Chúng tôi quay lại Yên Thuỷ. Dọc trên phố, một đám trẻ con đeo cặp đi học, lúc này tôi mới ý thức được đã là tháng 9, đang là mùa khai trường. Tôi giục Vi Vi đến trường nhận lớp, nhưng nó chẳng thèm cựa quậy. Tôi nói: “Mày không học thì làm được gì?” Vi Vi trả lời: “Mày cũng không phải là không đi học đấy sao?” Tôi nhất thời tắc họng. Vi Vi nói: “Đi học có gì hay ho đâu?” Học, tất nhiên là tốt rồi, tôi không bao giờ vì chuyện bỏ học giữa chừng của mình mà phủ nhận điều này. Con người phải học thì mới hiểu trái phải, mới có trí tuệ. Tôi rất hối hận đã rời bỏ trường học, những kiến thức hạn hẹp mà tôi đã học được không đủ để vũ trang cho đầu óc đơn giản của tôi. Tôi nói: “Mày phải đi học. Mày mà không học thì chỉ thành đống rác bẩn thỉu thôi.”
Vi Vi gần như bị tôi áp giải đến trường. Thấy rõ nó rất không vui vẻ gì. Tôi nói lý lẽ cho nó nghe, thậm chí còn không tiếc lôi bản thân ra làm ví dụ: “Mày không có kiến thức, không có văn hoá, thì về sau cũng như tao đây này, chỉ có thể vất vả đi làm thuê khắp nơi kiếm sống thôi”. Tôi được dịp thể hiện tài hùng biện hùng hồn của một thuyết gia, tôi với khí thế đập bẹp tất cả nói cho Vi Vi không mở mồm được tiếng nào thêm.
Tôi tiếp tục bán hoa quả. Kinh doanh hoa quả quan trọng ở chữ “tươi”. Không có bất kỳ biện pháp bảo vệ nào, tất cả hàng tồn trong hầm kho của cô Hạ đã thối. Tôi treo bảng đại hạ giá 70% trước quầy hoa quả, lỗ vốn bán tống, lấy về được bao nhiêu biết bấy nhiêu. Ưu thế về giá làm người ta bỏ qua những vấn đề về mặt chất lượng, ngày đầu mở hàng của tôi đắt như tôm tươi. Thắng lợi lớn, trong vòng ba ngày, hàng đã sạch trơn. Tính lại tiền, thu được gần một nghìn tiền vốn, còn lại mấy thứ hoa quả thật sự không thể đem ra bán được, tôi đổ vào thùng rác.
Ngồi đằng sau cửa sổ, tôi nhấm nước bọt xoẹt xoẹt đếm, đúng bộ dạng của một thằng tham tiền, trong lòng đầy hưng phấn, cứ như tám đời chưa sờ được đến tiền lần nào. Trước đây, tôi cũng từng có thời gian làm một địa chủ nhỏ. Tôi cũng có chút đầu óc kinh doanh đấy. Từ năm mười tuổi, tôi tích luỹ từng đồng xu một, đến năm mười lăm, tôi đã tích đủ 2000. Mùa hè năm mười lăm tuổi, tôi bắt đầu không biết điểm dừng trước từ điển và âm nhạc, không biết tiếc tiền bỏ ra 800 tệ để mua cái máy catxet Sony. Vì việc này mà mẹ tôi cứ mắng mãi. Tôi nghĩ tôi bỏ tiền của tôi ra mua liên quan gì đến mẹ? Thế nên không những không nhẹ bớt tay, tôi ngược lại càng lấn lướt, mua luôn mấy ngăn kéo băng catxet. Tôi có thói quen đọc từ điển khi nghe nhạc, “Từ nguồn”, “Từ hải”, “Từ điển thành ngữ tiếng Hán”, “Từ điển danh nhân thế giới”, “Từ điển thưởng thức thơ cổ”, “Từ điển danh mục tra cứu khoa học mới”, “Từ điển sức khoẻ gia đình”… tất cả một loạt các loại từ điển đều là lúc đó tôi lên cơn mua về để trên kệ sách… Tiết kiệm luyện mười năm mới được, hoang tàn chỉ một ngày là xong. Cái cảm giác tiêu tiền mới tuyệt vời làm sao. Tôi nào có ngờ rồi có một ngày mình phải đau đầu vì tiền? Nghĩ lại những ngày vung tay tiêu tiền của mình, tôi đau lòng tiếc của đến mức chỉ muốn tạt tai thằng Nam Cung mười lăm tuổi ấy mấy phát. Tôi thậm chí còn giận mẹ ngoại trừ trách móc, không biết sử dụng thêm bất kỳ biện pháp mạnh nào để ngăn chặn sự hoang phí của tôi!
