫn biết chính xác rằng nàng không bao giờ có thể chia sẻ cuộc sống với anh, rằng đây chỉ là một cuộc dan díu nhất thời, một thử nghiệm, rằng nàng cần phải kiếm được một cái gì đó đầy đủ tiện nghi hơn để nuôi dạy con cái, một tình nhân giống như một chiếc tràng kỷ có thể chuyển đổi được. Trong khi đó thì một nhà nghệ sĩ, ông thử nghĩ xem có thể làm được gì cho nàng! Người ta không biết được điều gì về chuyện đó, và người ta không thể biết hơn được nữa.