Điệp Viên Kín: Một Câu Chuyện Giản Đơn

Lượt đọc: 113 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2

❊ ❊ ❊

Đó là ngôi nhà, gia đình và công việc mà ông Verloc để lại phía sau khi lên đường hướng về phía tây vào lúc mười giờ rưỡi sáng. Khoảng thời gian này đối với ông là sớm hơn mọi ngày; toàn thân ông tỏa ra vẻ tươi tắn như thể còn đọng giọt sương mai; chiếc áo khoác dạ xanh mặc phanh ngực; đôi giày bóng loáng; má cạo sạch sẽ, nhẵn nhụi; và ngay cả đôi mắt nặng trĩu mí, vừa được một giấc ngủ yên bình làm cho sảng khoái, cũng ánh lên vẻ lanh lợi hơn hẳn. Qua những thanh sắt của hàng rào công viên, cái nhìn ấy bắt gặp những người đàn ông và phụ nữ đang cỡi ngựa trên đường đua, từng cặp đôi nhịp nhàng phi nước kiệu, những người khác khoan thai tản bộ, tốp ba tốp bốn lang thang dạo bước, những kỵ sĩ cô độc trông có vẻ xa cách, cùng những phụ nữ đơn độc được theo sau ở một khoảng cách xa bởi một người hầu đội mũ có đính nơ và đeo thắt lưng da ngoài chiếc áo chẽn bó sát. Những cỗ xe lướt qua rộn rã, phần lớn là xe brougham hai ngựa kéo, thỉnh thoảng xen lẫn một chiếc victoria có lót da thú hoang bên trong, với gương mặt và chiếc nhẫn mũ của một người phụ nữ nhô lên phía trên phần mui gấp. Dưới ánh nắng đậm chất Luân Đôn—mà người ta chẳng thể chê trách điều gì ngoài việc nó trông đỏ ngầu—tất cả những cảnh tượng ấy đều được tôn lên vẻ rực rỡ. Mặt trời treo lơ lửng ở độ cao vừa phải phía trên Quảng trường Hyde Park Corner với vẻ cảnh giác đúng giờ và nhân từ. Ngay cả lớp mặt đường dưới chân ông Verloc cũng ánh lên sắc vàng cổ kính trong thứ ánh sáng lan tỏa đó, nơi mà tường, cây cối, thú vật hay con người đều không đổ bóng. Ông Verloc đang rảo bước về hướng tây xuyên qua một thị trấn không bóng râm trong bầu không khí ngập tràn thứ ánh sắc vàng cổ kính lấp lánh như bụi mịn. Trên mái những ngôi nhà, trên các góc tường, trên những tấm ván ốp xe, trên chính bộ lông của những con ngựa, và trên tấm lưng rộng của chiếc áo khoác của ông Verloc, đều hắt lên những tia sáng đỏ rực màu đồng thau, tạo nên một vẻ xỉn màu và có phần sờn cũ. Nhưng ông Verloc hoàn toàn không hề hay biết rằng mình trông có vẻ đã cũ kỹ. Bằng một ánh mắt đầy tán thưởng, ông ngắm nhìn qua hàng rào công viên những minh chứng cho sự giàu có và xa hoa của thành phố. Tất cả những con người này đều cần được bảo vệ. Sự bảo vệ chính là nhu cầu thiết yếu đầu tiên của sự giàu có và xa hoa. Họ cần được bảo vệ; ngựa xe, nhà cửa, gia nhân của họ cũng phải được bảo vệ; và nguồn cội của sự giàu khí ấy cũng phải được bảo vệ ở nơi trái tim của thành phố lẫn vùng nông thôn; toàn bộ trật tự xã hội vốn dung dưỡng cho thói nhàn hạ thanh sạch của họ cần phải được bảo vệ chống lại lòng đố kỵ nông cạn của tầng lớp lao động lấm láp. Phải thế chứ—và ông Verloc hẳn đã xoa tay vì mãn nguyện nếu như bản chất ông không phải là kẻ cực kỳ chán ghét mọi cử động thừa thãi. Thói lười biếng của ông chẳng có gì là thanh sạch cả, nhưng nó lại rất hợp với ông. Ông gắn bó với sự lười biếng ấy tựa như một thứ tín ngưỡng với lòng cuồng tín vô cảm, hay đúng hơn là sự vô cảm mang tính cuồng tín. Sinh ra trong một gia đình lao động cật lực, ông lại ôm lấy sự nhàn nhas bắt nguồn từ một thôi thúc sâu sắc đến khó hiểu và đầy quyền uy, chẳng khác nào thôi thúc khiến một người đàn ông chọn duy nhất một người phụ nữ trong số hàng ngàn người. Ông quá lười biếng để có thể làm một kẻ mị dân tầm thường, một diễn giả công nhân hay một lãnh tụ lao động. Làm thế quá rắc rối. Ông đòi hỏi một hình thức thảnh thơi hoàn mỹ hơn; hoặc có lẽ ông là nạn nhân của sự hoài nghi triết lý về tính hiệu quả của mọi nỗ lực con người. Một lối sống nhàn hạ như thế đòi hỏi, và đồng thời hàm ý, một mức độ thông minh nhất định. Ông Verloc không phải là kẻ thiếu thông minh—và trước ý nghĩ về một trật tự xã hội đang bị đe dọa, có lẽ ông đã nháy mắt với chính mình nếu như việc làm đó không đòi hỏi một chút nỗ lực của sự hoài nghi. Đôi mắt to, lồi của ông vốn không thích hợp để nháy. Chúng thuộc kiểu đôi mắt sẽ khép lại một cách trang nghiêm khi chìm vào giấc ngủ với một vẻ uy nghi.

Điềm tĩnh và vạm vỡ theo kiểu một con lợn béo, ông Verloc cứ thế bước đi mà không hề xoa tay mãn nguyện hay nháy mắt hoài nghi trước những suy nghĩ của mình. Ông nặng nề bước trên vỉa hè với đôi giày bóng loáng, và bộ dạng tổng thể của ông giống hệt như một thợ máy khá giả đang tự làm chủ công việc kinh doanh riêng. Ông có thể là bất cứ ai, từ thợ đóng khung tranh đến thợ sửa khóa; một chủ lao động ở quy mô nhỏ. Nhưng ở con người ông còn phảng phất một nét gì đó khó tả mà không một thợ máy nào có thể có được dẫu họ có hành nghề mờ ám đến đâu đi nữa: nét phong thái quen thuộc của những kẻ sống bám vào các thói hư tật xấu, sự dại dột hoặc những nỗi sợ hãi thấp hèn của nhân loại; cái vẻ đạo đức vô luân thường thấy ở những kẻ chủ sới bạc và nhà chứa; ở các thám tử tư và đặc vụ điều tra; ở những kẻ bán rượu và, tôi mạn phép cho rằng, cả những kẻ bán đai điện lực tăng lực lẫn những nhà sáng chế thuốc gia truyền. Nhưng về hạng người sau cùng này thì tôi không chắc lắm, vì tôi chưa đào sâu việc điều tra đến mức ấy. Theo tôi được biết, biểu cảm của những kẻ đó có lẽ hoàn toàn quỷ quyệt. Tôi cũng chẳng lấy làm ngạc nhiên đâu. Điều tôi muốn khẳng định là biểu cảm của ông Verloc hoàn toàn không có chút gì là quỷ quyệt cả.

Trước khi đến Knightsbridge, ông Verloc rẽ trái khỏi con phố chính tấp nập, ồn ào bởi dòng xe buýt tròng trành và những chiếc xe tải chở hàng đang phóng trog, để hòa mình vào dòng xe hansom swift chuyển động gần như im lặng. Dưới chiếc mũ hơi ngả về phía sau, mái tóc của ông đã được chải chuốt cẩn thận đến mức mượt mà đầy cung kính; bởi vì công việc của ông có liên quan đến một Đại sứ quán. Và ông Verloc, vững chãi tựa một hòn đá—một loại đá mềm mại—giờ đây sải bước dọc theo một con phố mà người ta hoàn toàn có thể gọi là phố riêng tư một cách chính đáng. Về độ rộng, sự vắng vẻ và chiều dài, nó mang dáng dấp uy nghi của tự nhiên vô cơ, của vật chất trường tồn bất biến. Lời nhắc nhở duy nhất về cõi trần thế phàm tục là chiếc xe brougham của một vị bác sĩ đang đỗ trong sự cô tịch trang nghiêm sát lề đường. Những chiếc vòng gõ cửa bằng đồng đánh bóng sáng loáng đến tận tầm mắt, những khung cửa sổ sạch sẽ tỏa ra thứ ánh sáng tối đục ngầu. Và tất cả đều chìm trong tĩnh lặng. Thế nhưng, một chiếc xe chở sữa vẫn lộc cộc lao qua khoảng không gian xa xăm; một cậu bé giao thịt, với sự liều lĩnh cao ngạo của một tay đua xe chiến mã trong Đại hội Olympic, vút qua khúc cua khi đang ngồi cao ngất nghểu trên cặp bánh xe màu đỏ. Một con mèo mang vẻ mặt tội lỗi chui ra từ dưới những phiến đá, chạy vội trước mặt ông Verloc một lúc rồi lẩn xuống tầng hầm của một ngôi nhà khác; và một viên cảnh sát mập mạp, mang vẻ mặt dửng dưng trước mọi cảm xúc như thể chính anh ta cũng là một phần của tự nhiên vô cơ, dường như nhô lên từ một cột đèn, đã không mảy may chú ý đến ông Verloc. Rẽ trái thêm một lần nữa, ông Verloc tiếp tục hành trình dọc theo một con phố hẹp chạy song song với bức tường màu vàng, vì một lý do bí ẩn nào đó, lại có dòng chữ Số 1 Quảng trường Chesham được viết bằng sơn đen trên đó. Quảng trường Chesham cách đó ít nhất sáu yards, và ông Verloc, với sự từng trải của một người sành sỏi không dễ bị đánh lừa bởi những bí ẩn địa lý của Luân Đôn, vẫn tiến bước đều đặn mà không hề lộ chút ngạc nhiên hay phẫn nộ nào. Cuối cùng, với sự kiên trì đúng tác phong công việc, ông đã đến Quảng trường và đi chéo hướng tới số nhà 10. Nơi đây thuộc về một cổng xe ngựa uy nghi nằm trong bức tường cao, sạch sẽ giữa hai ngôi nhà, trong đó một ngôi mang số 9 một cách rất hợp lý còn ngôi kia mang số 37; thế nhưng việc ngôi nhà sau lại thuộc về Phố Porthill, một con phố nổi tiếng trong khu vực, lại được thông báo bằng một tấm biển được gắn phía trên các cửa sổ tầng trệt do bất kỳ cơ quan có thẩm quyền cao nào chịu trách nhiệm theo dõi những ngôi nhà đi lạc của Luân Đôn đảm nhiệm. Tại sao người ta không thỉnh cầu Quốc hội ban hành quyền hạn (chỉ cần một đạo luật ngắn là đủ) để buộc những tòa nhà ấy phải trở về đúng vị trí của chúng lại là một trong những bí ẩn của công tác quản lý đô thị. Ông Verloc chẳng thèm bận tâm đến điều đó, bởi sứ mệnh trong đời ông là bảo vệ cơ chế xã hội, chứ không phải hoàn thiện hay thậm chí là chỉ trích nó.