Cầm tiền trên tay, tôi đếm hết lần này đến lần khác, cho đến tận khi thằng điên thành phố chân đi hành quân, mồm hô khẩu hiệu bước ngang qua.
Tháng Chín, trời oi, người bực bội. Thằng điên tay vung que tre hét: “Mốt hai mốt, mốt hai mốt, ngựa tây gót cao quá đáng, mốt hai mốt, mốt hai mốt, ngựa tây gót cao quá đáng.” Đây là một bài đồng dao rất thịnh hành thời tôi còn bé, chúng tôi gọi xe đạp là con ngựa tây, nhưng tôi chưa bao giờ hiểu được bài đồng dao này muốn biểu đạt điều gì.
Thằng điên đi đến đứng trước thùng rác góc đối diện cửa sổ nơi tôi ngồi. Trong thùng là đống hoa quả thối nát mà tôi vừa sàng lọc vứt đi. Mùi ngọt của hoa quả vẫy gọi đám nhặng đến khiêu chiến với lũ kiến, thùng rác đó là căn nhà hạnh phúc của đám ruồi muỗi chuột kiến. Thằng điên không tiếp tục hô khẩu hiệu nữa, nó cắm que tre vào cái thắt lưng bấm được kéo lên tận ngực, mồm lẩm bẩm gì đó, cong người, trèo lên đống rác, vớ lấy một nắm hoa quả thối, rôm rốp cắn nhai nuốt, hớn hở ra mặt.
Thằng điên mặc kệ bẩn hay không bẩn, niềm vui trên mặt nó làm tôi trợn mắt nhìn, tiếp sau đó là một nỗi chua xót trào dâng. Tôi hiểu rằng trên thế giới này vẫn còn nhiều lắm những con người sống thấp hèn. Họ hiểu rõ cuộc sống của mình, vậy nên hoặc phấn đấu cố gắng, tìm cách thay đổi, hoặc trách người trách trời, được sao hay vậy. Dù sao họ luôn có những phán đoán khách quan về bản thân. Nhưng còn thằng điên kia, mơ mơ màng màng, nửa khôn nửa dại. Những người đang sống cuộc sống thấp hèn nhưng không ý thức được sự thấp hèn của mình, điều này làm người ta chua xót hơn bất kỳ điều gì khác. Tôi nắm chặt tiền, quay mặt đi chỗ khác, tôi sợ phải nhìn thấy cuộc sống ảm đạm đang loã lồ trước mắt.
Lã Hữu Tài chính là Lã Tam. Cô Hạ ngày trước đều lấy hàng ở chỗ Lã Tam. Sự việc vỡ lở, Lã Tam cùng đồng bọn phải vào tù, vợ của lão rõ ràng không hiểu mánh khoé làm ăn, cửa hàng bán buôn hoa quả vang bóng một thời của Lã Tam đã trở nên tiêu điều hoang vắng. Vợ của Lã Tam nhận ra tôi ngay lúc tôi vào chợ bán buôn hoa quả. Mụ dẫn theo hai bông hoa sinh đôi xông ra nhổ nước bọt vào tôi. Tôi vốn định đến chăm sóc cho công việc kinh doanh của hàng mụ, nhưng gặp tình huống này, tôi đành đi tìm minh quân mới vậy.
