Điệp Viên Kín: Một Câu Chuyện Giản Đơn

Lượt đọc: 138 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 11

❊ ❊ ❊

Sau khi Thanh tra trưởng Heat ra về, ông Verloc đi lại trong phòng khách.

Thỉnh thoảng, ông lại liếc nhìn vợ qua cánh cửa mở rộng. "Bây giờ thì bà ấy đã biết hết mọi chuyện," ông thầm nghĩ, vừa xót xa cho nỗi đau của vợ, vừa cảm thấy có chút bằng lòng với bản thân. Tâm hồn ông Verloc, dẫu có thiếu phần vĩ đại đi chăng nữa, vẫn có chỗ cho những tình cảm dịu dàng. Viễn cảnh phải báo tin dữ cho vợ từng khiến ông phát sốt. Thanh tra trưởng Heat đã gánh thay ông nhiệm vụ đó. Thế thì tốt quá rồi. Giờ đây, ông chỉ còn phải đối mặt với nỗi đau buồn của vợ.

Ông Verloc chưa từng ngờ rằng mình phải đối mặt với nỗi đau ấy vì cái chết—một thảm kịch không thể chối cãi bằng những lý lẽ tinh vi hay sự hùng biện sức thuyết phục. Ông Verloc chưa từng có ý định để Stevie phải bỏ mạng một cách bạo liệt và đột ngột đến thế. Ông hoàn toàn không muốn thằng bé phải chết. Stevie chết đi lại là một phiền toái lớn hơn rất nhiều so với lúc còn sống. Ông Verloc đã tiên đoán một kết quả thuận lợi cho kế hoạch của mình, dựa không phải vào sự thông minh của Stevie—thứ đôi khi hay gây ra những trò oái oăm cho con người—mà dựa vào sự vâng lời mù quáng và lòng tận tụy mù quáng của cậu thiếu niên. Dù chẳng phải nhà tâm lý học gì cho cam, ông Verloc đã lường trước được mức độ cuồng tín trong lòng Stevie. Ông dám ôm hy vọng Stevie sẽ rời khỏi chân tường Đài Thiên văn đúng theo chỉ dẫn, đi theo con đường đã được chỉ cho vài lần trước đó, và hội ngộ với người anh rể—là ông Verloc thông thái và tốt bụng—ở bên ngoài khuôn viên công viên. Mười lăm phút lẽ ra đã quá đủ cho dù là kẻ ngốc nghéch nhất để đặt thiết bị rồi thong thả bước đi. Và vị Giáo sư đã đảm bảo thời gian còn nhiều hơn mười lăm phút. Thế nhưng Stevie lại vấp ngã chỉ trong vòng năm phút sau khi bị bỏ lại một mình. Và ông Verloc suy sụp hoàn toàn về mặt tinh thần. Ông đã lường trước mọi chuyện, trừ việc đó. Ông đã lường trước việc Stevie hoảng loạn và lạc đường—bị truy tìm—để rồi cuối cùng được tìm thấy ở đồn cảnh sát hay nhà tế thần ở tỉnh lẻ. Ông đã lường trước việc Stevie bị bắt, và chẳng hề sợ hãi, bởi ông Verloc đặt niềm tin lớn vào lòng trung thành của Stevie, thứ đã được nhồi sét cẩn thận về sự cần thiết phải giữ im lặng trong suốt những buổi dạo chơi. Như một nhà hiền triết đi đây đi đó, ông Verloc, khi thong thả dạo bước trên các con phố Luân Đôn, đã định hình lại cái nhìn của Stevie về cảnh sát bằng những cuộc trò chuyện đầy rẫy những lý luận tinh tế. Chưa từng có một bậc hiền triết nào lại có được một đệ tử chăm chú và ngưỡng mộ đến thế. Sự phục tùng và tôn sùng ấy hiển hiện rõ mười mươi đến mức ông Verloc suýt nảy sinh một thứ tình cảm quý mến dành cho cậu bé. Dù sao đi nữa, ông cũng không thể ngờ sự việc liên quan lại bị phanh phui nhanh chóng đến vậy. Việc vợ ông lại nảy ra sự cẩn trọng là khâu địa chỉ của thằng bé vào bên trong áo khoác là điều cuối cùng mà ông Verloc có thể nghĩ tới. Người ta đâu thể nghĩ được mọi chuyện trên đời. Đó chính là ý của bà khi nói rằng ông không phải lo lắng nếu lỡ để lạc Stevie trong những buổi dạo chơi. Bà đã đoan chắc với ông rằng thằng bé thế nào cũng tự tìm được đường về. Chà, nó đã trở về thật đấy, một cách quá quắt là đằng khác!

"Chà, chà," ông Verloc lẩm bẩm trong sự kinh ngạc. Ý vợ ông là sao chứ? Để ông đỡ phải bận tâm canh chừng Stevie chăng? Khả năng cao là bà có ý tốt. Chỉ có điều là đáng lẽ bà phải báo cho ông biết về sự cẩn thận mà bà đã làm.

Ông Verloc bước ra sau quầy hàng của cửa tiệm. Ý định của ông không phải là trút lên đầu vợ những lời trách móc cay đắng. Ông Verloc chẳng cảm thấy cay đắng gì cả. Vòng xoáy bất ngờ của sự kiện đã khiến ông quy hàng học thuyết định mệnh. Giờ thì chẳng thể cứu vãn gì được nữa. Ông cất tiếng:

"Anh không hề có ý định làm hại thằng bé."

Bà Verloc rùng mình trước giọng nói của chồng. Bà không mở che mặt ra. Viên mật thám đáng tin cậy của cố Nam tước Stott-Wartenheim nhìn bà đăm đăm với ánh nhìn nặng nề, kiên định và vô cảm. Tờ báo buổi tối bị xé rách đang nằm dưới chân bà. Nó chắc hẳn chẳng nói cho bà biết được nhiều điều. Ông Verloc cảm thấy cần phải trò chuyện với vợ.

"Chính là tại cái lão Heat chết tiệt đó—phải không?" ông nói. "Lão ta đã làm em suy sụp. Lão thật tàn nhẫn khi buly bô tuếch toác mọi chuyện như thế với một người đàn bà. Anh đã phát ốm lên khi nghĩ xem làm sao để báo tin cho em. Anh đã ngồi hàng giờ trong phòng trà nhỏ ở Cheshire Cheese để suy tính cách tốt nhất. Em hiểu là anh chưa từng có ý định làm hại đứa bé đó cơ mà."

Ông Verloc, viên Mật thám, đang nói sự thật. Tình cảm vợ chồng mới chính là thứ gánh chịu cú sốc lớn nhất từ vụ nổ sớm hơn dự kiến. Ông nói thêm:

"Anh chẳng thấy vui vẻ gì khi ngồi ở đó mà nghĩ về em."

Ông nhận thấy vợ mình lại khẽ rùng mình, điều đó chạm đến sự nhạy cảm của ông. Do bà vẫn cố che kín mặt bằng đôi tay, ông nghĩ tốt hơn là nên để bà ở một mình một lúc. Theo một thúc giục đầy tinh tế này, ông Verloc lại rút lui vào trong phòng khách, nơi ngọn lửa gas đang kêu gừ gừ như một con mèo thỏa mãn. Sự chu đáo của người vợ đã để lại miếng thịt bò nguội trên bàn cùng con dao lọc thịt, nĩa và nửa ổ bánh mì cho bữa tối của ông Verloc. Giờ đây, ông mới nhận ra tất cả những điều đó lần đầu tiên, và tự cắt cho mình một mẩu bánh mì lẫn thịt rồi bắt đầu ăn.

Cơn thèm ăn của ông không phải xuất phát từ sự vô cảm. Ông Verloc đã chẳng ăn chút bữa sáng nào ngày hôm ấy. Ông đã rời nhà trong chiếc bụng đói. Vốn chẳng phải là một người năng nổ, ông tìm thấy quyết tâm của mình trong cơn kích động thần kinh, thứ dường như đang bóp nghẹt lấy cổ họng ông. Ông chẳng thể nuốt nổi bất cứ thứ gì đặc. Ngôi nhà tranh của Michaelis cũng trống hoác chẳng khác nào phòng giam của một tù nhân. Tông đồ được ân xá sống qua ngày bằng một ít sữa và những mẩu bánh mì cứng ngắc. Hơn nữa, khi ông Verloc tới nơi, lão ta đã lên lầu sau bữa ăn đạm bạc của mình. Mải mê với công việc và niềm vui sáng tác văn chương, lão thậm chí còn chẳng đáp lại tiếng gọi vọng lên cầu thang nhỏ của ông Verloc.

"Tôi đưa cậu bạn trẻ này về nhà một hoặc hai ngày nhé."

Và quả thực, ông Verloc đã chẳng đợi câu trả lời mà bước thẳng ra khỏi ngôi nhà tranh ngay lập tức, theo sau là Stevie ngoan ngoãn.

Giờ đây, khi mọi hành động đã chấm dứt và số phận của ông đã bị tước đoạt khỏi tay một cách nhanh chóng đến bất ngờ, ông Verloc cảm thấy trống rỗng vô cùng về mặt thể xác. Ông cắt thịt, xắt bánh mì, và ngấu nghiến bữa tối ngay cạnh bàn, thỉnh thoảng lại liếc nhìn về phía vợ. Sự bất động kéo dài của bà làm phá hỏng sự thoải mái trong bữa ăn của ông. Ông lại bước vào tiệm, đến sát rạt bên cạnh bà. Nỗi đau đớn với gương mặt che khuất ấy khiến ông Verloc cảm thấy bất an. Dĩ nhiên là ông mong vợ mình vô cùng suy sụp, nhưng ông muốn bà phải xốc lại tinh thần. Ông cần tất cả sự hỗ trợ và lòng trung thành của bà trong cục diện mới này—thứ mà thuyết định mệnh của ông đã sớm chấp nhận.

"Đành chịu thôi," ông nói với giọng đồng cảm u ám. "Thôi nào, Winnie, chúng ta phải nghĩ đến ngày mai. Em sẽ cần đến sự minh mẫn sau khi anh bị bắt đi."

Ông dừng lại. Lồng ngực bà Verloc phập phồng đầy co giật. Điều này chẳng hề mang lại sự trấn an cho ông Verloc, người mà theo quan điểm của ông, tình huống mới phát sinh đòi hỏi hai người trong cuộc phải thật bình tĩnh, quyết đoán, cùng những phẩm chất khác không thể dung hòa với sự rối loạn tinh thần của nỗi đau khổ tột cùng. Ông Verloc là một người nhân hậu; ông đã trở về nhà với tâm thế sẵn sàng dung thứ cho mọi tình cảm sâu đậm của vợ dành cho em trai.

Chỉ là ông không hiểu được bản chất lẫn mức độ sâu sắc của tình cảm đó. Và trong chuyện này ông có thể được tha thứ, bởi ông vốn chẳng thể hiểu nổi nó nếu vẫn giữ nguyên con người mình. Ông giật mình và thất vọng, và lời nói của ông đã bộc lộ điều đó qua một giọng điệu có phần cộc cằn.

"Em có thể nhìn người ta một cái cơ mà," ông nhận xét sau khi chờ đợi một hồi.

Như thể bị nén ép qua đôi bàn tay đang che mặt bà Verloc, câu trả lời thốt lên, nghẹn ngào, gần như đáng thương.

"Tôi không muốn nhìn anh chừng nào tôi còn sống."

"Hả? Gì cơ!" Ông Verloc chỉ đơn thuần giật mình trước nghĩa đen bề nổi của tuyên bố này. Nó rõ ràng là vô lý, chỉ là tiếng kêu của nỗi đau đớn quá đỗi cường điệu. Ông khoác lên nó tấm áo của sự khoan dung vợ chồng. Tâm trí ông Verloc vốn thiếu đi chiều sâu. Dưới ấn tượng sai lầm rằng giá trị của mỗi con người nằm ở chính bản thân họ, ông hoàn toàn không thể hiểu nổi giá trị của Stevie trong mắt bà Verloc. Bà đang chịu đựng một cách quá quắt, ông tự nhủ. Tất cả là lỗi tại cái lão Heat chết tiệt đó. Lão muốn làm người ta suy sụp để làm gì cơ chứ? Nhưng không thể để mặc bà tiếp tục hành hạ bản thân như thế cho đến khi hoàn toàn mất trí được, vì lợi ích của chính bà.

