Phần lớn trong khoảng ba mươi chiếc bàn nhỏ trải khăn đỏ có họa tiết trắng được kê vuông góc với lớp ốp gỗ màu nâu sẫm của căn phòng ngầm. Những chùm đèn bằng đồng với nhiều quả cầu thủy tinh buông xuống từ trần nhà thấp, hơi vòm, trong khi những bức bích họa chạy phẳng lì và ảm đạm quanh bốn bức tường không cửa sổ, miêu tả các cảnh săn bắn và hội hè ngoài trời trong trang phục thời Trung cổ. Những tên lầu la mặc áo chẽn xanh giơ cao dao săn và nâng những vại bia sủi bọt.
Ossipon lực lưỡng vừa nói, vừa cúi người về phía trước, hai khuỷu tay chống hẳn lên bàn và đôi chân thu gọn hoàn toàn dưới ghế: “Trừ phi tôi đoán lầm, anh chính là kẻ nắm rõ tường tận của vụ việc quái quỷ này.” Đôi mắt hắn trừng trừng vẻ háo hức điên cuồng.
Một cây đàn piano đứng loại nửa lớn gần cửa ra vào, đứng hai bên là hai chậu cây cọ, bỗng tự động tấu lên một khúc valse với vẻ thành thạo đầy thách thức. Tiếng động do nó phát ra thật điếc tai. Khi tiếng đàn vụt dứt bặt như lúc mới bắt đầu, gã đàn ông nhỏ thó, nhếch nhác, đeo kính cận ngồi đối diện Ossipon sau một vại bia thủy tinh dày liền bình thản thốt ra một câu nghe như một mệnh đề chung.
“Về nguyên tắc, điều mà một người trong chúng ta có thể biết hoặc không biết về một sự việc bất kỳ không bao giờ là vấn đề để những người khác đem ra dò hỏi.”
Đồng chí Ossipon trầm ngâm đồng tình: “Tất nhiên là không rồi. Về nguyên tắc.”
Với khuôn mặt to lớn, đỏ phừng phừng được ôm giữa hai tay, hắn tiếp tục trừng mắt nhìn chăm chú, trong khi gã đàn ông nhỏ thó đeo kính lạnh lùng nhấp một ngụm bia rồi đặt vại thủy tinh trở lại mặt bàn. Đôi tai to và phẳng của gã ve vẩy cách xa hai bên đầu – một cái đầu trông có vẻ mong manh đến mức Ossipon có thể bóp nát giữa ngón cái và ngón trỏ; vòm trán như tì lên gò kính; đôi má bẹt với làn da bóng nhờn, kém khỏe mạnh chỉ bị vấy bẩn bởi một chút râu lún phún thưa thớt, nghèo nàn. Sự kém cõi đáng thương của toàn bộ vóc dáng ấy lại càng trở nên buồn cười bởi phong thái tự tin tột độ của cá nhân gã. Lời nói của gã cộc lốc, và gã có một vẻ giữ im lặng đặc biệt gây ấn tượng.
Ossipon lại cất lời từ giữa hai bàn tay bằng giọng thì thầm.
“Hôm nay anh có ra ngoài nhiều không?”
Gã kia đáp: “Không. Tôi nằm lỳ trên giường suốt cả buổi sáng. Sao thế?”
Ossipon nói: “À! Không có gì cả,” ánh mắt tha thiết nhìn theo và trong lòng nôn nao niềm khao khát tìm hiểu điều gì đó, nhưng rõ ràng vẫn bị áp đảo bởi vẻ dửng dưng đến cùng cực của gã nhỏ thó. Khi trò chuyện với đồng chí này – việc vốn hiếm khi xảy ra – gã Ossipon to lớn thường mang cảm giác bé nhỏ về mặt đạo đức lẫn thể xác. Tuy nhiên, hắn vẫn đánh bạo đặt thêm một câu hỏi. “Anh đi bộ đến đây à?”
“Không; đi xe buýt,” gã nhỏ thó đáp khá sẵn lòng. Gã ở tít tận Islington, trong một ngôi nhà nhỏ nằm trên con phố xập xệ, rải rác rơm rác và giấy bẩn, nơi vào những giờ tan học, một lũ trẻ đủ loại chạy nhảy và cãi vã với thứ âm thanh chói tai, buồn tẻ và náo loạn. Căn phòng đơn phía sau nhà gã, nổi bật với chiếc tủ đựng đồ cực lớn, được gã thuê lại có đồ đạc từ hai bà chị già làm nghề thợ may bình dân với tệp khách hàng chủ yếu là đám nữ gia nhân. Gã khóa chiếc tủ ấy bằng một ổ khóa nặng, nhưng ngoài ra thì gã là một vị khách trọ kiểu mẫu, chẳng gây phiền toái gì và hầu như không cần ai phục vụ. Điểm kỳ quặc của gã là khăng khăng đòi có mặt khi phòng mình được quét dọn, và cứ mỗi khi ra ngoài là gã lại khóa cửa cẩn thận rồi mang theo chìa khóa.
Ossipon chợt hình dung ra cặp kính gọng đen tròn ấy đang di chuyển dọc các con phố trên nóc xe buýt, thứ ánh sáng tự tin của chúng chớp lên đây đó trên những bức tường nhà hoặc chiếu xuống đầu dòng người vô danh trên vỉa hè. Cái bóng của một nụ cười nhợt nhạt làm biến đổi đôi môi dày của Ossipon khi nghĩ đến cảnh những bức tường cúi chào, cảnh mọi người hoảng loạn chạy trốn tính mạng khi nhìn thấy cặp kính đó. Giá mà họ biết được! Thật là một cơn hoảng loạn! Hắn cất tiếng hỏi dò: “Anh ngồi đây lâu chưa?”
Gã kia hững hờ đáp: “Hơn một tiếng rồi,” rồi nhấp một ngụm bia đen. Mọi cử động của gã – cách gã nắm lấy vại bia, hành động uống, cách đặt chiếc ly nặng xuống và khoanh tay lại – đều mang một sự vững vàng, một vẻ chính xác chắc nịch khiến gã Ossipon vạm vỡ, với đôi mắt trợn ngược và đôi môi trề ra đang đổ người về phía trước, trông chẳng khác nào hình ảnh thu nhỏ của sự do dự đầy sốt ruột.
