Đom Đóm Nhỏ

Lượt đọc: 18 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 12
Luân hồi

❊ ❊ ❊

Bốn năm sau, mùa hè năm 2004, tôi nhận được bức thư cuối cùng của Vi Vi gửi đến, tôi bỗng không kìm được, nhớ lại tất cả, nhớ lại thành phố nhỏ Yên Thuỷ. Lúc đó tôi vừa quen với Ma Nhã. Tôi nói với Ma Nhã, đối với tôi, Yên Thuỷ chính là một toà thành mộng tưởng. Tôi kể cho em nghe những con người, những nam nam nữ nữ khắc sâu trong trí nhớ của tôi, những đúng đúng sai sai mà tôi đã trải qua. Tôi nói, Ma Nhã sẽ không còn có một nơi nào làm tôi lưu luyến đến thế nữa, nơi đó dường như đã trở thành vườn hoa bí mật riêng, nơi tôi thắp nén nhang trước nấm mồ thanh xuân của mình. Ma Nhã chăm chú nghe tôi kể, đến cuối, em nói, anh muốn quay lại thăm lần nữa không?

Mắt tôi chợt sáng. Xem xem, tôi ngu ngốc biết bao, tại sao tôi chỉ biết ngồi đây gặm nhấm hoài tưởng, mà không nghĩ đến việc quay lại thăm chốn xưa? Tôi nói em đi cùng anh nhé. Ma Nhã cười nói, em chỉ chờ câu này của anh. Cả ngày anh không ngớt kể về Yên Thuỷ, em cũng muốn thử xem Yên Thuỷ rốt cuộc trông ra sao mà làm anh mê đắm đến thế.

Chúng tôi hẹn nhau tháng Bảy xuất phát. Tôi nhớ lại bốn năm trước tôi đến Yên Thuỷ trong tình trạng đói rách mệt mỏi như thế nào, nhưng tôi không thể cười chế nhạo thằng con trai ngang tàng, non trẻ lúc đó. Ma Nhã cười nói với tôi, chúng ta đều trưởng thành hơn sau những lần vấp ngã liên tiếp, cho dù ngày xưa chúng ta có vẻ ngây thơ và ngu ngốc đến đâu, chúng ta cũng nên tự hào về chính mình. Con đường đến trưởng thành không tồn tại những lối đi tắt, suy nghĩ chín chắn hay không luôn tỷ lệ thuận với mức thể nghiệm cuộc đời của bạn nông hay sâu. Câu này hoàn toàn đúng. Tôi thấy Ma Nhã là một cô gái có nội tâm phong phú và cảm nhận tinh tế hiếm có. Câu nhận xét này làm tôi khâm phục và thầm cảm mến em.

Chúng tôi đến Yên Thuỷ lúc trời gần tối. Lúc xuống xe, tôi đột nhiên cảm thấy hoang mang vô cớ. Tôi ngồi ì trên xe, cho đến tận khi bác tài xế cau có thông báo đã đến trạm cuối cùng, tôi mới miễn cưỡng chậm chạp bước xuống. Ma Nhã hỏi tôi: “Anh sợ à? Anh sợ đây không còn giống thành phố trong ký ức của mình nữa đúng không? Anh sợ mọi sự đã thay đổi?” Tôi không thể phủ định. Đúng thế tôi sợ, nếu Yên Thuỷ đã không còn giống như trong trí nhớ của tôi nữa, tôi sẽ phải sao đây? Thực tế hoàng hôn trước mắt đã không còn mỹ lệ như những hoàng hôn trước nữa, mặt trời cằn cỗi gục dần xuống trong bụi khói phủ mờ nửa thành phố, không còn đâu nữa cái ấm áp trong ký ức. Thành phố Yên Thuỷ cả một màu lấm lem đang tranh cướp với thời gian trong tiến trình cải tạo thành phố. Bên ngoài cửa hàng bách hoá, biểu tượng kiến trúc của thành phố, đang xếp đầy các giàn giáo sắt, một đám công nhân tay trần treo mình trên đó, lắp đèn neon, lát gạch men, bận như chong chóng.

Buổi tối, chúng tôi tìm một nhà trọ nhỏ, tắm rửa nghỉ ngơi từ sớm. Tôi ngượng ngùng hẹn với Ma Nhã ngày mai tôi sẽ đưa em đi thăm thành phố. Chúng tôi chúc nhau ngủ ngon rồi ai về phòng người nấy. Tôi không đánh răng, không rửa chân tay, không thay quần áo, chui thẳng đầu vào trong đống chăn chiếu phảng phất mùi kiềm của xà phòng ngủ vùi, đem theo cả đất cát cuộc hành trình dài vào giấc ngủ say như chết.

Tôi khiếp sợ thay đổi. Tôi đã từng tò mò, háo hức với tất cả những thay đổi nhỏ nhất, nhưng bốn năm đã qua, đứa tôi năm hai mươi đã biến thành một ông già nhỏ tuổi thích an nhàn và ổn định. Tôi không còn say mê với những thứ phía trước, tôi cố để cuộc sống của mình luôn nằm trong phạm vi khống chế có thể. Ngoài Ma Nhã ra, tôi không quen thêm bất kỳ người bạn nào. Tôi học như điên, rồi vào đại học. Và vào những lúc trống vắng, tôi thường lượn lờ trên những con phố giăng mắc trong thành phố. Trong bốn năm ngắn ngủi này, tôi ăn, uống, vệ sinh hằng ngày, tôi cố chấp muốn giữ lại bước tiến của thời gian. Khi tôi phát hiện mình không thể ngăn cản bản thân lớn lên và trên thực tế đã thành một người trưởng thành, tôi tìm mọi phương cách nguỵ trang cho mình giống một đứa trẻ. Xin hãy coi tôi như một đứa trẻ, xin đừng giằng ra cái mặt nạ tôi đang đeo để lừa mình lừa người, cho dù tôi đã không thể tìm lại cảm giác của một đứa trẻ dù chỉ là một lần nữa.

Tôi ngủ qua cả bữa sáng, Ma Nhã không đến đánh thức tôi, mặc cho tôi ngủ mãi đến trưa. Mặt trời đứng bóng chiếu ánh nắng rát cháy, thẳng tay lôi tôi ra khỏi giấc ngủ. Đi tìm Ma Nhã, Ma Nhã không có trong phòng, lòng tôi như lửa đốt. Ở đây lạ nước lạ cái, Ma Nhã đi đâu được?

Không cả kịp rửa mặt, tôi chạy vụt ra phố, dáo dác tìm Ma Nhã khắp nơi. Cảnh tượng giống hệt bốn năm trước, thành phố Yên Thuỷ chó chạy khắp đường. Tụi chó hoang mỗi con chiếm cứ một phương, quyết không không thoả hiệp. Những căn nhà cũ kỹ mái thấp tè vẫn án binh bất động lần lượt khớp lại với những hình ảnh trong ký ức tôi, ngồi theo đúng chỗ ban đầu của nó. Tôi dừng lại bước chân hoảng loạn của mình, dường như trong chốc lát tôi đã quên mất mình đang phải tìm Ma Nhã. Đằng kia là con phố tôi nhớ nhất, đi vào con phố đó là nhà của Vi Vi. Tôi biết Vi Vi đã đưa Lã Yến rời khỏi Yên Thuỷ đến sống ở một thành phố khác, nhưng không sao kiềm chế được bước chân nôn nóng quay về.