"Này nhé! Em không thể cứ ngồi lì thế này trong tiệm được," ông nói với vẻ nghiêm khắc giả tạo, ẩn giấu trong đó sự bực bội có thật; bởi những vấn đề thực tiễn cấp bách cần phải được bàn bạc cho dù họ có phải thức trắng cả đêm đi nữa. "Biết đâu có ai bước vào bất cứ lúc nào," ông nói thêm, rồi lại chờ đợi. Chẳng có chút hiệu ứng nào, và ý nghĩ về sự vĩnh viễn của cái chết chợt hiện lên trong đầu ông Verloc suốt khoảng lặng đó. Ông liền đổi giọng. "Thôi nào. Việc này có làm nó sống lại được đâu," ông nói dịu dàng, cảm thấy sẵn sàng ôm chầm lấy bà và ép chặt vào lồng ngực mình, nơi sự thiếu kiên nhẫn và lòng trắc ẩn đang song hành. Thế nhưng, ngoại trừ một cái rùng mình khe khứa, bà Verloc dường như vẫn chẳng mảy may bị lay động trước sức nặng của chân lý phũ phàng ấy. Chính ông Verloc mới là người bị xúc động. Sự đơn thuần trong ông đã thôi thúc ông hãy tiết chế lại bằng cách nhấn mạnh vào giá trị của chính bản thân mình.

"Hãy tỏ ra hợp lý đi chứ, Winnie. Sẽ ra sao nếu em mất anh!"

Ông lờ mờ mong chờ được nghe tiếng bà kêu lên. Nhưng bà chẳng hề nhúc nhích. Bà ngả người ra sau đôi chút, tĩnh lặng lại thành một trạng thái bất động hoàn toàn khó bề thấu đoán. Trái tim ông Verloc bắt đầu đập nhanh hơn vì sự bực dọc và một cảm giác giống như hoảng sợ. Ông đặt tay lên vai bà, cất lời:

"Đừng có ngốc nghếch nữa, Winnie."

Bà không hề đưa ra dấu hiệu nào. Thật bất khả thi khi nói chuyện có mục đích với một người mà ta chẳng thể nhìn thấy mặt. Ông Verloc chộp lấy cổ tay vợ. Nhưng đôi bàn tay ấy dường như đã dính chặt vào nhau. Thân hình bà lảo đảo ngả về phía trước theo cái giật của ông, và suýt ngã khỏi ghế. Giật mình khi thấy cơ thể bà mềm oặt một cách bất lực, ông đang cố đặt bà trở lại ghế thì toàn thân bà bỗng cứng đờ lên, vùng vẫy giật phắt ra khỏi tay ông, chạy vụt khỏi cửa tiệm, băng qua phòng khách và lao thẳng xuống bếp. Mọi chuyện diễn ra quá đỗi nhanh chóng. Ông chỉ kịp thoáng nhìn thấy mặt bà và đôi mắt đến mức biết chắc rằng bà đã chẳng thèm nhìn lấy mình.

Tất cả trông giống như một cuộc tranh giành chiếc ghế hơn, bởi ông Verloc lập tức ngồi vào chỗ của vợ. Ông Verloc không lấy tay che mặt, nhưng nét mặt ông bị che phủ bởi một vẻ trầm ngâm u ám. Một án tù là điều không thể tránh khỏi. Giờ thì ông cũng chẳng muốn tránh nó nữa. Nhà tù là nơi an toàn khỏi những mối thù ghét bất hợp pháp chẳng kém gì mồ mả, với một ưu điểm là trong tù vẫn còn chỗ cho hy vọng. Thứ hiện ra trước mắt ông là một khoảng thời gian thụ án, được mãn hạn sớm rồi sau đó sống ở nước ngoài đâu đó, giống như những gì ông từng trù tính trước kia trong trường hợp thất bại. Chà, đó đúng là một thất bại, dẫu không hẳn là kiểu thất bại mà ông từng sợ hãi. Nó đã suýt thành công đến mức ông hoàn toàn có thể khiến ông Vladimir khiếp vía từ bỏ những lời chế giễu hung hăng bằng chứng cớ về hiệu quả huyền bí này. Ít ra thì lúc này ông Verloc thấy thế. Uy tín của ông với Đại sứ quán sẽ vô cùng lớn nếu như—nếu như vợ ông không nổi cái ý tưởng xui xẻo là khâu địa chỉ vào bên trong áo khoác của Stevie. Ông Verloc, vốn chẳng phải kẻ ngốc, đã sớm nhận ra thứ sức mạnh phi thường mà ông có đối với Stevie, dù ông không hiểu chính xác nguồn gốc của nó—học thuyết về sự khôn ngoan và lòng tốt tối cao của ông đã được tiêm nhiễm bởi hai người phụ nữ đầy lo âu. Trong mọi khả năng xảy ra mà ông đã lường trước, ông Verloc đều tính toán với sự thấu đáo chính xác về lòng trung thành bản năng và sự kín miệng mù quáng của Stevie. Khả năng mà ông không lường trước đã khiến ông bàng hoàng như một kẻ nhân hậu và một người chồng yêu vợ. Xét từ mọi khía cạnh khác đi, nó lại khá có lợi. Chẳng có gì sánh được với sự kín miệng vĩnh hằng của cái chết. Ông Verloc, ngồi ngẩn ngơ và sợ hãi trong căn phòng trà nhỏ của Cheshire Cheese, không khỏi thừa nhận điều đó với chính mình, bởi sự nhạy cảm của ông không hề cản trở lý trí của ông. Sự phân rã bạo liệt của Stevie, dẫu có gây khó chịu khi nghĩ đến, lại chỉ đảm bảo cho thành công; bởi lẽ, dĩ nhiên mục đích của những lời đe dọa từ ông Vladimir không phải là đánh sập một bức tường, mà là tạo ra một hiệu ứng tinh thần. Với rất nhiều rắc rối và phiền muộn từ phía ông Verloc, có thể nói hiệu ứng đó đã được tạo ra. Tuy nhiên, khi một cách đầy bất ngờ nhất, nó lại giáng xuống tận phố Brett, ông Verloc—người từng vật lộn như một kẻ mắc ác mộng để bảo vệ vị thế của mình—đã chấp nhận đòn giáng đó với tinh thần của một tín đồ định mệnh thuyết. Vị thế ấy đã mất trắng mà thực ra chẳng phải lỗi của ai cả. Một chi tiết nhỏ xíu đã gây nên cơ sự đó. Nó giống như việc trượt chân trên một vỏ cam trong bóng tối và bị gãy chân vậy.

Ông Verloc thở dài mệt mỏi. Ông không nuôi lòng oán hận với vợ. Ông nghĩ: Bà ấy sẽ phải trông nom cửa tiệm trong lúc họ giam giữ mình. Và nghĩ đến việc cô độc biết bao khi vắng Stevie lúc ban đầu, ông cảm thấy vô cùng lo lắng cho sức khỏe và tinh thần của vợ. Liệu cô ấy sẽ chịu đựng sự cô độc ra sao—hoàn toàn trơ trọi một mình trong ngôi nhà ấy? Sẽ thật tệ nếu cô ấy gục ngã trong lúc ông bị giam giữ? Lúc đó điều gì sẽ xảy ra với cửa tiệm? Cửa tiệm là một tài sản. Dù thuyết định mệnh của ông Verloc đã chấp nhận sự sụp đổ của ông trong vai trò mật thám, ông không hề muốn bị tàn lụi hoàn toàn, phần lớn—phải thừa nhận thế—là vì lo cho vợ.

Im lặng và khuất khỏi tầm nhìn trong nhà bếp, bà khiến ông sợ hãi. Giá như lúc này bà có mẹ ở bên. Nhưng mụ đàn bà ngốc nghếch già nua ấy—Một sự hoang mang đầy phẫn nộ chiếm lấy ông Verloc. Ông phải nói chuyện với vợ. Chắc chắn ông có thể bảo với bà rằng con người ta đôi khi cũng trở nên liều lĩnh trong những hoàn cảnh nhất định. Nhưng ông không lập tức sấn sổ đi truyền đạt thông tin đó. Trước hết, với ông rõ ràng là buổi tối hôm nay không phải lúc để bàn chuyện làm ăn. Ông đứng dậy khép cửa ra vào hướng phố lại và tắt đèn gas trong tiệm.

Sau khi đã đảm bảo sự cô tịch vây quanh tổ ấm của mình, ông Verloc bước vào phòng khách và nhìn xuống căn bếp. Bà Verloc đang ngồi ở chỗ mà tội nghiệp Stevie thường hay lui tới vào buổi tối với giấy và bút để tiêu khiển bằng cách vẽ những vòng tròn vô số kể gợi lên sự hỗn mang và cõi vĩnh hằng. Hai tay bà khoanh trên bàn, đầu gối lên tay. Ông Verloc ngắm nhìn tấm lưng và mái tóc của bà một hồi, rồi bước đi khỏi cửa bếp. Sự dửng dưng mang tính triết lý, suýt chút nữa là khinh miệt của bà Verloc—nền tảng cho sự hòa hợp trong đời sống gia đình họ—khiến cho việc tiếp cận bà trở nên vô cùng khó khăn, giờ đây khi nhu cầu bi trắc này đã nảy sinh. Ông Verloc cảm thấy rõ sự khó khăn đó. Ông đi quanh chiếc bàn trong phòng khách với dáng vẻ quen thuộc của một con thú lớn trong lồng.

Sự tò mò vốn là một trong những hình thức bộc lộ bản ngã, nên một kẻ có hệ thống không hề tò mò sẽ luôn mang một vẻ huyền bí nào mỗi phần. Mỗi lần đi ngang qua cửa, ông Verloc lại liếc nhìn vợ đầy bất an. Không phải vì ông sợ bà. Ông Verloc vốn tự ảo tưởng rằng mình được người đàn bà đó yêu thương. Nhưng bà chưa từng tập cho ông thói quen tâm sự. Và điều tâm sự mà ông cần bày tỏ lại mang một tầm vóc tâm lý sâu sắc. Làm sao với sự thiếu hụt kinh nghiệm của mình, ông có thể nói cho bà nghe điều mà chính ông cũng chỉ cảm nhận một cách mơ hồ rằng: có những âm mưu của định mệnh nghiệt ngã, rằng một ý nghĩ đôi khi lớn dần lên trong tâm trí cho đến khi nó đạt được sự tồn tại bên ngoài, một quyền lực độc lập của riêng nó, thậm chí cả một giọng nói mang tính gợi mở? Ông chẳng thể báo cho bà hay rằng một con người có thể bị ám ảnh bởi một gương mặt béo mập, dí dỏm, nhẵn nhụi cho đến khi cái mưu kế điên rồ nhất nhằm tống khứ nó đi lại tựa như đứa con của sự khôn ngoan.

Khi tâm trí chạm đến sự liên tưởng về Viên Bí thư Thứ nhất của một Đại sứ quán lớn ấy, ông Verloc khựng lại ở khung cửa, và nhìn xuống nhà bếp với gương mặt giận dữ cùng đôi bàn tay siết chặt thành nắm đấm, ông lên tiếng với vợ.

"Em không biết anh đã phải đối phó với một kẻ tàn nhẫn cỡ nào đâu."

Ông cất bước đi một vòng quanh bàn; rồi khi đã quay lại ngưỡng cửa, ông dừng lại, trợn mắt nhìn từ độ cao hai bậc thềm.

"Một kẻ ngốc nghếch, giễu cợt, nguy hiểm, chẳng có lấy một chút ý thức—Sau bao nhiêu năm tháng! Một người như anh! Và anh đã đánh cược cả cái đầu của mình vào trò chơi đó. Em chẳng hề hay biết. Mà thế lại đúng. Nói cho em biết để làm gì chuyện anh phải đối mặt với nguy cơ bị đâm lén bất cứ lúc nào trong suốt bảy năm chúng mình kết hôn chứ? Anh đâu phải loại đàn ông đi gây phiền toái cho người phụ nữ yêu mình. Em chẳng việc gì phải biết cả." Ông Verloc lại đi một vòng quanh phòng khách, hậm hực.

