Sương mù từ trên đồi hạ dần xuống, tràn lan các đường phố chiếm lĩnh thung lũng, tạo nên ảo giác sớm hơn trong buổi sáng, trước cả rạng đông khi mặt trời không chịu ló ra qua các đám mây, ngày như dừng lại. Lúc lái xe chầm chậm qua các con phố hẹp ở vùng lân cận Txokoto trên đường nối với La Carretera de Francia, Amaia nhận ra bà Engrasi quấn trong chiếc áo choàng dày sụ. Bà nép sát vào tường các ngôi nhà lúc đi xuyên qua khu chung cư cũ bên cầu. Lúc đến ngang chỗ bà, Amaia dừng xe và hạ cửa xuống.
– Cô ơi, cô đi đâu vào giờ này buổi sáng?
– Amaia! - Bà kêu lên, tươi tỉnh. - Ngạc nhiên quá! Cô tưởng cháu ở Pamplona.
– Cháu đang trên đường tới đó đây. Còn cô?
– Cô đến xưởng bánh, Amaia ạ. Cô lo về chuyện các chị của cháu. Flora quyết thực hiện cái việc lố lăng mua doanh nghiệp ấy, và hai đứa không ngừng chẹn họng nhau. Cô nghĩ đến đó là tốt hơn hết vì tối qua, Flora đã gọi cho Ros, báo sáng nay nó đến cùng một kiểm toán viên và một người định giá.
Amaia mở cửa xe.
– Cô vào xe đi ạ, cháu sẽ đi với cô.
Ngoài chiếc Mercedes của Flora, còn vài chiếc xe lạ đỗ bên ngoài. Người thợ đứng đầu chào đón họ với vẻ trịnh trọng, nó cũng là thứ phản chiếu trên khuôn mặt của các công nhân khác đang làm việc đằng sau các quầy bằng thép không gỉ. Ros bình tĩnh và nghiêm trang bên bàn trong văn phòng, dường như quyết không từ bỏ vị trí, dường như nó là một pháo đài hoặc tháp canh hoặc trung tâm quyền lực của doanh nghiệp, từ đó chị theo dõi hai người đàn ông mặc com lê đi tới đi lui. Một người mải đo không gian sàn, chụp ảnh các thiết bị và lò nướng, trong lúc người kia ngồi vắt vẻo trên cái ghế cao bất tiện cạnh quầy với Flora và đại lý xem xét sổ sách kế toán của Mantecadas Salazar qua nhiều năm. Flora mỉm cười khi trông thấy họ. Amaia có thể nói ngay là chị mình đang căng thẳng, mặc dù cố che giấu dưới cái mã kiêu hãnh rất riêng của một bạo chúa. Như thể chị ta mới là chủ nhân, là Nữ hoàng, với cung cách tự tin và giọng nói the thé, muốn chứng tỏ cho mọi người biết ai là người có quyền. Nhưng Amaia hiểu rõ chị mình, chị biết đây chỉ là bề ngoài Flora trưng ra trước công chúng, trái ngược với những cái liếc trộm Rosaura, chị vẫn bình thản quan sát điệu bộ của chị gái như một khán giả kiên nhẫn, dường như đang nghĩ có nên vỗ tay hay không ở cuối buổi diễn. Chính điều đó khiến người chị cả bối rối. Flora đã quen với những hành động tạo ra hiệu quả mong muốn, bắt mọi người phải theo ý mình, khi thấy phản ứng của Ros, hay đúng hơn là chẳng có phản ứng gì khiến chị ta giận điên lên. Nhưng Flora không phải là người duy nhất lo lắng vì thái độ thản nhiên của Ros. Amaia và bà Engrasi đã bàn bạc về thái độ đó và họ nhất trí rằng trước khi Flora coi đây là một trận chiến của ý chí, thêm một cơ hội cho chị ta tạo ấn tượng, có thể làm Ros kiệt sức. Trong năm vừa qua, Ros đã coi xưởng bánh là trung tâm thế giới của mình, chị có nhiều kế hoạch lớn cho nơi này, và chắc chắn đó là thành công lớn đầu tiên trong đời chị.
– Cô đã đề nghị giúp Ros về tài chính, - bà Engrasi thừa nhận. - Cô nhận thấy chưa chắc cô đã đúng hết mọi thứ, nhưng cô nghĩ xưởng bánh có ý nghĩa với Ros nhiều hơn với Flora.