Trời sớm đến mức người gác cổng của Đại sứ quán phải vội vã bước ra từ phòng trượng trực khi vẫn đangật vật xỏ tay vào tay áo trái của chiếc áo đồng phục. Chiếc áo gác-sê của ông ta có màu đỏ, và ông ta mặc quần lửng tới đầu gối, nhưng vẻ mặt lại hết sức bối rối. Ông Verloc, nhận ra sự áp sát ở bên sườn, liền đẩy lui nó bằng cách đơn giản là giơ ra một phong bì có đóng dấu huy hiệu của Đại sứ quán, rồi bước tiếp. Ông cũng dùng chiếc bùa hộ mệnh tương tự đó để đưa cho người hầu phòng đang mở cửa và lùi lại để nhường lối cho ông bước vào sảnh.

Một ngọn lửa rực hồng cháy trong lò sưởi cao, và một người đàn ông lớn tuổi đang đứng quay lưng lại phía nó, mặc đồ dạ hội và đeo dây chuyền quanh cổ, ngước lên khỏi tờ báo đang mở rộng trên cả hai tay trước khuôn mặt điềm tĩnh và nghiêm nghị của mình. Ông ta không hề nhúc nhích; nhưng một tên gia nhân khác mặc quần nâu và áo khoác đuôi tôm viền dây vàng mảnh, tiến lại gần ông Verloc để lắng nghe tiếng thì thầm xưng tên của ông, rồi quay gót trong im lặng và bắt đầu sải bước đi mà không một lần quay đầu nhìn lại. Ông Verloc, cứ thế được dẫn dọc theo hành lang tầng trệt nằm bên trái chiếc cầu thang lớn trải thảm, bỗng được ra hiệu bước vào một căn phòng khá nhỏ được trang bị một chiếc bàn làm việc nặng nề và vài chiếc ghế. Người đầy tớ khép cửa lại, và ông Verloc ở lại một mình trong phòng. Ông không ngồi xuống. Tay cầm mũ và gậy, ông đưa mắt quan sát xung quanh, bàn tay mập mạp còn lại vuốt mái tóc nhẵn thụi để trần.

Một cánh cửa khác mở ra không một tiếng động, và ông Verloc, dán chặt ánh nhìn về phía đó, thoạt đầu chỉ nhìn thấy những bộ trang phục đen, đỉnh đầu hói, và một nhúm mai tóc màu xám sẫm rủ xuống ở hai bên của một đôi bàn tay nhăn nheo. Kẻ vừa bước vào đang cầm một tập tài liệu trước mắt và tiến về phía bàn với những bước đi có vẻ điệu đà, tay lật giật các trang giấy. Thừa tướng Wurmt, Chưởng ấn Đại sứ quán (Chancelier d’Ambassade), là người khá cận thị. Vị quan chức mẫn cán này đặt các tập tài liệu lên bàn, để lộ ra một khuôn mặt có làn da tái xám và nét xấu xí đầy u sầu, xung quanh là mái tóc màu xám sẫm dài và mịn, bị che khuất phần lớn bởi đôi lông mày rậm và dày. Ông ta đeo một chiếc kính kẹp mũi viền đen lên chiếc mũi tẹt và không rõ hình thù, và có vẻ sửng sốt trước diện mạo của ông Verloc. Dưới cặp lông mày khổng lồ, đôi mắt yếu ớt của ông ta chớp chớp đầy vẻ đáng thương qua cặp kính.

Ông ta không có dấu hiệu chào hỏi nào; ông Verloc cũng vậy, bởi ông hoàn toàn biết rõ vị trí của mình; tuy nhiên, một sự thay đổi tinh tế ở đường nét tổng thể của đôi vai và tấm lưng đã gợi lên cử chỉ cúi nhẹ phần xương sống của ông Verloc dưới lớp áo khoác rộng thùng thình. Hiệu ứng tạo ra là sự cung kính đầy kín đáo.

– Tôi có ở đây một số báo cáo của anh, – viên quan chức cất giọng mềm mại và mệt mỏi đến bất ngờ, đồng thời ấn mạnh đầu ngón trỏ lên các tập tài liệu. Ông ta dừng lại; và ông Verloc, người vừa nhận ra nét chữ quen thuộc của chính mình, đứng chờ trong sự im lặng gần như nghẹt thở. – Chúng tôi không mấy hài lòng với thái độ của cảnh sát ở đây, – viên chức tiếp lời, với toàn bộ vẻ mệt mỏi về tinh thần.

Đôi vai của ông Verloc, dù không hề dịch chuyển thực sự, nhưng cũng mang dáng điệu của một cái nhún vai. Và lần đầu tiên kể từ khi rời khỏi nhà vào buổi sáng hôm ấy, đôi môi ông hé mở.

– Quốc gia nào thì cũng có cảnh sát của quốc gia đó thôi, – ông nói một cách triết lý. Nhưng khi vị quan chức Đại sứ quán vẫn tiếp tục nhìn ông chằm chằm không chớp mắt, ông cảm thấy buộc phải nói thêm: – Xin phép được ngài lưu ý rằng tôi không có phương tiện nào để tác động đến lực lượng cảnh sát ở đây cả.

– Điều được mong muốn, – con người của giấy tờ cất lời, – là sự xuất hiện của một điều gì đó rõ ràng nhằm kích thích sự cảnh giác của họ. Đó là nằm trong phạm vi công việc của anh—không phải vậy sao?

Ông Verloc không đáp lại ngoài một tiếng thở dài vô tình thoát ra, bởi ngay lập tức ông cố gắng nở nụ cười tươi tắn trên khuôn mặt. Viên quan chức chớp mắt đầy nghi ngờ, như thể bị ảnh hưởng bởi ánh sáng lờ mờ trong phòng. Ông ta lặp lại một cách mơ hồ.

– Sự cảnh giác của cảnh sát—và sự nghiêm khắc của các thẩm phán. Sự khoan dung chung của thủ tục tư pháp ở đây, cùng với sự vắng bóng hoàn toàn của mọi biện pháp trấn áp, là một sự nhục nhã cho châu Âu. Điều được mong mỏi lúc này là sự gia tăng của tình trạng bất ổn—của sự sục sôi vốn đang hiện hữu không thể chối cãi—

– Chắc chắn rồi, chắc chắn rồi, – ông Verloc chen ngang bằng thứ giọng trầm hùng, cung kính mang âm hưởng diễn văn, khác biệt hoàn toàn với giọng điệu trước đó của ông đến nỗi người đối thoại với ông không khỏi vô cùng kinh ngạc. – Nó đang hiện hữu ở mức độ nguy hiểm. Những báo cáo của tôi trong mười hai tháng qua đã thể hiện điều đó vô cùng rõ ràng rồi.

– Những báo cáo của anh trong mười hai tháng qua, – Ủy viên Nhà nước Wurmt cất lời bằng giọng điệu ôn hòa và bình thản, – đã được tôi đọc qua. Tôi chẳng tài nào hiểu nổi tại sao anh lại viết chúng ra làm gì nữa.

Một sự im lặng buồn bã ngự trị trong giây lát. Ông Verloc có vẻ như đã nuốt phải lưỡi của mình, còn người kia thì đăm đăm nhìn vào những tập tài liệu trên bàn. Cuối cùng, ông ta đẩy nhẹ chúng một cái.

– Tình hình mà anh phơi bày ở đó được mặc định là điều kiện tiên quyết cho công việc của anh. Những gì được yêu cầu hiện nay không phải là viết lách, mà là việc đưa ra ánh sáng một sự thật rõ ràng, mang tính biểu tượng—tôi suýt muốn nói là một sự thật đáng báo động.

– Tôi không cần phải nói rằng mọi nỗ lực của tôi sẽ đều hướng đến mục đích đó, – ông Verloc cất giọng với những âm điệu đầy quả quyết trong chất giọng khàn đặc thường ngày. Nhưng cảm giác bị soi mói đầy cảnh giác đằng sau ánh lấp lánh vô hồn của cặp kính ấy ở phía bên kia chiếc bàn đã khiến ông bối rối. Ông khựng lại với một cử chỉ tận tụy tuyệt đối. Thành viên hữu dụng, làm việc chăm chỉ dẫu có phần mờ nhạt của Đại sứ quán bỗng mang vẻ mặt như vừa bị ấn tượng bởi một ý nghĩ mới mẻ nào đó.

– Anh béo quá đấy, – ông ta nói.

Nhận xét này, thực chất mang bản chất tâm lý học, và được đưa ra với sự do dự khiêm tốn của một nhân viên văn phòng quen với mực tàu giấy trắng hơn là với các yêu cầu của đời sống thực tế, đã đâm vào ông Verloc như một lời nhận xét cá nhân đầy lỗ mãng. Ông lùi lại một bước.

– Hả? Ngài vừa vui miệng nói gì cơ? – ông thốt lên với sự bực bội khàn đặc.