"Một con quái vật độc ác," ông lại bắt đầu từ ô cửa. "Đẩy tao ra ngoài mương vạ chết đói vì một trò đùa. Tao thừa biết lão nghĩ đó là một trò đùa chết tiệt. Một người như tao! Nhìn đây này! Một vài kẻ cao sang nhất trên đời này đến tận hôm nay vẫn còn phải mang ơn tao vì được đi lại trên đôi chân của chính họ. Đó chính là người đàn ông mà em đã lấy làm chồng đấy, cô bé của anh ạ!"

Ông nhận ra vợ mình đã ngồi thẳng dậy. Hai cánh tay bà Verloc vẫn duỗi thẳng trên mặt bàn. Ông Verloc dõi theo tấm lưng bà như thể ông có thể đọc được ở đó hiệu ứng từ những lời mình nói.

"Chẳng có vụ mưu sát nào trong suốt mười một năm qua mà không có nhúng tay vào với nguy cơ mất mạng. Có hàng tá kẻ cách mạng mà anh đã tống cổ đi, với bom giấu trong túi quần áo chết tiệt của chúng, để chúng bị tóm gọn ở biên giới. Lão Nam tước già thừa biết anh đáng giá thế nào đối với đất nước của lão. Thế mà bỗng nhiên một con lợn xuất hiện—một con lợn dốt nát, hống hách."

Ông Verloc, chậm rãi bước xuống hai bậc thềm, tiến vào nhà bếp, nhấc một chiếc cốc trên kệ chén lên, tay cầm nó rồi tiến lại bồn rửa chén mà không thèm nhìn vợ.

"Lão Nam tước già sẽ chẳng bao giờ có cái sự ngu ngốc tồi tệ là bắt anh phải đến gặp lão lúc mười một giờ sáng. Trong cái thị trấn này có hai hay ba kẻ mà nếu chúng thấy anh bước vào, chúng sẽ chẳng mảy hoài nghi mà phang búa vào đầu anh sớm hay muộn. Đúng là một trò chơi ngu ngốc, sát nhân khi phơi bày một kẻ—như anh—ra ngoài vô cớ."

Ông Verloc mở vòi nước phía trên bồn rửa, tu liền ba cốc nước hết cốc này đến cốc khác để dập tắt ngọn lửa căm phẫn trong lực. Cách hành xử của ông Vladimir giống như một thanh sắt nung đỏ làm bùng cháy hệ tiêu hóa bên trong ông. Ông không tài nào nuốt trôi sự bất trung đó. Con người này, kẻ từ chối làm những công việc vất vả thông thường mà xã hội giao phó cho những thành phần thấp kém hơn, đã âm thầm lao động với lòng tận tụy không mệt mỏi. Trong con người ông Verloc ẩn chứa một kho tàng lòng trung thành. Ông đã trung thành với những người chủ của mình, với sự ổn định của xã hội,—và cả với tình cảm của mình nữa—như đã tỏ tường khi sau khi đặt chiếc cốc vào bồn rửa, ông quay người lại và nói:

"Nếu lúc đó anh không nghĩ đến em, anh đã túm cổ gã hống hách đó và ấn đầu hắn vào lò sưởi rồi. Anh thừa sức trị tên mặt hồng, nhẵn nhụi đó—"

Ông Verloc bỏ lửng câu nói, như thể chẳng còn chút nghi ngờ nào về từ cuối cùng ấy. Lần đầu tiên trong đời, ông đang thổ lộ tâm can với người phụ nữ vốn dửng dưng ấy. Sự lạ lùng của sự kiện, sức nặng và tầm quan trọng của những cảm xúc cá nhân trỗi dậy trong suốt lời thú tội này đã gạt phắt số phận của Stevie ra khỏi tâm trí ông Verloc. Sự tồn tại lắp bắp đầy sợ hãi và phẫn uất của cậu bé, cùng với cái chết bạo liệt của nó, đã tạm thời lùi khỏi tầm nhìn tinh thần của ông Verloc. Vì lý do đó, khi ngước lên, ông đã giật mình trước cái nhìn không đúng chỗ của vợ mình. Đó không phải là một cái nhìn hoang dại, cũng chẳng phải sự lơ đễnh, nhưng sự chú ý của nó thật kỳ lạ và chẳng mấy dễ chịu, ở chỗ nó dường như tập trung vào một điểm nào đó vượt ra ngoài thân thể ông Verloc. Ấn tượng mạnh mẽ đến mức ông Verloc phải liếc qua vai mình. Chẳng có gì đằng sau ông cả: chỉ có bức tường vôi trắng toát. Người chồng tuyệt vời của Winnie Verloc chẳng thấy dòng chữ nào trên tường cả. Ông quay lại nhìn vợ lần nữa, lặp lại với một chút điểm nhấn:

"Anh sẽ túm cổ hắn. Thề có Chúa chứng giám, nếu lúc đó anh không nghĩ đến em thì anh đã bóp cổ tên khốn đó suýt chết trước khi hắn kịp đứng dậy rồi. Và em đừng có tưởng hắn sốn sảng gọi cảnh sát nhé. Hắn đời nào dám. Em hiểu tại sao mà—phải không?"

Ông chớp chớp mắt với vợ đầy ngụ ý.

"Không," bà Verloc cất giọng phẳng lặng, hoàn toàn không nhìn ông lấy một cái. "Anh đang luyên thuyên cái gì thế?"

Một sự nản lòng lớn lao, hệ quả của sự mệt mỏi, ập đến với ông Verloc. Ông đã có một ngày trọn vẹn, và thần kinh của ông đã bị thử thách đến cực hạn. Sau một tháng lo lắng phát điên, kết thúc bằng một thảm kịch bất ngờ, tâm hồn bị bão tố dập vùi của ông Verloc khao khát được nghỉ ngơi. Sự nghiệp mật thám của ông đã khép lại theo một cách mà chẳng ai có thể ngờ tới; chỉ là, giờ đây, có lẽ cuối cùng ông cũng có thể xoay xở để có một giấc ngủ đêm. Nhưng nhìn vợ, ông hoài nghi điều đó. Bà đang chịu đựng quá khắc nghiệt—hoàn toàn không giống tính cách thường ngày của bà, ông nghĩ. Ông cố gắng lên tiếng.

"Em phải xốc lại tinh thần đi chứ, cô bé của anh," ông nói đầy thông cảm. "Chuyện đã rồi, không thể vãn hồi."

Bà Verloc khẽ giật mình, dẫu cho cơ mặt trắng bệch không hề nhúc nhích dù chỉ một ly. Ông Verloc, người không nhìn vợ, tiếp tục một cách nặng nề.

"Em đi ngủ đi. Bây giờ điều em cần là khóc cho thật đã."

Quan điểm này chẳng có gì đáng bàn ngoài sự đồng thuận chung của nhân loại. Người ta đều hiểu rằng, cứ như thể nó chẳng kiên cố gì hơn làn hơi nước lững lờ trên bầu trời, mọi cảm xúc của phụ nữ thế nào cũng kết thúc bằng những giọt lệ. Và rất có thể nếu Stevie chết trên giường dưới ánh mắt tuyệt vọng của bà, trong vòng tay che chở của bà, nỗi đau buồn của bà Verloc đã tìm thấy sự giải thoát trong dòng nước mắt cay đắng và thuần khiết. Bà Verloc, cũng như bao con người khác, được phú cho một nguồn dự trữ sự nhẫn nại vô thức đủ để đối mặt với những biểu hiện thông thường của định mệnh con người. Mà chẳng cần "bận tâm suy nghĩ về nó", bà thừa hiểu rằng điều đó "chẳng đáng để soi xét cho kỹ lưỡng làm gì". Thế nhưng những tình huống bi thảm trong cái chết của Stevie—thứ mà trong tâm trí ông Verloc chỉ mang tính chất của một tình tiết nhỏ, như một phần của thảm họa lớn hơn—lại vắt kiệt dòng nước mắt của bà ngay từ nguồn của nó. Đó là hiệu ứng của một thanh sắt đỏ rực lướt qua đôi mắt bà; đồng thời trái tim bà, chai sạn và lạnh giá thành một khối băng, khiến cơ thể bà rùng mình từ bên trong, đông cứng các đường nét trên gương mặt thành một vẻ bất động trầm mặc hướng về bức tường quét vôi trắng chẳng có lấy một dòng chữ nào. Những đòi hỏi từ tính cách của bà Verloc—khi gột bỏ lớp vỏ bọc triết lý của mình, vốn mang bản năng làm mẹ và bạo liệt—đã buộc bà phải cuộn tròn hàng loạt suy nghĩ trong cái đầu bất động của mình. Những suy nghĩ ấy được hình dung nhiều hơn là được diễn tả thành lời. Bà Verloc là một phụ nữ cực kỳ kiệm lời, dù là trong giao tiếp xã hội hay riêng tư. Với sự cuồng nộ và hoang mang của một người đàn bà bị phản bội, bà ôn lại dòng đời của mình qua những khung cảnh phần lớn liên quan đến quãng đời đầy gian khó của Stevie từ những ngày thơ ấu. Đó là một cuộc đời với một mục đích duy nhất và một nguồn cảm hứng cao cả thống nhất, giống như những cuộc đời hiếm hoi từng để lại dấu ấn trong tư tưởng và tình cảm của nhân loại. Nhưng những viễn cảnh của bà Verloc lại thiếu đi sự cao cả và tráng lệ. Bà nhìn thấy chính mình đang dỗ cậu bé đi ngủ dưới ánh nến độc nhất trên tầng áp mái vắng vẻ của một "ngôi nhà kinh doanh", tối tăm dưới lớp mái nhà và lấp lánh rực rỡ với ánh đèn cùng pha lê mài ở tầm mặt đường như một cung điện cổ tích. Sự lòe loẹt phù phiếm ấy là thứ duy nhất xuất hiện trong những viễn cảnh của bà Verloc. Bà nhớ lại cảnh chải tóc cho thằng bé và buộc tạp dề cho nó—khi bản thân bà cũng vẫn còn đang mặc tạp dề; những lời an ninh an ủi dành cho một sinh linh bé nhỏ hoảng sợ tột cùng từ một sinh linh khác cũng bé nhỏ chẳng kém nhưng không đến nỗi hoảng sợ tột độ như vậy; bà có hình ảnh về những cú đánh bị chặn lại (thường bằng chính cái đầu của mình), về một cánh cơn cửa được giữ chặt tuyệt vọng chống lại cơn thịnh nộ của một người đàn ông (chẳng kéo dài được bao lâu); về một cây gạt tàn từng bị ném đi (chẳng đi được bao xa), thứ đã dập tắt cơn bão lòng cụ thể ấy vào sự tĩnh lặng câm n lặng và đáng sợ nối tiếp sau một tiếng sét. Và tất cả những khung cảnh bạo lực ấy cứ đến rồi đi, đi kèm với thứ âm thanh thô lỗ của những tiếng gào thét trầm đục phát ra từ một người đàn ông bị tổn thương lòng tự ái làm cha, tự tuyên bố mình rõ ràng bị nguyền rủa vì một đứa con là "thằng đần chảy dãi còn đứa kia là mụ đàn bà độc ác tày trời." Mới chính là người bị nói như vậy từ nhiều năm trước.