Hắn nói: “Một tiếng cơ à. Thế thì có lẽ anh vẫn chưa nghe tin tức mà tôi vừa mới nghe ngoài đường nhỉ? Anh nghe chưa?”
Gã nhỏ thó lắc khẽ đầu ra ý phủ nhận. Nhưng vì gã chẳng hề tỏ chút tò mò nào, Ossipon liền bồi thêm rằng hắn vừa nghe được tin đó ngay bên ngoài quán này. Một đứa bán báo vừa gào lên ngay trước mũi hắn, và vì không chuẩn bị tâm lý cho chuyện đó nên hắn vô cùng kinh ngạc và hoảng hốt. Hắn phải bước vào đây với cổ họng khô khốc. Hắn tiếp tục thì thầm đều đặn, hai khuỷu tay chống chặt lên bàn: “Tôi chưa bao giờ nghĩ lại tìm thấy anh ở đây cả.”
Gã kia đáp, vẫn giữ nguyên vẻ điềm tĩnh đáng ghét: “Thỉnh thoảng tôi vẫn đến đây.”
Gã Ossipon to lớn tiếp lời: “Thật kỳ lạ khi trong số tất cả mọi người, anh lại là kẻ chẳng hay biết gì về chuyện đó.” Mi mắt hắn giật bắn liên hồi trên đôi mắt sáng rực. Hắn lặp lại với giọng dò xét: “Chính anh trong số tất cả mọi người.” Sự kiềm chế rõ mồn một này cho thấy một sự rụt rè đáng kinh ngạc và khó tài nào hiểu nổi của gã to con trước gã nhỏ thó điềm tĩnh – người lúc này lại nâng vại bia lên, uống, và đặt xuống bằng những cử động dứt khoát, chắc nịch. Và chỉ có thế thôi.
Sau khi chờ đợi một lời nói hay cử chỉ nào đó mà mãi chẳng thấy xuất hiện, Ossipon ráng tỏ ra dửng dưng.
Hắn hạ giọng trầm hơn nữa rồi nói: “Anh có đưa thứ đồ đó cho bất cứ ai hỏi xin mình không?”
Gã nhỏ thó kiên quyết đáp: “Nguyên tắc tuyệt đối của tôi là không bao giờ từ chối bất cứ ai — chừng nào tôi còn chút ít bên mình.”
Ossipon bình luận: “Đó là một nguyên tắc à?”
“Đó là một nguyên tắc.”
“Và anh nghĩ nó hợp lý chứ?”
Cặp kính tròn to bản, mang lại cho khuôn mặt tái mét vẻ tự tin trừng trừng, đối diện với Ossipon hệt như những con ngươi thức thấu đêm không chớp, lóe lên một thứ ánh lửa lạnh lẽo.
“Hoàn toàn hợp lý. Luôn luôn như vậy. Trong mọi hoàn cảnh. Cái gì có thể cản trở tôi chứ? Tại sao tôi không được làm thế? Tại sao tôi phải suy nghĩ đắn đo về điều đó cơ chứ?”
Ossipon khẽ hít một hơi thận trọng.
“Ý anh là anh sẵn sàng trao nó cho một tên ‘thám tử’ nếu hắn đến hỏi xin món hàng của anh đấy phỏng?”
Gã kia cười nhạt.
Gã đáp: “Cứ để chúng đến thử xem rồi anh sẽ thấy. Chúng biết tôi, nhưng tôi cũng nắm rõ từng tên một bén mảng đến gần tôi – đừng có hòng.”
Đôi môi mỏng tái nhợt của gã mím chặt lại dứt khoát. Ossipon bắt đầu tranh cãi.
“Nhưng chúng có thể cử người khác đến – dựng lên một màn kịch để bịp anh. Anh không hiểu à? Lấy món hàng từ tay anh theo cách đó, rồi bắt giữ anh với tang vật rành rành trong tay.”
“Tang vật gì cơ chứ? Chắc là buôn bán chất nổ không phép ấy hả.” Câu này mang ý mỉa mai khinh miệt, dẫu cho biểu cảm trên khuôn mặt gã mỏng manh, ốm yếu vẫn không hề thay đổi và giọng điệu vẫn rất dửng dưng. “Tôi không nghĩ có tên nào trong số chúng lại thiết tha thực hiện vụ bắt giữ đó đâu. Tôi không nghĩ họ có thể sai nổi một tên nào chịu làm đơn xin lệnh khám xét cả. Ý tôi là những tên giỏi nhất ấy. Không một tên nào đâu.”
Ossipon hỏi: “Tại sao?”
“Vì chúng thừa biết tôi luôn cẩn trọng không bao giờ giao nốt nắm hàng cuối cùng của mình. Tôi luôn mang nó kè kè bên người.” Gã khẽ chạm vào ngực áo. Gã nói thêm: “Đựng trong một chiếc bình thủy tinh dày.”
Ossipon cất lời với một thoáng kinh ngạc trong giọng nói: “Tôi cũng từng nghe người ta kể thế. Nhưng tôi không biết liệu...”
Gã nhỏ thó cộc lốc cắt lời, ngả người vào tựa lưng chiếc ghế vốn cao hơn cả cái đầu mỏng manh của gã: “Chúng biết rõ chứ. Tôi sẽ không bao giờ bị bắt đâu. Trò chơi này chưa đủ đô với bất kỳ tên cảnh sát nào trong số chúng đâu. Để đối phó với một kẻ như tôi, các anh đòi hỏi phải có sự anh hùng trần trụi, tuyệt đối và chẳng lấy gì làm vẻ vang.” Lại một lần nữa, đôi môi gã mím lại với vẻ tự tin chắc nịch. Ossipon kìm nén một cử động thiếu kiên nhẫn.
Hắn vặn lại: “Hoặc là sự liều lĩnh – hay đơn giản chỉ là sự ngu dốt. Chúng chỉ việc thuê một kẻ nào đó làm cái việc quái quỷ gì mà không biết rằng anh đang giắt trong túi đủ thứ chất nổ để thổi bay chính mình và mọi thứ trong bán kính sáu mươi thước thành mảnh vụn.”