Cánh cửa chống trộm giờ đã rỉ hoen, nham nhở, dấu tích của già yếu và ảm đạm. Không có ai. Cô Hạ không có nhà. Cô Hạ giờ ra sao? Vi Vi trong thư từng kể nó và cô Hạ đã cãi nhau rất to, nhưng nó không kể lý do tại sao. Với cô Hạ, Vi Vi còn quan trọng hơn cả mạng sống của cô, nó đi rồi cô sẽ ra sao? Tôi thấy lịch sử đang lặp lại. Bốn năm trước là tôi, bốn năm sau là Vi Vi. Tôi nói là vì “Tự Do”. Tôi khoác lên người tấm áo tự do để mặc sức tung hoành bay lượn, cuối cùng đổi lại chỉ là một tấm thân đầy thương tích, những người yêu quý tôi cũng thương tích đầy người. Có những lúc tôi thật sự muốn làm rõ rốt cuộc tự do là gì? Tự do nhất định phải trả bằng những cái giá cao và đắt như vậy sao?

Tôi vừa tìm Ma Nhã, vừa đi lần mò lại những sợi dây xưa. Ở cuối con phố kia, một quầy hoa quả vệ đường thu hút sự chú ý của tôi. Hoa quả được bày cả trên một chiếc xe đẩy gỗ. Phía đằng trước tay kéo có đặt một chiếc ghế đẩu dài. Trên ghế một người đàn bà khô, gầy, già đang ngồi. Người đàn bà ngồi đó mắt xa xăm nhìn về phía đám người qua lại, nhưng chắc chắn không để ý đến bất kỳ ai trong đó. Trong con mắt không còn một chút sắc khí. Bà như một đoạn dây nến đã cháy lụi. Tôi nhìn người đàn bà rất lâu, nhưng không dám tin rằng kia chính là cô Hạ sức lực dồi dào, dám nghĩ dám làm ngày nào. Cô chắc cũng chỉ tuổi như mẹ tôi, hơn bốn mươi, thế nên những mảng tóc trắng lớn trên mái đầu rối bù kia làm người ta cảm thấy cô đã già quá mức cho phép. Tôi muốn đi lên chào một tiếng, nhưng cuối cùng vẫn quyết định thôi, quay đầu trở về.

Ma Nhã ngồi trong phòng tôi. Khi tôi bước vào phòng, Ma Nhã đang cúi người đốt một ngọn nến. Trong phòng cắm đầy nến. Tôi xúc động lắp bắp: “Ma Nhã, em đi đâu thế? Anh lo quá!” Ma Nhã suỵt khẽ, ngón tay trỏ dựng trước môi. Tôi phát hiện em đánh một lớp son mỏng. Dưới ánh nến, đường nét của đôi môi căng mọng của em càng hiện rõ, lấp lánh ánh sáng của pha lê. Ma Nhã kéo kín cái rèm cửa in hoa, đèn không bật, màn đêm từ từ lắng lại, nến im lặng cháy.

Ma Nhã nói: “Hôm nay là sinh nhật em.” Tôi tròn mắt. Tôi chỉ biết Ma Nhã nhiều tuổi hơn tôi, nhưng không hề biết hôm nay là sinh nhật của em. Ma Nhã nói tiếp: “Em không bao giờ làm sinh nhật. Bố mất từ rất sớm, mẹ đem theo chị đi cưới người khác. Bà nội không cho mẹ đem em đi theo. Em ở lại sống với bà. Bà mất, hai bác đem em về nuôi. Em chịu rất nhiều uất ức, nhưng chưa bao giờ nói một câu oán trách nào. Hai bác cũng không dễ dàng gì khi nuôi thêm một đứa như em. Điều quan trọng là họ thật sự thương em. Giống như anh, mười sáu tuổi em cũng bắt đầu đi xem thế giới bên ngoài, chỉ có điều không được may mắn như anh thôi. Em không tìm được đường về nhà, nói đúng hơn, em không có nhà để về. Em cứ thế lang bạt. Em ghét lang bạt. Em thấy mình đang mệt mỏi và già cỗi dần đi trong cuộc hành trình lang bạt không điểm dừng này, thế nên em không làm sinh nhật bao giờ. Có thể chúng ta chính là những người sợ phải già đi hơn bất kỳ ai hết. Chỉ biết cứ cắm cúi đi hết ngày này qua ngày khác, bởi dừng chân lại, đợi chúng ta chỉ có tuyệt vọng và cái chết.”

Căn phòng chìm trong im lặng, có thể nghe thấy tiếng ruột nến cháy lép bép. Tôi và Ma Nhã hai người ngồi hai bên đầu giường. Ma Nhã nhìn tôi, ánh mắt em xa xôi, dịu dàng. Em nói:

“Em làm rất nhiều việc, đi hết nơi này lại chuyển qua nơi khác, cũng chẳng đủ thời gian làm quen với những người xung quanh. Em không có bạn. Rất đáng chán phải không? Em biết mình không giống họ, em không thể dễ dàng mở rộng lòng mình. Từ nhỏ em đã quen với lảng tránh, biến mình thành một con nhím xù lông nhọn. Cách bảo vệ mình tốt nhất mà em biết là không để người khác đến gần. Cho dù chỉ cách một tờ giấy mỏng thôi, nó cũng là ngăn cách. Em thấy chẳng có gì đáng yêu hơn sự cô độc, cũng chẳng có gì đáng ghét hơn nó nữa. Em nghĩ rằng mình sẽ cô độc mãi thế, cô độc cho đến chết. Sự xuất hiện của anh với em là món quà của thượng đế. Em và anh, chúng ta như hai tấm vải cùng một chất liệu, cũng cô độc như thế, cõng trên mình cảm giác tội lỗi, không biết tự lượng sức mình phản kháng, không chấp nhận bị nhấn chìm.”

“Ma Nhã.” Tôi đứng dậy, đi đến ngồi bên Ma Nhã, nhẹ nhàng nắm lấy bàn tay em. Ma Nhã run rẩy. Tôi không biết nên nói gì nữa. Chúng tôi đều là những con người bị sự cô độc giày vò thoi thóp, người có thể cứu rỗi bản thân hoá ra lại chỉ đang cách trong gang tấc.

Ma Nhã nói: “Anh không chê em già chứ?” Tôi nói: “Anh cùng em già.” Ma Nhã cười, ánh nến không gió vẫn tự lắc lư, nhẹ nhàng đung đưa. Ma Nhã nói: “Thế cùng em đi qua sinh nhật này. Bắt đầu từ bây giờ, em sẽ là một người đàn bà có tuổi. Chỉ cần anh không chê, em sẽ không sợ già đi.”

Đêm hôm đó, chúng tôi uống rất nhiều rượu, uống cho đến tận khi chiếc nến cuối cùng cháy hết, màn đêm gói trọn hai chúng tôi. Trong bóng tối, tôi nghe thấy tiếng khóc Ma Nhã cố kìm xuống, nước mắt em đốt cháy tôi. Đừng khóc, Ma Nhã, đừng khóc, lại gần bên anh, thu lại những chiếc lông bảo vệ, hãy để cô độc rời xa chúng ta.