Chưởng ấn Đại sứ quán, người được giao nhiệm vụ tiến hành cuộc gặp gỡ này, dường như cảm thấy mọi chuyện quá sức đối với mình.

– Tôi nghĩ rằng, – ông ta nói, – anh nên diện kiến ông Vladimir thì hơn. Vâng, quả quyết là tôi nghĩ anh nên gặp ông Vladimir. Xin vui lòng đợi ở đây, – ông nói thêm rồi bước đi với những bước chân điệu đà.

Ngay lập tức, ông Verloc đưa tay vuốt tóc. Một lớp mồ hôi nhẹ đã túa ra trên trán ông. Ông thả không khí thoát ra từ đôi môi chúm chím giống như một người đang thổi vào một thìa súp nóng. Nhưng khi tên gia nhân mặc đồ nâu xuất hiện ở cửa một cách lặng lẽ, ông Verloc vẫn không hề dịch chuyển lấy một inch khỏi vị trí mà ông đã đứng trong suốt buổi gặp mặt. Ông vẫn đứng bất động, như thể cảm thấy bản thân đang bị vây quanh bởi những cái bẫy.

Ông bước dọc theo một hành lang được thắp sáng bởi một ngọn đèn gas đơn độc, rồi leo lên một dãy cầu thang xoắn ốc, đi qua một hành lang lát kính đầy sáng sủa ở tầng một. Người hầu phòng mở tung một cánh cửa và đứng sang một bên. Bàn chân ông Verloc cảm nhận được lớp thảm dày. Căn phòng rộng rãi với ba ô cửa sổ; và một thanh niên có khuôn mặt cạo gạch nhẵn nhụi, đang ngồi trên chiếc bành to bản trước một chiếc bàn làm việc bằng gỗ gụ khổng lồ, cất tiếng nói bằng tiếng Pháp với vị Chưởng ấn Đại sứ quán đang bước ra với tập tài liệu trên tay:

– Anh hoàn toàn đúng, mon cher (anh bạn thân mến). Hắn ta béo quá—con vật này ấy.

Ông Vladimir, Bí thư Thứ nhất, nổi tiếng trong các salon thượng lưu là một người thú vị và duyên dáng. Ông ta là một nhân vật khá được sủng ái trong giới xã hội. Sự hóm hỉnh của ông nằm ở việc khám phá ra những mối liên hệ buồn cười giữa các ý nghĩ khập khiễng; và khi nói chuyện theo cung cách đó, ông thường ngồi ngả người về phía trước, tay trái giơ lên, như thể đang trưng bày những luận điểm hài hước của mình giữa ngón cái và ngón trỏ, trong khi khuôn mặt tròn trịa, nhẵn nhụi lại mang vẻ bối rối đầy vui vẻ.

Nhưng hoàn toàn không có dấu hiệu của sự vui vẻ hay bối rối nào trong cách ông nhìn ông Verloc. Ngả người hẳn ra phía sau chiếc ghế bành sâu thẳm, với hai khuỷu tay dang rộng vuông vức, vắt chéo chân này lên đầu gối bên kia, với gương mặt nhẵn nhụi và hồng hào, trông ông ta hệt như một đứa trẻ bụ bẫm quá mức, kẻ không chịu nghe bất kỳ lời nhảm nhí nào từ bất cứ ai.

– Chắc anh hiểu tiếng Pháp chứ? – ông ta hỏi.

Ông Verloc khàn giọng đáp rằng ông hiểu. Toàn bộ thân hình to lớn của ông chúi hẳn về phía trước. Ông đứng chết trân trên tấm thảm giữa phòng, một tay nắm chặt mũ và gậy; tay kia buông thõng vô hồn bên sườn. Ông lầm bầm một cách kín đáo sâu trong cổ họng điều gì đó về việc từng hoàn thành nghĩa vụ quân sự trong lực lượng pháo binh Pháp. Ngay lập tức, với vẻ ngang ngược đầy khinh miệt, ông Vladimir đổi ngôn ngữ và bắt đầu nói tiếng Anh lưu loát không hề vương chút âm điệu nước ngoài nào.

– À! Vâng. Dĩ nhiên rồi. Để xem nào. Anh đã nhận được bao nhiêu tiền để đổi lấy bản thiết kế khóa nòng cải tiến cho khẩu pháo dã chiến mới của họ?

– Năm năm giam giữ nghiêm ngặt trong pháo đài, – ông Verloc đáp lại một cách bất ngờ, nhưng không hề lộ chút cảm xúc nào.

– Anh thoát thân dễ dàng đấy chứ, – ông Vladimir bình luận. – Và dù sao đi nữa, điều đó cũng đáng đời anh vì đã để bị bắt. Cái gì xui khiến anh dấn thân vào loại việc đó thế—hả?

Giọng nói khàn đặc mang phong cách trò chuyện của ông Verloc vang lên, nhắc đến tuổi trẻ, đến một nỗi mê muội tai hại dành cho một kẻ không xứng đáng—

– Áha! Cherchez la femme (Hãy tìm người đàn bà), – ông Vladimir ngắt lời với vẻ bề trên nhưng không mấy thân thiện; trái lại, sự hạ cố của ông ta phảng phất nét lạnh lùng tàn nhẫn. – Anh đã làm việc cho Đại sứ quán ở đây bao lâu rồi? – ông ta hỏi.

– Kể từ thời vị Bá tước quá cố Stott-Wartenheim, – ông Verloc đáp bằng giọng trầm ngâm, đôi môi trề ra đầy buồn bã như một dấu hiệu tiếc thương cho nhà ngoại giao quá cố. Vị Bí thư Thứ nhất chăm chú quan sát nét mặt đầy biểu cảm đó.

– À! Kể từ dạo ấy cơ à. Chà! Anh có gì để nói về bản thân mình nào? – ông ta hỏi cộc lốc.

Ông Verloc ngạc nhiên đáp rằng ông không thấy mình có điều gì đặc biệt để nói cả. Ông đã được triệu tập bằng một bức thư—Và ông thọc tay một cách bận rộn vào túi áo khoác ngoài, nhưng trước ánh mắt theo dõi đầy chế giễu và cay độc của ông Vladimir, ông quyết định cứ để tay ở nguyên trong đó.

– Phỉ phui! – kẻ kia thốt lên. – Anh định thế nào khi để thân hình tàn tạ thế này hả? Thậm chí anh còn chẳng có nổi thể chất của nghề nghiệp nữa là. Anh—một thành viên của giai cấp vô sản đang chết đói—không đời nào! Anh—một tên xã hội chủ nghĩa hoặc vô chính phủ liều lĩnh—rốt cuộc anh là cái gì?

– Người theo chủ nghĩa vô chính phủ, – ông Verloc tuyên bố với giọng điệu vô hồn.

– Xạo vừa chứ! – ông Vladimir tiếp lời mà không hề nâng cao giọng. – Anh làm cho lão Wurmt già phải hoảng sợ đấy. Anh chẳng lừa nổi một tên ngốc nào đâu. Nhân tiện thì tất cả bọn chúng đều thế cả, nhưng anh thì đối với tôi đơn giản là một kẻ bất khả thi. Thế mà anh lại bắt đầu mối quan hệ với chúng ta bằng cách ăn cắp bản thiết kế pháo của Pháp. Rồi anh lại để cho mình bị bắt. Điều đó chắc hẳn đã rất khó chịu đối với Chính phủ của chúng ta. Xem ra anh chẳng thông minh cho lắm nhỉ.

Ông Verloc cố gắng thanh minh bằng giọng khàn đặc.

– Như tôi đã có dịp trình bày trước đây, một sự mê muội tai hại đối với một kẻ không xứng đáng—

Ông Vladimir giơ một bàn tay to lớn, trắng trẻo và đầy đặn lên. – À, vâng. Mối gắn kết bất hạnh—của tuổi trẻ. Ả ta đã cuỗm sạch tiền, rồi bán đứng anh cho cảnh sát—hải?

Sự biến đổi thê thảm trên nét mặt của ông Verloc, cái gục đầu nhất thời của toàn bộ cơ thể ông, chính là sự thú nhận rằng sự việc đáng tiếc đúng là như vậy. Bàn tay ông Vladimir nắm lấy cổ chân đang gác trên đầu gối. Chiếc tất mang màu xanh lam đậm.

– Anh thấy đấy, điều đó không khôn ngoan cho lắm đối với anh. Có lẽ anh quá đa cảm chăng.

Ông Verloc ngầm ra hiệu bằng một tiếng lầm bầm khàn đục, nghẹn ngào rằng ông nay đã không còn trẻ nữa.

– Ồ! Đó là một khuyết điểm mà tuổi tác chẳng thể chữa khỏi được, – ông Vladimir nhận xét với vẻ suồng sã đến rợn người. – Nhưng không! Anh quá béo để mà đa cảm như thế. Anh không thể nào mang cái vẻ ngoài thế này nếu như anh còn chút ít tính đa cảm nào. Tôi sẽ nói cho anh nghe điều này đang gặp rắc rối gì: anh là một kẻ lười biếng. Anh đã nhận lương từ Đại sứ quán này bao lâu rồi?

– Mười một năm, – câu trả lời được đưa ra sau một thoáng chần chừ hờn dỗi. – Tôi đã được giao phó vài sứ mệnh tại Luân Đôn khi Ngài Đại sứ Bá tước Stott-Wartenheim vẫn còn đương chức ở Paris. Sau đó, theo chỉ thị của Ngài Đại sứ, tôi đã định cư tại Luân Đôn. Tôi là người Anh.

– Anh là thế ư? Thật thế không? Hử?

– Một thần dân Anh chính gốc, – ông Verloc đáp một cách trơ tráo. – Nhưng cha tôi là người Pháp, và vì thế—

– Khỏi cần giải thích, – kẻ kia ngắt lời. – Tôi dám cá là anh hoàn toàn có thể trở thành một Thống chế Pháp và một Nghị sĩ Quốc hội ở Anh—và khi đó, quả thực anh đã có ích cho Đại sứ quán của chúng ta rồi.