Tôi kéo một xe táo Yên Đài về. Hôm nay là thứ Bảy, Vi Vi buổi tối không phải lên lớp tự học. Tôi bê từng hòm hoa quả đặt xuống phòng hầm, Vi Vi cuộn tròn nằm hóng gió quạt trên sofa gỗ xem Cối xay gió, chú rùa ngây thơ vô tội mặt nhăn nheo kia làm nó cười khà khà khoái chí. Tôi mệt như một con chó, nó thì nằm đấy cơm đến tận miệng, nước đến tận mồm. Tôi tự nhiên nổi đoá, vứt bịch thùng hoa quả xuống đất, gào vào mặt Vi Vi: “Mày động tay giúp chút được không? Mày không thấy tao mệt không còn ra dạng người nữa à?”. Vi Vi nói: “Tự mày muốn thế, bây giờ kêu gì?” Tôi cáu: “Tao không vất vả thế này lấy đâu ra tiền mà sống?” Vi Vi nói: “Tao có tiền.” Nó còn làm bộ bí mật bổ sung thêm một câu: “Rất nhiều tiền.” Tôi biết cô Hạ có để cho Vi Vi một cuốn sổ tiết kiệm, số tiền trong đó đủ để cho tôi và Vi Vi sống nhàn hạ năm hai năm ở Yên Thuỷ này mà không có vấn đề gì. Nhưng không làm mà ăn đối với tôi điều đó có nghĩa tôi sắp biến thành con ký sinh trùng. Suy nghĩ lúc đó khác xa năm tôi 23 tuổi. Năm 23 tuổi này, tôi vắt kiệt óc tìm cách hoá thân thành ký sinh trùng của xã hội, tôi đã thấy quá nhiều người vất vả suốt đời nhưng chỉ có một cuộc sống tạm bợ, còn một số những kẻ khác chơi bời cả ngày lại có thể cơm ngon áo đẹp, đêm đêm đàn hát. Sự bất công bằng về phân phối tài nguyên của giai đoạn sơ cấp của chủ nghĩa xã hội làm tôi nảy sinh ra ý tưởng tội lỗi này. Tôi nghĩ dựa vào đâu mà có người chỉ được làm dân hèn, còn có kẻ lại là quý tộc? Xem trên kênh quốc tế đài trung ương đang long trọng giới thiệu về lễ cưới của hoàng gia Tây Ban Nha, tôi hận không thể chạy ngay đến Tây Ban Nha để biểu tình thị uy, làm một chiến sĩ bảo vệ nền văn minh, phản đối triều đình phong kiến. Suy nghĩ này có lẽ rất không bình thường, nhưng chỉ trích những suy nghĩ này phải chăng nên chỉ trích căn nguyên sản sinh ra những suy nghĩ này thì hơn?
Trở lại buổi chiều năm 1997 đó, tôi nói với Vi Vi: “Mẹ mày còn trong tù, mày thì ngồi đấy mà hưởng thụ, mày không thấy xấu hổ à? Hơn nữa câu “miệng ăn núi lở” chắc mày nghe rồi chứ? Mày định dựa vào một quyển sổ tiết kiệm sống cả đời à?”. Tôi càng nói càng thấy tức, cuối cùng đóng sầm cửa nhốt mình trong phòng Vi Vi. Thằng nào nói tao phải có nghĩa vụ chăm bẵm một đại thiếu gia như mày? Tao với mày cứ thử xem, xem thằng nào thua thằng nào.
Sự trẻ con làm tính xấu tôi lộ rõ. Bình tĩnh lại, tôi hiểu đây là điểm yếu chết người của tôi, tôi cũng vẫn cố gắng thay đổi, nỗ lực hết sức làm một thành viên đủ tiêu chuẩn của xã hội, nhưng tôi không sao sửa được tính này, vì điều này tôi khổ không ít.
Tôi nằm vật ra giường tủi thân. Mặc dù nhà tôi bố mẹ rất nghiêm khắc, nhưng dù gì tôi cũng vẫn là hòn ngọc của bố mẹ, tôi hứng lên làm ít việc nhà, mẹ tôi đã mừng muốn chết, mẹ mà biết hai bàn tay mềm mại của con trai mẹ đã mọc đầy nốt chai, mẹ sẽ nghĩ gì? Sao tôi phải chịu cảnh khổ này? Hết việc tìm việc, tôi thật sự nghi ngờ đầu mình có vấn đề.
Tôi nằm nghĩ rất lâu, Vi Vi gõ bên ngoài cửa. Nó nói: “Nam Cung, đói chưa?” Tôi nói vọng ra: “Mày có tiền đi mà ăn tiệm, đừng có hy vọng tao nấu cho mà ăn.” Vi Vi nói: “Nam Cung, cơm nấu xong rồi, ra ăn đi, giận tao chuyện nhỏ, chết đói chuyện lớn đấy.”