Tôi đưa Ma Nhã đi dạo quanh Yên Thuỷ. Tôi chỉ cho em kia là ai, ai, ai, họ làm gì. Quán trà Tả Ngạn là toà nhà đầu tiên bị quy hoạch tháo dỡ. Bây giờ ở đó là một quảng trường lộ thiên, mấy khuôn cỏ, mấy vạt hoa. Tất cả vẫn chưa hoàn thiện, vẫn thấy từng đống cát và bùn đỏ chất đầy. Trong tiệm quần áo được xây dựng trên nền quán ăn cũ của Trần Thái Kiện, Ma Nhã mua một cái yếm nhỏ màu tím nhạt, đường may khá vụng nhưng hình thêu kính vạn hoa trên chiếc yếm lại tỉ mỉ và đẹp đến độ làm người ta không nỡ bỏ xuống. Tiệm tạp hoá của Đường Kiến Quốc vẫn ở đó. Tôi nói đấy là nhà của thằng điên mà tôi vẫn kể. Không, đó là nhà của Đường Lâm Sinh.

Đường Kiến Quốc ngồi đằng sau quầy hàng, phe phẩy chiếc quạt nan. Đường Lâm Sinh ngồi bên cạnh, ngoan ngoãn nghiên cứu đôi bàn tay của mình. Cái áo bông rách, đôi bốt da bò mòn đế cùng chiếc que tre lúc thì cầm trong tay lúc thì giắt trong chiếc thắt lưng quần đều đã không thấy đâu nữa. Đường Lâm Sinh thay đổi hoàn toàn diện mạo. Nó mặc một chiếc áo phông màu đen, một chiếc quần màu đen có thắt lưng, chân đi một đôi dép cao su màu đen. Nếu không phải đôi mắt kia vẫn có nét ngây ngây dại dại, chắc không ai dám tin rằng nó bị điên.

Tôi và Ma Nhã mua một tuýp thuốc tại quầy hàng của Đường Kiến Quốc. Trong lúc Đường Kiến Quốc tìm tiền lẻ trả lại, tôi nghe thấy thằng điên lẩm bẩm một mình: “Mẹ ơi”. Đường Kiến Quốc lặng người mấy giây, ngao ngán lắc đầu, đưa tiền trả lại cho chúng tôi. Người phụ nữ xinh đẹp duyên dáng hay ngồi trước cổng chải mái tóc dài không thấy nữa. Thằng điên chụm hai bàn tay trước ngực, ngước mắt nhìn Đường Kiến Quốc nói: “Mẹ”. Đường Kiến Quốc giơ cái nạng đánh vào người thằng điên, mắng: “Mẹ mày chết rồi. Thằng ôn dịch, mày làm mẹ mày chết vì mệt với mày!”. Cái đánh nhẹ của Đường Kiến Quốc làm thằng điên dúm từ túc, rụt đầu rụt cổ liếc trộm bố nó. Đường Kiến Quốc hối hận, ông ta vất vả cúi người xuống xoa nhẹ vào chỗ vừa đánh, hỏi: “Có đau không?”. Thằng điên cười khanh khách, mồm vẫn nói: “Mẹ ơi”. Thằng điên lôi từ trong túi ra cái còi thần kỳ ngày xưa, nó hớn hở quay ra phố thổi lên một tiếng còi rộn ràng. Nhìn nét mặt ngây ngô trẻ con của nó, Đường Kiến Quốc chỉ biết tiếp tục lắc đầu, nhếch mép cười một mình, không biết là vì đau khổ hay vì hạnh phúc nữa.

Ma Nhã nói: “Anh vẫn thấy buồn à?” Tôi không biết nói gì. Tôi đã từng ngây thơ tưởng rằng thế giới này giống như những gì miêu tả trong sách vở, trong sạch và rạng nắng, mỗi một người sống trong đó đều tự quy phạm hành vi và tư tưởng của mình dựa vào những tiêu chuẩn văn minh xã hội đặt ra, ai cũng tích cực vươn lên, ai cũng giàu lòng nhân ái. Nhưng cho đến bây giờ điều này vẫn chỉ là một ước mơ đẹp. Nếu như trong xã hội những mảnh đời khổ cực vẫn tràn ngập, nếu như tấm lòng không chịu nổi sức nặng của việc trách đời giúp người, thì hãy cứ câm miệng lại, cụp đuôi xuống mà tiếp tục sống.

Tôi nói: “Mỗi một người có một số phận riêng, chúng ta không có quyền đứng bên cạnh khua môi múa mép bình phẩm.”

Chúng tôi ở lại Yên Thuỷ một tuần. Về sau, tôi thường đùa với Ma Nhã bảy ngày đó chính là tuần trăng mật của chúng tôi. Đêm trước hôm rời khỏi Yên Thuỷ, tôi để Ma Nhã một mình ở lại trong nhà trọ, kiếm cớ đi ra ngoài. Tôi nói tôi có việc, Ma Nhã nói thế thì đi đi. Em không hỏi tôi việc gì. Điểm thông minh của Ma Nhã là ở chỗ em không bao giờ can thiệp quá sâu vào tự do của tôi. Sự tin tưởng của em làm tôi hờ hững với tất cả cám dỗ xanh đỏ bên ngoài.

Tôi đi tìm cô Hạ. Tôi không còn sợ phải đối mặt với cô nữa. Sự dũng cảm ít gặp giờ đang dâng đầy trong tôi, tôi không không còn sợ hãi trước mọi thay đổi. Tôi đứng bên cạnh quầy hoa quả gọi khẽ: “Cô Hạ”. Cô Hạ chậm chạp nhìn lên. Tôi nói tôi là Nam Cung Vĩ. Cô Hạ lắp bắp hỏi lại: “Nam Cung Vĩ? Nam Cung Vĩ?” Mắt của cô như chiếc đèn đang khôi phục lại điện áp ban đầu, sáng dần lên. Cô hỏi lại: “Cháu là Nam Cung Vĩ?” Cô cuối cùng đã nhận ra tôi. Cô cười tươi nói: “Cháu sao tự nhiên lại về lại? Tiếc là Vi Vi không có ở đây nữa, không thì chắc nó phải nhảy cẫng lên mất.” Trong phút chốc, mắt cô Hạ lại sụt áp tối sầm, cô nói: “Vi Vi nó đi rồi. Nó không cần mẹ nữa rồi”.

Vừa chập tối, cô Hạ đã dọn hàng. Tôi muốn kéo xe hộ cô nhưng cô nhất quyết từ chối. Cô nói: “Đến nhà cô Hạ đi, hai cô cháu mình nói chuyện cho hả, cô Hạ lâu lắm không có người trò chuyện tâm tình rồi.”

Cô Hạ cặm cụi làm cả một bàn thức ăn. Cô ngồi bên cạnh bàn, luôn miệng bảo tôi ăn nữa đi. Tôi vừa ăn vừa khen tài nấu ăn của cô, cô cười nói: “Cái mồm của cháu vẫn ngọt thế. Sao Vi Vi nó có lớn mà không có khôn như cháu cơ chứ?”. Cô Hạ lại im lặng. Khi cô nói tiếp, giọng của cô đã trầm hẳn xuống. Cô hỏi: “Tiểu Vĩ, Vi Vi có kể cháu nghe chuyện của cô Hạ không?” Tôi nói có ạ. Cô Hạ nói: “Cháu có khinh thường cô Hạ này không?” Tôi nói không. Cô Hạ nói: “Cô Hạ của cháu không phải là người thích ôn nghèo kể khổ, nhưng hôm nay cô Hạ muốn kể cho cháu một câu chuyện, cháu muốn nghe không?” Tôi nói tôi muốn nghe. Nói xong tôi đặt đũa xuống.