-James cũng đề nghị giúp, nhưng chị Ros từ chối; chị cháu cứ một mực nói phải làm việc này một mình.
– Nó cũng nói thế với cô, - bà Engrasi đáp lại, buồn bã. - Thỉnh thoảng cô cứ tự hỏi các cháu gái của cô độc lập như thế có phải là tốt không, cô không biết bọn cháu lấy đâu ra cái tính không chịu nhận sự giúp đỡ của người khác.
Yên tâm vì sự êm ả hiển nhiên, Amaia để bà cô ở xưởng. Vài phút sau, chị đã trên đường về Pamplona.
Sương mù đi cùng chị suốt quãng đường tới hầm Almandoz, buộc chị chạy chậm lại. Mỗi năm, quãng đường này gây thiệt hại bao sinh mạng của lái xe tải trên đường tới Pamplona và Irún, cùng dân địa phương ở thung lũng, họ đành cam chịu thuế cầu đường tàn bạo khi trời mưa, sương mù và những thời kỳ đường hầm đóng cửa, buộc họ phải đi con đường cũ nguy hiểm hơn nhiều.
Amaia không ngừng nghĩ tới chuyện xảy ra với tiến sĩ Takchenko, bản năng đã mách bảo chị ấy gửi mẫu vải qua hãng vận chuyển. Chồng chị ấy đúng, Takchenko là người dai sức nhưng cũng là người thông minh. Hơn một lần trong suốt thời gian quen biết, Takchenko đã chứng tỏ cho Amaia thấy không những chị sở hữu một trí tuệ sáng láng mà cả bản năng để tồn tại, chính nó đã giữ cho chị còn giá trị ở đất nước mình, nơi vì nhiều lý do không bao giờ chị giải thích, chị rất ác cảm với các đồn cảnh sát. Trong trường hợp này, là Takchenko chứ không phải Amaia đã hiểu cả ý nghĩa lẫn mối đe dọa gắn liền với mẩu chứng cứ, khi chị nhận mẫu là đã đặt mạng sống của mình vào cảnh hiểm nghèo. Nhưng nếu mẫu vải đó là chứng cứ không được xử lý và không ai chứng kiến Amaia nhặt được nó, chỉ kẻ sát nhân mới biết nó vẫn còn đấy, và thế là đủ chứng tỏ tội lỗi hoặc chí ít cũng gây ra nghi ngờ. Những lời của Sarasola vang trong đầu chị: “Cô có thể gặp một thứ quá ư nguy hiểm”.
Trước đó, Amaia đã gọi cho Sarasola, và chị cho rằng có lẽ ý kiến của Iriarte đề nghị ông ta không đến nỗi là phi lý. Nhưng còn một việc khác chị cần làm. Chị tạt vào một cửa hàng máy tính ở ngoại ô Pamplona, mua hai cái USB, rồi trở về ngôi nhà trên đường Mercaderes, chị xem lại file về Fina Hidalgo. Ngoài lệnh khám xét và một tài liệu liệt kê các chi tiết về bà ta, còn một danh sách các nơi Fina đã làm việc. Chị băn khoăn vì sao Etxaide quan tâm đến chuyện này. Chính Hidalgo đã nói với họ rằng sau khi anh trai mất, bà ta được nhiều bệnh viện khác nhau thuê. Chị xem kỹ bản danh sách lần nữa. Công việc cuối cùng trước khi bà ta nghỉ hưu là ở bệnh viện Comarcal de Irún, trước đó, bà ta làm bà đỡ ở hai bệnh viện tư: Virgen de la Manzana ở Hondarribia và bệnh viện Río Bidasoa, cũng ở Irún. Đọc lại các tên bệnh viện, chị hiểu thứ khiến Jonan chú ý: Río Bidasoa. Từ Oronoz-Mugaire, sông Baztán đã đổi tên; ở Doneztebe gọi là sông Bidasoa - cùng một dòng sông nhưng ở mỗi tỉnh lại mang tên khác nhau. Hào hứng và được phát hiện ấy cổ vũ, chị nhấc điện thoại gọi Montes.
– Thanh tra à?