Sự bay bổng trí tưởng tượng này đã khơi gợi một nụ cười mờ nhạt trên khuôn mặt ông Verloc. Riêng ông Vladimir vẫn giữ nguyên vẻ nghiêm nghị không dao động.

– Nhưng, như tôi đã nói, anh là một tên lười biếng; anh không biết tận dụng những cơ hội của mình. Vào thời của Bá tước Stott-Wartenheim, chúng ta có rất nhiều kẻ đầu óc bã đậu điều hành Đại sứ quán này. Bọn chúng đã khiến những kẻ như anh hình thành một quan niệm sai lầm về bản chất của quỹ mật vụ. Nhiệm vụ của tôi là chấn chỉnh sự hiểu lầm này bằng cách nói cho anh biết quỹ mật vụ không phải là gì. Nó không phải là một tổ chức từ thiện. Tôi cho gọi anh đến đây chính là vì mục đích nói cho anh biết điều đó.

Ông Vladimir quan sát biểu cảm bối rối đầy gượng gạo trên khuôn mặt Verloc, rồi mỉm cười đầy châm biếm.

– Tôi thấy anh hiểu tôi rất rõ. Tôi dám chắc là anh đủ thông minh cho công việc của mình. Điều chúng ta muốn bây giờ là sự hoạt động—hoạt động.

Khi lặp lại từ cuối cùng này, ông Vladimir đặt ngón trỏ trắng dài lên mép bàn làm việc. Mọi dấu vết khàn đặc biến mất khỏi giọng nói của Verloc. Phần gáy của cái cổ thô kệch của ông bỗng đỏ bừng lên phía trên cổ áo bằng nhung của chiếc áo khoác ngoài. Đôi môi ông run rẩy trước khi há rộng ra.

– Nếu ngài chịu khó tra cứu lại hồ sơ của tôi, – ông cất giọng vang dội bằng chất giọng nam trầm hùng, rõ ràng và uy nghi của một diễn giả, – ngài sẽ thấy tôi đã đưa ra cảnh báo chỉ ba tháng trước, nhân dịp Đại công tước Romuald ghé thăm Paris, điều đã được điện tín từ đây cho cảnh sát Pháp, và—

– Thôi, thôi nào! – ông Vladimir ngắt lời với một cái nhíu mày nhăn nhó. – Cảnh sát Pháp chẳng có nhu cầu gìn giữ cảnh báo của anh cả. Đừng có gào lên thế chứ. Ý anh quái quỷ gì thế hả?

Với một nốt điệu của sự khiêm nhường đầy kiêu hãnh, ông Verloc cất lời xin lỗi vì đã quên mất bản thân. Giọng nói của ông—vốn nổi tiếng bao năm nay tại các cuộc mít tinh ngoài trời và các buổi họp mặt công nhân trong những hội trường lớn—đã góp phần tạo nên danh tiếng của ông như một người đồng chí tốt và đáng tin cậy, ông nói vậy. Do đó, nó là một phần sự hữu dụng của ông. Nó đã truyền cảm hứng tin tưởng vào các nguyên tắc của ông. – Tôi luôn được các nhà lãnh đạo đưa lên phát biểu vào những thời điểm quan trọng, – ông Verloc tuyên bố với sự mãn nguyện rõ rệt. Chẳng có tiếng ồn ào nào mà ông không thể làm cho người ta nghe thấy giọng mình qua đó, ông nói thêm; và bất ngờ ông thực hiện một màn minh họa.

– Xin phép ngài, – ông nói. Cúi thấp trán, không ngước lên, nhanh chóng và nặng nề, ông băng qua phòng về phía một trong những khung cửa sổ kiểu Pháp. Như thể đang nhượng bộ một thôi thúc không thể kìm nạp, ông hé mở nó một chút. Ông Vladimir, vùng đứng dậy đầy kinh ngạc từ sâu trong chiếc ghế bành, nhìn qua vai; và phía bên kia, băng qua khoảng sân của Đại sứ quán, cách xa ngoài cánh cổng đang mở, người ta có thể nhìn thấy tấm lưng rộng của một viên cảnh sát đang lơ đễnh quan sát chiếc xe nôi xa hoa của một đứa trẻ giàu có đang được đẩy đi trong tư thế uy nghi băng qua Quảng trường.

– Này anh cảnh sát! – ông Verloc cất lời, với sự nhẹ nhàng chẳng khác nào đang thì thầm; và ông Vladimir phá lên cười khi thấy viên cảnh sát quay ngoắt lại như thể bị một vật nhọn châm vào người. Ông Verloc khép cửa sổ lại một cách lặng lẽ và quay trở lại giữa phòng.

– Với một giọng nói như thế, – ông nói, chuyển sang giọng điệu trò chuyện khàn đục, – tôi đương nhiên được tin tưởng. Và tôi cũng biết phải nói gì nữa chứ.

Ông Vladimir, vừa chỉnh lại chiếc cà vạt vừa quan sát ông trong tấm gương phía trên lò sưởi.

– Tôi dám cá là anh đã thuộc làu thứ biệt ngữ cách mạng xã hội đó rồi nhỉ, – ông nói với vẻ khinh miệt. – Vox et. . . Anh chưa từng học tiếng Latin bao giờ phải không?

– Không, – ông Verloc gầm gừ. – Ngài đâu có mong đợi tôi biết nó. Tôi thuộc về hàng triệu con người. Ai mà thèm biết tiếng Latin chứ? Chỉ có vài trăm kẻ ngốc chẳng đủ khả năng tự lo cho bản thân mình mà thôi.

Thêm chừng ba mươi giây nữa, ông Vladimir ngắm nghía trong gương phần hồ sơ đầy thịt thà, vóc dáng thô kệch của kẻ đang đứng đằng sau mình. Và đồng thời, ông ta cũng có lợi thế là được nhìn thấy khuôn mặt chính mình, nhẵn nhụi và tròn trịa, hồng hào nơi mang tai, cùng đôi môi mỏng nhạy cảm được cấu tạo chính xác để phát ra những lời châm biếm tinh tế từng khiến ông trở thành nhân vật được sủng ái bậc nhất trong giới thượng lưu cao cấp nhất. Sau đó, ông quay người lại và bước vào phòng với sự quyết tâm mãnh liệt đến mức ngay cả những đầu mút của chiếc nơ cổ kiểu cách cổ xưa của ông cũng như dựng đứng lên với những lời đe dọa không thể diễn tả bằng lời. Động thái đó nhanh và dữ dội đến mức ông Verloc, liếc ngang một cái, cảm thấy chột dạ trong lòng.

– Áha! Anh dám hỗn láo cơ đấy, – ông Vladimir bắt đầu, với một ngữ điệu rít sâu trong cổ họng đáng kinh ngạc, không chỉ hoàn toàn không mang chút phong vị Anh quốc nào mà còn tuyệt đối không phải của châu Âu, khiến ngay cả một kẻ từng trải qua các khu ổ chuột mang tính vũ trụ như ông Verloc cũng phải giật mình. – Anh dám thế cơ à! Chà, tôi sẽ nói thẳng tiếng Anh với anh đây. Giọng nói sẽ chẳng ăn thua gì đâu. Chúng ta không có nhu cầu dùng giọng nói của anh. Chúng ta không cần giọng nói. Chúng ta cần những sự thật—những sự thật đáng kinh ngạc—đồ khốn kiếp, – ông nói thêm, với một vẻ kín đáo đầy hung hãn, sát ngay vào mặt ông Verloc.

– Xin ngài đừng dùng cái kiểu cách Hyperborean (cực bắc lạnh giá) đó để áp đảo tôi, – ông Verloc chống chế bằng giọng khàn đặc, mắt dán xuống tấm thảm. Nghe vậy, người đối thoại với ông, mỉm cười chế giễu phía trên chiếc nơ cổ đang dựng đứng, liền chuyển cuộc trò chuyện sang tiếng Pháp.

– Anh tự nhận mình là một ‘tác nhân khiêu khích’ (agent provocateur). Công việc chính đáng của một ‘tác nhân khiêu khích’ là khiêu khích. Theo như tôi có thể đánh giá từ hồ sơ của anh được lưu giữ tại đây, anh đã chẳng làm được tích sự gì để xứng đáng với số tiền lương trong ba năm qua cả.

– Không gì cả! – ông Verloc thốt lên, không cử động một chi nào, không ngước mắt lên, nhưng với giọng điệu chứa đựng sự chân thành sâu sắc. – Tôi đã nhiều lần ngăn chặn những chuyện suýt chút nữa đã có thể—

– Ở đất nước này có một câu tục ngữ nói rằng phòng bệnh hơn chữa bệnh, – ông Vladimir ngắt lời, ngả người ra sau chiếc ghế bành. – Nói chung thì nó thật ngốc nghếch. Chẳng có điểm dừng nào cho việc phòng bệnh cả. Nhưng nó lại rất đặc trưng. Bọn họ không thích sự dứt khoát ở đất nước này. Đừng có tỏ ra quá ư là người Anh thế chứ. Và trong trường hợp cụ thể này, đừng có ngớ ngẩn. Tai họa đã ở ngay đây rồi. Chúng ta không cần phòng bệnh—chúng ta cần chữa bệnh.

Ông dừng lại, quay về phía bàn làm việc, lật xem vài tờ giấy nằm ở đó, và nói bằng một giọng điệu công việc hoàn toàn khác, không thèm nhìn lấy ông Verloc.

– Dĩ nhiên là anh biết về Hội nghị Quốc tế đang họp ở Milan chứ?

Ông Verloc khàn giọng ra hiệu rằng ông có thói quen đọc báo hằng ngày. Trước câu hỏi tiếp theo, câu trả lời của ông là dĩ nhiên ông hiểu những gì mình đọc. Nghe vậy, ông Vladimir, mỉm cười phớt lờ trước những tài liệu mà ông vẫn đang lướt qua hết tờ này đến tờ khác, liền lầm bầm: – Miễn là nó không được viết bằng tiếng Latin, tôi đoán thế.

– Hoặc tiếng Trung, – ông Verloc bồi thêm một cách trơ tráo.