Cô Hạ kể: “Cô Hạ của cháu số khổ. Mẹ cô trước đấy sinh được bốn người con, cô Hạ sinh sau cùng. Bốn người con lần lượt bỏ mẹ cô đi, thế nên mọi người đều bảo cô Hạ cháu cao số khắc chết hết anh em. Năm cô bảy tuổi, người bố làm thợ đào than cũng chết trong một vụ tai nạn. Khí ga nổ dẫn đến sập lò. Chỉ nghe thấy một tiếng nổ kinh thiên động địa, chu vi vài kilômét quanh đó đều nghe thấy. Lúc đó cô đang bắt cua ngoài sông, tiếng động đinh tai làm cô như bị giật điện, cứng đơ người, tay bị cua cắp chảy bao nhiêu máu.” Cô Hạ giơ cho tôi xem vết sẹo năm nào còn lại trên ngón tay cái bên trái, buồn buồn kể tiếp: “Đây là biểu tượng của khắc tinh. Cô khắc chết anh, chị, rồi khắc chết cả bố mình”. Tôi nói: “Cô Hạ, đừng nghĩ thế. Tất cả chỉ là tai nạn ngẫu nhiên.”

Cô Hạ nói: “Thế tiếp sau đấy cũng là tai nạn ngẫu nhiên à? Năm Vi Vi sáu tuổi, bố nó cũng chết, bị xe đâm bẹp dí, óc bắn khắp nơi. Bố nó muốn tự tử. Bố nó giết xong thằng đàn ông khốn nạn đó, cũng chính là bố dượng cô, bố nó đã không muốn sống nữa rồi. Là mạng cô lớn, chứ chắc chắn bố nó cũng muốn giết luôn cả cô. Bố nó chết, còn cô thì vẫn sống.”

Tôi không nói được câu an ủi nào. Suy nghĩ này đã ăn sâu trong đầu cô Hạ. Cô Hạ kể tiếp: “Nói thật, thằng khốn nạn đó đáng chết, nhưng người kết thúc mạng thằng đó đáng lẽ phải là cô. Cô hận lão già đó. Bà mẹ cô không nuôi nổi cô, đành phải cưới người khác. Mới đầu lão đối xử với mẹ con cô cũng không tồi. Năm cô mười sáu tuổi, trong một đêm, nhân lúc mẹ cô không có nhà, lão mò vào màn của cô, chân tay sàm sỡ. Cô chống cự không nổi. Rồi sau đó, lão thường xuyên đem cô ra ngoài, khi thì ruộng rạ, lúc thì ruộng bông, rồi cả bãi tha ma để thích làm gì thì làm. Lão uy hiếp nói nếu cô kể cho mọi người biết, lão sẽ giết cả hai mẹ con. Cô đành cắn răng nhịn nhục. Sau rồi cô có thai. Giấy không gói được lửa, mẹ của cô cuối cùng cũng phát hiện ra. Bà mẹ tội nghiệp của cô khóc sống đi chết lại, nhưng cũng không dám đi tố cáo, đành ôm trọn cả đau lẫn nhục nuốt vào bụng. Cô nạo thai. Mẹ cô chạy đông chạy tây, cầu cạnh hết người này đến người khác, đem cả cái vòng ngọc gia truyền để nhờ người chạy chọt mới chạy được cho cô đi làm công nhân ở xưởng dệt. Cứ tưởng như thế là thoát khỏi móng vuốt quỷ của lão, nhưng thằng khốn nạn đó không để cho cô yên.”

“Mười chín tuổi cô lấy chồng. Mẹ cô dùng mấy cái mẹo nhà quê lừa qua mặt tất cả mọi người. Bố thằng Vi Vi là người tốt. Cô muốn đi theo bố nó cả đời. Lão già trơ trẽn ấy vẫn âm hồn lẩn vẩn không cho cô thoát. Lão nói nếu cô không chiều theo ý lão, lão sẽ làm cho cô lẫn bố Vi Vi thân bại danh liệt. Cô muốn bịt mồm lão, nhưng cô không đủ sức bịt mồm những người xung quanh. Con mắt quần chúng là sáng nhất. Câu này ai nói nhỉ? Là bác Mao nói.”

Cô Hạ tự trách mình: “Cô đúng là một khắc tinh. Ai dây vào cô người đó xui xẻo. Xưởng dệt khai trừ cô, cả xưởng đều cho rằng cô làm mất mặt mọi người. Nhưng không có lấy một người thử nghĩ xem cái mặt đấy tự cô muốn mất à? Cô đem theo Vi Vi lê la bán vặt. Vi Vi nó cũng chịu không ít khổ. Từ lúc học mẫu giáo cho đến lúc học cấp ba, lúc nào nó không bị đứa khác cười nhạo, trêu chọc, bắt nạt? Cũng có lúc cô chỉ muốn trốn đi, tìm nơi nào mà không có một ai quen biết bắt đầu lại từ đầu. Nhưng cô đi được đâu? Vi Vi nói nó không muốn ở lại Yên Thuỷ này nữa, cô không cho nó đi, thế là nó cả ngày cãi nhau với cô. Vi Vi nói cô thích để người khác coi thường, còn nó không thích. Nó nói chết ngoài đường ngoài chợ nơi tha hương cũng còn hơn chết nhục như con chó ở nhà này!…”

Cô Hạ kể đến đây không kìm được, nước mắt trào ra như mạch ngầm lâu ngày bị đè nén dưới lòng đất nay mới có cơ hội thoát lên. Cô Hạ lặp đi lặp lại câu Vi Vi nó không cần đến mẹ nữa rồi. Tôi kinh ngạc nhận ra cô Hạ liên tiếp già đi nhanh chóng. Những nếp nhăn trên gương mặt cô mọc mới, kéo dài, chồng chéo. Sự lão hoá của một người sao có thể diễn ra nhanh đến vậy? Đến mức không thể tin được. Tôi không thể an ủi gì cho cô Hạ. Đột nhiên tôi thấy mình có lỗi. Nếu không phải là sự đến thăm bất ngờ của tôi, cô cũng sẽ không đánh thức dậy những ký ức buồn đã chôn rất sâu, rất lâu. Tận mắt nhìn thấy quá trình lão hoá của một phụ nữ là điều vừa tàn nhẫn vừa ghê sợ. Ma Nhã hoàn toàn có lý khi cân đong đo đếm tuổi tác mình.

Đã sắp được ba năm thời gian tôi và Ma Nhã bên nhau, bắt đầu từ tháng 6 năm 2001 đến tháng 2 năm 2004. Chúng tôi quấn quýt không rời, tôn trọng lẫn nhau. Có điều, tôi vẫn cảm thấy Ma Nhã có điều gì đó giấu tôi. Chúng tôi chuyển nhà liên tục. Dọn đến chỗ mới chưa được hai, ba tháng, Ma Nhã lại chủ động đề nghị di chuyển đến nơi khác. Trong máu của em có những phân tử chuyển dịch bất an. Tôi nói: “Ma Nhã, anh cũng không thể làm em yên định lại sao?” Ma Nhã không nói.