– Tôi nghĩ chúng ta đã nhầm khi đặt ranh giới tìm kiếm tới dòng sông Baztán. Trên đường tới vịnh Biscay, con sông chảy qua Navarre và Guipuzcoa, ở đó nó có tên là Bidasoa. Nếu Fina Hidalgo là kẻ đi tuyển mộ bố mẹ của các bé gái này, có thể hoạt động của bà ta mở rộng tới nhiều vùng khác, nơi bà ta làm việc. Nói với Zabalza mở rộng tìm kiếm các bé gái chết vì hội chứng đột tử ở Guipuzcoa, tập trung vào những nơi gần sông Bidasoa.
Amaia ngắt máy, rồi cho USB vào máy tính. Sau khi tải nội dung file của Jonan, chị đọc lại tin nhắn tự động, thực sự là một di sản của người bạn đã khuất để lại cho chị. Lúc xóa nó đi, Amaia cảm thấy như cắt rời một thứ thân thuộc, kết nối về mặt tâm linh, một thứ là mối đe dọa lớn đến thế, nguy hiểm đến thế, vì nó mà Jonan đã chết và tiến sĩ Takchenko suýt nữa cũng mất mạng. Trước khi ra khỏi nhà, Amaia cất USB vào xắc, rồi cuối cùng, cầm cuốn sách của Dupree theo. Chị lái tới bãi xe ở trung tâm thương mại, rồi xuống xe, chào tài xế của Sarasola lúc chị vào xe, nơi vị linh mục đang đợi.
Amaia đi thẳng vào việc.
– Cha nói có một nhân chứng đã ra trình diện.
– Phải, một thành viên của giáo phái đã hối lỗi.
– Tôi cần nói chuyện với ông ta.
– Không thể được, - Sarasola không tán thành.
– Có lẽ là với tôi, nhưng với cha thì không, - chị đập lại.
– Ông ta là một nhân chứng được bảo vệ.
– Vâng, cha đã nói với tôi rằng ông ta được cảnh sát và Giáo hội bảo vệ, - chị nói.
Cha Sarasola nín lặng. Vài giây sau, ông nghiêng người nói địa chỉ cho tài xế, và xe nổ máy.
– Bây giờ ư?
– Có gì không ổn sao? Bây giờ không thích hợp với cô à?
Amaia không nói gì cho đến khi xe đỗ ở một góc đường trong khu phố cổ của thành phố.
– Ông ta ở đây, ở Pamplona?
– Cô nghĩ còn nơi nào tốt hơn? Xuống xe đi, tự giải trí mười lăm phút rồi đến số nhà 27 trên phố song song với phố này, bấm chuông phòng số một.
– Nó có an toàn không?
– Opus Dei sở hữu cả khối nhà, và hãy tin tôi, con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người ngoài bước vào tòa nhà này.
Chị được dẫn tới một căn hộ nguy nga, trần nhà cao, hình vòm, các cửa sổ cao như các ô cửa mênh mông, để ánh sáng mờ nhạt của mùa đông Pamplona lọt vào, cộng với những tấm rèm mỏng, trắng muốt tạo cho căn phòng cảm giác ảm đạm. Mặc dù có lò sưởi trung tâm và bóng đèn vùi trong đường phào cao hơn đầu người ba mét chiếu ánh sáng màu vàng lờ mờ, cùng đồ đạc ít ỏi và giản dị tạo nên bầu không khí không thân thiện. Một người đàn ông mặc bộ com lê xám rộng thùng thình, sơ mi trắng sạch sẽ; Amaia nhận thấy ông ta đi dép lê, không hợp mấy. Mái tóc cắt ngắn, lốm đốm hoa râm làm ông ta nom già hơn tuổi, theo Sarasola nói là năm mươi lăm.
Ông ta nhìn chị vẻ ngờ vực, nhưng chăm chú lắng nghe vị linh mục và khiêm nhường chấp nhận yêu cầu của ông.
– Xin hãy kể cho tôi về thời gian ông ở Lesaka.