Vi Vi phá lệ lần đầu xuống bếp nấu ăn. Cực khó ăn, cơm chưa chín kỹ, canh trứng cà chua mặn đắng, giá đỗ chưa ngắt cuống, ăn giắt hết răng. Tôi mặc dù cũng chỉ là loại tàng nhàng, nhưng chắc chắn ngon hơn nó nhiều. Tôi hỏi: “Cái này người ăn được à?” Nó nói: “Mày đừng hà khắc quá, tao lần đầu cầm đũa nấu, mày có phúc lớn đấy, mày phải cảm thấy vinh dự mới phải.” Tôi hoàn toàn không hề muốn đả kích Vi Vi, ngược lại tôi còn muốn cổ vũ Vi Vi tiếp tục cố gắng, thế nên tôi thay đổi khẩu khí: “Đúng rồi, đúng rồi, tao vinh dự, tao cầu mong ngày nào cũng được vinh dự như thế này”. Vi Vi nói: “Mày đừng có mơ, tao còn lâu mới mắc bẫy của mày.”
Chủ nhật, Vi Vi giúp tôi coi hàng, tôi nói có việc đi ra ngoài một lúc. Thật ra tôi đi mua quần áo, mua giày, mua một lọ thuốc trị mụn giá 80 đồng một bình. Sáng sớm tôi nhìn vào gương kiểm tra lại mình, trứng cá đã thành công chiếm cứ toàn bộ vùng trán của tôi, bắt đầu lan đến hai vùng thái dương, đặc biệt là vùng thái dương bên trái, một nụ trứng cá chín mọng đỏ hồng rực rỡ chuẩn bị nở bung. Tôi hạ độc thủ, nặn ra một giọt mủ làm người ta muốn nôn.
Sau một hồi vứt tiền đổi một đống đồ về, tôi vẫn tranh thủ tắm táp. Rồi không thể chờ thêm nữa, tối lôi luôn lọ thuốc trị mụn giá không hề rẻ ra để thử xem công hiệu thần kỳ của nó, sau đó thay bộ đồ mới mua. Tôi vẫn rất không thích mặc đồ của Vi Vi. Trang điểm cho mình từ đầu đến chân xong, tôi lập tức mặt mũi rạng rỡ, tinh thần phơi phới. Tôi vung chân vung tay bước dài đi thế chỗ Vi Vi. Ai ngờ lúc tôi không có mặt, Vi Vi đã kịp làm một vụ động trời.
Trước quầy hoa quả một đám người đang vây quanh. Một bà tuổi trung niên đeo băng huy đỏ trên tay áo đang mồm nói tay nói trước mặt Vi Vi. Vi Vi nghênh mặt lãnh đạm nhìn. Tôi lách đám đông đi vào. Lúc này tôi mới biết bà trung tuổi kia đang tuyên truyền chính sách cho Vi Vi. Bày bán bên lề đường mỗi tháng đều phải nộp tiền chiếm dụng lề, tiền quản lý, tiền vệ sinh, và còn một lệ phí vô lý nữa như là tiền kế hoạch sinh đẻ. Tổng cộng 7 đồng 5 hào. Bà phụ trách uy hiếp nói, không nộp tiền bà sẽ thu toàn bộ hàng đang bán của chúng tôi, thu hồi giấy phép kinh doanh lẻ. Chắc chắn là thái độ ngạo mạn, hách dịch của bà làm Vi Vi nổi đoá, Vi Vi nói: “Tôi Lưu Vi cái gì cũng phục, nhưng không biết phục quyền thế, bà thích gì cứ tự nhiên, đừng khách sáo”. Vi Vi nói thì dễ lắm. Tôi nghe xong cuống hết người, chỉ sợ bà cô tổ thân mang trọng trách, mặt đầy nám nâu kia làm thật. Bà trung tuổi mặt đầy những vết nám kia trông không hề mát tính chút nào. Cô giáo năm cấp 2 của tôi cũng vậy, bọn cùng lớp nói đây là biểu hiện điển hình của thời kỳ tiền mãn kinh, vì thế đối với những nhân vật này tôi đều thực hiện chính sách mềm dẻo. Tôi đẩy Vi Vi sang một bên, cười tươi nói: “Cô đừng chấp nó, nộp phí phải không ạ? Phải nộp bao nhiêu cháu nộp hết, không thiếu cô một xu”.