Lần đó chúng tôi dọn đến một khu tập thể mười bảy tầng ảm đạm nằm giữa một eo núi. Đây là một thành phố được xây trên núi. Từ cửa sổ phòng chúng tôi nhìn ra, dưới lớp sương mù xám xịt là một dãy các đường nét thô kệch, hoang dại, khó thuần, nhấp nhô không đều. Nơi đỉnh cao, thành phố phá vỡ vòng vây núi, nhưng rồi lại để vây hãm bởi những dãy núi nối liền liên tiếp khác. Thành phố, đèn điện kéo dài, quyến rũ, mơ hồ, như một cô thôn quê ngạo mạn, kệch cỡm, tự tin mà lại rất tự ti.

Tháng 2 năm 2004, Ma Nhã quyết định về thăm quê. Bắt đầu từ lần ra đi năm mười sáu tuổi, Ma Nhã rất ít khi quay về. Họ hàng em thường xuyên gọi điện lên hỏi thăm xem em đang ở đâu, làm gì. Ma Nhã nói: “Đi cùng em về không? Em sẽ đưa anh đến cái giếng cổ đấy. Anh còn nhớ không, cái giếng của ước mơ mà em kể với anh? Ngày nhỏ, bà ngoại thường nói với em, cho dù có bất kỳ ước mơ nào chỉ cần thành tâm cúi xuống cầu xin sẽ đều thành hiện thực. Ngoại em ra đi, em nhắm mắt cầu xin tâm nguyện của mình. Em nói em cần một người có thể bảo vệ em, đồng thời em cũng sẽ cố hết sức bảo vệ người đó, dùng cả đời em để bảo vệ.”

Tàu chạy xuyên qua từng dọc từng dọc đường hầm thắc thỏm. Trong toa vừa chật vừa lạnh. Ma Nhã nép chặt vào tôi. Tôi kéo khoá chiếc áo lông xuống gói em vào trong lòng. Mùa đông càng làm người ta căm thù khoảng cách. Ma Nhã run khẽ, tôi xiết chặt hơn vòng tay. Ma Nhã nói: “Anh liệu có rời xa em không?” Tôi nói làm sao tôi có thể làm được điều đó? Em ngủ đi, ngủ dậy là đã về đến nhà.

Đúng là Ma Nhã có chuyện giấu tôi. Ở nhà bác em, tôi là người không được chào đón. Mọi người ai cũng dùng ánh mắt khác lạ nhìn tôi. Ngày thứ ba, một người đàn ông xách dao rựa xông vào nhà bác Ma Nhã, chỉ đích danh tìm tôi tính chuyện. Mọi người trong nhà giằng lấy con dao, anh ta ngồi thụp xuống bên góc tường đầu gục xuống gối khóc thảm thiết, vừa khóc vừa nghiến răng nghiến lợi nói: “Muốn ly hôn? Chết tôi cũng không ký”.

Đứng bên cạnh miệng cái giếng cổ trên có phủ một lớp tuyết mỏng, tôi chăm chú nhìn Ma Nhã hỏi: “Em nói đi, nói ra điều bí mật mà em vẫn giấu anh. Người đàn ông đó là ai? Em và anh ta có quan hệ gì?”. Cái giếng cổ đã bỏ hoang từ lâu, đám đá lót xung quanh đã vỡ sụp hẳn xuống, cỏ rêu tróc ra từng mảng lớn. Sau một hồi chìm trong im lặng cùng cảnh vật xung quanh, Ma Nhã bắt đầu kể: “Anh ta là chồng em, ba năm trước em đã cưới. Bác trai và bác gái em đều cho rằng con gái sớm muộn cũng phải lấy chồng, họ muốn tốt cho em, không muốn em chịu khổ. Nhưng em không yêu anh ta, cuộc phiêu bạt của em chính là hành trình chạy trốn. Là anh, anh đã làm em dừng lại không tiếp tục cuộc hành trình này nữa. Em lần này quay về là để ly hôn với anh ta. Anh nhớ anh đã nói sẽ không rời xa em”. Tôi nói: “Nhưng em đã lừa dối anh.” Trên đồng tuyết có tiếng quạ đông kêu thảm thiết vụt qua. Tôi nói: “Em còn nhớ em đã từng nói gì không? Cho dù chỉ cách nhau một tờ giấy cũng là ngăn cách.”

Ma Nhã không phản ứng, thất vọng ẩn sâu đằng sau ánh nhìn của em. Em thở dài một tiếng, tay phủi lớp tuyết mới rơi xuống đọng trên thành giếng, giọng em xa xăm: “Ngoại quên mất không nói với em, khi cầu nguyện nhớ phải vứt xuống một đồng xu, tiếng keng keng khi đồng xu chạm vào đáy giếng sẽ gõ vào tai đánh thức các vị thần. Hoá ra thần thánh cũng hám lợi. Cái gì gọi là giếng của hy vọng? Tất cả đều là giả dối”. Tiếng pháo từ xa đùng đùng đoàng đoàng nổ, kinh thiên động địa.

Ma Nhã rời xa tôi đã chín tháng. Lúc mới đầu, những ngày không có Ma Nhã, tôi ngày ngày nằm trên giường dùng rượu và thuốc lá đuổi từng khắc thời gian trôi đi. Tôi xin thôi việc. Những đêm không ngủ, tôi lang thang nơi thành phố đèn hoa rượu ngọt, đài hoa tráng lệ này trong hình ảnh một thằng đàn ông u sầu, muốn lãng quên tất cả, muốn quên cả lối về. Tháng Năm, mẹ tôi đến thăm. Tình trạng của tôi làm mẹ lo lắng. Nhưng mẹ không còn trách mắng tôi như trước, bà chỉ im lặng dọn dẹp sạch căn phòng bừa bộn như bãi rác của tôi. Mẹ đã thay đổi, mẹ không còn đi sâu vào đời sống riêng tư của tôi. Trước khi đi, mẹ mới nói nhẹ một câu: “Tiểu Vĩ, phải cố gắng lên”.

Sau khi mẹ đi tôi bắt đầu ngẫm nghĩ lại những suy sụp cùng với những hành động hoang đường của tôi. Tôi cần phải làm điều gì đó. Trong đêm mệt mỏi sau ngày tết Lao động, tôi cầm bút lên bắt đầu câu chuyện này. Tôi muốn dùng nó để xoá đi hình ảnh Ma Nhã luôn lẩn khuất trong đầu. Tôi tránh không nhớ em, nhưng em tồn tại khắp nơi. Tôi không thể không công nhận, đây là câu chuyện tôi viết tặng em. Ma Nhã, anh yêu em, yêu điên cuồng, yêu bằng cả trái tim, yêu đến không lối thoát. Chỉ khi nghĩ đến em, anh mới tìm đúng lại được vị trí của mình.