– Hừm. Mấy thứ văn chương sướt mướt của bạn bè cách mạng nhà anh đôi khi được viết bằng một thứ ngôn ngữ lộn xộn khó hiểu chẳng kém gì tiếng Trung— – ông Vladimir buông thỏng một tờ giấy in màu xám với vẻ khinh miệt. – Mấy tờ truyền đơn mang tiêu đề F.P. này, có hình cây búa, cái bút và ngọn đuốc bắt chéo nhau là cái gì thế? Nó có nghĩa là gì, cái chữ F.P. này hả? – Ông Verloc tiến lại gần chiếc bàn làm việc uy nghi.

– Tương lai của Giai cấp Vô sản (Future of the Proletariat). Đó là một hội nhóm, – ông giải thích, đứng nặng nề bên cạnh chiếc ghế bành, – về nguyên tắc thì không phải là vô chính phủ, nhưng mở cửa cho mọi sắc thái tư tưởng cách mạng.

– Anh có tham gia không?

– Là một trong các Phó Chủ tịch, – ông Verloc thở hắt ra một hơi nặng nề; và vị Bí thư Thứ nhất của Đại sứ quán ngẩng đầu lên nhìn ông.

– Thế thì anh nên cảm thấy xấu hổ về bản thân mình mới phải, – ông nói một cách sắc bén. – Hội nhóm của anh chẳng làm nổi trò trống gì ngoài việc in mấy thứ triết lý tiên tri ngớ ngẩn này bằng chữ cái thô trên cái loại giấy dơ dáy này sao—hả? Sao anh không chịu làm cái gì đi chứ? Nhìn đây này. Tôi đang nắm giữ vụ việc này trong tay, và tôi nói thẳng cho anh biết rằng anh sẽ phải lao động để kiếm tiền đấy. Thời kỳ tốt đẹp của lão Stott-Wartenheim qua đời rồi. Không làm việc, không có lương.

Ông Verloc cảm thấy một cảm giác kỳ lạ về sự choáng váng ở đôi chân lực lưỡng của mình. Ông lùi lại một bước và hắt xì mạnh, à không, xì mũi thật to.

Quả thực, ông vừa bị giật mình và hoảng sợ. Ánh nắng yếu ớt của Luân Đôn đang nỗ lực xuyên qua màn sương mù của thành phố, hắt thứ ánh sáng ấm áp vào căn phòng riêng của vị Bí thư Thứ nhất; và trong không gian tĩnh lặng, ông Verloc nghe thấy tiếng vo ve yếu ớt của một con ruồi áp vào ô cửa sổ—con ruồi đầu tiên trong năm của ông—như báo hiệu sự đến gần của mùa xuân còn rõ ràng hơn bất kỳ đàn én nào. Sự bận rộn vô ích của sinh thể nhỏ bé đầy năng lượng ấy đã tác động không mấy dễ chịu đến gã đàn ông to lớn đang bị đe dọa sự nhàn hạ của mình.

Trong khoảng lặng, ông Vladimir âm thầm đúc kết trong đầu một loạt những nhận xét chê bai về khuôn mặt và vóc dáng của ông Verloc. Gã này thật thô tục, nặng nề và ngu ngốc một cách trơ trẽn đến bất ngờ. Trông hắn chẳng khác nào một tay thợ sửa ống nước chính hiệu đến để đòi tiền công. Vị Bí thư Thứ nhất của Đại sứ quán, qua những chuyến thám hiểm thỉnh thoảng vào lĩnh vực trào phúng kiểu Mỹ, đã hình thành một khái niệm đặc biệt về tầng lớp thợ máy đó như là hiện thân của sự lười biếng gian trá và bất tài.

Thế hóa ra đây là điệp viên mật nổi tiếng và đáng tin cậy, bí mật đến mức chưa bao giờ được gọi bằng tên nào khác ngoài ký hiệu [delta] trong thư tín chính thức, bán chính thức và mật của cố Bá tước Stott-Wartenheim sao; điệp viên lừng danh [delta], người mà những lời cảnh báo có quyền lực thay đổi kế hoạch và ngày tháng của những chuyến hành trình hoàng gia, đế quốc, đại công quốc, và đôi khi khiến chúng bị hoãn lại hoàn toàn! Lại là gã này ư! Và ông Vladimir thả hồn vào một trận cười sảng khoái đến mức trào phúng, một phần vì sự kinh ngạc của chính mình mà ông đánh giá là ngây thơ, nhưng phần lớn là ở cái giá của vị Bá tước Stott-Wartenheim đáng kính quá cố. Cố ngài Đại sứ, người được ân huệ tối cao của người chủ nhân Hoàng đế áp đặt làm Đại sứ lên đầu mấy vị Bộ trưởng Ngoại giao đầy miễn cưỡng, đã từng tận hưởng danh tiếng về sự cả tin mang tính bi quan, ngu ngốc khi còn sinh thời. Vị Đại sứ ấy bị ám ảnh bởi cuộc cách mạng xã hội trong đầu. Ông tự tưởng tượng mình là một nhà ngoại giao được biệt phái qua một đặc ân riêng để chứng kiến hồi kết của ngoại giao, và gần như là hồi kết của thế giới, trong một cuộc đại hồng thủy dân chủ kinh hoàng. Những bức điện tín tiên tri và thê lương của ông đã trở thành trò hề của các Bộ Ngoại giao trong nhiều năm liền. Người ta đồn rằng ông đã thốt lên trên giường bệnh (được viếng thăm bởi người bạn và chủ nhân Hoàng đế): “Châu Âu bất hạnh ơi! Ngươi sẽ diệt vong bởi sự suy đồi đạo đức của những đứa con ngươi!” Hắn ta định mệnh phải là nạn nhân của tên bịp bợm xảo trá đầu tiên bước ngang qua đời, ông Vladimir thầm nghĩ, mỉm cười mơ hồ nhìn ông Verloc.

– Anh nên tôn kính ký ức về Bá tước Stott-Wartenheim mới phải, – ông đột ngột thốt lên.

Vẻ mặt cúi gằm của ông Verloc thể hiện sự bực bội u ám và mệt mỏi.

– Xin phép ngài cho tôi được lưu ý, – ông nói, – rằng tôi đến đây vì được triệu tập bởi một bức thư mang tính mệnh lệnh. Tôi mới chỉ đến đây hai lần trong suốt mười một năm qua, và chắc chắn chưa bao giờ có mặt lúc mười một giờ sáng cả. Gọi tôi ra thế này chẳng khôn ngoan gì cho cam. Vẫn có chút ít khả năng bị nhìn thấy. Và điều đó chẳng phải trò đùa gì đối với tôi đâu.

Ông Vladimir nhún vai.

– Nó sẽ hủy hoại sự hữu dụng của tôi, – người kia gay gắt tiếp lời.

– Đó là việc của anh, – ông Vladimir lầm bầm với sự tàn nhẫn nhẹ nhàng. – Khi anh không còn hữu dụng nữa thì anh cũng sẽ chấm dứt việc được thuê mướn. Vâng. Ngay lập tức. Cắt đứt luôn. Anh sẽ— – ông Vladimir cau mày, ngừng lời vì thiếu một từ ngữ có sắc thái thành thạo tương đương, rồi ngay lập tức sáng bừng lên với nụ cười để lộ hàm răng trắng tinh. – Anh sẽ bị tống cổ, – ông phốt lên một cách hung hãn.

Một lần nữa, ông Verloc phải huy động toàn bộ sức mạnh ý chí để chống lại cảm giác ngất xỉu lan dọc xuống đôi chân—cảm giác mà thuở nào đã truyền cảm hứng cho một bóng ma nghèo khổ nào đó sáng tạo ra thành ngữ đạt ý: “Trái tim tôi tuột cả xuống chân giày.” Ông Verloc, nhận thức rõ cảm giác đó, ngẩng cao đầu một cách dũng cảm.

Ông Vladimir đón nhận ánh nhìn truy vấn đầy nặng nhọc với sự điềm tĩnh hoàn hảo.

– Điều chúng ta muốn là tung ra một liều thuốc bổ cho Hội nghị ở Milan, – ông nói một cách bâng quơ. – Những cuộc thảo luận của nó về hành động quốc tế nhằm trấn áp tội phạm chính trị chẳng đi đến đâu cả. Nước Anh đang tụt lại phía sau. Đất nước này thật ngớ ngẩn với sự tôn sùng đầy tính tình cảm đối với tự do cá nhân. Thật không thể tài nào chịu nổi khi nghĩ rằng tất cả bạn bè của anh chỉ việc kéo sang đây để—

– Bằng cách đó, tôi có thể kiểm soát toàn bộ bọn chúng trong tầm mắt, – ông Verloc khàn giọng ngắt lời.

– Đưa bọn chúng vào tống giam trong tù khóa kỹ còn có lý hơn nhiều. Nước Anh phải được kéo vào guồng quay chung. Tầng lớp tư sản ngớ ngẩn của đất nước này tự biến mình thành đồng lõa của chính những kẻ có mục đích tống cổ họ ra khỏi nhà để chết đói ngoài mương rãnh. Và bọn chúng vẫn nắm quyền lực chính trị trong tay, giá mà bọn chúng có đủ óc khôn ngoan để sử dụng nó cho sự sinh tồn của chính mình. Tôi cho là anh đồng ý rằng tầng lớp trung lưu rất ngu ngốc chứ?

Ông Verloc khàn giọng đồng tình.

– Bọn chúng đúng là thế.

– Bọn chúng thiếu hẳn trí tưởng tượng. Bọn chúng bị che mờ bởi sự kiêu ngạo ngu xuẩn. Thứ bọn chúng cần lúc này là một phen hoảng sợ thật đã đời. Đây chính là thời điểm tâm lý thích hợp để sai khiến bạn bè của anh hành động. Tôi đã cho gọi anh đến đây để trình bày ý tưởng của mình.