– Tôi hai lăm tuổi và vừa rời trường đại học. Hè năm ấy tôi đến Pamplona với bạn bè, dự lễ hội San Fermín. Tôi gặp một cô gái, cô ta mời tôi về ngôi nhà cô sống chung. Lúc đầu, mọi sự vui vẻ. Giống như một loại cộng đồng, họ nghiên cứu các truyền thống cổ xưa, thảo luận làm người có ý nghĩa ra sao và tìm hiểu các sức mạnh của thiên nhiên. Họ trồng cần sa, và chúng tôi thường trèo lên cao, lắng nghe gió thổi, gần gũi với Mẹ Đất, nhảy múa quanh đống lửa. Thỉnh thoảng, cả nhóm tổ chức những buổi cổ vũ các thành viên mới gia nhập, những người trong thung lũng hoặc những người ngoài như tôi quan tâm đến thuyết thông linh, năng lực siêu nhiên, truyền thống của phép phù thủy ở Baztán. Họ nói nhiều đến một người tên là Tabese, ông ta nói gì, am hiểu ra sao, nhưng trong những ngày đầu tiên ấy tôi chưa bao giờ gặp. Cuối mùa hè, hầu hết mọi người phiêu bạt, nhưng họ mời tôi ở lại. Lúc đó, họ bắt đầu tiết lộ cho tôi bản chất thật sự của nhóm.
Tháng Chín năm ấy, tôi gặp Tabese lần đầu tiên. Ông ta mê hoặc tôi ngay từ đầu. Tabese lái một chiếc ô tô đắt tiền, ăn mặc sang trọng mà không phô trương, ông ta có vẻ thoải mái của người luôn luôn có tiền, cô hiểu không? Ông ta là người quá ư hấp dẫn, từ nước da, mái tóc đến phong thái, là người độc nhất vô nhị. Tôi nghĩ tất cả chúng tôi đều mê muội vì ông ấy, - ông ta ngừng và Amaia nhận thấy lúc nói, ông ta cười, như bị mê hoặc lần nữa khi nhớ tới người đàn ông này. - chúng tôi ngưỡng mộ Tabese. Chúng tôi sẵn sàng làm mọi thứ ông ta yêu cầu, và chúng tôi đã làm thế. Ông ta đầy sức thu hút, gợi cảm và hấp dẫn không cưỡng nổi, trước kia và từ đó tôi chưa bao giờ cảm thấy như thế với bất cứ người nào, nam hoặc nữ, - ông ta nói thì thào, buồn bã.
– Tabese sống ở đâu?
– Tôi không biết; chúng tôi chưa bao giờ biết khi nào ông ấy đến, ông ta đột ngột xuất hiện và tất thảy chúng tôi đều hết sức mừng rỡ. Rồi khi ông ta ra đi, chúng tôi sống để đợi chuyến thăm tiếp theo.
– Ông có nhớ tên đầy đủ của ông ấy không?
– Tôi sẽ không bao giờ quên: Xabier Tabese. Chắc ông ấy trạc bốn lăm tuổi. Tôi chỉ biết có thế. Hồi đó, chúng tôi không cần biết gì hơn, chỉ biết thờ phụng ông ấy và ông ấy ban cho chúng tôi quyền hạn này. Tabese bảo chúng tôi chính xác phải làm gì và làm như thế nào. Ông ấy dạy chúng tôi phép phù thủy, khuyến khích trở về các phương pháp truyền thống, tôn trọng cội nguồn của chúng tôi, đại diện cho sức mạnh nguyên thủy và giải thích rằng cách duy nhất để kết nối với những sức mạnh ấy là thông qua các lễ vật. Ông ta tiết lộ với chúng tôi những tín ngưỡng bị coi thường, sự có mặt của các sinh vật phi thường, có ma lực đã tồn tại ở Baztán từ thời cổ đại. Tabese kể với chúng tôi những cư dân đầu tiên đã xây dựng các vết tích dưới dạng các cự thạch và những đường nối kỳ lạ theo hình chữ chi khắp vùng lãnh thổ, theo phân loại của Watkin có từ thời kỳ đồ đá mới, ám chỉ đến sự có mặt của các linh hồn này, việc chúng tôi cần làm là đánh thức chúng bằng cách dâng cúng lễ vật và sẽ đạt được mọi thứ mình mơ ước.