Mọi người giải tán hết xong, tôi đứng giậm chân đập cái hòm giấy phê bình Vi Vi nóng nảy lỗ mãng. Vị Vi cãi: “Mày không thấy bộ dạng của bà đó à? Cáo mượn uy hổ, không thể chấp nhận được, cứ như muốn nuốt chửng con nhà người ta.” Tôi bảo tiền đó đáng phải nộp. Vi Vi hỏi: “Nam Cung, mày thật thích cuộc sống thế này sao? Mày thật chịu được để người khác sai đi sai lại sao?” Tôi trầm xuống. Vi Vi, mày bảo tao phải trả lời sao đây? Tao cũng giống như mày căm ghét bọn cậy thế lên mặt, đem quyền lực đe doạ làm biện pháp duy nhất để giải quyết các loại mâu thuẫn. Đúng thế, tao với mày đều giống nhau. Nhưng chúng ta có cách nào khác? Mày phải hiểu, thế giới này không phải vì mày mà tồn tại, mày chỉ có cách học cách thích ứng, mày đừng ảo tưởng mình là trung tâm của vũ trụ.
Tôi nói: “Vi Vi, mày đừng kích động tao. Lời của mày làm tao thấy như mình mất đi cái gì đó.”
Tôi đánh mất đi niềm kiêu hãnh thuần khiết của mình. Đây có phải là cái giá bắt buộc phải trả để trưởng thành? Trẻ con không cần giấu giếm sự yêu ghét của mình, còn người lớn lại bắt buộc giấu những cảm xúc thật của mình thật sâu tận đáy tâm hồn. Tôi bắt đầu do dự nên tiếp tục làm một đứa trẻ nhỏ hay nên nhanh chóng lớn lên? Tại sao chúng ta để có được một thứ gì đó sẽ mất đi một thứ khác? Tôi đã thay đổi trở nên khéo ứng phó sự đời, nhưng so với những gì tôi đã mất đi, cái gì mới đáng quý hơn?
Có thể câu nói của Vi Vi chạm vào nỗi đau của tôi, cũng có thể tôi đã thấy chán ghét cuộc sống sáng dọn hàng tối thu hàng, mưa nắng không thay đổi này rồi, cũng có thể do những nguyên nhân mà bản thân tôi cũng không thể nói rõ, tôi bắt đầu ngó nghiêng đến quyển sổ tiết kiệm của Vi Vi. Tôi muốn Vi Vi bỏ ra một ít đầu tư thuê một địa điểm, như thế làm ăn trông ra dáng hơn. Vi Vi không hề do dự, khảng khái mở hầu bao. Tôi đứng ra thuê một cửa hàng khoảng 10 mét vuông ngay gần bến xe Yên Thuỷ, treo bên ngoài tấm biển gỗ trên viết “Hàng hoa quả giá phải chăng”.
Thời gian chuẩn bị ngốn mất bảy, tám ngày, sửa sang qua quýt cửa hàng. Tôi chia hoa quả thành từng loại bày đầy lên những chiếc giá gỗ và trong các thùng đan, những quả chuối tươi ngon nhất được tôi treo lên trên cửa. Vi Vi tặc lưỡi nói: “Không tồi, không tồi, cũng giống ra phết. Nam Cung, mày sắp thành thần tượng của tao rồi đấy.” Tôi nói: “Cút mày đi, không cần mày nịnh bợ, tao không có tiền lẻ đâu.” Vi Vi nói: “Nói thật đấy, tao thấy mày lúc nào cũng đầy sức sống, cái gì cũng làm được.” Thế nào gọi là “Cho vàng cho bạc không bằng cho câu hát mát lòng”, câu khen ngợi của Vi Vi rất phát huy tác dụng với tôi.
Tôi quyết định chọn ngày mở hàng vào 18. Tám bát tất phát, mười tám là con số may mắn của dân làm ăn. Bạn cũng đừng để ý đây là mê tín hay không, chí ít đây là một sự ám thị tâm lý giúp người ta phấn chấn hơn. Sự cẩn thận của người Trung Quốc trong việc lựa chọn các con số có thể mở một khoa nghiên cứu riêng. Mẹ tôi lúc lắp điện thoại có đánh chết cũng không nhận số có số 4 ở cuối, mẹ cho rằng không may mắn. Nhờ sự ảnh hưởng di truyền từ mẹ, trong việc chọn ngày lựa tháng tôi cũng không chút hàm hồ, cẩn thận từng li từng tí.