Gã kia đáp: “Tôi chưa bao giờ khẳng định là mình không thể bị tiêu diệt. Nhưng đó sẽ không phải là một vụ bắt giữ. Hơn nữa, chuyện đó không dễ dàng như bề ngoài đâu.”
Ossipon bác bỏ: “Hừ! Đừng có quá chắc chắn như thế. Có trời mới cản được nửa tá bọn chúng lao vào anh từ phía sau ngay trên đường phố chứ gì? Bị kẹp chặt hai tay vào mạn sườn thì anh có làm được gì đâu – đúng không?”
Gã nhỏ thó điềm nhiên đáp: “Có chứ; tôi vẫn làm được. Tôi hiếm khi ra đường sau khi trời tối, và chẳng bao giờ về quá muộn. Tôi luôn đi với bàn tay phải nắm chặt quả bóng cao su để trong túi quần. Việc bóp quả bóng này sẽ kích hoạt ngòi nổ bên trong chiếc bình tôi mang trong túi. Nó hoạt động theo nguyên tắc của màn chập khí nén tức thời dành cho ống kính máy ảnh. Ống dẫn chạy ngược lên...”
Với một cử động vạch trần chớp nhoáng, gã hé cho Ossipon thấy một đoạn ống cao su trông như một con giun nâu mảnh khảnh, nhô ra từ nách áo lê-gin và cắm sâu vào chiếc túi ngực bên trong áo khoác. Bộ trang phục bằng vải pha màu nâu không rõ màu của gã đã sờn chỉ và lấm lem vết bẩn, đầy bụi ở các nếp gấp cùng những khuy áo rách rưới. Gã dùng giọng trịch thượng ngẫu nhiên giải thích: “Ngòi nổ này một phần là cơ học, một phần là hóa học.”
Ossipon hơi rùng mình, lẩm bẩm: “Tất nhiên là nó nổ tức thì rồi nhỉ?”
Gã kia thú nhận với một vẻ miễn cưỡng dường như làm vẹo vẹo khuôn mặt một cách đau đớn: “Còn lâu mới được thế. Phải mất đúng hai mươi giây tính từ khoảnh khắc tôi bóp quả bóng cho đến khi vụ nổ xảy ra.”
Ossipon hoàn toàn kinh hãi, huýt sáo một tiếng: “Phù! Hai mươi giây cơ à! Thật kinh hoàng! Ý anh là anh có thể đối mặt với chừng đó thời gian ư? Tôi chắc phát điên mất thôi...”
“Anh có phát điên thì cũng chẳng sao cả. Tất nhiên, đó là điểm yếu của hệ thống đặc biệt này, vốn chỉ dành riêng cho một mình tôi sử dụng. Tệ nhất là phương thức kích nổ luôn là điểm yếu của chúng ta. Tôi đang cố phát minh ra một loại ngòi nổ có thể thích ứng với mọi điều kiện hoạt động, thậm chí cả những biến đổi bất ngờ của hoàn cảnh. Một cơ chế vừa biến đổi lại vừa hoàn toàn chính xác. Một thứ ngòi nổ thực sự thông minh.”
Ossipon lại lẩm bẩm: “Hai mươi giây. Ồ! Và rồi...”
Chỉ với một cái quay đầu nhẹ, ánh sáng lấp lánh từ cặp kính dường như đang ước lượng kích thước của quán bia nằm ở tầng hầm thuộc Nhà hàng Silenus nổi tiếng.
Kết quả của cuộc khảo sát ấy là: “Không một ai trong căn phòng này có thể hy vọng trốn thoát. Cả cặp đôi đang bước lên cầu thang kia cũng vậy.”
Tiếng đàn piano ở chân cầu thang vang lên chói lọi qua một khúc mazurka với sự ngạo mạn trơ trẽn, tựa như một bóng ma thô tục và xấc láo đang làm hàng. Các phím đàn chìm xuống rồi nhô lên một cách kỳ bí. Rồi mọi thứ trở nên tĩnh lặng. Trong giây lát, Ossipon tưởng tượng nơi ngập tràn ánh sáng ấy biến thành một hố đen khủng khiếp đang phun ra những làn khói ngột ngạt ghê rợn cùng với đống rác rưởi gớm ghiếc gồm những khối gạch vỡ nát và những xác chết cụt tay cụt chân. Hắn có nhận thức rõ mồn một về sự hủy diệt và cái chết đến mức lại rùng mình lần nữa. Gã kia nhận xét với vẻ tự mãn bình thản:
“Xét đến cùng, chính nhân cách mới là thứ mang lại sự an toàn cho một người. Trên thế giới này có rất ít người có nhân cách được thiết lập vững chắc như tôi.”
Ossipon gầm gừ: “Tôi tự hỏi làm thế nào mà anh xoay sở được hay thế.”
Gã kia nói mà không hề nâng giọng: “Sức mạnh nhân cách.” Phát ngôn ấy thốt ra từ cái miệng của một thực thể rõ ràng là thảm hại khiến gã Ossipon lực lưỡng phải cắn chặt môi dưới. Gã lặp lại với vẻ bình thản phô trương: “Sức mạnh nhân cách. Tôi có phương tiện để khiến bản thân trở nên chết chóc, nhưng bản thân điều đó thôi, anh hiểu đấy, chẳng có chút ý nghĩa gì trong việc bảo vệ cả. Thứ có hiệu quả chính là niềm tin mà những kẻ kia đặt vào ý chí sử dụng phương tiện ấy của tôi. Đó là ấn tượng của họ. Nó mang tính tuyệt đối. Do đó, tôi cực kỳ chết chóc.”
Ossipon cất giọng trầm đục đầy điềm gở: “Trong đám đó cũng có những cá nhân có nhân cách chứ bộ.”