Bà Verloc lại nghe thấy những lời đó vang lên theo một cách ma quái, rồi cái bóng ảm đạm của căn biệt thự ở Belgravia trùm lên đôi vai bà. Đó là một ký ức đè nặng, một viễn cảnh kiệt quệ của vô số khay bữa sáng được khiêng lên khiêng xuống qua vô vàn bậc thang, của những cuộc kì kèo dăm xu không hồi kết, của sự quần quật quét dọn, phủi bụi, lau chùi không dứt từ tầng hầm cho tới tận gác mái; trong khi người mẹ bất lực, lảo đảo trên đôi chân sưng phồng, nấu nướng trong một căn bếp nhọ nhem, và tội nghiệp Stevie—linh hồn vô thức ngự trị mọi sự lao nhọc của họ—đánh giày cho các quý ông trong phòng rửa bát đĩa. Thế nhưng viễn cảnh này lại mang theo hơi thở của một mùa hè Luân Đôn oi ả, và nhân vật trung tâm là một chàng người trẻ tuổi diện bộ đồ đẹp nhất ngày Chủ nhật, đội chiếc mũ cót trên mái tóc đen và ngậm chiếc tẩu gỗ trong miệng. Tràn đầy tình cảm và vui vẻ, anh là một người bạn đồng hành hấp dẫn cho chuyến hành trình xuôi dòng suối lấp lánh của cuộc đời; chỉ có điều chiếc thuyền của anh ta vô cùng nhỏ bé. Trong đó chỉ đủ chỗ cho một cô gái làm bạn đồng hành chèo lái, chứ không có chỗ cho hành khách. Anh đã bị để cho trôi dạt ra khỏi thềm cửa căn biệt thự ở Belgravia trong lúc Winnie ngoảnh mặt đi với đôi mắt đẫm lệ. Anh ta không phải là khách trọ. Khách trọ chính là ông Verloc, kẻ lề mề và hay thức khuya, ngái ngủ pha trò vào buổi sáng từ dưới đống chăn giường, nhưng với những ánh nhìn mê muội trong đôi mắt trĩu nặng mí, và lúc nào cũng rủng rỉnh tiền trong túi. Chẳng có chút ánh lấp lánh nào trên dòng suối lười biếng của cuộc đời lão. Nó chảy qua những chốn thâm u. Thế nhưng con thuyền của lão có vẻ là một chiếc xuồng rộng rãi, và sự hào phóng thầm lặng của lão coi sự hiện diện của những hành khách là điều hiển nhiên.

Bà Verloc tiếp nối những viễn cảnh về bảy năm yên bình của Stevie, được trả giá bằng sự trung thành từ phía bà; sự yên bình lớn dần thành niềm tin, thành một thứ tình cảm gia đình, tù đọng và sâu thẳm như một vũng nước phẳng lặng, nơi mặt nước được bảo vệ hiếm khi phải rợn sóng trước những lần ghé ngang tình cờ của Đồng chí Ossipon, gã vô chính phủ cường tráng với đôi mắt mời gọi một cách trơ trẽn, ánh nhìn mang một vẻ rõ ràng đồi bại đủ để khai sáng cho bất kỳ người phụ nữ nào không hoàn toàn đần độn.

Chỉ vài giây trôi qua kể từ khi từ cuối cùng được thốt lên to tiếng trong bếp, và bà Verloc đã trân trân nhìn vào viễn cảnh của một sự kiện chưa đầy nửa tháng trước. Với đôi mắt có phần tròng đen giãn nở cực đại, bà chằm chằm nhìn vào viễn cảnh chồng mình và tội nghiệp Stevie cùng rảo bước song song trên phố Brett rời xa cửa tiệm. Đó là cảnh tượng cuối cùng của một sự tồn tại được tạo dựng bởi thiên tài của bà Verloc; một sự tồn tại xa lạ với mọi nét duyên dáng và quyến rũ, không có vẻ đẹp và hầu như chẳng có chút chuẩn mực nào, nhưng lại đáng ngưỡng mộ ở sự liền mạch trong tình cảm và tính kiên định của mục đích. Và viễn cảnh cuối cùng này mang một nét chạm nổi chân thực đến mức, sự gần gũi về hình khối đến thế, sự trung thực đến từng chi tiết gợi mở đến thế, đã rút ra từ lồng ngực bà Verloc một tiếng thì thầm đầy đau đớn và yếu ớt, tái tạo lại ảo ảnh tối thượng trong đời bà, một tiếng thì thầm chết lặng lịm tắt trên đôi bờ môi nhợt nhạt.

"Suýt chút nữa thì giống như cha con."

Ông Verloc khựng lại, ngước lên với gương mặt bơ phờ vì lo lắng. "Hả? Em vừa nói gì cơ?" ông hỏi. Không nhận được câu trả lời, lão lại tiếp tục những bước đi tàn nhẫn của mình. Rồi với một cái vung tay đe dọa bằng nắm đấm dày thịt, ông thốt lên:

"Được thôi. Lũ người ở Đại sứ quán. Một đám khốn kiệt, đúng không nào! Chưa đầy một tuần nữa tao sẽ khiến vài kẻ trong số chúng ước gì chúng được chôn sâu hai mươi thước dưới lòng đất. Hả? Gì cơ?"

Lão liếc ngang, cúi gằm đầu. Bà Verloc đăm đăm nhìn bức tường quét vôi trắng. Một bức tường trống không—hoàn toàn trống không. Một sự trống rỗng để lao vào và đập đầu mình vào đó. Bà Verloc vẫn ngồi bất động. Bà giữ nguyên vẻ tĩnh lặng giống như một nửa dân số trên Trái Đất sẽ giữ nguyên trong sự ngạc nhiên và tuyệt vọng, nếu mặt trời bỗng nhiên bị dập tắt giữa bầu trời mùa hè bởi sự phản bội của một đấng quan phòng đáng tin cậy.

"Cái Đại sứ quán ấy," ông Verloc lại bắt đầu, sau một cái nhăn mặt mở màn làm lộ ra hàm răng nanh như loài sói. "Ước gì tao có thể xách gậy đột nhập vào trong đó và quật cho nửa tiếng đồng hồ. Tao sẽ đánh liên hồi cho đến khi chẳng còn chiếc xương nguyên vẹn nào sót lại trên người cái lũ đó. Nhưng mặc kệ chúng, tao sẽ dạy cho chúng biết thế nào là dám hất hủi một kẻ như tao ra đường cho thối thây. Tao có cái lưỡi trong đầu. Cả thế giới sẽ phải biết tao đã làm gì cho chúng. Tao không sợ. Tao chẳng màng. Mọi thứ rồi sẽ phơi bày. Mọi thứ chết tiệt đều thế cả. Hãy đợi đấy mà xem!"

Bằng những lời lẽ đó, ông Verloc tuyên bố cơn khát trả thù của mình. Đó là một sự trả thù vô cùng thích đáng. Nó hoàn toàn hòa hợp với những thôi thúc từ thiên tài của ông Verloc. Nó cũng có lợi thế là nằm trong tầm tay khả năng của ông và dễ dàng điều chỉnh phù hợp với thực tế cuộc sống của ông, vốn bao gồm chính xác là việc phản bội những hoạt động bí mật và phi pháp của đồng loại. Vô chính phủ hay ngoại giao đều như nhau đối với ông. Bản chất ông Verloc vốn chẳng tôn trọng ai. Sự khinh miệt của ông được phân bổ đều khắp trên toàn bộ lĩnh vực hoạt động của lão. Nhưng với tư cách là một thành viên của giai cấp vô sản cách mạng—thứ mà ông không nghi ngờ gì—ông nuôi dưỡng một tâm lý có phần thù địch chống lại sự phân biệt đẳng cấp xã hội.

"Chẳng có gì trên đời này có thể ngăn cản tao lúc này nữa," ông nói thêm, rồi khựng lại, dán chặt ánh nhìn vào vợ—người đang dán chặt ánh nhìn vào bức tường trống không.

Sự im lặng trong căn bếp kéo dài, và ông Verloc cảm thấy thất vọng. Ông đã mong vợ mình nói điều gì đó. Nhưng đôi môi bà Verloc, khép lại theo hình dáng thông thường, vẫn giữ nguyên sự bất động như tượng đồng y như phần còn lại trên khuôn mặt bà. Và ông Verloc thất vọng. Tuy nhiên, ông nhận ra rằng hoàn cảnh lúc này không đòi hỏi bà phải lên tiếng. Bà là một phụ nữ cực kỳ kiệm lời. Vì những lý do nằm sâu trong chính nền tảng tâm lý của mình, ông Verloc có xu hướng đặt niềm tin vào bất kỳ người phụ nữ nào đã hiến dâng thân mình cho ông. Do đó, ông tin tưởng vợ mình. Sự hòa hợp giữa họ là hoàn hảo, nhưng nó không rạch ròi. Đó là một sự đồng thuận ngầm, phù hợp với sự dửng dưng của bà Verloc và thói quen tâm trí của ông Verloc, vốn lười biếng và ưa giấu giếm. Họ né tránh việc đi đến tận cùng của sự thật và động cơ.

Sự dè dặt này, xét theo mộth khía cạnh nào đó thể hiện niềm tin tưởng sâu sắc của họ dành cho nhau, đồng thời lại gieo rắc một yếu tố mơ hồ nhất định vào sự thân mật của họ. Chẳng có hệ thống quan hệ vợ chồng nào là hoàn hảo. Ông Verloc đinh ninh rằng vợ mình đã hiểu ông, nhưng ông hẳn đã rất vui mừng nếu được nghe bà nói lên suy nghĩ của mình vào lúc này. Đó sẽ là một sự an ủi.

Có một vài lý do khiến sự an ủi đó bị từ chối. Có một trở ngại về mặt thể xác: bà Verloc không có đủ sự kiểm soát đối với giọng nói của mình. Bà không thấy có lựa chọn nào ngoài việc gào thét hoặc im lặng, và theo bản năng, bà chọn sự im lặng. Winnie Verloc bản chất là một người trầm lặng. Và còn có sự tàn nhẫn tê liệt của ý nghĩ đang chiếm lĩnh tâm trí bà. Gò má bà tái nhợt, đôi môi xám xịt, sự bất động của bà thật đáng kinh ngạc. Và bà nghĩ mà không thèm nhìn ông Verloc: "Gã đàn ông này đã đưa thằng bé đi để sát hại nó. Gã đã đưa thằng bé rời khỏi nhà để sát hại nó. Gã đã đưa thằng bé đi khỏi tôi để sát hại nó!"

Toàn bộ con người bà Verloc bị giày vò bởi ý nghĩ cụt lủn và phát điên ấy. Nó ngấm vào huyết quản, vào xương tủy, vào tận chân tóc bà. Về mặt tinh thần, bà mang tư thế để tang theo kinh thánh—khăn che mặt, áo xé rách; âm thanh của tiếng khóc than và rên rỉ tràn ngập trong đầu bà. Thế nhưng hàm răng bà siết chặt lại bạo liệt, và đôi mắt khô khốc nóng rực vì căm hờn, bởi bà không phải là một sinh linh dễ bề khuất phục. Sự che chở mà bà dành cho em trai mình vốn mang sắc thái dữ dội và phẫn nộ ngay từ thuở ban đầu. Bà buộc phải yêu thương nó bằng một tình yêu chiến đấu. Bà đã chiến đấu vì nó—thậm chí chống lại chính bản thân mình. Sự mất mát của nó mang nỗi cay đắng của một thất bại, cùng niềm thống khổ của một niềm đam mê bị cản trở. Đó không phải là một cú đánh tử thần thông thường. Hơn nữa, chẳng phải cái chết đã cướp Stevie khỏi tay bà. Chính ông Verloc mới là kẻ đưa nó đi. Bà đã nhìn thấy ông ta. Bà đã đứng nhìn mà không thề nhúc nhích tay chân, nhìn ông ta đưa thằng bé đi. Và bà đã để mặc hắn đi, tựa như—tựa như một kẻ ngốc—một kẻ ngốc mù quáng. Rồi sau khi sát hại thằng bé, hắn trở về nhà với bà. Cứ thế trở về nhà hệt như bao người đàn ông khác trở về với vợ mình. . . .

Qua kẽ hàm răng đang siết chặt, bà Verloc lẩm bẩm với bức tường:

"Thế mà tôi cứ tưởng nó bị cảm lạnh."

Ông Verloc nghe thấy những từ đó và tự nhận vơ lấy.

"Có gì đâu," ông nói ủ rũ. "Anh bị rối trí. Anh bị rối trí vì lo cho em."

Bà Verloc chậm rãi quay đầu, dời ánh nhìn đờ đẫn từ bức tường sang người chồng. Ông Verloc, với đầu ngón tay chạm nhẹ bờ môi, đang cúi nhìn xuống đất.

"Đành chịu thôi," hắn lẩm bẩm, buông thõng tay xuống. "Em phải xốc lại tinh thần đi chứ. Em sẽ cần đến tất cả sự minh mẫn. Chính em là người đã kéo lũ cảnh sát đến vây quanh chúng ta đấy. Thôi quên đi, anh sẽ không nói thêm về chuyện đó nữa," ông Verloc tiếp tục một cách hào phóng. "Em đâu thể biết được."