Các ngày mùng Hai, mùng Năm, mùng Tám mỗi tháng đều là ngày hội chợ ở Yên Thuỷ. Mọi người từ khắp nơi xung quanh tập trung về đây, trên đường phố từng tốp người bàn tán đùa nghịch, nhộn nhịp khác thường. Bến xe lại càng đông, toàn đầu người là đầu người, một mình tôi bán không hết khách. Chiều tối đóng cửa, thu dọn xong, ngồi đếm tiền mà lòng tôi như muốn hát. Xem ra nước cờ này tôi đi quá đúng. Tính sơ qua một ngày hôm nay, tiền lãi của tôi đã vượt ngưỡng 300 tệ. Ngày xưa, một tháng cô Hạ chỉ cho tôi 300 đồng tiền công, tôi đã cảm kích muốn rơi nước mắt, mà không biết thật ra mình đang bị bóc lột thậm tệ. Nhưng tôi vẫn rất biết ơn cô trong lúc tôi đói rách mệt mỏi đã dang tay giúp đỡ, việc này và việc tôi căm giận cô là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Chí ít, giờ phút này đây, tôi đã phân rất rạch ròi hai thứ đó.
Tôi nói với Vi Vi: “Vi Vi, mày đoán xem hôm nay chúng mình kiếm được bao nhiêu?” Không để Vi Vi có thời gian nói ra bất kỳ con số nào, tôi hưng phấn tiếp tục: “Ngày nào cũng được như thế này thì bốn thứ hiện đại hoá chỉ là chuyện nhỏ”. “Bốn thứ hiện đại hoá” là một câu tôi mượn dùng tạm, nó từng rất thịnh hành trong một nhóm thanh niên thích nằm mơ ban ngày trong một thời kỳ, cụ thể hoá gồm di động, máy trò chơi điện tử, xe máy và máy tính. Vi Vi không chút hứng thú với tương lai tươi đẹp tôi đang vẽ ra trước mặt nó, thái độ cực kỳ đối phó “ừ” lên một tiếng.
Phòng cô Hạ vẫn để trống từ hôm đấy, tôi không chịu dọn qua ở, Vi Vi cũng không chịu, chúng tôi đành phải tiếp tục thương lượng nhau chia phần chăn và giường. Vi Vi bây giờ ngủ ngoan hơn nhiều rồi, thỉnh thoảng nó có đạp tôi một phát tôi cũng cho qua. Đêm hôm nay, nó đạp tôi liền mấy phát, tôi lồm cồm bò dậy, cảm thấy đùi và sườn ê ẩm đau. Điên tiết, ngay cả tối cũng không cho người khác ngủ ngon lành, tôi quyết phải nghiêm khắc cảnh cáo nó mới được.
Bật đèn ngủ, Vi Vi nằm cuộn tròn như con chó con, người run rẩy. Dưới ánh đèn, gương mặt màu đồng của nó như phủ lên một lớp lụa bạch mỏng, nước mắt vẫn còn lóng lánh chảy trên đó. Tôi giật mình, lay Vi Vi tỉnh dậy hỏi: “Vi Vi, mày sao thế?”. Vi Vi ngỡ ngàng mở mắt, trên má vẫn còn đọng hai giọt nước mắt. Nó nói: “Trời sáng rồi à?” Tôi nói: “Mày khóc, sao mày khóc?” Vi Vi đưa tay sờ lên má, “ư” lên một tiếng, nói: “Tao khóc thật à? Chắc là nằm mơ”. Tôi hỏi tiếp: “Mày mơ thấy gì thế?” Vi Vi nói: “Quên rồi.” Tôi không tin, nó thề thốt: “Tao mà lừa mày tao bị mù”. Câu thề này hơi nghiêm trọng. Tôi nói: “Tao tin rồi, mày có cần thề độc thế không?”