“Có thể. Nhưng rõ ràng đó là vấn đề về cấp độ, chẳng hạn như tôi không hề bị họ gây ấn tượng. Do đó họ kém cỏi hơn. Họ không thể khác được. Nhân cách của họ được xây dựng trên nền tảng đạo đức quy ước. Nó dựa dẫm vào trật tự xã hội. Còn nhân cách của tôi đứng độc lập, thoát khỏi mọi thứ nhân tạo. Bọn họ bị trói buộc bởi đủ loại quy ước. Họ phụ thuộc vào cuộc sống – thứ trong bối cảnh này là một sự kiện lịch sử bị bao vây bởi đủ loại ràng buộc và cân nhắc, một thực thể tổ chức phức tạp có thể bị tấn công ở mọi điểm; trong khi tôi phụ thuộc vào cái chết – thứ chẳng màng đến bất kỳ sự ràng buộc nào và không thể bị tấn công. Sự ưu việt của tôi là hiển nhiên.”
Ossipon vừa quan sát ánh lửa lạnh lẽo từ cặp kính tròn, vừa nói: “Cách diễn đạt này mang đậm tính siêu hình. Tôi mới nghe Karl Yundt nói y hệt như vậy cách đây không lâu thôi.”
Gã kia lẩm bẩm vẻ khinh miệt: “Karl Yundt, tên đại diện của Ủy ban Đỏ Quốc tế ấy á, cả đời chỉ là một cái bóng hay làm dáng mà thôi. Các anh có ba đại diện cơ mà, phải không? Tôi sẽ không định nghĩa hai tên kia đâu, vì anh là một trong số đó. Nhưng những gì anh nói chẳng có nghĩa lý gì sất. Các anh là những tên đại diện đáng kính cho công tác tuyên truyền cách mạng, nhưng khốn nỗi là các anh chẳng những không có khả năng tư duy độc lập ngang ngửa với bất kỳ gã chủ tiệm tạp hóa hay nhà báo đáng kính nào trong số bọn họ, mà các anh còn chẳng có chút nhân cách nào sất.”
Ossipon không sao kìm được một cái giật mình đầy phẫn nộ.
Hắn thốt lên bằng một giọng trầm nghẹn: “Thế anh muốn gì ở chúng tôi chứ? Bản thân anh đang theo đuổi cái quái gì thế?”
Câu trả lời vang lên ngắn gọn dứt khoát: “Một ngòi nổ hoàn hảo. Anh làm cái bộ mặt gì thế kia? Thấy chưa, ngay cả việc nghe nhắc đến một thứ mang tính quyết định mà anh còn không chịu nổi cơ mà.”
Gã Ossipon đang bực bội bèn gầm gừ gắt gỏng: “Tôi có làm bộ mặt gì đâu.”
Gã kia với vẻ tự tin ung dung lại tiếp tục: “Các anh những kẻ cách mạng là nô lệ của quy ước xã hội – thứ đang khiếp sợ các anh; nô lệ của nó chẳng khác gì chính đám cảnh sát đứng lên bảo vệ quy ước ấy. Rõ ràng là thế, vì các anh muốn cách mạng hóa nó. Tất nhiên nó chi phối tư duy của các anh, và cả hành động của các anh nữa, và do đó tư duy lẫn hành động của các anh không bao giờ có thể mang tính quyết định được.” Gã dừng lại, điềm tĩnh, với cái vẻ im lặng sâu thẳm, tận cùng ấy, rồi gần như lập tức nói tiếp. “Các anh chẳng khá hơn chút nào so với các lực lượng đang dàn trận chống lại các anh – ví dụ như cảnh sát chẳng hạn. Mấy hôm trước, tôi tình cờ chạm mặt Thanh tra Trưởng Heat ở góc đường Tottenham Court Road. Ông ta nhìn tôi rất chăm chú. Nhưng tôi thì chẳng thèm nhìn ông ta. Tại sao tôi phải ban cho ông ta nhiều hơn một cái liếc nhìn chứ? Ông ta đang bận nghĩ đến bao nhiêu thứ – về cấp trên, về danh tiếng, về các tòa án, về tiền lương, về báo chí – về hàng trăm thứ. Còn tôi thì chỉ nghĩ đến ngòi nổ hoàn hảo của mình mà thôi. Ông ta chẳng có ý nghĩa gì với tôi cả. Ông ta tầm thường đến mức – tôi chẳng thể nghĩ ra cái gì đủ tầm thường để so sánh với ông ta nữa – ngoại trừ Karl Yundt có lẽ. Thù nào cấp nấy. Cả tên khủng bố lẫn tên cảnh sát đều chui ra từ một cái giỏ. Cách mạng, tính hợp pháp – những nước đi phản công trong cùng một trò chơi; suy cho cùng thì những hình thức nhàn rỗi ấy đều y hệt nhau. Ông ta chơi trò chơi nhỏ của ông ta – các nhà tuyên truyền các anh cũng vậy. Còn tôi thì không chơi; tôi làm việc mười bốn tiếng một ngày và đôi khi phải chịu đói. Thỉnh thoảng các thí nghiệm của tôi tốn tiền, và thế là tôi phải nhịn ăn một hai ngày. Anh đang nhìn vại bia của tôi đấy à. Đúng vậy. Tôi đã uống hai vại rồi, và lát nữa sẽ uống thêm vại nữa. Đây là một kỳ nghỉ nhỏ, và tôi tự kỷ niệm nó một mình. Tại sao lại không chứ? Tôi có gan làm việc một mình, hoàn toàn một mình, tuyệt đối một mình. Tôi đã làm việc một mình suốt bao nhiêu năm nay.”
Khuôn mặt Ossipon đỏ sậm lại.
Hắn mỉa mai bằng giọng rất khẽ: “Vì cái ngòi nổ hoàn hảo ấy chứ gì?”
Gã kia vặn lại: “Đúng thế. Đó là một định nghĩa hay đấy chứ. Với tất cả các ủy ban và đoàn đại biểu của mình, anh chẳng tài nào tìm được thứ gì dù chỉ bằng nửa độ chính xác để định nghĩa bản chất hoạt động của anh. Chính tôi mới là nhà tuyên truyền thực thụ.”
Ossipon mang vẻ vượt lên trên những cân nhắc cá nhân, cất lời: “Chúng ta sẽ không tranh luận về điểm đó nữa. Tuy nhiên tôi e rằng mình phải phá hỏng kỳ nghỉ của anh rồi. Sáng nay có một kẻ vừa bị nổ tung ở Công viên Greenwich đấy.”
“Sao anh biết?”