"Em nào biết," bà Verloc thều thào. Cứ như thể một thây ma vừa cất lời. Ông Verloc lại tiếp tục mạch câu chuyện của mình.

"Anh không trách em đâu. Anh sẽ cho tụi nó biết tay. Một khi đã vào tù rồi thì anh tha hồ mà nói chuyện cho an toàn—em hiểu đấy. Em phải tính toán đến chuyện anh vắng bóng hai năm trời bên cạnh em," hắn tiếp tục với giọng điệu quan tâm chân thành. "Mọi chuyện sẽ dễ dàng cho em hơn là cho anh. Em sẽ có việc để làm, trong khi anh—Này Winnie, việc em phải làm là duy trì hoạt động kinh doanh này trong hai năm. Em đủ hiểu biết để làm điều đó. Em có cái đầu rất khôn ngoan. Anh sẽ gửi tin nhắn cho em khi nào đến lúc đi bán tháo. Em sẽ phải cực kỳ cẩn thận đấy. Lũ đồng chí sẽ theo dõi em suốt thời gian đó. Em sẽ phải tinh ranh hết mức có thể, và kín miệng như bưng. Không ai được phép biết em định làm gì cả. Anh không muốn vừa mới được thả ra là lại bị quất gậy vào đầu hay đâm lén sau lưng đâu."

Ông Verloc cứ thế thốt lên, vắt óc suy tính một cách khéo léo và chu đáo cho những vấn đề của tương lai. Giọng ông trầm đục, bởi ông có sự nhận thức chính xác về tình hình. Mọi thứ mà ông không muốn xảy ra thì cuối cùng lại cứ xảy ra. Tương lai đã trở nên bấp bênh. Phán đoán của ông, có lẽ, đã bị che mờ đôi chút bởi nỗi sợ hãi trước sự ngu ngốc hung hăng của ông Vladimir. Một người đàn ông đã qua tuổi bốn mươi hoàn toàn có thể được tha thứ khi rơi vào trạng thái xáo trộn đáng kể bởi viễn cảnh mất việc làm, đặc biệt nếu kẻ đó là một mật thám cảnh sát chính trị, đang sống an toàn trong ý thức về giá trị cao cả của bản thân và trong sự nể trọng của những nhân vật quyền cao chức trọng. Ông hoàn toàn được tha thứ.

Giờ thì mọi chuyện đã kết thúc trong một tiếng sấm sét. Ông Verloc bình tĩnh; nhưng ông chẳng hề vui vẻ. Một mật thám đem vứt sự bí mật của mình vào gió chỉ vì lòng khao khát trả thù, rồi phô trương những chiến tích trước công chúng, sẽ trở thành tấm bia cho những sự phẫn nộ tuyệt vọng và khát máu. Mà không cần phóng đại quá mức mối nguy hiểm, ông Verloc cố gắng làm cho nó hiện lên rõ ràng trong tâm trí vợ. Ông lặp lại rằng ông không có ý định để bọn cách mạng thủ tiêu mình.

Ông nhìn thẳng vào mắt vợ. Con ngươi giãn rộng của người đàn bà tiếp nhận ánh nhìn của ông vào đáy sâu thăm thẳm không đáy.

"Anh quá yêu em nên không đời nào để chuyện đó xảy ra đâu," hắn nói, kèm theo một tiếng cười nhỏ đầy căng thẳng.

Một vành hồng nhạt thoáng nhuộm lên khuôn mặt xám xách và bất động của bà Verloc. Đã gạt qua một bên những viễn cảnh của quá khứ, bà không chỉ nghe mà còn thấu hiểu những lời chồng mình thốt ra. Do sự bất tương thích tột độ với trạng thái tinh thần của bà, những lời này tạo ra một hiệu ứng hơi ngộp thở. Trạng thái tinh thần của bà Verloc có ưu điểm là sự đơn giản; nhưng nó không hề lành mạnh. Nó bị chi phối quá nhiều bởi một ý tưởng cố định. Mọi ngóc ngách trong bộ não bà đều ngập tràn ý nghĩ rằng gã đàn ông này—người mà bà đã sống chung suốt bảy năm không một chút ghê tởm—đã cướp "tội nghiệp đứa bé" đi khỏi bà để sát hại nó—người đàn ông mà bà đã quen thuộc cả thể xác lẫn tâm thần; người đàn ông mà bà từng tin tưởng, lại cướp đứa bé đi để giết nó! Về hình thức, về bản chất, về hiệu ứng bao trùm làm thay đổi cả diện mạo của những vật vô tri vô giác, đó là một ý nghĩ khiến người ta có thể ngồi yên một chỗ và kinh ngạc cho đến muôn đời muôn kiếp. Bà Verloc vẫn ngồi yên. Và vắt ngang qua ý nghĩ đó (chứ không phải vắt ngang qua nhà bếp) dáng hình ông Verloc cứ đi qua đi lại, quen thuộc trong chiếc áo khoác và mũ, giẫm những bước giày lên bộ não của bà. Có lẽ hắn ta cũng đang huyên thuyên nói năng; nhưng tâm ý của bà Verloc phần lớn che khuất cả giọng nói ấy.

Tuy nhiên, thỉnh thoảng cái giọng nói ấy vẫn lọt vào tai bà. Vài từ ngữ rời rạc đôi khi nổi bật lên. Ý tứ của chúng thường mang tính lạc quan. Vào mỗi lần như thế, con ngươi giãn to của bà Verloc, đánh mất vẻ đờ đẫn xa xăm, lại dõi theo từng cử động của chồng với vẻ u ám và sự chú ý vô biên. Am hiểu tường tận mọi vấn đề liên quan đến nghề nghiệp bí mật của mình, ông Verloc dự đoán tốt đẹp cho sự thành công của các kế hoạch và mưu đồ của lão. Ông thực sự tin rằng nhìn chung ông sẽ dễ dàng trốn thoát khỏi lưỡi dao của những kẻ cách mạng cuồng nộ. Ông đã phóng đại sức mạnh của sự cuồng nộ cùng tầm tay của chúng (cho các mục đích chuyên môn) quá nhiều lần đến mức chẳng còn mấy ảo tưởng này hay khác. Bởi vì để phóng đại một cách có phán đoán, trước hết người ta phải bắt đầu bằng việc đo lường thật tỉ mỉ. Ông cũng biết rõ có bao nhiêu đức hạnh và bao nhiêu sự đồi bại bị lãng quên trong hai năm—hai năm dài đằng đẵng. Buổi trò chuyện thực sự tâm sự đầu tiên của ông với vợ mang màu sắc lạc quan xuất phát từ niềm xác tín. Ông cũng nghĩ rằng việc bày tỏ tất cả sự tự tin mà ông có thể vơ vét được là một sách lược khôn ngoan. Nó sẽ tiếp thêm lòng can đảm cho người phụ nữ tội nghiệp. Khi ông được thả tự do, việc này sẽ đồng điệu với toàn bộ quỹ đạo cuộc đời ông và dĩ nhiên là sẽ diễn ra trong bí mật, họ sẽ cùng nhau biến mất mà không lãng phí chút thời gian nào. Còn về việc che giấu tung tích, ông nài nỉ vợ hãy tin tưởng vào ông khoản đó. Ông biết cách làm thế nào để ngay cả quỷ sứ cũng—

Ông vung tay. Lão có vẻ khoác lác. Lão chỉ muốn tiếp thêm dũng khí cho cô ấy. Đó là một ý định thiện lương, nhưng ngặt nỗi ông Verloc lại không có được sự đồng điệu với khán giả của mình.

Giọng điệu đầy tự tin vang lên bên tai bà Verloc, kẻ phớt lờ hầu hết những lời nói đó; bởi lúc này từ ngữ đối với bà có nghĩa gì nữa đâu? Từ ngữ có thể làm gì đối với bà, dù là phúc hay họa trước ý nghĩ cố định của bà? Ánh nhìn đen thẫm của bà dõi theo gã đàn ông đang khẳng định sự vô phạt của mình—gã đàn ông đã đưa tội nghiệp Stevie rời nhà để giết nó ở đâu đó. Bà Verloc không thể nhớ chính xác là ở đâu, nhưng trái tim bà bắt đầu đập mạnh một cách rõ rệt.

Ông Verloc, với giọng điệu mềm mại và mang tính vợ chồng, giờ đây đang bày tỏ niềm tin vững chắc rằng vẫn còn vài năm đời sống yên bình chờ đón cả hai người. Ông không đi sâu vào vấn đề kinh tế. Đó phải là một cuộc đời yên bình và, có thể nói là nép mình trong bóng râm, ẩn giấu giữa những con người mà thân xác chỉ là cỏ rác; khiêm nhường, tựa như đời sống của những đóa hoa violet. Từ ngữ mà ông Verloc sử dụng là: "Trốn kỹ một chút." Và dĩ nhiên là ở xa nước Anh. Người ta không rõ ông Verloc đang tơ tưởng đến Tây Ban Nha hay Nam Mỹ; nhưng dù thế nào đi nữa thì cũng là ở một nơi nào đó ở nước ngoài.

Từ cuối cùng này, lọt vào tai bà Verloc, tạo ra một ấn tượng rõ rệt. Gã đàn ông này đang nói đến chuyện ra nước ngoài. Ấn tượng đó hoàn toàn đứt gãy; và sức mạnh của thói quen tâm thần lớn đến mức bà Verloc ngay lập tức và tự động tự hỏi mình: "Thế còn Stevie thì sao?"

Đó là một thứ chứng đãng trí; nhưng ngay lập tức bà nhận thức được rằng sẽ chẳng còn lý do gì để lo lắng về vấn đề đó nữa. Sẽ chẳng bao giờ có dịp nào nữa cả. Đứa trẻ tội nghiệp đã bị lôi đi và sát hại rồi. Đứa trẻ tội nghiệp đã chết rồi.

Khoảnh khắc đãng trí làm chấn động tâm trí ấy kích thích trí tuệ của bà Verloc. Bà bắt đầu nhận thức được một số hệ quả mà có lẽ sẽ khiến ông Verloc phải ngạc nhiên. Giờ thì bà chẳng có lý do gì để ở lại đó nữa, trong căn bếp đó, trong ngôi nhà đó, cùng với gã đàn ông đó—bởi đứa trẻ đã mãi mãi vắng bóng. Chẳng còn bất kỳ lý do gì sất. Và ngay lập tức, bà Verloc đứng phắt dậy như thể được đẩy lên bởi một chiếc lò xo. Nhưng đồng thời bà cũng chẳng nhìn thấy lý do gì để mình tiếp tục tồn tại trên cõi đời này nữa. Và sự bất lực này đã níu chân bà lại. Ông Verloc dõi theo bà với sự quan tâm của một người chồng.

"Trông em có vẻ giống mình hơn rồi đấy," ông nói đầy bất an. Có điểm gì đó kỳ lạ trong tròng đen đen thẫm của vợ đã làm lung lay sự lạc quan của lão. Vào đúng khoảnh khắc đó, bà Verloc bắt đầu nhìn nhận bản thân như đã được giải phóng khỏi mọi ràng buộc trần thế.

Bà đã có được sự tự do. Giao ước của bà với sự tồn tại, được đại diện bởi gã đàn ông đang đứng đằng kia, đã chấm dứt. Bà là một phụ nữ tự do. Giả sử quan điểm này lọt vào tai ông Verloc, hẳn lão đã vô cùng sửng sốt. Trong các vấn đề tình cảm, ông Verloc luôn tỏ ra hào phóng một cách bất cẩn, thế nhưng lúc nào cũng với một ý niệm duy nhất là được yêu vì chính con người mình. Về vấn đề này, các khái niệm đạo đức của ông hoàn toàn trùng khớp với sự kiêu ngạo của mình và hoàn toàn không thể cải tạo nổi. Rằng điều này phải đúng trong trường hợp cuộc hôn nhân hợp pháp và đầy đức hạnh của ông là điều lão vô cùng chắc chắn. Ông đã già đi, béo hơn, nặng nề hơn, trong niềm tin rằng mình chẳng thiếu chút cuốn hút nào để được yêu vì chính con người mình. Khi nhìn thấy bà Verloc bắt đầu bước ra khỏi nhà bếp mà không nói một lời, ông cảm thấy thất vọng.