Và ông Vladimir trình bày ý tưởng của mình từ trên cao, với sự khinh miệt và hạ cố, đồng thời trưng ra một lượng sự thiếu hiểu biết đến cùng cực về những mục tiêu, suy nghĩ và phương pháp thực sự của thế giới cách mạng, điều đã khiến người đang lặng thinh như ông Verloc ngập tràn sự hoang mang trong lòng. Ông ta đánh đồng nguyên nhân với kết quả vượt qua cả mức độ có thể tha thứ; những nhà truyền bá ưu tú nhất với những kẻ ném bom bốc đồng; mặc định sự tổ chức ở nơi mà theo bản chất của sự vật, nó không thể tồn tại; lúc thì nói về đảng cách mạng xã hội như một đội quân được kỷ luật hoàn hảo, nơi mệnh lệnh của các thủ lĩnh là tối thượng, lúc thì lại nói về nó như thể đó là hội nhóm lỏng lẻo nhất của những tên cạo cướp liều lĩnh từng cắm trại trong hẻm núi. Có lần ông Verloc đã há miệng định phản đối, nhưng hành động giơ một bàn tay trắng trẻo, to lớn và đẹp đẽ lên đã chặn đứng ông lại. Rất nhanh chóng, ông trở nên kinh hoàng đến mức chẳng dám cố gắng phản đối nữa. Ông lắng nghe trong sự tĩnh lặng của nỗi sợ hãi gợi nhớ đến trạng thái bất động của sự chú ý tột độ.

– Một loạt các vụ tấn công bạo lực, – ông Vladimir điềm tĩnh tiếp lời, – được thực hiện ngay tại đất nước này; không chỉ được lên kế hoạch ở đây—điều đó sẽ không ổn đâu—bọn chúng sẽ chẳng màng tới đâu. Bạn bè của anh có thể châm lửa đốt một nửa lục địa mà vẫn chẳng thể lung lay nổi dư luận ở đây nhằm ủng hộ một đạo luật trấn áp mang tính toàn cầu. Bọn chúng sẽ chẳng thèm nhìn ra bên ngoài cái sân sau nhà mình ở đây đâu.

Ông Verloc hắng giọng, nhưng lòng can đảm đã tan biến và ông chẳng nói gì cả.

– Những vụ tấn công này không nhất thiết phải đẫm máu cho lắm, – ông Vladimir tiếp tục, tựa như đang đọc một bài giảng khoa học, – nhưng chúng phải đủ sức gây sửng sốt—có hiệu quả. Hãy nhắm mục tiêu vào các tòa nhà chẳng hạn. Thần tượng của thời đại này mà mọi giai tầng tư sản đều công nhận là gì—hả, ông Verloc?

Ông Verloc xòe hai tay và nhún vai nhẹ.

– Anh quá lười biếng để mà suy nghĩ, – ông Vladimir bình luận về cử chỉ đó. – Hãy chú ý đến những gì tôi nói. Thần tượng của ngày hôm nay không phải là hoàng gia cũng chẳng phải tôn giáo. Do đó, cung điện và nhà thờ nên được để yên. Anh hiểu ý tôi chứ, ông Verloc?

Sự kinh hoàng và khinh miệt của ông Verloc bộc lộ qua một nỗ lực tỏ ra bông đùa.

– Hoàn toàn hiểu. Nhưng còn các Đại sứ quán thì sao nhỉ? Một loạt các cuộc tấn công vào các Đại sứ quán khác nhau, – ông bắt đầu; nhưng ông không thể chịu đựng nổi ánh mắt lạnh lùng, dò xét của vị Bí thư Thứ nhất.

– Tôi thấy anh biết pha trò đấy chứ, – kẻ kia dửng dưng nhận xét. – Không sao cả. Nó có thể làm cho bài diễn thuyết của anh tại các đại hội xã hội chủ nghĩa thêm phần sinh động. Nhưng căn phòng này không phải là nơi cho việc đó. Sẽ an toàn hơn cho anh gấp bội nếu cẩn thận lắng nghe những gì tôi đang diễn giải. Vì anh đang được yêu cầu cung cấp những sự thật thay vì những câu chuyện hoang đường nhảm nhí, tốt hơn hết anh nên cố gắng trục lợi từ những gì tôi đang nhọc công giải thích cho anh. Thần tượng tối cao bất khả xâm phạm của thời đại này chính là khoa học. Sao anh không rủ vài người bạn của mình đi đánh phá cái gã vĩ nhân mặt gỗ đó đi—hả? Chẳng phải nó là một phần của những thể chế phải bị quét sạch trước khi cái F.P. xuất hiện đó sao?

Ông Verloc không nói gì. Ông sợ há miệng vì sợ một tiếng rên rỉ sẽ lọt ra ngoài.

– Đây mới là thứ anh nên hướng tới. Một vụ mưu sát nhắm vào một vị vua đội vương biên hay một vị tổng thống thì có vẻ đủ giật gân theo một cách nào đó, nhưng không còn sức nặng như trước nữa. Nó đã trở thành một phần trong khái niệm chung về sự tồn tại của tất cả các nguyên thủ quốc gia. Nó gần như đã thành quy ước—đặc biệt kể từ khi có quá nhiều tổng thống bị ám sát. Giờ hãy lấy ví dụ về một vụ tấn công vào... giả sử là một nhà thờ đi. Thoạt nhìn thì chắc chắn là đủ kinh khủng, nhưng lại không mang lại hiệu quả như một kẻ có tư duy bình thường có thể nghĩ. Dù mang bản chất cách mạng và vô chính phủ đến đâu đi chăng nữa, vẫn sẽ có đủ những kẻ ngu ngốc gán cho một vụ tấn công như vậy thứ tính chất của một sự biểu hiện tôn giáo. Và điều đó sẽ làm suy giảm ý nghĩa đáng báo động đặc biệt mà chúng ta muốn gán cho hành động này. Một vụ mưu sát nhắm vào một nhà hàng hay một rạp hát cũng sẽ chịu chung số phận bởi sự liên tưởng đến cảm xúc phi chính trị: sự phẫn nộ của một kẻ đang đói khát, một hành động trả thù xã hội. Tất cả những thứ đó đã lỗi thời rồi; nó không còn mang tính giáo huấn như một bài học trực quan về chủ nghĩa vô chính phủ cách mạng nữa. Tờ báo nào cũng có sẵn những cụm từ có sẵn để giải thích vơ bừa đi cho những biểu hiện như thế. Tôi sắp giảng cho anh nghe về triết lý ném bom theo quan điểm của tôi; từ quan điểm mà anh ra điều phục vụ trong suốt mười một năm qua. Tôi sẽ cố gắng không nói quá tầm hiểu biết của anh. Sự nhạy cảm của giai tầng mà anh đang tấn công rất mau bị cùn mòn. Tài sản đối với bọn chúng có vẻ là một thứ không thể phá hủy. Anh không thể trông cậy vào cảm xúc thương xót hay sợ hãi của bọn chúng trong thời gian dài đâu. Một vụ ném bom muốn có bất kỳ ảnh hưởng nào đến dư luận hiện nay phải vượt xa khỏi ý định trả thù hay khủng bố. Nó phải mang tính phá hủy thuần túy. Nó phải là thế, và chỉ là thế mà thôi, vượt lên trên mọi nghi ngờ mỏng manh nhất về bất kỳ mục đích nào khác. Các anh, những kẻ vô chính phủ, nên làm cho người ta thấy rõ rằng các anh hoàn toàn quyết tâm quét sạch toàn bộ tạo vật xã hội này. Nhưng làm thế nào để nhồi nhét cái ý tưởng vô lý đến kinh hoàng đó vào đầu óc của tầng lớp trung lưu để không thể có sự nhầm lẫn nào xảy ra? Đó là câu hỏi. Câu trả lời là hướng những đòn chí mạng của các anh vào một thứ gì đó nằm ngoài những đam mê thông thường của nhân loại. Dĩ nhiên, nghệ thuật cũng là một khả năng. Một quả bom ở Phòng Trưng bày Quốc gia sẽ gây ra chút tiếng vang. Nhưng nó sẽ không đủ tính nghiêm trọng. Nghệ thuật chưa bao giờ là thần tượng của bọn chúng cả. Nó giống như việc đập vỡ vài tấm kính cửa sổ phía sau nhà một kẻ nào đó; trong khi đó, nếu anh muốn khiến hắn thực sự phải ngồi bật dậy, ít nhất anh phải tìm cách nhổ toác cả mái nhà lên. Đương nhiên sẽ có những tiếng la hét, nhưng từ ai? Từ những nghệ sĩ—các nhà phê bình nghệ thuật và những kẻ đại loại như thế—những kẻ chẳng có chút trọng lượng nào. Chẳng ai thèm bận tâm đến những gì bọn họ nói cả. Nhưng còn học thức—khoa học thì sao. Bất kỳ tên ngốc nào có thu nhập cũng tin vào điều đó. Hắn chẳng biết tại sao, nhưng hắn tin rằng nó quan trọng bằng cách nào đó. Đó là thần tượng bất khả xâm phạm. Tất cả mẹ kiếp bọn giáo sư đều là những kẻ cấp tiến trong thâm tâm. Hãy cho bọn chúng biết rằng vị thần tượng vĩ đại của bọn chúng cũng phải cuốn xéo đi để nhường chỗ cho Tương lai của Giai cấp Vô sản. Tiếng tru tréo từ tất cả những tên ngốc nghếch trí thức đó chắc chắn sẽ đẩy mạnh công việc của Hội nghị Milan. Bọn chúng sẽ viết thư gửi cho các tờ báo. Sự phẫn nộ của bọn chúng sẽ nằm ngoài vòng nghi vấn, vì không có lợi ích vật chất nào công khai bị đe dọa ở đây, và nó sẽ làm hoảng sợ mọi sự ích kỷ của cái giai tầng vốn cần phải bị gây ấn tượng mạnh. Bọn chúng tin rằng bằng một cách thần bí nào đó khoa học chính là cội nguồn của sự thịnh vượng vật chất của chúng. Bọn chúng tin thế thật đấy. Và sự hung hãn vô lý của một màn trình diễn như thế sẽ tác động đến bọn chúng sâu sắc hơn nhiều so với việc tàn sát cả một con đường—hoặc một nhà hát—đầy ắp những kẻ cùng loại với bọn chúng. Đối với trường hợp sau, bọn chúng luôn có thể nói rằng: ‘Ồ! đó chỉ là lòng thù hận giai tầng thuần túy.’ Nhưng người ta phải nói gì trước một hành động hung hãn mang tính hủy diệt ngớ ngẩn đến mức không thể hiểu nổi, không thể giải thích nổi, hầu như không thể tưởng tượng nổi, trên thực tế là điên rồ? Chỉ có sự điên rồ mới thực sự gây kinh hoàng, ở chỗ anh không thể xoa dịu nó bằng những lời đe dọa, sự thuyết phục hay hối lộ. Hơn nữa, tôi là một người văn minh. Tôi chưa bao giờ mơ tưởng đến việc chỉ đạo anh tổ chức một vụ tàn sát đơn thuần, ngay cả khi tôi kỳ vọng vào những kết quả tốt đẹp nhất từ nó. Nhưng tôi sẽ không kỳ vọng từ một vụ tàn sát kết quả mà tôi muốn. Giết chóc vẫn luôn tồn tại bên cạnh chúng ta. Nó gần như là một thể chế. Cuộc biểu dương lực lượng phải nhắm vào học thức—khoa học. Nhưng không phải thứ khoa học nào cũng được đâu. Cuộc tấn công phải mang đầy đủ sự vô nghĩa gây sốc của sự báng bổ không vì lý do gì cả. Vì bom là phương tiện biểu đạt của các anh, sẽ thực sự nói lên điều gì đó nếu người ta có thể ném một quả bom vào toán học thuần túy. Nhưng điều đó là bất khả thi. Tôi đã và đang cố gắng giáo dục anh; tôi đã giảng giải cho anh nghe về triết lý bậc cao của sự hữu dụng của anh, và gợi ý cho anh một số lập luận có ích. Ứng dụng thực tế của lời dạy của tôi mới là điều khiến anh quan tâm nhất. Nhưng kể từ khoảnh khắc tôi đứng ra phỏng vấn anh, tôi cũng đã dành chút sự chú ý cho khía cạnh thực tế của vấn đề. Anh nghĩ sao về việc thử ghé qua đài thiên văn xem nào?