“Tin tức đã được gào thét ngoài đường từ lúc hai giờ rồi. Tôi mua báo và chạy ù vào đây. Rồi tôi thấy anh đang ngồi cái bàn này. Tôi đang giữ tờ báo trong túi đây này.”
Hắn lôi tờ báo ra. Đó là một tờ giấy màu hồng khá lớn, trông như đang ửng lên vì sự nồng nhiệt của chính những niềm tin mang tính lạc quan của nó. Hắn lướt nhanh qua các trang giấy.
“À! Đây rồi. Bom ở Công viên Greenwich. Mới chỉ có ngần này thông tin. Mười một giờ rưỡi. Buổi sáng sương mù. Sức ảnh hưởng của vụ nổ lan tận đường Romney và Quảng trường Park. Một cái hố khổng lồ trên mặt đất dưới một gốc cây chứa đầy rễ cây bị băm nát và cành gãy. Xung quanh là những mảnh thi thể của một người đàn ông bị xé xác. Chỉ thế thôi. Phần còn lại toàn là chuyện phao phí vớ vẩn của báo chí. Họ bảo đây chắc chắn là một âm mưu độc ác nhằm thổi bay Đài thiên văn. Hừ. Thật khó mà tin nổi.”
Hắn lặng thấu nhìn tờ báo thêm lát nữa, rồi đưa nó cho gã kia; sau khi đờ đẫn nhìn chăm chú vào dòng chữ in, gã đặt nó xuống mà không đưa ra bình luận nào.
Chính Ossipon là người lên tiếng trước – vẫn còn ấm ức.
“Anh chú ý nhé, chỉ có mảnh thi thể của một người duy nhất. Do đó: tự thổi bay chính mình. Điều đó làm hỏng ngày nghỉ của anh rồi phải không? Anh có lường trước được động thái kiểu đó không? Tôi hoàn toàn không có ý niệm gì – chẳng mảy may có chút khái niệm nào về chuyện một thứ như thế lại được lên kế hoạch thực hiện ở đây – ngay tại đất nước này cả. Dưới hoàn cảnh hiện tại thì đây chẳng khác nào một tội ác tày trời.”
Gã nhỏ thó nhướng đôi mày đen mỏng lên với vẻ khinh bỉ dửng dưng.
“Tội ác! Đó là cái gì? Tội ác là gì chứ? Ý nghĩa của một khẳng định như thế có thể là gì cơ chứ?”
Ossipon thiếu kiên nhẫn nói: “Biết diễn tả thế nào đây? Người ta buộc phải dùng những từ ngữ thông dụng chứ. Ý nghĩa của khẳng định này là vụ việc này có thể ảnh hưởng vô cùng bất lợi đến vị thế của chúng ta tại đất nước này. Chừng đó chưa đủ cấu thành tội ác đối với anh hay sao? Tôi tin chắc rằng thời gian gần đây anh đã phân phát một ít hàng của mình cho ai đó rồi.”
Ossipon trừng mắt nhìn chằm chằm. Gã kia vẫn không hề nao núng, chậm rãi cúi rồi ngẩng đầu lên.
Biên tập viên của những ấn phẩm F. P. thốt lên bằng một giọng thì thầm dồn nén: “Anh có đấy! Không! Thế ra anh thực sự đang phân phát nó rộng rãi như thế, cứ hễ ai hỏi xin là cho, cho bất kỳ kẻ ngốc nào la cà đến à?”
“Đúng thế đấy! Trật tự xã hội đáng nguyền rủa này đâu được xây dựng bằng giấy mực, và tôi không nghĩ sự kết hợp giữa giấy mực lại có thể chấm dứt nó được đâu, dù anh có nghĩ thế nào đi chăng nữa. Phải, tôi sẵn sàng trao món hàng đó bằng cả hai tay cho mọi đàn ông, đàn bà hay kẻ ngốc nào thích la cà đến xin. Tôi biết anh đang nghĩ gì đấy. Nhưng tôi chẳng thèm nhận chỉ thị từ Ủy ban Đỏ nào đâu. Tôi sẵn sàng nhìn tất cả các anh bị đuổi cổ khỏi đây, bị bắt – hay thậm chí bị chém đầu mà chẳng thèm chớp mắt. Chuyện gì xảy ra với chúng ta dưới tư cách cá nhân chẳng có mảy may hệ trọng gì sất.”
Gã nói một cách bàng quan, không chút hằn học, hầu như chẳng có cảm xúc, và Ossipon, dẫu âm thầm chịu đựng sự đả kích lớn, vẫn cố bắt chước sự dửng dưng này.
“Nếu cảnh sát ở đây làm ăn đàng hoàng thì họ đã bắn thủng người anh bằng súng lục, hoặc tìm cách đánh úp anh từ phía sau ngay giữa ban ngày rồi.”
Gã nhỏ thó có vẻ như đã cân nhắc góc độ đó bằng cái phong thái dửng dưng đầy tự tin của mình.
Gã hoàn toàn tán đồng: “Đúng thế. Nhưng để làm được điều đó, họ sẽ phải đối mặt với chính các thể chế của họ. Anh thấy chưa? Chuyện đó đòi hỏi sự gan dạ phi thường. Một thứ gan dạ đặc biệt.”
Ossipon chớp chớp mắt.
“Tôi đoán đó chính xác là những gì sẽ xảy ra với anh nếu anh dựng phòng thí nghiệm của mình ở nước Mỹ đấy. Ở trỏng người ta không có khách sáo với các thể chế của họ đâu.”
Gã kia thừa nhận: “Chắc tôi chẳng dại gì mà sang đó mục kích đâu. Ngoài ra thì nhận xét của anh rất chính xác. Ở trỏng họ có nhiều nhân cách hơn, và nhân cách của họ về cơ bản mang tính vô chính phủ. Nước Mỹ chính là mảnh đất màu mỡ cho chúng ta – một mảnh đất rất tuyệt vời. Nền Đại cộng hòa ấy ẩn chứa tận gốc rễ bản chất hủy diệt. Temperament tập thể mang tính bất hợp pháp. Quá tuyệt vời. Họ có thể bắn hạ chúng ta, nhưng mà...”
Ossipon bực bội càu nhàu: “Anh quá siêu hình đối với tôi rồi đấy.”