Tabese giải thích rằng hàng ngàn năm qua, con người đã hưởng mối lợi qua lại và mối quan hệ mãn nguyện với những sức mạnh này, và tất cả chúng ta phải hiến sinh để trao đổi, những vật hiến tế nhỏ là súc vật phải hiến dâng theo cách đặc biệt. - Người đàn ông xát mạnh tay lên mặt, dường như định xóa sạch những nét đặc trưng của mình. - Chúng tôi sớm nhận được những ân huệ đầu tiên, những bằng chứng đầu tiên của sức mạnh này, chúng tôi cảm thấy phấn khích và bất khả chiến bại như các thầy phù thủy thời xa xưa. Cô không thể hình dung cảm giác ra sao khi ta biết sẽ xảy ra sự thay đổi ở bất cứ dạng nào, khiến ta cảm thấy mình như một vị thần. Nhưng chúng tôi càng nhận được nhiều ân phúc, họ càng đòi hỏi chúng tôi nhiều hơn. Tôi sống với nhóm khoảng một năm, trong thời gian đó tôi tiếp cận với kiến thức, các sức mạnh và những trải nghiệm khác thường…
Nói đến đây, người đàn ông ngừng bặt, nhìn chằm chặp xuống sàn lâu đến mức Amaia bắt đầu thất vọng. Rồi ngẩng đầu lên, ông ta nói tiếp:
– Tôi sẽ không nói đến lễ hiến sinh, tôi không thể. Trên thực tế, chúng tôi đã làm thế, tất cả chúng tôi đều tham gia. Theo quy định các bố mẹ tự giao nộp con gái, tự lấy mạng của bé. Khi việc đó kết thúc, họ mang xác bé gái đi, rồi vài ngày sau họ bắt đầu rời khỏi nhóm, và chỉ trong vòng một tháng mọi người đều ra đi. Tabese không bao giờ trở lại. Tôi là người ra đi cuối cùng. Hồi đó, chỉ còn lại một cặp vợ chồng duy nhất đã dâng lễ vật.
Tôi không gặp các thành viên khác trong nhiều năm, tuy tôi biết mọi việc với họ tiến triển thuận lợi, chí ít cũng tốt đẹp như với tôi vậy. Tôi tìm được việc làm, khởi đầu một doanh nghiệp, và chỉ trong vài năm tôi đã thành người giàu có. Tôi đã cưới vợ, - ông ta nói, sờ vào cái nhẫn. - Tôi có một con trai. Năm lên tám, nó bị ung thư. Trong một chuyến đến khám ở bệnh viện, tôi gặp một thành viên trong nhóm giữa các nhân viên y tế. Anh ta đến gần tôi, và khi tôi kể về số phận con trai mình, anh ta nói mình có khả năng chữa khỏi cho thằng bé, mọi việc tôi cần làm là thực hiện một lễ hiến sinh. Nỗi đau và sự thất vọng khi thấy con mình đau đớn khiến tôi cân nhắc đến việc đó. Bất chấp hậu quả ra sao, tôi tự hỏi bản thân nhiều câu khi theo dõi con mình chết dần. Đầu tiên và trước hết: Tại sao chuyện này xảy ra với ta? Điều gì khiến ta đáng phải chịu chuyện này? Trong trường hợp của tôi, câu trả lời thật rõ ràng lúc tiếng nói của Thượng đế vang trong đầu tôi. Vài tháng sau con trai tôi chết, một tuần lễ sau tôi đến gặp cảnh sát và tôi ở đây. Chúng tôi đã làm một việc và thu về nhiều tiền, nó có thật như tôi đang ngồi đây vậy. Ngay khi tôi thú tội và báo án, mọi thứ đổ sụp tan tành: tôi mất việc làm, mất tiền, mất vợ, mất nhà cửa và bạn bè. Tôi không có nơi nào để tới, không có ai để bầu bạn.
– Tôi biết còn có nhiều nhóm khác trong vùng.
Người đàn ông gật đầu.
– Ông có biết bất kỳ ai nữa thực hiện một trong các lễ hiến sinh này không?
– Tôi biết có tin đồn đang lan rộng ngay tại Baztán này. Tôi nhớ trước kia đã tới thăm ngôi nhà đó, một trong các cặp vợ chồng có một đứa con gái. Con bé có vẻ đã được chọn.
– Ông nói thế là có ý gì?
– Tôi đã thấy chuyện đó trong nhóm chúng tôi; các bố mẹ để con gái gần chết đói, và những người khác trong nhóm tránh tiếp xúc với bé. Nó đã được chọn làm vật hiến sinh, và bất cứ mối quan hệ thông thường nào cũng làm cho sự việc trở nên phức tạp. Nó bị đối xử như với mọi sinh vật khác đã chọn làm lễ hiến sinh, nó không có tên, không giấy khai sinh, bị bỏ rơi.