Công việc viết lách của tôi ngắt đoạn, tản mạn, tuỳ hứng, không có hoạch định, giống như một bức vẽ nham nhở không có chủ đề. Tự nhiên cảm hứng đến không hề báo trước, thế rồi tôi cầm bút chạy theo mạch nước trào. Khi viết truyện, tôi rơi vào trạng thái hỗn độn của đối lập giữa hiện thực và ảo mộng. Rượu cồn, cùng thuốc lá, cùng những đêm vắng, cùng tâm trạng hỗn loạn làm tôi lại một lần nữa lạc lối, ý văn cạn kiệt. Tôi nghĩ tôi không phải là người thích hợp với công việc chỉ biết ngồi và viết. Tháng Bảy năm này, tôi xách theo chiếc túi đeo, bước ra khỏi cửa, lại lên đường. Cuộc hành trình này cũng không có lịch trình cụ thể, ra đi chính là mục đích. Nhưng cuối cùng ma xui quỷ khiến thế nào tôi lại quay về Yên Thuỷ.

Yên Thuỷ vào mùa hè năm 2004 giống như một người khổng lồ nửa kín nửa hở khoe mình với người khách lạ. Sắp tới, mặt trời như một đồng xu bị vứt từ trên cao xuống, lăn cuộn nơi đường chân trời. Ánh tà tím quyến rũ của những ký ức còn mới nguyên cũng không quay trở lại. Không còn sự giao thời e ấp nửa muốn nửa đừng, đêm thẳng đến. Tôi vào trọ lại ở nhà trọ mà ngày xưa tôi và Ma Nhã từng ở. Tất cả đều đã thay đổi, nhưng còn may nhà trọ chưa thay đổi.

Quá trình cải tạo Yên Thuỷ đã kết thúc. Từ bây giờ nó đã mất đi nét đặc trưng cá tính riêng của mình. Nó giống như cùng một khuôn đúc với những thành phố gọn gàng ngăn nắp khác. Tiệm ăn của Trần Thái Kiện không thấy đâu nữa, cửa hàng bánh kẹo của Đường Kiến Quốc cũng không thấy đâu nữa, chỉ có căn nhà núp trong con hẻm bị lãng quên của Vi Vi làm tôi cảm nhận lại sự chân thực của câu chuyện năm 1997, nhưng sự chân thực ấy cũng đã bị ngăn cách bởi một lớp kính dày, phủ đầy bụi, không thể sờ tới.

Vi Vi liệu có còn sống ở thành phố ven biển Đông Hải đó không? Con của hai đứa nó cũng phải sắp được ba tuổi rồi. Nó và Lã Yến luôn mơ ước có một gia đình hạnh phúc, bây giờ tâm nguyện của chúng đã thành hiện thực. Chúa trời luôn rất nhân hậu. Thế còn tôi? Năm mười sáu tuổi cô đơn một mình, đến bây giờ hai ba tuổi vẫn một mình cô đơn. Thời gian bảy năm chỉ để hoàn thành một vòng xoay luân hồi khép kín. Tôi nhớ đến biển mơ ước của tôi. Tôi đã lãng quên nhiều năm, biển vẫn ở nơi xa, tôi vẫn ở đây. Năm mười sáu tuổi, tôi thích ngẩng cao đầu nghiêm mặt dạy dỗ người khác, còn năm hai mươi ba tuổi, tôi lại thích làm bộ dễ thương, giả vờ ngơ ngác. Thời gian đã thay đổi tất cả, thay đổi cả chúng ta!

Nhà Vi Vi im lìm đóng chặt, những người hàng xóm cũ xung quanh cho tôi biết cô Hạ đã về quê sống. Họ ngưỡng mộ cô Hạ số sướng, đẻ được đứa con hiếu thảo. Vi Vi mỗi tháng đều gửi ba, bốn trăm về. Họ nói cô Hạ đúng là người có phúc lớn. Tôi mỉm cười, không nói.

Trong phòng trọ, tôi châm lên những ngọn nến. Hôm nay là sinh nhật của Ma Nhã, nhưng không tìm được trong chăn đệm nơi đây một chút hơi người Ma Nhã còn sót. Đêm chết lặng, tấm rèm cửa màu xanh rêu thấp thoáng ánh đèn của xe cộ qua lại. Tôi không thể tiếp tục chịu đựng sự cô độc, vùng dậy ra ngoài, tôi trở lại với đường phố.

Trên quảng trường với những thiết bị công cộng mới, nam nữ già trẻ đang ung dung dạo bước hóng gió. Xuyên qua quảng trường, người bắt đầu thưa thớt dần. Mực nước sông Yên Thuỷ dâng cao, phẫn nộ chà xát vào tấm thân bị con người huỷ hoại. Trong ký ức ánh đèn ven đê luôn hắt ra thứ ánh sáng giãy chết nay cũng thay gương mặt mới. Đèn điện sáng loá, trăng tròn trên cao, trên dưới giao chiếu, lấp lánh một vùng. Ngồi trên đê, để mặc gió thổi tung những chồng chất trong lòng, hiếm có một lần nhẹ nhõm như thế này.

Tôi nhìn thấy một cô gái, cách tôi không xa, tóc bồng tung, mặc một chiếc váy sắc xuân, tay kẹp điếu thuốc, lặng lẽ hút. Tim tôi đập mạnh. Tôi tưởng đó là Ma Nhã. Nhưng không phải. Tôi nói xin lỗi, tôi nhận nhầm người. Cô gái cười nhẽ, nói không sao. Mặt cô gái rất quen như đã từng gặp ở đâu. Cô rất giống Ma Nhã của tôi, cô lập, lãng quên bên mép ranh giới đám đông, tự sinh tự diệt.

Từ đê sông Yên Thuỷ quay về, tôi tiếp tục chui vào câu chuyện của mình. Tôi viết về cái đêm đáng nhớ, trên bến giáp ranh giữa hai con sông, một người đàn bà căm sợ tuổi tác đi vào cuộc đời tôi. Em nói em có tên là Ma Nhã. Ma Nhã là một đống đổ nát, nhưng nó đã từng huy hoàng, đã từng đông đúc, đã từng đúc hoa lệ. Thời gian nhấn chìm nó, nhưng lại một lần đánh thức nó dậy. Trải qua gió sương, tê dại, cam chịu câm lặng, đó chính là bí mật vĩnh hằng của nó.

Không để ý trời đã sáng. Cơn buồn ngủ kéo đến. Trong phòng toàn mùi thơm của nến. Tôi vươn dài vai, mặc kệ quần áo chưa thay nằm ụp xuống giường. Ma Nhã, cảm ơn em đem lại cho anh cảm giác buồn ngủ. Đừng khách khí, hãy vung đôi cánh của em bay vào giấc mơ anh.

Số phận định trước tôi sẽ phải bước chân vào quán rượu đó. Trong đêm trong vắt của tháng Bảy, trong đống cỏ ven đường vành đai bay ra từng con đom đóm tối sinh sáng chết, đám ve đang hát vang. Quán bar đó trông giống như từ “cô đơn” tượng hình, đột ngột mọc lên, không tranh chấp với đời. Đây không phải là khu vực trung tâm, khách không đông. Tôi gọi một ly nước chanh, chua đến tê răng. Quán bar đang mở bài nhạc của Phạm Hiểu Huyên. Trong túi CD của tôi cũng có đĩa này. Trong âm điệu luyến láy, cô ca sĩ mà tôi yêu thích đang luyến những âm từ khó hiểu hát lên tâm trạng phức tạp, ưa đổi thay. Âm vị ngoại lai, nhưng lại nhất định lấy một cái tên rất bản địa, Phúc, lộc, thọ. Vọng tưởng trở về, vọng tưởng gần kề, nhưng vẫn không vượt qua được làn sóng khói thuốc. Phạm Hiểu Huyên hát lên sự nghi hoặc, sự hỗn độn trong tôi, tuỳ hứng tách rời, cuối cùng quy thuận.