Gã kia phản bác: “Logic đấy chứ. Có rất nhiều loại logic. Đây là loại đã được khai sáng. Nước Mỹ hoàn toàn ổn. Chính đất nước này mới là nơi nguy hiểm, với cái quan niệm mang tính lý tưởng chủ nghĩa về tính hợp pháp của nó. Tinh thần xã hội của xứ sở này chìm đắm trong những định kiến đầy câu nệ, và điều đó mang tính chí mạng đối với công việc của chúng ta. Các anh cứ nói nước Mỹ là chốn dung thân duy nhất của chúng ta ư! Càng tồi tệ hơn chứ sao. Capua! Chúng ta cần quái gì chốn dung thân cơ chứ? Ở đây các anh chỉ toàn nói nhảm, in ấn, âm mưu chứ chẳng làm mọe gì cả. Tôi dám cá là nó rất tiện lợi cho những kẻ như Karl Yundt.”
Gã khẽ nhún vai, rồi bồi thêm với cái vẻ ung dung tương tự: “Mục tiêu của chúng ta phải là đập tan sự mê tín và lòng sùng bái tính hợp pháp. Không gì khiến tôi thích thú hơn việc nhìn thấy Thanh tra Heat và những kẻ giống ông ta ra tay bắn hạ chúng ta ngay giữa ban ngày với sự đồng tình của công chúng. Khi ấy một nửa chiến thắng của chúng ta đã đạt được; sự rệu rã của nền đạo đức cũ sẽ khởi sự ngay trong chính ngôi đền của nó. Đó mới là thứ các anh nên hướng tới. Nhưng các anh những kẻ cách mạng sẽ chẳng bao giờ hiểu được điều đó. Các anh vạch ra tương lai, các anh đắm chìm trong những giấc mơ hoang tưởng về các hệ thống kinh tế bắt nguồn từ những gì đang tồn tại; trong khi thứ cần thiết là một cuộc quét sạch triệt để và một vạch xuất phát quang đãng cho một quan niệm sống hoàn toàn mới. Kiểu tương lai đó sẽ tự lo liệu lấy nếu các anh chịu nhường chỗ cho nó. Thế nên tôi sẵn sàng chất đống món hàng của mình ở các góc phố nếu tôi có đủ lượng hàng cho việc đó; còn vì không có đủ, tôi đành cố gắng hết sức bằng cách hoàn thiện một ngòi nổ thực sự đáng tin cậy.”
Ossipon, nãy giờ vẫn đang lặn ngụp trong dòng suy tưởng sâu thẳm, liền bám lấy từ cuối cùng hệt như vớ được chiếc phao cứu sinh.
“Ừ. Ngòi nổ của anh đấy. Tôi chẳng lấy làm lạ nếu chính một trong những cái ngòi nổ của anh đã quét sạch gã trong công viên đâu.”
Một thoáng bực bội làm vẩn đục khuôn mặt tái mét kiên quyết đang đối diện với Ossipon.
“Khó khăn của tôi chính nằm ở chỗ thực nghiệm thực tế với đủ loại chủng loại. Rốt cuộc thì chúng vẫn phải được thử nghiệm mà thôi. Vả lại...”
Ossipon ngắt lời.
“Gã đó có thể là ai nhỉ? Tôi đảm bảo rằng chúng ta ở London hoàn toàn không hay biết gì – Chẳng lẽ anh không thể mô tả kẻ mà anh đã trao món hàng sao?”
Gã kia quay cặp kính chĩa thẳng vào Ossipon như một cặp đèn pha.
Gã chậm rãi lặp lại: “Mô tả hắn ta ư. Tôi nghĩ bây giờ thì chẳng còn chút trở ngại nào nữa đâu. Tôi sẽ mô tả hắn cho anh chỉ bằng một từ thôi – Verloc.”
Ossipon, người vừa bị sự tò mò nhấc bổng lên khỏi ghế vài phân, bỗng khụy người tụt xuống hệt như vừa ăn một cú giáng vào mặt.
“Verloc! Không thể nào.”
Gã nhỏ thó điềm đạm khẽ gật đầu một cái.
“Đúng thế. Hắn chính là kẻ đó. Anh không thể nói rằng trong trường hợp này tôi đang bố thí món hàng của mình cho gã ngốc đầu tiên la cà đến được đâu. Theo tôi hiểu thì hắn là một thành viên nổi cộm của nhóm.”
Ossipon nói: “Ừ. Nổi cộm à. Không, không hẳn thế. Hắn là trung tâm tình báo chung, và thường xuyên tiếp đón các đồng chí ghé qua đây. Hữu dụng hơn là quan trọng. Một kẻ chẳng có chút tư tưởng nào. Nhiều năm trước hắn từng diễn thuyết tại các cuộc họp – ở Pháp thì phải. Dù sao thì cũng chẳng giỏi giang gì cho cam. Hắn được những người như Latorre, Moser và toàn bộ cái đám kỳ cựu đó tin tưởng. Tài năng duy nhất mà hắn thực sự thể hiện được chính là khả năng lẩn tránh sự dòm ngó của cảnh sát bằng cách nào đó. Ví dụ như ở đây, hắn có vẻ không bị theo dõi quá gắt gao. Hắn đã kết hôn đàng hoàng, anh biết đấy. Tôi đoán chính nhờ tiền của vợ mà hắn mới mở cái cửa hàng đó. Trông có vẻ cũng làm ăn được phết.”
Ossipon chợt khựng lại, tự lẩm bẩm “Không biết người phụ nữ đó giờ sẽ ra sao đây?” rồi chìm vào suy tư.