Amaia tìm ảnh mẹ chị trong điện thoại lúc bà còn trẻ và giơ ra cho người đàn ông.
– Đúng, - ông ta rầu rĩ nói. - Bà ấy thuộc nhóm Baztán. Tôi không biết bà ấy có theo nhóm đến cùng không, nhưng khi tôi gặp, bà ấy đang có mang.
– Họ làm việc đó như thế nào? Trình tự đạt được kết quả mong muốn ra sao?
Người đàn ông đưa tay che mặt, và nói qua các ngón tay xòe rộng:
– Tôi xin cô, không, xin đừng, - ông ta cầu khẩn.
– Đạo hữu, - Sarasola nói, vẻ trách cứ.
Ông ta bỏ tay che mặt và nhìn cha, sợ chết khiếp vì giọng nói của vị linh mục.
– Họ phải hy sinh cho một linh hồn độc ác, cho Inguma, theo cách của Inguma, cướp đoạt không khí, rồi sau đó phải giao nộp xác họ làm lễ vật.
“Ác ma ngự trên ngươi”, Amaia nghĩ.
– Với mục đích gì?
-Tôi không biết.
– Chuyện gì xảy ra với xác bé gái ở Lesaka?
– Tôi không biết. Có một thứ mà các bố mẹ phải làm, là một phần của nghi lễ, một nhiệm vụ phải hoàn thành. Đứa trẻ phải là gái, không quá hai tuổi và chưa rửa tội.
– Chưa rửa tội, - Amaia lặp lại và ghi thông tin đó. - Tại sao vậy?
– Vì rửa tội cũng là một dạng lễ vật, một lời hứa hẹn với một vị thần khác. Chúng không được rửa tội.
Amaia không thể không nhớ tới con trai mình, nằm dang chân tay trên nền hang, và tự hỏi cách các hành tinh sắp thẳng hàng, giữ cho nó khỏi chết trước khi nó ra đời.
– Còn nhóm tuổi?
– Cho đến khi lên hai, linh hồn vẫn trong thời kỳ quá độ, và chúng đủ độ chín để làm lễ vật. Chúng có thể đem dâng cúng suốt thời thơ ấu và trưởng thành, khi sự thay đổi khác xảy ra cũng làm chúng trở thành lễ vật đáng mong ước hơn. Tuy nhiên, che giấu cái chết của một đứa trẻ lên hai dễ hơn của một thiếu nữ.
– Tại sao lại là bé gái chứ không phải bé trai?
– Lễ vật phải thuộc cùng giới tính. Tôi không biết tại sao, nhưng Tabese bảo chúng tôi đây là cách vẫn thường làm. Inguma thức giấc và nhận một số nạn nhân cùng giới tính, cùng độ tuổi, hoàn cảnh tương tự, cho đến khi chu trình hoàn tất. Ông ta giải thích tầm quan trọng của việc thực hiện đúng cách, và những lợi ích chúng tôi sẽ gặt hái. Nói chung, cánh đàn ông hăng hái hơn. Họ giục giã phải có thêm con, ngay lập tức, nhưng một số phụ nữ, kể cả những người phạm tội, sau đó thường bị trầm cảm, và thấy việc đó quá khó khăn. Nhiều người chẳng hay biết gì về những trù tính của chồng. Tôi nghe nói một số cặp đã chia tay. Tôi không thấy phải làm ầm lên chuyện này, nhưng khi mất con, tôi mới biết mình không thể yêu một đứa con thay thế, và nếu bị ép buộc phải có đứa khác, rốt cuộc tôi có thể căm ghét nó.
– Các thành viên nhận được gì khi trao đổi bằng lễ vật?
– Bất cứ thứ gì họ muốn, còn tùy thuộc vào loại lễ vật: sức khỏe dồi dào, sự giàu có, loại bỏ được đối thủ, kẻ thù; để đổi vật hiến sinh, họ có thể được những thứ không giới hạn.
– Tại sao sau khi chết lại cần mang xác đi?
– Vì đó là thứ họ dùng làm lễ vật, họ đem xác con đi dâng nộp, đặt vào nơi có thể thực hiện mục đích của mình.
– Nơi đó ở đâu?
– Tôi đã nói là tôi không biết mà, - người đó cảnh giác đáp lại.
– Ông cố nghĩ đi, gắng suy nghĩ kỹ, Tabese đã nói với ông về nơi nào?