Từ một lúc trước, sự bất động của ông Verloc bên cạnh chiếc ghế bành trông giống như một trạng thái hôn mê đã sụp đổ—một kiểu vô cảm thụ động bị ngắt quãng bởi những cú giật co giật nhẹ, giống như những gì có thể quan sát thấy ở một con chó cưng đang gặp ác mộng trên thảm trải sảnh. Và chính bằng một tiếng gầm gừ ngái ngủ giống như loài chó, ông lặp lại từ đó:

– Đài thiên văn.

Ông vẫn chưa hoàn toàn bình phục sau trạng thái bối rối do nỗ lực theo kịp lời lẽ sắc bén, dồn dập của ông Vladimir gây ra. Nó đã đánh gục khả năng tiếp thu của ông. Nó khiến ông nổi giận. Cơn giận này lại đan xen với sự hoài nghi. Và đột nhiên ông nhận ra rằng tất cả những điều này chỉ là một trò đùa được dàn dựng công phu. Ông Vladimir trưng ra hàm răng trắng trong một nụ cười, với những lúm đồng tiền trên khuôn mặt tròn trịa, đầy đặn được giữ ở tư thế nghiêng đầy tự mãn phía trên chiếc nơ cổ đang dựng đứng. Kẻ được sủng ái trong các quý cô thông minh đã khoác lên mình thái độ trong các salon đi kèm với việc tung ra những lời châm biếm tinh tế. Ngồi ngả hẳn người về phía trước, bàn tay trắng giơ cao, ông ta có vẻ như đang cầm nắm một cách tinh tế giữa ngón cái và ngón trỏ sự tinh tế trong lời gợi ý của mình.

– Chẳng có gì tuyệt vời hơn thế. Một vụ tấn công như thế kết hợp sự tôn trọng lớn nhất có thể dành cho nhân loại với sự biểu hiện đáng sợ nhất của sự ngu ngốc hung hãn. Tôi thách thức sự khéo léo của các nhà báo có thể thuyết phục công chúng của họ rằng bất kỳ thành viên nào của giai cấp vô sản lại có thể có mối hằn thù cá nhân với thiên văn học đấy. Ngay cả nạn đói cũng khó lòng mà lôi vào đây được—phải không nào? Và còn những lợi ích khác nữa. Toàn bộ thế giới văn minh đều biết tiếng Greenwich. Ngay cả những kẻ đánh giày ở tầng hầm ga Charing Cross cũng biết đôi chút về nó. Hiểu chứ?

Các nét trên khuôn mặt của ông Vladimir, vốn nổi tiếng trong giới thượng lưu bởi sự nhã nhặn hài hước của mình, rạng rỡ niềm tự mãn đầy cay đắng, điều mà hẳn sẽ khiến những người phụ nữ thông minh được sự hóm hỉnh của ông giải trí một cách tuyệt vời phải kinh ngạc. – Đúng vậy, – ông tiếp tục với một nụ cười khinh miệt, – việc cho nổ tung kinh tuyến gốc chắc chắn sẽ làm dấy lên một tiếng tru tréo căm phẫn.

– Một việc khó khăn đấy, – ông Verloc lầm bầm, cảm thấy rằng đây là điều duy nhất an toàn để nói.

– Có chuyện gì thế? Chẳng lẽ anh không nắm trong tay cả lũ bầy đàn đó sao? Những thành phần ưu tú nhất của cái giỏ đó? Lão khủng bố già Yundt đang ở đây. Tôi thấy hắn đi dạo ở Piccadilly trong chiếc áo khoác havelock màu xanh lá cây hầu như ngày nào. Và Michaelis, vị tông đồ từng mang án tù phóng thích có điều kiện—không lẽ anh định nói với tôi là anh không biết hắn ở đâu chứ? Bởi vì nếu anh không biết, tôi có thể chỉ cho anh, – ông Vladimir tiếp tục với giọng đe dọa. – Nếu anh tưởng rằng mình là kẻ duy nhất nằm trong danh sách quỹ mật vụ, thì anh lầm to rồi.

Lời gợi ý hoàn toàn không có lý do này khiến ông Verloc khẽ dịch chuyển đôi chân một chút.

– Còn toàn bộ cái đám ở Lausanne thì sao—hả? Chẳng phải bọn chúng đã đổ xô đến đây ngay khi có chút manh mối đầu tiên về Hội nghị Milan đó sao? Đây là một đất nước ngớ ngẩn thật đấy.

– Sẽ tốn tiền đấy, – ông Verloc nói, theo một thứ bản năng nào đó.

– Chiêu trò đó không hiệu quả đâu, – ông Vladimir đáp lại bằng một chất giọng Anh chuẩn mực đến kinh ngạc. – Anh sẽ nhận được đồng lương của mình hằng tháng, và chẳng có thêm xu nào cho đến khi có chuyện gì đó xảy ra. Và nếu không có chuyện gì xảy ra rất sớm, anh thậm chí sẽ chẳng nhận nổi khoản đó đâu. Nghề nghiệp bề ngoài của anh là gì? Anh sống bằng cái gì thế?

– Tôi giữ một cửa hàng, – ông Verloc đáp.

– Cửa hàng! Cửa hàng loại gì?

– Văn phòng phẩm, báo chí. Vợ tôi—

– Vợ ai cơ? – ông Vladimir ngắt lời bằng giọng rít sâu đặc sệt vùng Trung Á của mình.

– Vợ tôi. – Ông Verloc nâng giọng khàn đặc lên một chút. – Tôi đã có gia đình.

– Quỷ tha ma bắt câu chuyện đó đi, – kẻ kia thốt lên với sự kinh ngạc chân thực. – Đã kết hôn! Lại còn là một kẻ tự nhận theo chủ nghĩa vô chính phủ nữa chứ! Cái quái gì thế này? Nhưng tôi đoán đó chỉ là cách nói quen miệng thôi. Những kẻ vô chính phủ không kết hôn. Ai mà chẳng biết điều đó. Bọn họ không thể làm thế. Làm thế chẳng khác nào phản giáo lý.

– Vợ tôi không phải là người như thế, – ông Verloc lầm bầm vẻ hờn dỗi. – Hơn nữa, đó không phải là việc của ngài.

– Ồ thế à, chính là nó đấy, – ông Vladimir sẵng giọng. – Tôi bắt đầu bị thuyết phục rằng anh hoàn toàn không phải là người thích hợp cho công việc mà anh được giao phó. Chà, anh chắc hẳn đã tự làm mất uy tín hoàn toàn trong thế giới của chính mình bằng cuộc hôn nhân đó rồi. Anh không thể tự xoay xở mà không cần đến nó sao? Đây là sự gắn kết đức hạnh của anh đấy phải không—hả? Hết loại gắn kết này đến loại gắn kết khác, anh đang tự triệt tiêu sự hữu dụng của chính mình đấy.

Ông Verloc phồng má, thả không khí ra một cách dữ dội, và chỉ có thế. Ông đã tự trang bị cho mình sự kiên nhẫn. Nó sẽ không bị thử thách thêm lâu nữa đâu. Vị Bí thư Thứ nhất bỗng trở nên rất cộc cằn, xa cách và dứt khoát.

– Anh có thể đi bây giờ được rồi, – ông nói. – Một vụ tấn công bằng thuốc nổ phải được khiêu khích. Tôi cho anh thời gian một tháng. Các phiên họp của Hội nghị đang bị đình hoãn. Trước khi nó nhóm họp lại lần nữa, một điều gì đó phải xảy ra ở đây, nếu không mối quan hệ của anh với chúng ta sẽ chấm dứt.

Ông lại thay đổi giọng điệu một lần nữa với sự lật lọng không có lấy một chút nguyên tắc.

– Hãy suy ngẫm về triết lý của tôi đi, ông—ông—Verloc, – ông nói, với một kiểu hạ cố giễu cợt, xua tay về phía cửa. – Hãy nhắm vào kinh tuyến gốc ấy. Anh không hiểu tầng lớp trung lưu rõ bằng tôi đâu. Sự nhạy cảm của bọn chúng đã chai sạn rồi. Kinh tuyến gốc. Chẳng có gì tốt hơn, và cũng chẳng có gì dễ dàng hơn thế đối với tôi, tôi nghĩ vậy.