Gã kia chờ đợi với vẻ dửng dưng phô trương. Nguồn gốc gia thế của gã khá mơ hồ, và thiên hạ thường chỉ biết đến gã qua biệt danh Giáo sư (Professor). Danh hiệu đó xuất phát từ việc gã từng là trợ lý biểu diễn hóa học tại một viện kỹ thuật nào đó. Gã từng cãi nhau với giới chức trách về vấn đề đối xử bất công. Sau đó, gã kiếm được một chân trong phòng thí nghiệm của một nhà máy sản xuất chất nhuộm. Ở đó gã cũng lại bị đối xử bất công đến mức ghê tởm. Những cuộc đấu tranh, những thiếu thốn, những nỗ lực lao động cực nhọc để vươn lên trong thang bậc xã hội đã nhồi nhét vào đầu gã một niềm tin cao ngút trời về công trạng của bản thân, khiến cho việc thế gian đối xử công bằng với gã trở nên vô cùng khó khăn – bởi tiêu chuẩn của khái niệm ấy phụ thuộc quá nhiều vào sự kiên nhẫn của mỗi cá nhân. Vị Giáo sư có thiên tài, nhưng lại thiếu đi một đức tính xã hội vĩ đại là sự nhẫn nhịn.
Bỗng nhiên thoát khỏi dòng suy ngẫm nội tâm về thân phận và sự nghiệp góa bụa của phu nhân Verloc, Ossipon lớn tiếng tuyên bố: “Về mặt trí tuệ thì hắn chẳng là cái thá gì sất. Hoàn toàn là một nhân vật tầm thường. Giáo sư à, anh đã sai lầm khi không giữ liên lạc nhiều hơn với các đồng chí đấy,” hắn bổ sung bằng giọng quở trách. “Hắn có nói gì với anh không – hé lộ cho anh chút ý định nào của hắn không? Tôi đã không gặp hắn cả tháng trời rồi. Thật khó mà tin nổi là hắn đã đi đời nhà ma rồi.”
Vị Giáo sư nói: “Hắn bảo với tôi đó sẽ là một cuộc biểu tình chống lại một tòa nhà. Tôi buộc phải biết ngần đó để chuẩn bị thứ vũ khí. Tôi đã chỉ ra cho hắn thấy rằng tôi hầu như không có đủ lượng chất nổ cần thiết để tạo ra kết quả hủy diệt hoàn toàn, nhưng hắn cứ khẩn khoản nài nỉ tôi hãy cố gắng hết sức. Vì hắn muốn thứ gì đó có thể cầm công khai trên tay, tôi đề xuất tận dụng một chiếc vỏ thùng đựng dầu véc-ni copal dung tích một gallon cũ mà tôi tình cờ có sẵn. Hắn tỏ ra vô cùng thích thú với ý tưởng đó. Chuyện này khiến tôi tốn không ít công sức, vì tôi phải cắt đáy ra trước rồi sau đó mới hàn lại. Khi được chuẩn bị sẵn sàng để sử dụng, chiếc thùng chứa bên trong một cái lọ miệng rộng, đậy nút kín bằng thủy tinh dày, xung quanh chèn đất sét ẩm và chứa mười sáu ounce bột xanh X2. Ngòi nổ được nối với phần nắp vặn của thùng. Nó rất khéo léo – là sự kết hợp giữa thời gian và chấn động. Tôi đã giải thích hệ thống đó cho hắn. Đó là một ống thiếc mỏng bao bọc một...”
Sự chú ý của Ossipon đã trôi dạt đi đâu mất.
Hắn cắt lời: “Anh nghĩ chuyện gì đã xảy ra vậy?”
“Không thể đoán được. Chắc vặn chặt nắp quá, điều đó sẽ kích hoạt mối nối, rồi quên mất thời gian. Nó được cài đặt cho hai mươi giây. Mặt khác, một khi mối nối thời gian đã được thiết lập, một chấn động mạnh sẽ lập tức gây ra vụ nổ. Hoặc là hắn tính toán thời gian quá sít sao, hoặc đơn giản là làm rơi vật đó. Mối nối đã được thiết lập hoàn chỉnh – dù sao thì điều đó cũng rõ như ban ngày đối với tôi. Hệ thống đã hoạt động hoàn hảo. Thế mà anh cứ nghĩ rằng một gã ngốc tầm thường đang vội vã sẽ dễ quên bén việc tạo mối nối hơn nhiều chứ. Tôi chủ yếu lo lắng về dạng sự cố kiểu đó đấy. Nhưng có vô vàn kiểu ngu ngốc mà người ta không tài nào đề phòng hết được. Anh không thể hy vọng một ngòi nổ lại hoàn toàn chống được kẻ ngốc cơ chứ.”
Gã ra hiệu gọi bồi bàn. Ossipon ngồi đờ đẫn, ánh mắt tha thiết của kẻ đang phải lao tâm khổ tứ. Sau khi người phục vụ cầm tiền rời đi, hắn xốc lại tinh thần với vẻ vô cùng bất mãn.
Hắn trầm ngâm: “Chuyện này cực kỳ phiền toái đối với tôi. Karl đã phải nằm liệt giường vì bệnh viêm phế quản cả tuần nay rồi. Có khả năng cao là hắn sẽ chẳng bao giờ gượng dậy nổi nữa. Michaelis thì đang hưởng thụ sự xa hoa ở vùng quê nào đó. Một nhà xuất bản thời thượng đã đề nghị trả hắn năm trăm bảng Anh để viết sách. Đó sẽ là một thất bại thảm hại. Anh biết đấy, hắn đã mất đi thói quen tư duy mạch lạc trong nhà tù rồi còn gì.”
Vị Giáo sư lúc này đã đứng dậy, đang cài khuy áo khoác, nhìn xung quanh với vẻ dửng dưng hoàn toàn.
Ossipon mệt mỏi hỏi: “Anh định làm gì đây?” Hắn rất sợ sự quở trách từ Ủy ban Đỏ Trung ương – một cơ quan chẳng có trụ sở cố định nào và bản thân hắn cũng chẳng nắm rõ chính xác danh sách thành viên. Nếu vụ việc này dẫn đến việc bị cắt đứt khoản trợ cấp khiêm tốn dành cho việc ấn hành các ấn phẩm F. P., thì khi ấy quả thật hắn sẽ phải tiếc nuối cho sự ngu ngốc khó tài nào hiểu nổi của Verloc.
Hắn nói với một giọng bực dọc, thô lỗ: “Đoàn kết với hình thức hành động cực đoan nhất là một chuyện, còn sự liều lĩnh ngớ ngẩn lại là chuyện khác. Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra với Verloc nữa. Ở đó có uẩn khúc gì rồi. Dù sao thì hắn cũng tiêu đời rồi. Anh muốn nghĩ thế nào thì tùy, nhưng trong hoàn cảnh này, sách lược duy nhất cho nhóm cách mạng chiến đấu là chối bỏ mọi liên quan đến cái trò hề chết tiệt này của anh. Làm sao để việc chối bỏ đó đủ sức thuyết phục mới là điều đang làm tôi đau đầu đây.”