Ly nước chanh uống được một nửa, một cô gái đến gần ngồi xuống bên cạnh tôi. Cô nói: “Chúng ta đã từng gặp mặt, anh còn ấn tượng không?” Ánh đèn mờ ảo làm bộ tóc bồng của cô biến thành một thứ áp lực đè nặng, ngông cuồng, vô lễ. Cô gái nói: “Mời em uống một cốc được không?”

Cô gọi một ly rượu đỏ, tự mình châm một điếu thuốc, quay sang hỏi tôi: “Anh có hút không?”. Người cô toả ra mùi từng trải. Chúng tôi chắc chắn đã từng gặp, đã từng gặp từ lâu rất lâu rồi, tôi cố gắng nhớ lại nhưng không thể nhớ ra nổi. Những thứ mà tôi nhớ được chỉ là dưới ánh đèn thay triều đổi đại trên đê sông Yên Thuỷ, cô gái ấy ngồi gần chỗ tôi hút thuốc cô độc một mình. Còn bây giờ, cô đang cố gắng tìm kiếm một đề tài có thể xích gần với tôi. Tôi cuối cùng đã nghe rõ được hết các từ trong một câu Phạm Hiểu Huyên hát như reo lên trong micro: “Tôi của Paris, Paris, Paris”. Cô gái hỏi: “Anh ở đâu?” Tôi nói tôi ở nhà trọ, tôi không phải người ở đây. Cô nói: “Em biết anh không phải người ở đây, em ngày trước chưa hề thấy anh, nhưng cứ có cảm giác như đã từng gặp ở đâu đó. Trông anh rất quen.” Tôi sờ lên mặt, đám râu quanh cằm mấy tháng không cạo mọc chơm chởm rậm rạp. Tôi nói thật thế à? Cô nói tiếp: “Tối nay đến chỗ anh nhé! Em không có chỗ nào đi, được không anh?”

Tôi đưa cô về quán trọ tôi ở. Ông chủ quán trọ liếc qua chúng tôi, rồi lại tiếp tục cúi đầu chăm chú tính nốt chỗ tiền trong ngày. Tôi không biết sao lại đưa cô gái này về đây. Trong lúc cô tắm rửa trong phòng vệ sinh, tôi ngồi ngoài đốt hết điếu này đến điếu khác. Tôi tìm thấy trên người cô ta chút hương khí của Ma Nhã, thứ hương thơm ngọt. Có thể đây chính là lý do.

Cô gái quấn chiếc khăn tắm to bước từ trong ra. Đôi gò ngực cao ẩn hiện. Cô hỏi: “Anh có tắm không?” Tôi lắc đầu. Cô tụt chiếc khăn tắm xuống, để toàn bộ mình trần đối diện với tôi: “Em đẹp không?”. Tôi kinh ngạc trước vẻ đẹp trước mắt. Nhưng ngay lập tức tôi lại nhớ đến Ma Nhã. Ma Nhã như đang núp ở một góc tối nào đó trong gian phòng chăm chú theo dõi tôi. Tôi tát mình một cái, quay mặt nói: “Mặc quần áo vào đi”. Cô gái chạy lại ôm chặt tôi, năn nỉ: “Chỉ cần một trăm đồng, một trăm đồng thôi, đêm nay em sẽ là của anh”. Tôi đẩy cô gái ra, móc một tờ một trăm đặt xuống, đi thẳng ra cửa.

Tôi lấy thêm một phòng đơn nữa. Ông chủ quán trọ nghi hoặc nghiên cứu nhìn tôi. Hai má tôi đỏ bừng, tim đập nhanh. Tôi đã có một cơ hội phóng đãng với bản thân, nhưng lại chọn lựa từ chối. Đám bạn trâu chó của tôi thường nói thằng nào từ chối những cơ hội với các cô gái đẹp thường đến phân nửa là đầu óc có vấn đề. Đúng là tôi có vấn đề, tôi cổ hủ, tôi ngu dốt, gì cũng được. Những hoan lạc không xuất phát từ sự đồng cảm của tâm hồn làm tôi cảm thấy mình quay trở lại thành một con vật. Khắc chế và điều chỉnh bản thân là cần thiết để bảo vệ thành quả tiến hoá, bảo vệ tâm hồn trong sáng của chúng ta. Cho dù thời đại này có hay không coi việc vui vẻ xác thịt thành một thứ mốt thời đại, tôi vẫn kiên định là chính mình. Đi cùng, tiến kịp với đại nên là tư tưởng, chứ không phải là những hành động a dua.

Tâm trạng hỗn loạn, tôi nhét vào tai hai cái tai nghe, chọn lại bài hát Phúc, lộc, thọ. Tôi thưởng thức âm nhạc của Phạm Hiểu Huyên theo cách nghĩ của mình. Sự tự tin, bình tĩnh của cô đào tuyệt thế đã một đi không trở lại, cô lại một lần nữa giằng co, rạn nứt vì những bất an của chính mình. Chẳng ai hiểu cô đang hát những gì. Cô nguỵ trang mình thành một em gái thôn quê nhỏ bé, chối từ trưởng thành, không thừa nhận bước đi của năm tháng. Tôi lẽ nào không phải cũng như vậy? Tôi vọng tưởng trở về Yên Thuỷ là có thể quay về với tuổi mười sáu của tôi, nhưng trên thực tế, tất cả đều quá xa vời so với ước mơ ban đầu, như cực Nam và cực Bắc, tất cả đều đi ngược lại. Ông già thời gian đang nghiêm khắc theo dõi từng người chúng ta.

Cửa phòng mở. Cô gái kia khẽ bước vào. Tôi tắt máy nghe nhạc. Cô gái nói: “Xin lỗi đã làm phiền anh.” Tôi nói đáng lẽ câu này phải là tôi nói với cô mới phải. Cô gái nói: “Đây là cách duy nhất để em có thể tiếp tục sống. Em không biết làm gì.” Cô gái ra về. Trước khi ra cửa, dường như chợt nhớ ra điều gì, cô quay đầu lại nói: “Em tên là Lã Xuân”. Cô để tờ 100 tệ tôi đưa trong ngăn kéo bàn.

Tháng 7 năm 2004, cả một tháng Bảy tôi đều ở lại Yên Thuỷ, một thành phố xa lạ. Những con người tôi mong nhớ đều không biết đã đi về đâu, họ biến mất cùng với thành phố cũ, làm tôi hoài nghi tất cả những gì đã từng xảy ra ở đây nhiều năm trước. Công việc của tôi tiếp tục bị gác dở. Tôi không chắc trong đó có bao nhiêu phần trăm là hồi ức của tôi, bao nhiêu phần trăm là hư cấu, hay tất cả đều chỉ là hư cấu? Là tôi chỉ đã mơ một giấc mơ, mặc dù đã tỉnh lại, nhưng vẫn còn đang ngơ ngác. Sau đó một cô gái nói với tôi cô tên là Lã Xuân. Cô là người đi từ tuổi mười sáu của tôi đến, nói với tôi rằng không phải tôi đã mơ, tất cả đều là thực, chỉ có điều đã cách xa quá lâu, mọi thứ như đã ở hai thế giới khác.