"Em đi đâu thế?" ông cất giọng có phần sắc bén gọi với theo. "Lên lầu à?"

Bà Verloc ở khung cửa quay người lại theo tiếng gọi. Bản năng cẩn trọng sinh ra từ sự sợ hãi, nỗi sợ hãi tột cùng trước việc bị gã đàn ông đó tiếp cận và chạm vào, xui khiến bà khẽ gật đầu với lão (từ độ cao hai bậc thềm), cùng một cái nhếch môi mà sự lạc quan vợ chồng của ông Verloc đã nhầm tưởng là một nụ cười nhợt nhạt và bấp bênh.

"Thế mới phải chứ," ông thô lỗ khuyến khích. "Nghỉ ngơi và tĩnh dưỡng mới là thứ em cần. Cứ đi đi. Sẽ chẳng lâu đâu trước khi anh lên với em."

Bà Verloc, người phụ nữ tự do thực chất chẳng có chút ý định nào về việc mình sẽ đi đâu, đã tuân thủ gợi ý đó với sự kiên định cứng nhắc.

Ông Verloc dõi theo bà. Bà biến mất trên cầu thang. Lão cảm thấy thất vọng. Sâu thẳm trong lòng, lão vẫn mong muốn hơn nếu bà xúc động ngả vào lồng ngực mình. Nhưng ông là một người rộng lượng và khoan dung. Winnie từ trước đến nay vẫn luôn là người kín đáo và ít nói. Bản thân ông Verloc cũng không phải là người hào phóng những cử chỉ âu yếm và lời nói ngọt ngào cho lắm. Nhưng đây không phải là một buổi tối bình thường. Đây là dịp mà một người đàn ông khao khát được củng cố và tiếp thêm sức mạnh bằng những minh chứng công khai về sự cảm thông và tình cảm. Ông Verloc thở dài, tắt ngọn lửa gas trong bếp. Sự đồng cảm của ông Verloc dành cho vợ là chân thành và mãnh liệt. Nó suýt làm rớm lệ đôi mắt ông khi ông đứng trong phòng khách suy ngẫm về sự cô độc đang treo lơ lửng trên đầu bà. Trong tâm trạng này, ông Verloc vô cùng nhớ thương Stevie giữa một thế giới đầy gian khó. Ông nghĩ ngợi u sầu về cái chết của nó. Giá như thằng bé đó đừng dại dột tự hủy hoại bản thân!

Cảm giác thèm ăn không nguôi—vốn không lạ lùng gì sau những căng thẳng của một chiến dịch mạo hiểm đối với những nhà thám hiểm có thần kinh thép hơn ông Verloc—lại một lần nữa ập đến. Miếng thịt bò quay, được bày biện giống như những món ăn tang lễ cho đám tang của Stevie, đập thẳng vào mắt ông một cách rõ mười mươi. Và ông Verloc lại ăn. Ông ăn ngấu nghiến, không chút kiềm chế hay giữ thể diện, cắt những lát dày bằng con dao lọc thịt sắc bén và nuốt chửng chúng không cần bánh mì. Trong lúc thưởng thức bữa ăn đó, ông Verloc chợt nhận ra rằng mình không hề nghe thấy tiếng bước chân đi lại trên phòng ngủ của vợ như lẽ ra phải thế. Ý nghĩ rằng có lẽ cô ấy đang ngồi trên giường trong bóng tối không chỉ cắt đứt sự thèm ăn của ông Verloc, mà còn tước đi ý định đi theo cô ấy lên lầu ngay lúc này. Đặt con dao lọc thịt xuống, ông Verloc lắng tai nghe với sự chú ý đầy lo âu.

Ông được an ủi khi cuối cùng cũng nghe thấy tiếng bà động đậy. Bà bất ngờ bước nhanh qua phòng và đẩy tung cửa sổ lên. Sau một khoảng thời gian tĩnh lặng ở trên đó, trong lúc ông mường tượng ra hình ảnh bà đang thò đầu ra ngoài, ông nghe thấy khung cửa sổ được hạ xuống từ từ. Rồi bà bước vài bước và ngồi xuống. Mọi tiếng vang trong ngôi nhà đều quá đỗi quen thuộc với ông Verloc, một kẻ đã quen thuộc với chốn gia đình. Lần tiếp theo khi nghe thấy tiếng bước chân của vợ trên lầu, ông thừa biết, hệt như thể tận mắt nhìn thấy, rằng bà vừa xỏ vào đôi giày đi phố. Ông Verloc nhún vai nhẹ nhàng trước triệu chứng đầyềm điềm gở này, rồi rời khỏi bàn, đứng quay lưng về phía lò sưởi, nghiêng đầu sang một bên và bứt rứt cắn cắn đầu ngón tay. Ông theo dõi chuyển động của bà qua âm thanh. Bà đi lại nơi này nơi nấy một cách bạo liệt, với những cú dừng đột ngột, lúc thì trước chiếc tủ ngăn kéo, khi thì trước tủ quần áo. Một gánh nặng mệt mỏi khổng lồ, thu hoạch từ một ngày đầy những cú sốc và bất ngờ, kéo sập năng lượng của ông Verloc xuống tận mặt đất.

Ông không ngước mắt lên cho đến khi nghe thấy tiếng vợ đang bước xuống cầu thang. Đúng như ông đoán. Bà đã ăn mặc tươm tất để ra ngoài.

Bà Verloc là một phụ nữ tự do. Bà đã đẩy tung cửa sổ phòng ngủ ra hoặc với ý định hét lên Cứu với! Sát nhân! hoặc là nhảy lầu tự vẫn. Bởi vì bà không thực sự biết phải sử dụng sự tự do của mình vào việc gì. Nhân dạng của bà dường như bị xé làm đôi, mà các hoạt động tinh thần của chúng không tài nào khớp lại với nhau cho lắm. Con phố, tĩnh lặng và vắng tanh từ đầu này đến đầu kia, đã đẩy lùi bà bằng cách đứng về phía gã đàn ông vốn quá đỗi chắc chắn về sự vô phạt của mình. Bà sợ không dám hét lên kẻo chẳng có ai đến. Hiển nhiên là sẽ chẳng có ai đến cả. Bản năng sinh tồn của bà co rúm lại trước độ sâu của cú rơi vào thứ rãnh sâu nhầy nhụa ấy. Bà Verloc đóng cửa sổ lại, và thay đồ để đi ra phố bằng một con đường khác. Bà là một phụ nữ tự do. Bà đã ăn mặc chỉnh tề từ đầu đến chân, cho đến cả việc thắt chiếc khăn voan đen che kín mặt. Khi bà xuất hiện trước mặt ông dưới ánh sáng của phòng khách, ông Verloc nhận ra rằng thậm chí bà còn đeo cả chiếc túi xách tay nhỏ lủng lẳng trên cổ tay trái. . . . Chạy trốn về nhà mẹ đẻ chứ gì.

Ý nghĩ rằng phụ nữ rốt cuộc vẫn là những sinh vật phiền toái hiện lên trong bộ não mệt mỏi của ông. Nhưng ông quá hào phóng để ôm ấp nó lâu hơn một khoảnh khắc. Người đàn ông này, bị tổn thương tột cùng trong lòng tự ái, vẫn giữ được sự cao thượng trong cách hành xử, không cho phép bản thân có bất kỳ sự thỏa mãn nào bằng một nụ cười cay đắng hay một cử chỉ khinh miệt. Với sự vĩ đại thực sự của tâm hồn, ông chỉ liếc nhìn chiếc đồng hồ gỗ trên tường, và cất giọng hoàn toàn bình tĩnh nhưng đầy uy lực:

"Tám giờ hai mươi lăm rồi, Winnie. Sang đằng đó vào giờ này thì chẳng có nghĩa lý gì đâu. Em sẽ chẳng tài nào quay về kịp trong tối nay đâu."

Trước bàn tay đang đưa ra của ông, bà Verloc đã khựng lại. Ông nặng nề nói thêm: "Mẹ em chắc chắn đã đi ngủ trước khi em sang đến nơi. Đây là thứ tin tức có thể đợi được mà."

Chẳng có gì xa rời tâm trí bà Verloc hơn việc đi về nhà mẹ đẻ. Bà lùi lại ngay khi nghe ý định đó, và cảm thấy có chiếc ghế ở đằng sau, bà tuân theo sự gợi ý của xúc giác và ngồi xuống. Ý định của bà đơn giản chỉ là bước ra khỏi cánh cửa kia mãi mãi. Và nếu cảm giác này là chính xác, hình thức tinh thần của nó mang một hình hài thô kệch phù hợp với nguồn gốc và địa vị của bà. "Thà tôi lang thang đầu đường xó chợ suốt những ngày tháng còn lại của cuộc đời," bà nghĩ. Thế nhưng sinh linh này, kẻ có bản chất đạo đức vừa chịu đựng một cú sốc mà xét về mặt trật tự vật lý, trận động đất dữ dội nhất trong lịch sử cũng chỉ là một phiên bản mờ nhạt và uể oải, giờ đây lại hoàn toàn phó mặc cho những chuyện vặt vãnh, cho những sự tiếp xúc ngẫu nhiên. Bà ngồi xuống. Với chiếc mũ và mạng che mặt, bà trông giống như một vị khách ghé thăm, vừa tạt qua chỗ ông Verloc một thoáng. Sự ngoan ngoãn chớp nhoáng của bà đã khích lệ ông, trong khi diện mạo chỉ chấp nhận tạm thời và câm lặng ấy lại khiến ông hơi bực mình.

"Để anh nói cho em nghe nhé, Winnie," ông nói với vẻ uy quyền, "rằng chỗ của em tối nay là ở đây. Khỉ thật! chính em đã lôi cái lũ cảnh sát chết tiệt đến vây kín xung quanh anh. Anh không trách em đâu—nhưng dẫu sao thì đó cũng là do em gây ra. Tốt hơn là em nên tháo cái thứ chết tiệt này ra đi. Anh không thể để em đi ra ngoài được đâu, cô vợ già ạ," ông nói thêm với giọng dịu lại.

Tâm trí bà Verloc bấu víu lấy tuyên bố đó với sự ngoan cố bệnh hoạn. Gã đàn ông đã lôi Stevie đi ngay trước mắt bà để sát hại nó ở một xó xỉnh nào đó mà cái tên lúc này đã tạm thời biến mất khỏi trí nhớ bà, sẽ không cho phép cô bước ra ngoài. Đương nhiên là hắn không đời nào cho phép rồi.

Giờ thì hắn đã sát hại Stevie, hắn sẽ đời nào để bà đi. Hắn sẽ muốn giữ bà lại không công. Và dựa trên lập luận đặc trưng đó, mang tất cả sức mạnh của một thứ logic điên rồ, tâm trí đứt quãng của bà Verloc bắt đầu thực thi hành động. Bà có thể luồn qua người hắn, mở cửa, chạy ra ngoài. Nhưng hắn sẽ chồm theo sau, ôm chùm lấy eo bà, lôi ngược bà trở lại tiệm. Bà có thể cào, đá, và cắn—cả đâm nữa; nhưng để đâm thì cần phải có dao. Bà Verloc ngồi im lìm dưới lớp khăn voan đen, ngay trong ngôi nhà của mình, hệt như một vị khách đeo mặt nạ đầy bí ẩn với những dụng ý thâm sâu.

Sức hào phóng của ông Verloc cũng chỉ có giới hạn của con người. Cuối cùng thì bà đã làm lão cạn kiệt sự kiên nhẫn.

"Em không nói được câu nào à? Em có đủ các mánh khóe để làm một thằng đàn ông phát bực. Ồ vâng! Anh lạ gì cái chiêu trò câm điếc của em nữa. Anh thấy em giở trò đó trước ngày hôm nay rồi cơ mà. Nhưng lúc này thì đừng có hòng mà dùng chiêu đó. Và trước hết, hãy tháo cái thứ chết tiệt này ra xem nào. Người ta chẳng thể phân biệt nổi mình đang nói chuyện với một con ma-nơ-canh hay một con người sống bằng xương bằng thịt nữa."