Gã nhỏ thó đang đứng, đã cài khuy áo gọn gàng và sẵn sàng rời đi, chẳng cao hơn gã Ossipon đang ngồi là bao. Gã chĩa thẳng tròng kính vào mặt đối phương.
“Anh có thể xin cảnh sát một tờ giấy chứng nhận hạnh kiểm tốt đấy. Bọn họ biết tối qua từng người trong số các anh ngủ ở đâu mà. Có lẽ nếu anh ngỏ lời, họ sẽ đồng ý công bố một thứ tuyên bố chính thức nào đó đấy.”
Ossipon cay đắng lẩm bẩm: “Chắc chắn là họ thừa biết chúng ta chẳng dính dáng gì đến chuyện này rồi. Còn họ sẽ nói gì lại là chuyện khác.” Hắn vẫn trầm ngâm, phớt lờ hình bóng lùn tịt, nhếch nhác giống như con cú đang đứng bên cạnh mình. “Tôi phải tóm lấy Michaelis ngay lập tức, và bắt hắn phải cất lên tiếng lòng tại một trong các buổi tụ họp của chúng ta. Công chúng có thứ tình cảm ủy mị dành cho gã đó. Tên tuổi của hắn đã có tiếng. Và tôi đang giữ liên lạc với một vài phóng viên của các tờ báo lớn. Những gì hắn nói sẽ toàn là rác rưởi nhảm nhí, nhưng hắn có cái lối ăn nói khiến người ta vẫn cứ nuốt trôi tuột.”
Vị Giáo sư giữ nguyên biểu cảm dửng dưng, cất giọng khá trầm chêm vào: “Hệt như si rô.”
Gã Ossipon đang bối rối lại tiếp tục độc thoại một mình gần như thành tiếng, theo cách của một kẻ đang suy ngẫm trong sự cô lập hoàn toàn.
“Đồ ngu như bò! Lại đi để lại cái đống bừa bộn ngớ ngẩn này cho một mình tôi gánh vác. Và tôi thậm chí còn chẳng biết liệu...”
Hắn ngồi mím chặt môi. Ý định đến thẳng cửa hàng để dò la tin tức chẳng có lấy chút sức hút nào. Nhận định của hắn là cửa hàng của Verloc có lẽ đã bị biến thành một cái bẫy của cảnh sát. Hắn nghĩ với vẻ phẫn nộ ra điều đạo đức giả rằng thế nào họ cũng bắt bớ vài người cho mà xem, bởi nhịp sống cách mạng vốn dĩ bình lặng của hắn nay lại bị đe dọa không phải do lỗi của hắn. Thế nhưng nếu không đến đó, hắn lại có nguy cơ mù tịt về những điều có lẽ rất quan trọng mà hắn buộc phải biết. Rồi hắn chợt suy luận rằng, nếu gã trong công viên thực sự tan thành mảnh vụn như các tờ báo chiều đưa tin, thì chắc chắn không thể nhận dạng được thi thể. Và nếu thế, cảnh sát chẳng có lý do đặc biệt nào để giám sát cửa hàng của Verloc chặt chẽ hơn bất kỳ địa điểm nào khác vốn nổi tiếng là tụ điểm của bọn vô chính phủ khét tiếng – trên thực tế, cũng chẳng có lý do gì hơn việc giám sát cửa khẩu của quán Silenus cả. Dù hắn có đi đâu đi nữa thì thế nào xung quanh cũng sẽ có đầy rẫy sự theo dõi. Mặc dù vậy...
Hắn lẩm bẩm tự tham khảo ý kiến bản thân: “Không biết bây giờ mình nên làm gì đây?”
Một giọng nói khàn khàn cất lên ngay sát nách hắn với vẻ khinh bỉ điềm tĩnh:
“Cứ bám chặt lấy người phụ nữ ấy đi, vắt kiệt được gì thì vắt.”
Nói xong câu đó, vị Giáo sư liền bước ra khỏi bàn. Ossipon, kẻ bị câu nói thấu gan thấu ruột ấy đánh trúng lúc đang lơ là, giật mình thon lách nhưng vô hiệu, rồi cứ thế đờ đẫn bất động với ánh mắt bất lực, hệt như bị đóng đinh chặt vào chiếc ghế ngồi. Chiếc đàn piano đơn độc, chẳng có lấy nổi một chiếc ghế đẩu trợ giúp, can đảm tấu lên vài hợp âm, rồi bắt đầu một tuyển tập các khúc ca dân gian, cuối cùng tiễn chân hắn ra về theo giai điệu của bài hát “Blue Bells of Scotland”. Những nốt nhạc đau đớn rời rạc mờ dần sau lưng khi hắn chầm chậm bước lên lầu, băng qua sảnh và ra ngoài đường phố.
Ngay trước lối vào lớn, một hàng người bán báo ảm đạm đứng tránh xa phần vỉa hè đang bày bán hàng hóa từ dưới lòng đường. Đó là một ngày đầu xuân buốt giá, ảm đạm; bầu trời nhem nhuốc, bùn đất trên đường phố, những bộ quần áo rách rưới của những gã đàn ông bẩn thỉu hòa hợp một cách xuất sắc với sự xuất hiện đầy rẫy của những tờ báo ẩm ướt, tơi tả bị vấy bẩn bởi mực in. Những tấm bích chương bám đầy rác rưởi viền quanh đường cong của mép vỉa hè hệt như những bức thảm trang trí. Hoạt động buôn bán báo chiều diễn ra tấp nập, thế nhưng, nếu so với dòng người đi bộ hối hả, liên tục, hiệu ứng đọng lại chỉ là sự thờ ơ, một sự phân phối bị phớt lờ. Ossipon vội vã liếc nhìn cả hai hướng trước khi bước ra dòng người đang chen chúc ngược xuôi, nhưng vị Giáo sư đã khuất dạng từ lâu.