Ông ta đã đứng dậy, và với đôi môi mỏng nhạy cảm đang giật giật đầy vẻ hài hước, dõi theo trong tấm gương phía trên lò sưởi hình ảnh ông Verloc đang nặng nề lùi bước khỏi căn phòng, tay cầm mũ và gậy. Cánh cửa khép lại.

Tên gia nhân mặc quần dài, bất ngờ xuất hiện ở hành lang, dẫn ông Verloc theo một lối đi khác và qua một cánh cửa nhỏ ở góc sân. Người gác cổng đang đứng ở cổng hoàn toàn phớt lờ sự rời đi của ông; và ông Verloc bước ngược lại con đường hành hương buổi sáng của mình như trong một giấc mơ—một giấc mơ đầy giận dữ. Sự tách rời khỏi thế giới vật chất này hoàn toàn đến mức, dẫu cho cái vỏ bọc phàm trần của ông Verloc không hề vội vã dọc theo các con đường, thì cái phần thuộc về ông mà người ta không thể từ chối tính bất tử một cách vô lý lại thấy mình đã đứng ngay trước cửa hàng tự lúc nào, như thể được mang từ tây sang đông trên đôi cánh của một cơn gió lớn. Ông đi thẳng ra sau quầy, và ngồi xuống chiếc ghế gỗ đặt ở đó. Không một ai xuất hiện để làm phiền sự cô độc của ông. Stevie, được mặc chiếc tạp dề bằng vải nỉ xanh, lúc này đang quét dọn và phủi bụi ở trên lầu, đầy tập trung và tận tụy, cứ như thể cậu đang chơi đùa với nó vậy; và bà Verloc, được cảnh báo dưới bếp bởi tiếng leng keng của chiếc chuông nứt, chỉ vừa bước đến cửa kính của phòng khách, vén nhẹ tấm rèm để ngó vào căn cửa hàng mờ ảo. Nhìn thấy chồng mình đang ngồi đó lù lù bóng tối và to lớn, với chiếc mũ ngả tít ra đằng sau đầu, bà ngay lập tức quay trở lại bên bếp lò của mình. Khoảng một tiếng sau hoặc hơn thế, bà tháo chiếc tạp dề bằng vải nỉ xanh khỏi người em trai Stevie, và ra lệnh cho cậu rửa tay mặt bằng cái giọng sắc lạnh mà bà đã dùng cho việc đó suốt mười lăm năm nay hay đại loại thế—thực ra là kể từ khi bà không còn tự tay rửa tay mặt cho cậu bé nữa. Lúc này, bà tạm rời mắt khỏi việc dọn món ăn ra đĩa để quan sát khuôn mặt và đôi bàn tay mà Stevie, khi tiến lại gần chiếc bàn bếp, chìa ra để mong được bà chấp thuận với vẻ tự tin nhằm che giấu một nỗi lo lắng vẫn luôn tồn tại thường trực. Trước đây, sự tức giận của người cha chính là hình thức trừng phạt có hiệu lực tối thượng cho những nghi lễ này, nhưng sự điềm tĩnh của ông Verloc trong đời sống gia đình đã khiến mọi nhắc nhở về sự giận dữ trở nên khó tin ngay cả đối với thần kinh yếu ớt của tội nghiệp Stevie. Lý thuyết là ông Verloc sẽ cảm thấy vô cùng đau đớn và bị sốc trước bất kỳ sự thiếu sạch sẽ nào trong các bữa ăn. Winnie, sau cái chết của người cha, đã tìm thấy sự an ủi đáng kể trong cảm giác rằng nàng không còn phải run rẩy vì tội nghiệp Stevie nữa. Nàng không thể chịu đựng được cảnh nhìn thấy đứa em trai bị tổn thương. Nó khiến nàng phát điên. Khi còn là một cô bé, nàng đã từng nhiều lần đối mặt với đôi mắt rực lửa của gã bán rượu cáu kỉnh để bảo vệ em trai mình. Giờ đây, chẳng có gì trong vẻ bề ngoài của bà Verloc có thể khiến người ta đoán rằng bà có khả năng thực hiện một hành động biểu lộ cảm xúc nồng nhiệt.

Bà hoàn tất việc dọn món. Bàn ăn đã được bày biện trong phòng khách. Đi đến chân cầu thang, bà hét lớn: “Mẹ ơi!” Rồi mở cánh cửa kính dẫn vào tiệm, bà điềm tĩnh nói: “Adolf!” Ông Verloc vẫn không thay đổi tư thế; dường như ông không hề nhúc nhích một chi nào trong suốt một tiếng rưỡi qua. Ông nặng nề đứng dậy, và tiến đến bàn ăn trong chiếc áo khoác ngoài và vẫn đội mũ trên đầu, không thốt ra một lời nào. Sự im lặng của bản thân ông không có gì là kỳ lạ hay bất thường đến mức giật gân trong gia đình này, nơi ẩn mình trong những bóng râm của con phố tồi tàn hiếm khi được mặt trời chiếu tới, đằng sau cửa hàng mờ ảo với những mặt hàng đồ đạc tồi tàn, tai tiếng. Chỉ có điều là ngày hôm nay, vẻ trầm ngâm của ông Verloc quá rõ ràng đến mức hai người phụ nữ đều bị ấn tượng bởi điều đó. Bản thân họ cũng ngồi im lặng, liếc mắt canh chừng Stevie tội nghiệp, sợ rằng cậu có thể bùng phát thành một trong những cơn nói nhiều của mình. Cậu ngồi đối diện với ông Verloc qua chiếc bàn ăn, tỏ ra rất ngoan ngoãn và yên lặng, ngây người nhìn đờ đẫn. Nỗ lực ngăn cản cậu không có những hành vi gây khó chịu cho chủ nhà đã mang lại một mối lo không nhỏ vào cuộc đời của hai người phụ nữ này. “Thằng bé đó,” theo cách họ thường thì thầm gọi cậu giữa hai người, đã là nguồn gốc của nỗi lo lắng kiểu đó hầu như kể từ ngày cậu chào đời. Sự bực bội của vị chủ quán rượu quá cố vì có một đứa con trai quá ư kỳ lạ đã bộc lộ qua xu hướng đối xử tàn bạo; bởi vì ông ta là một người có nhạy cảm tinh tế, và những nỗi thống khổ của ông với tư cách là một người đàn ông và một người cha là hoàn toàn chân thực. Sau đó, Stevie phải được giữ để không trở thành kẻ làm phiền những vị khách trọ độc thân, vốn bản thân họ cũng là một đám kỳ cục và rất dễ nổi khố. Và luôn có nỗi lo lắng về sự tồn tại thuần túy của cậu phải đối mặt. Những viễn cảnh về một bệnh xá nhà tế thế dành cho đứa con trai của mình đã ám ảnh bà cụ ở căn phòng ăn tầng hầm của ngôi nhà Belgravia đã xuống cấp. “Nếu con không tìm được một người chồng tốt như vậy, con yêu ạ,” bà thường nói với con gái mình, “mẹ không biết điều gì sẽ xảy ra với đứa bé tội nghiệp đó nữa.”

Ông Verloc dành cho Stevie sự quan tâm đúng mực mà một người không mấy yêu quý động vật có thể dành cho con mèo cưng của vợ mình; và sự quan tâm này, nhân từ và qua loa, về cơ bản cũng có chất lượng tương tự. Cả hai người phụ nữ đều thừa nhận với bản thân rằng người ta không thể mong đợi điều gì hơn thế một cách hợp lý. Chừng đó là đủ để mang lại cho ông Verloc lòng biết ơn đầy kính trọng của bà cụ. Những ngày đầu, khi còn mang sự hoài nghi vì những thử thách của một cuộc sống không bạn đời, bà thỉnh thoảng vẫn lo lắng hỏi: “Con không nghĩ là ông Verloc đang dần cảm thấy chán ngấy việc nhìn thấy Stevie cứ lảng vảng quanh đây chứ, con yêu?” Trả lời lại, Winnie thường hất đầu nhẹ một cách quen thuộc. Tuy nhiên, có lần nàng đã vặn lại với một vẻ xấc láo có phần lạnh lùng: “Hắn sẽ phải chán ngấy con trước đã.” Một khoảng lặng kéo dài theo sau đó. Người mẹ, với đôi bàn chân gác lên một chiếc ghế đẩu, dường như đang cố gắng tìm hiểu tận cùng câu trả lời đó, thứ chiều sâu nữ tính của nó đã khiến bà choáng váng hoàn toàn. Bà chưa bao giờ thực sự hiểu tại sao Winnie lại kết hôn với ông Verloc. Đó là một quyết định rất khôn ngoan của con bé, và rõ ràng mọi chuyện đã diễn ra theo hướng tốt đẹp nhất, nhưng con gái bà hoàn toàn có quyền hy vọng tự nhiên tìm được một người có độ tuổi phù hợp hơn chứ. Đã từng có một thanh niên đứng đắn, con trai duy nhất của một người bán thịt ở con phố bên cạnh, phụ giúp cha công việc kinh doanh, kẻ mà Winnie từng đi dạo cùng với sự hào hứng hiển nhiên. Quả thực anh ta phụ thuộc vào cha mình, nhưng việc kinh doanh rất phát triển, và triển vọng của anh ta rất tuyệt vời. Anh ta đã dẫn con gái bà đi xem kịch vài buổi tối. Rồi ngay khi bà bắt đầu sợ hãi phải nghe tin về lễ đính hôn của chúng (bởi vì bà biết làm gì với ngôi nhà to lớn đó một mình, lại thêm Stevie gánh trên tay mối lo này), thì mối tình lãng mạn đó chấm dứt đột ngột, và Winnie đi lại với vẻ mặt vô cùng ủ rũ. Nhưng khi ông Verloc xuất hiện một cách đầy may mắn để chiếm lấy căn phòng ngủ phía trước ở tầng một, thì chẳng còn ai nhắc đến anh chàng hàng thịt trẻ tuổi đó nữa. Mọi chuyện rõ ràng là sự sắp đặt của định mệnh.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.