Lão bước tới, vươn tay giật phăng lớp khăn voan ra, phơi bày một gương mặt tĩnh lặng, không thể thấu đoán, đối diện với sự bực dọc thần kinh của lão tan vỡ hệt như một bong bóng thủy tinh ném vào vách đá. "Thế có phải hơn không," hắn nói để che đậy sự bất an thoáng qua, rồi lùi về vị trí cũ bên lò sưởi. Chẳng bao giờ trong đầu hắn mảy may nghĩ rằng vợ mình có thể quay lưng tố cáo hắn. Lão cảm thấy hơi xấu hổ về bản thân, bởi lão là một kẻ yêu vợ và hào phóng. Lão có thể làm gì đây? Mọi chuyện đã được nói hết rồi. Lão kịch liệt thanh minh.

"Có trời đất chứng giám! Em thừa biết anh đã cất công tìm kiếm khắp nơi. Anh đã đánh cược cả việc tự vạch mặt mình để tìm người cho cái công việc quái quỷ đó. Và anh nhắc lại lần nữa là anh chẳng tài nào tìm được ai điên rồ hay đói khát đến mức ấy cả. Em coi anh là cái gì—một kẻ sát nhân hay thứ gì hả? Thằng bé đã đi rồi. Em nghĩ anh muốn nó tự cho nổ tung mình chắc? Nó đã đi rồi. Mọi rắc rối của nó đã chấm dứt. Còn của chúng ta thì chuẩn bị bắt đầu, anh nói cho em hay, chính xác là vì nó đã tự cho nổ tung. Anh không trách em. Nhưng hãy thử hiểu rằng đó hoàn toàn là một tai nạn; cũng giống như một tai nạn khi bị xe buýt cán qua lúc băng qua đường vậy."

Sức hào phóng của lão không phải là vô tận, bởi lão là một con người—chứ không phải một con quái vật, như bà Verloc hằng đinh ninh. Lão khựng lại, và một tiếng gầm gừ kéo mép ria mép hếch lên để lộ hàm răng trắng lóa khiến lão trông giống như một con thú đang trầm ngâm—chẳng mấy nguy hiểm—một con thú chậm chạp với cái đầu mượt mà, u ám hơn cả một con hải cẩu, cùng chất giọng khàn khàn.

"Và khi xét đến cùng, đó cũng là lỗi của em chẳng kém gì anh. Đúng thế đấy. Em có trừng mắt nhìn anh kiểu gì đi nữa cũng mặc kệ. Anh thừa biết em có thể làm gì với cái kiểu nhìn đó. Thề có Chúa là chưa bao giờ anh thèm nghĩ đến thằng bé cho mục đích đó cả. Chính em là người cứ nhét nó vào mặt anh khi anh đang phát điên lên vì lo lắng giữ cho tất cả chúng ta khỏi vướng vào rắc rối. Quái quỷ gì đã xui khiến em làm thế cơ chứ? Người ta cứ tưởng em cố tình làm thế không bằng. Và quả thật anh cũng chẳng biết được là em đã lén lút nắm bắt được bao nhiêu phần trăm sự việc với cái vẻ mặt đong đưa mặc kệ đời, chẳng nhìn cụ thể vào đâu và chẳng thèm mở miệng lấy một câu. . . ."

Giọng nói khàn khàn mang màu sắc gia đình của lão im bặt một lúc. Bà Verloc không đáp lời. Trước sự im lặng đó, hắn cảm thấy xấu hổ vì những gì mình vừa thốt ra. Thế nhưng như thường lệ đối với những người đàn ông hiền lành trong những cuộc cãi vã gia đình, vì cảm thấy xấu hổ nên lão lại lấn tới.

"Đôi khi em có cái thói im thin thít thật phát rồ," hắn lại bắt đầu, mà không hề nâng cao giọng. "Đủ để khiến vài thằng đàn ông phải phát điên lên được. Thật may cho em là anh không dễ bị cáu tiết bởi cái thói hờn dỗi câm điếc của em như mấy gã khác đâu. Anh yêu em. Nhưng em đừng có đi quá đà. Lúc này không phải là lúc để giở trò đó. Chúng ta phải suy nghĩ về những việc cần làm. Và anh không thể để em đi ra ngoài tối nay, phi thân về nhà mẹ đẻ với mấy cái câu chuyện nhảm nhí điên rồ nào đó về anh được. Anh không đời nào cho phép đâu. Đừng có mà hiểu lầm: nếu em cứ khăng khăng là anh đã giết thằng bé, thì chính em cũng là kẻ đã giết nó chẳng kém gì anh."

Về sự chân thành trong cảm xúc và sự cởi mở trong bộc bạch, những lời này đã vượt xa bất cứ điều gì từng được thốt lên trong mái ấm này—nơi được duy trì bằng đồng lương của một nghề nghiệp bí mật được bù đắp bằng việc buôn bán những món hàng ít nhiều mang tính bất hợp pháp: những mưu kế nghèo nàn do một nhân loại tầm thường nghĩ ra nhằm bảo vệ một xã hội bất toàn khỏi những hiểm họa về sự suy đồi đạo đức lẫn thể xác, vốn cũng mang tính bí mật theo cách riêng của chúng. Chúng được thốt ra bởi vì ông Verloc cảm thấy bản thân thực sự bị xúc tổn; thế nhưng sự đoan trang kín đáo của đời sống gia đình này, ẩn mình trong một con phố u tối đằng sau một cửa tiệm nơi ánh mặt trời chẳng bao giờ chiếu tới, dường như vẫn không hề bị xáo trộn. Bà Verloc lắng nghe ông cho đến hết với sự đúng mực hoàn toàn, rồi đứng dậy khỏi ghế với chiếc áo khoác và mũ trên người y như một vị khách sắp kết thúc buổi ghé thăm. Bà tiến về phía chồng, một cánh tay vươn ra như thể đang chuẩn bị cho một cuộc từ biệt thầm lặng. Tấm mạng che mặt bằng lưới lủng lẳng ở một bên bên trái khuôn mặt mang lại vẻ ngoài trật tự nhưng lộn xộn cho những cử động kiềm chế của bà. Thế nhưng khi bà bước đến tận tấm thảm trước lò sưởi, ông Verloc đã không còn đứng đó nữa. Lão đã đi về phía chiếc ghế sofa, mà chẳng thèm ngước mắt lên quan sát hiệu ứng từ bài diễn văn hùng hồn của mình. Lão mệt mỏi, buông xuôi với tinh thần thực sự của một người chồng. Nhưng lão cảm thấy bị tổn thương ở điểm yếu mềm của sự yếu đuối thầm kín. Nếu bà cứ tiếp tục hờn dỗi trong cái sự im lặng nặng nề đến đáng sợ đó—thì đành chịu vậy. Bà là một bậc thầy trong cái môn nghệ thuật gia đình đó. Ông Verloc thả phốc người nặng nề lên chiếc ghế sofa, phớt lờ như thường lệ số phận của chiếcếc mũ vốn dĩ đã tự tìm cho mình một chỗ ẩn náu an toàn dưới gầm bàn như thể đã quá quen với việc tự lo cho thân chủ.

Lão mệt mỏi. Từng hạt năng lượng thần kinh cuối cùng đã cạn kiệt trong những điều kỳ diệu và sự thống khổ của một ngày đầy rẫy những thất bại bất ngờ ập đến ở tận cùng của một tháng lên kế hoạch và mất ngủ đầy giày vò. Lão mệt mỏi. Con người đâu phải làm bằng đá. Khỉ thật mọi thứ! Ông Verloc nghỉ ngơi theo đúng bản chất của mình, vẫn mặc nguyên bộ quần áo ngoài. Một bên chiếc áo khoác mở hững hờ nằm xõa một phần dưới đất. Ông Verloc nằm ngửa ra. Nhưng ông khao khát một sự nghỉ ngơi trọn vẹn hơn—được ngủ—được chìm đắm trong vài giờ quên lãng ngọt ngào. Chuyện đó sẽ đến sau. Tạm thời ông cứ nghỉ ngơi cái đã. Và ông thầm nghĩ: "Ước gì cô ấy dẹp ngay cái trò ngớ ngẩn chết tiệt này đi. Thật là phát bực."

Chắc hẳn đã có điều gì đó chưa hoàn hảo trong cảm nhận về sự tự do vừa lấy lại được của bà Verloc. Thay vì bước ra cửa, bà ngả người ra sau, với tấm lưng tựa vào bệ lò sưởi, giống như một kẻ lữ hành tựa lưng vào hàng rào. Một nét hoang dại thoáng qua diện mạo của bà bắt nguồn từ chiếc khăn voan đen treo lủng lẳng như một mảnh giẻ vắt vẻo bên má, cùng với vẻ bất động trong ánh nhìn đen thẫm nơi ánh sáng trong phòng bị nuốt chửng và vùi lấp hoàn toàn chẳng để lại một tia sáng nhỏ nhoi nào. Người phụ nữ này, kẻ có khả năng thực hiện một cuộc ngã giá mà chỉ cần nghi ngờ thôi cũng đủ khiến ý niệm về tình yêu của ông Verloc bị sốc nặng nề, vẫn đứng đó đầy lưỡng lự, hệt như thể vô cùng cẩn trọng nhận thức được rằng có thứ gì đó còn thiếu sót từ phía mình cho việc khép lại chính thức thương vụ này.

Trên chiếc ghế sofa, ông Verloc cựa quậy đôi vai để tìm lấy sự thoải mái hoàn hảo, và từ tận đáy lòng, lão thốt ra một điều ước chắc chắn là lành thánh chẳng kém gì bất cứ thứ gì có thể thốt ra từ một nguồn như thế.

"Ước gì cho Chúa," lão khàn giọng làm bàm, "tao chưa từng nhìn thấy Công viên Greenwich hay bất cứ thứ gì thuộc về nó."

Âm thanh khàn đục lấp đầy căn phòng nhỏ với âm lượng vừa phải, hoàn toàn phù hợp với tính chất khiêm nhường của điều ước. Những làn sóng không khí với độ dài chuẩn xác, lan truyền theo đúng các công thức toán học chính xác, lướt qua mọi vật thể vô tri trong phòng, vỗ nhẹ vào đầu bà Verloc hệt như thể đó là một cái đầu bằng đá. Và khó tin làm sao, đôi mắt của bà Verloc dường như càng mở to hơn nữa. Điều ước có thể nghe thấy từ trái tim đang dâng trào của ông Verloc đã chảy tràn vào một khoảng trống trong ký ức của người vợ. Công viên Greenwich. Một công viên! Đó là nơi thằng bé bị sát hại. Một công viên—cành cây gãy nát, lá tơi tả, sỏi đá, những múc thịt xương anh em vụn vặt, tất cả cùng tung tóe lên trời hệt như một màn pháo hoa. Giờ thì bà nhớ lại những gì mình từng nghe thấy, và bà nhớ lại nó một cách vô cùng sinh động. Họ phải hốt nó lên bằng xẻng. Run rẩy toàn thân với những cái rùng mình không thể kìm nén, bà nhìn thấy trước mắt chính cái công cụ với tải trọng kinh hoàng được hốt lên từ mặt đất ấy. Bà Verloc nhắm nghiền mắt lại trong tuyệt vọng, ném lên viễn cảnh đó bóng đêm từ đôi mi của mình, nơi sau một cơn mưa rào những phần cơ thể bị băm nát, chiếc đầu không thân của Stevie cứ lơ lửng một mình, và mờ dần đi chầm chậm hệt như ngôi sao cuối cùng trong màn biểu diễn pháo hoa. Bà Verloc mở mắt ra.