– Những nơi kỳ diệu, những nơi sở hữu nhiều sức mạnh hơn các nước theo đạo Thiên Chúa, những nơi mà từ thời xa xưa, đàn ông và đàn bà dâng lễ vật để đổi lấy vụ mùa bội thu sau khi bị dông bão tàn phá. Những sức mạnh ấy có thể dùng cho cả việc thiện lẫn việc ác. Tabese nói chúng giống như một kính phóng đại cực lớn, hội tụ các năng lượng và sức mạnh của vũ trụ mà con người hiện đại quên lãng.
Amaia nghĩ tới các lễ vật chị để lại trên cái bàn đá ở hang của Mari, sự hiện diện chị cảm thấy lúc ở đó lần cuối.
– Còn rừng rú thì sao?
Ông ta nhìn chị, giật mình.
– Cô đang nói đến người gìn giữ sự hài hòa. Không phải mọi sức mạnh đều sở hữu tính chất như nhau, và một thứ đặc biệt là lòng nhân từ. Cô phải hiểu rằng thứ này có tác dụng như thuyết về hạt cơ bản, chi phối mọi cõi tồn tại trong lòng thế giới này; khi cô muốn cưỡng lại tự nhiên, cô phải dâng một thứ để đổi lại, một lễ vật, một vật hiến tế. Tưởng rằng một hành động có thể tồn tại mà không có hậu quả là ngu xuẩn. Vũ trụ phải khôi phục lại sự cân bằng và phản ứng dây chuyền của việc ta có thể làm là duy trì nó lâu dài. Bằng hành động của mình, chúng tôi đã đánh thức Inguma nhưng cũng đánh thức những sức mạnh đối lập với Inguma. - Ông ta ngừng lại, nụ cười méo mó hiện trên mặt. - Cô tưởng con trai tôi chết vì tình cờ ư? Hoặc vì tình huống tôi thấy mình không bị hậu quả trực tiếp của các sự kiện trong ngôi nhà đó hơn ba chục năm qua sao? Tôi tin là thế. Tôi biết là thế.
– Còn các thành viên khác quyết định rời bỏ nhóm thì sao?
– Cô không hiểu đâu, - ông ta đáp lại, vẫn với nụ cười méo mó. - Không người nào rời bỏ nhóm và không ai được xá miễn dâng lễ vật; sớm hay muộn Inguma sẽ bắt phải trả giá. Nhóm đã giải tán vì là một phần trong thỏa thuận, nhưng chúng tôi vẫn là thành viên trong nhóm.
– Tôi biết có người đã bỏ nhóm, - chị nói và nghĩ đến Elena Ochoa, - và có vẻ như thành công.
– Hậu quả là tôi bị trừng phạt không ngừng. Tôi đã làm việc phải làm, nhưng rốt cuộc họ sẽ tóm được tôi.
– Ông đang được bảo vệ chặt chẽ, - chị nói và liếc nhìn Sarasola.
– Cô không hiểu đâu, chỉ là bây giờ thôi. Cô nghĩ tôi có thể ở đây vĩnh viễn à? Họ đang chờ đến thời của họ thôi, và nhất định họ sẽ đến tìm tôi, khi họ làm thế, không người nào có thể bảo vệ được.
Amaia chán chường nghĩ đến cảnh Elena quỳ giữa vũng máu và những dăm vỏ quả óc chó.
– Tôi đã gặp một người nói y hệt ông vậy.
Lúc Amaia chìa tay, người đàn ông nhìn chị ngờ vực và khoanh tay lại.
– Cảm ơn ông đã giúp đỡ, - chị nói. Người đàn ông mệt mỏi cúi đầu thay lời đáp lại. - Một câu hỏi cuối cùng: quả óc chó có ý nghĩa gì với ông?
Vẻ mặt ông ta đông cứng lại và ông ta run rẩy, mặt mũi nhăn nhó lúc bật khóc.
– Họ để lại một số quả bên ngoài cửa nhà tôi, tôi thấy chúng trong xe, trong túi mua hàng, trong hộp thư của tôi.
– Nhưng chúng có ý nghĩa gì?
– Chúng tượng trưng cho quyền lực. Trong các nếp nhăn nhỏ xíu của quả óc chó chứa đựng lời nguyền rủa của phù thủy; nó có nghĩa là ta đã bị chọn, rằng họ sắp tới tìm ta.