Tôi không dám nói tên của mình, cũng may Lã Xuân không hỏi. Tôi thấy sự hoài nghi của mình thật nực cười, tôi tiếp tục cầm bút, cuộn mình một góc cắm đầu viết. Lã Xuân thỉnh thoảng cũng đến thăm tôi. Cô làm mọi thứ thật khẽ, cố không phát ra tiếng động để tránh ảnh hưởng đến mạch văn đang viết của tôi. Nhưng cho dù đã rất cố gắng, sự có mặt của cô vẫn làm tôi bối rối không yên, không thể viết tiếp. Lúc tôi dừng bút, cô hỏi: “Anh là nhà văn?”. Tôi trả lời là không. Cô lại hỏi: “Nhà báo?” Tôi cười méo xẹo, vứt cả tập bản thảo vào vali da. Tôi không thể cho cô biết tôi là ai. Trước mặt cô, tôi mang thân phận của một kẻ tội đồ.

Một hôm, tôi phát hiện Lã Xuân cắt ngắn tóc, ép thẳng, mặc một chiếc váy dài màu xanh nước biển, trông rất mộc mạc, còn có nét e thẹn. Cô nói cô đã tìm được một công việc mới, làm phục vụ trong một cửa hàng ăn. Mỗi ngày làm mười tiếng, thế nên chắc sẽ không còn thời gian đến thăm tôi. Tôi hỏi liệu thế có vất vả quá không? Chịu được không? Lã Xuân nói, sẽ mệt, nhưng đáng! Giọng nói mềm nhưng cương quyết, không còn vương chút hơi của buổi gặp lại ban đầu.

Câu chuyện của tôi thoát được nút cổ chai bí tắc, tôi quyết định rời Yên Thuỷ, nơi đây đã đọng lại quá nhiều những quyến luyến, day dứt của tôi. Một đêm cuối tháng Bảy, tôi từ biệt Lã Xuân lên đường. Nỗi thất vọng của Lã Xuân trải dài trong câu nói: “Nhanh thế ư? Anh có thể ở lại đây được không? Vì em”. Tôi mỉm cười nói: “Tôi có thể vì em ở lại, nhưng em hiểu đấy không liên quan đến tình yêu. Em không yêu tôi, em chỉ quá sợ hãi sự cô đơn.” Lã Xuân cắn chặt môi, cô nói: “Có thể em sẽ yêu anh thật, chỉ cần anh cho em thời gian”. Tôi lắc đầu hỏi cô: “Em tin vào trực giác không? Trực giác đang mách với tôi em đang nói dối. Chúng ta không thể. Tôi không phải là người em tìm. Người đó đang đợi em ở tương lai. Tin lời tôi đi, người đó đang đợi em.”

Chúng tôi đi dạo dọc theo đường vành đai. Đom đóm tháng Bảy lập loè lập loè, bay rất chậm rất chậm, nhẫn nại, kiên trì tìm kiếm. Chúng yêu đến thế ánh sáng, nhưng khi ban mai mờ tỏ, chúng lại lựa chọn nháo nhác chạy trốn. Màn đêm mới là sân khấu của chúng, chúng chỉ thuộc về màn đêm. Những kẻ lặn lội suốt đời tội nghiệp, tôi phải tạm biệt tất cả các bạn rồi. Tạm biệt nhé đom đóm, tạm biệt nhé Yên Thuỷ, tạm biệt nhé tuổi mười sáu tôi không thể quay trở lại.

Chúng tôi đi rất lâu rất lâu. Lã Xuân hít mạnh một hơi dài, lĩnh hội những gợi ý của cuộc sống, cô nói với tôi: “Cảm ơn anh. Là anh đã cứu rỗi em”. Tôi nói tôi không hề làm gì. Không ai có thể cứu rỗi ai. Cứu rỗi chính mình chỉ có cách dựa vào chính sự tỉnh táo và giác ngộ của mỗi chúng ta. Tôi nói với Lã Xuân: “Em còn nhớ năm mười sáu tuổi có một thằng bé tên là Nam Cung Vĩ? Là nó đã hại em, thế nên em không cần phải nói cảm ơn. Tôi không có tư cách để nghe em cảm ơn.” Lã Xuân cười rất nhẹ, cô nói: “Em biết anh là ai từ rất lâu rồi, trên thẻ đăng ký phòng trọ có tên anh, nhưng em vẫn muốn nói cảm ơn anh. Trước đây em luôn thấy mình rất bẩn thỉu, hèn hạ, nhưng anh nói với em không phải như thế. Em là một con người, có sự tôn nghiêm và tự hào của một con người được làm người”.

Ngày đầu tiên của tháng 11 năm 2004, cuối cùng tôi đã sắp kết thúc câu chuyện vắt kiệt tâm trí của tôi. Trong phòng vang nhẹ bài hát Singles của Phạm Hiểu Huyên. Mặt trời ấm áp. Tôi vẫn sẽ cảm thấy nghi hoặc, và vẫn sẽ bực bội, bất an, nhưng trong lòng có thêm một sự kỳ vọng vào hạnh phúc trong tương lai. Tôi cũng đã học được cách tiếp nhận, học được cách bằng lòng. Ma Nhã của tôi, hãy quay về đi, quay về bên cạnh tôi. Khi tôi đứng trong nắng hét gọi tên Ma Nhã, tôi biết câu chuyện của chúng tôi còn lâu, rất lâu mới kết thúc. Hai mươi ba tuổi, điều này chỉ có nghĩa là một sự bắt đầu mới.

– HẾT –

ĐOM ĐÓM NHỎ

THIÊN TỬ

NHÀ XUẤT BẢN DÂN TRÍ

Số 9, ngõ 26, phố Hoàng Cầu, Hà Nội

ĐT: (04) 63280438 – Fax: (04) 35149839

Email: nxbdantri@gmail.com

Chịu trách nhiệm xuất bản: TÔ ĐĂNG HẢI

Chịu trách nhiệm bản thảo: NGUYỄN PHAN HÁCH

Biên tập: NGUYỄN THỊ DINH

Vẽ bìa: TRỌNG KIÊN

Sửa bản in: NGỌC LINH

Chế bản: LAN HƯƠNG

In 2000 cuốn, khổ 13x20cm tại Nhà in Sự thật, NXBCTQG.

Số đăng ký KHXB: 327-2010/CXB-56-22/DT.

Quyết định XB số: 327-56/QĐXB/NXBDT.

In xong và gửi lưu chiểu tháng 7 năm 2010.

CẢM ƠN BẠN ĐÃ ĐỌC XONG CUỐN SÁCH ĐOM ĐÓM NHỎ CỦA THIÊN TỬ

E-BOOK NÀY ĐƯỢC XUẤT BẢN ĐIỆN TỬ BỞI absentMeow

— HOÀN THÀNH 07/2023 —

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Thiên Tử

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.