Gương mặt bà không còn vẻ trơ lì như đá nữa. Bất kỳ ai cũng có thể nhận ra sự thay đổi tinh tế trên các đường nét của bà, trong ánh nhìn của đôi mắt, mang lại cho bà một biểu cảm mới mẻ và đầy sửng sốt; một biểu cảm hiếm khi được quan sát bởi những kẻ có năng lực trong các điều kiện thảnh thơi và an toàn đòi hỏi cho việc phân tích kỹ lưỡng, nhưng ý nghĩa của nó lại không thể nhầm lẫn chỉ qua một cái nhìn. Những hoài nghi của bà Verloc về cái kết của cuộc giao thương không còn tồn tại nữa; trí tuệ của bà, không còn đứt quãng, đang hoạt động dưới sự kiểm soát của ý chí. Nhưng ông Verloc chẳng nhận ra điều gì cả. Lão đang nghỉ ngơi trong trạng thái lạc quan thảm hại do kiệt sức quá độ mang lại. Lão chẳng muốn gặp thêm rắc rối nào nữa—với cả vợ mình—trong số tất cả mọi người trên đời. Sự biện hộ của lão là không thể chối cãi. Lão được yêu vì chính con người mình. Pha trạng thái im lặng hiện tại của bà được lão diễn giải theo chiều hướng thuận lợi. Đây là lúc để làm lành với cô ấy. Sự im lặng đã kéo dài đủ lâu rồi. Lão phá vỡ nó bằng cách cất tiếng gọi vợ với âm điệu trầm thấp.

"Winnie."

"Vâng," bà Verloc—người phụ nữ tự do—ngoan ngoãn đáp lời. Giờ đây bà làm chủ trí tuệ của mình, các cơ quan phát âm; bà cảm thấy bản thân đang kiểm soát một cách hoàn hảo đến mức siêu phàm từng thớ thịt trên cơ thể. Tất cả đều là của riêng bà, bởi vì giao thương đã chấm dứt. Bà vô cùng minh mẫn. Bà đã trở nên ranh mãnh. Bà chọn cách đáp lời hắn thật sẵn sàng vì một mục đích. Bà không muốn gã đàn ông đó thay đổi tư thế trên chiếc ghế sofa vốn đang rất phù hợp với hoàn cảnh. Bà đã thành công. Gã đàn ông không nhúc nhích. Thế nhưng sau khi đáp lời hắn, bà vẫn tiếp tục đứng tựa hờ hững vào bệ lò sưởi trong tư thế của một kẻ lữ hành đang nghỉ chân. Bà không vội vã. Trán bà phẳng lì. Đầu và vai của ông Verloc bị che khuất bởi thành cao của chiếc ghế sofa. Bà giữ chặt ánh nhìn dán vào đôi chân của hắn.

Bà cứ đứng đó một cách tĩnh lặng đầy bí ẩn và bất ngờ tập trung cho đến khi người giọng ông Verloc cất lên với một nét uy quyền gia chủ, đồng thời cựa mình nhẹ nhàng để chừa chỗ cho bà ngồi lên mép ghế sofa.

"Lại đây nào," hắn nói với một giọng điệu kỳ lạ, có thể là giọng của sự thô bạo, nhưng bà Verloc thừa biết thừa thói đó chính là nốt nhạc của sự ve vả.

Bà chồm tới trước ngay lập tức, hệt như thể vẫn là một người vợ trung thành bị trói buộc với gã đàn ông ấy bởi một khế ước không thể phá vỡ. Bàn tay phải của bà lướt nhẹ qua đầu bàn, và khi bà bước tiếp về phía chiếc ghế sofa thì con dao lọc thịt đã biến mất mà không gây ra dù chỉ một tiếng động nhỏ nhất từ cạnh chiếc đĩa. Ông Verloc nghe thấy tiếng ván sàn kẹt nhẹ và cảm thấy thỏa mãn. Lão chờ đợi. Bà Verloc đang tới. Cứ như thể linh hồn vô gia cư của Stevie đã bay thẳng vào lồng ngực của người chị gái, người giám hộ và bảo vệ, sự giống nhau giữa khuôn mặt bà và người em trai lớn dần lên theo từng bước chân, thậm chí đến cả cái trỏ xuống của bờ môi dưới, thậm chí đến cả sự lệch nhẹ của đôi mắt. Nhưng ông Verloc không hề thấy điều đó. Lão đang nằm ngửa và trân trân nhìn lên trần nhà. Lão nhìn thấy một phần trên trần nhà và một phần trên vách tường bóng di chuyển của một cánh tay đang nắm chặt bàn dao lọc thịt. Nó nhấp nhô lên xuống. Các chuyển động của nó vô cùng thong thả. Chúng thong thả đến mức đủ để ông Verloc nhận ra cái chi và thứ vũ khí ấy.

Chúng thong thả đến mức đủ để lão lĩnh hội toàn bộ ý nghĩa của điềm báo, và nếm trải hương vị của cái chết đang dâng ngược lên cổ họng. Vợ lão đã phát điên—phát điên vì giết chóc. Chúng thong thả đến mức đủ để hiệu ứng tê liệt ban đầu của phát hiện này qua đi trước quyết tâm kiên quyết phải giành chiến thắng từ cuộc chiến ghê rợn với mụ đàn bà cuồng loạn có vũ trang ấy. Chúng thong thả đến mức đủ để ông Verloc phác thảo ra một kế hoạch phòng thủ bao gồm việc lao người ra sau bàn, và quật ngã người phụ nữ xuống đất bằng một chiếc ghế gỗ nặng. Nhưng chúng lại không đủ thong thả để cho ông Verloc thời gian cử động dù chỉ một bàn tay hay bàn chân. Lưỡi dao đã cắm phập vào ngực lão. Nó chẳng gặp chút kháng cự nào trên đường đi. Sự ngẫu nhiên đôi khi lại có độ chính xác đến thế. Vào nhát đâm lao tới đó, được giáng xuống qua thành ghế sofa, bà Verloc đã dồn vào tất cả di sản từ dòng dõi cổ xưa và mờ mịt của mình, sự hung hãn đơn sơ của thời đại hang động và cơn cuồng nộ thần kinh mất cân bằng của thời đại quán rượu. Ông Verloc, viên Mật thám, khẽ xoay người sang một bên theo lực đâm, đã trút hơi thở cuối cùng mà không cử động dù chỉ một chi, giữa âm thanh lẩm bẩm của từ "Đừng" như một hình thức phản kháng.

Bà Verloc đã buông con dao ra, và sự giống nhau phi thường giữa bà với người em trai quá cố đã phai nhạt, giờ đây trở nên vô cùng bình thường. Bà hít một hơi thật sâu, hơi thở dễ dàng đầu tiên kể từ khi Thanh tra trưởng Heat trưng ra cho bà xem mảnh vải áo khoác có đính nhãn của Stevie. Bà ngả người về phía trước, hai tay khoanh lại tựa lên thành ghế sofa. Bà áp dụng tư thế thoải mái đó không phải để quan sát hay hả hê trước thi thể của ông Verloc, mà là vì những chuyển động chao đảo và tròng trành của phòng khách, thứ mà một lúc lâu sau đó cứ cư xử hệt như thể nó đang ở giữa biển khơi trong một trận cuồng phong. Bà chóng mặt nhưng bình tĩnh. Bà đã trở thành một phụ nữ tự do với sự tự do hoàn hảo đến mức chẳng để lại cho bà bất kỳ điều gì khao khát và hoàn toàn chẳng có việc gì phải làm nữa, bởi vì đòi hỏi khẩn thiết của Stevie đối với lòng tận tụy của bà không còn tồn tại. Bà Verloc—người suy nghĩ bằng hình ảnh—giờ đây không còn bị quấy rầy bởi những viễn cảnh nữa, bởi vì bà hoàn toàn không suy nghĩ gì cả. Và bà không nhúc nhích. Bà là một người phụ nữ đang tận hưởng sự vô trách nhiệm hoàn toàn và quỹ thời gian nhàn rỗi vô tận, gần như theo cách của một thây ma. Bà không nhúc nhích, bà không suy nghĩ. Vỏ bọc phàm trần của cố ông Verloc đang nằm nghỉ ngơi trên ghế sofa cũng vậy. Ngoại trừ thực tế là bà Verloc vẫn thở, hai con người này đã đạt đến sự hòa hợp hoàn hảo: sự hòa hợp của sự cẩn trọng kín đáo mà không có những lời lẽ thừa thãi, và tiết kiệm những cử chỉ, vốn là nền tảng cho đời sống gia đình đáng kính của họ. Bởi vì nó từng rất đáng kính, che đậy bằng sự dè dặt đoan trang những vấn đề có thể nảy sinh trong việc hành nghề mật thám và buôn bán những món hàng mờ ám. Cho đến tận cùng, sự đứng đắn của nó vẫn chưa từng bị xáo trộn bởi những tiếng gào thét khó coi hay những biểu hiện hành vi kém phần chân thành nào khác. Và sau nhát dao giáng xuống, sự đáng kính đó vẫn tiếp tục trong sự bất động và tĩnh lặng.

Chẳng có gì động đậy trong phòng khách cho đến khi bà Verloc chậm rãi ngẩng đầu lên và nhìn chiếc đồng hồ với sự ngờ vực đầy thăm dò. Bà nhận ra âm thanh tích tắc trong căn phòng. Nó lớn dần lên tai bà, trong khi bà nhớ rõ ràng rằng chiếc đồng hồ trên tường vốn im lặng, chẳng hề phát ra tiếng tích tắc nào có thể nghe thấy được. Nó có nghĩa gì khi bỗng nhiên bắt đầu tích tắc to đến thế? Mặt đồng hồ chỉ chín giờ kém mười. Bà Verloc chẳng màng gì đến thời gian, và tiếng tích tắc vẫn tiếp tục. Bà kết luận rằng đó không thể là chiếc đồng hồ, và ánh nhìn ủ rũ của bà lướt dọc theo những bức tường, dao động, rồi trở nên mờ mịt, trong lúc bà căng tai để xác định vị trí của âm thanh. Tích, tích, tích.

Sau khi lắng nghe một hồi, bà Verloc có chủ ý hạ thấp ánh nhìn xuống thi thể của chồng. Tư thế nghỉ ngơi của hắn ta quá đỗi quen thuộc và gần gũi với không khí gia đình đến mức bà có thể làm thế mà không hề cảm thấy lúng túng bởi bất kỳ sự mới mẻ nổi cộm nào trong các hiện tượng của đời sống gia đình. Ông Verloc đang tận hưởng sự thoải mái quen thuộc của mình. Trông hắn có vẻ dễ chịu.

Do vị trí của thi thể, gương mặt của ông Verloc không bị bà Verloc—người vợ góa của hắn—nhìn thấy. Đôi mắt đẹp và buồn ngủ của bà, hướng xuống theo dấu vết của âm thanh, trở nên trầm ngâm khi chạm phải một vật bằng xương dẹt nhô ra một chút ngoài mép ghế sofa. Đó chính là cán của con dao gọt thịt dùng trong nhà chẳng có gì kỳ lạ ngoài vị trí vuông góc với chiếc áo ghi-lê của ông Verloc và thực tế là có thứ gì đó đang nhỏ giọt từ nó. Những giọt sẫm màu rơi xuống tấm trải sàn lần lượt từng giọt một, với âm thanh tích tắc dồn dập và hung hăng như nhịp đập của một chiếc đồng hồ điên loạn. Ở tốc độ cao nhất, tiếng tích tắc này biến thành âm thanh rỉ máu liên tục không ngừng. Bà Verloc dõi theo sự chuyển hóa đó với những cái bóng lo âu ẩn hiện trên khuôn mặt. Đó là một dòng rỉ máu, sẫm màu, nhanh chóng, mảnh mai. . . . Máu!

Trước tình huống bất ngờ này, bà Verloc từ bỏ tư thế nhàn rỗi và vô trách nhiệm của mình.

Với một cú giật bất ngờ tóm lấy váy cùng một tiếng thét nhỏ, bà chạy về phía cửa, hệt như thể dòng máu rỉ kia là dấu hiệu đầu tiên của một cơn hồng thủy tàn phá. Nhận thấy chiếcếc bàn ngáng đường, bà đẩy nó bằng cả hai tay hệt như thể nó là một sinh sống, với một lực mạnh đến mức nó trượt đi một quãng dài trên bốn chân, tạo ra tiếng kêu cào rít lớn, trong khi chiếc đĩa lớn đựng món thịt quay đổ sụp nặng nề xuống sàn.

Rồi mọi thứ trở nên tĩnh lặng. Bà Verloc khi đến được cánh cửa thì khựng lại. Một chiếc mũ tròn lộ ra giữa sàn nhà do sự dịch chuyển của cái bàn khẽ chao đảo trên chóp mũ theo luồng gió từ cú chạy trốn của bà.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.