Vi Vi và tôi đều là những chàng thanh niên can đảm, nước mắt của chúng tôi không bao giờ chảy trước mặt người khác, chúng tôi trốn vào khóc trong những giấc mơ, ngọt ngào mà cũng chua xót. Tôi miệng thì nói là tin, nhưng thật tâm thì chẳng tin chút nào. Nhiều năm sau, khi tôi nằm ngủ bên cạnh Ma Nhã, bật khóc tỉnh dậy, Ma Nhã hỏi tôi nguyên nhân, tôi chỉ có thể giải thích rằng tôi nằm mơ, một giấc mơ rất dài và nặng nề, nhưng tôi không thể nhớ lại, dù chỉ là một chút. Cũng có thể là vì tôi muốn quên đi những nỗi đau và tuyệt vọng đang đè nặng trong tôi, những lúc tỉnh không dám động vào, chỉ khi trở về trong mơ mới có đủ dũng khí liếc qua. Tôi nói: “Ma Nhã đừng truy tìm quá khứ của anh, em chỉ cần biết anh yêu em là đủ rồi. Anh không dám tin vào quá khứ, cũng không như anh không thể nắm vững tương lai, lúc này đây, cái anh cần là em cũng yêu anh. Chỉ có tình yêu mới có thể xoa dịu cuộc sống dao động bất ổn này.”
Người Yên Thuỷ gọi những ngày không có hội chợ là ngày lạnh trời. Trong những ngày này, việc buôn bán của cửa hàng hoa quả rất không được như mong muốn, bình quân thu nhập mỗi ngày chỉ có năm sáu mươi đồng, nhưng dù gì cũng tốt chán so với bày bán bên vệ đường. Người mua vẫn tin tưởng hàng bán trong quầy hơn. Không có khách đến mua hàng, ngồi không rỗi việc, chỉ đơn thuần là để ngốn thời gian, tôi đến tiệm thuê sách, đặt cọc 10 đồng thuê một cuốn tiểu thuyết võ hiệp. Sách đã bị giở nhiều nên rất rách nát, lại còn mất rất nhiều trang, những cái này tôi vẫn đều có thể chấp nhận được, cái làm tôi không thể chịu đựng được là hàng loạt từ sai chính tả trong đó, rất rõ ràng đây là sách đạo bản in lậu. “Đạo bản” là một từ vừa chính xác, vừa hình tượng, “đạo” không chỉ là chỉ sự ăn cắp, mà còn mang ý nghĩa ăn cắp trắng trợn. Tôi đem trả sách lại cho hàng thuê sách, tuyên bố với ông chủ hàng cho thuê sách rằng quyển truyện này không có chút hấp dẫn nào với tôi, thậm chí làm tôi phản cảm. Ông chủ hàng thuê sách không hiểu ý tôi nói, vẫn tiếp tục ra sức giới thiệu những quyển truyện khác, phần lớn vẫn là đồ in lậu, tôi thất vọng tột bực. Tôi thấy những tác giả có tác phẩm bị ngang nhiên đạo chích thật tội nghiệp, họ vắt kiệt ý thơ chỉ để làm giàu cho những kẻ xuất bản lậu.
Trở lại hàng hoa quả, mắt chợt nhìn thấy nhìn tờ báo cũ nhét đầy trong các thùng giấy dùng để chống ẩm, tôi tiện tay rút ra một tờ, trang mục thời sự quốc tế dày đặc những hình và chữ, toát ra mùi thuốc súng nồng nặc, loài người vẫn tiếp tục tối tăm ngu muội, tàn sát lẫn nhau, dường như hoà bình chỉ mãi là khẩu hiệu được hô vang trong tưởng tượng. Tôi lướt qua một lượt tờ báo, cuối trang báo có một mẩu tin ngắn thu hút sự chú ý của tôi, mắt tôi chợt sáng: “Điện tin – Ngày 3 tháng 3 năm 1997, phía quan chức Cuba thông báo, gần đây một nhóm chuyên gia do Cuba và Bolivia hợp thành đã phát hiện ra di hài của Guevara tại Bolivia…”.
Đọc mấy dòng chữ này, tim tôi đập nhanh, máu trong mạch phụt trào. Guevara, thần tượng của tôi, trong thời khắc sắp đến kỷ niệm 30 năm ngày mất của anh, giờ linh hồn anh đã có thể yên nghỉ. Đây là một tin tốt đẹp lớn, thế mà tờ báo này chỉ chịu dùng một tin ngắn ở cuối trang báo để đăng tải, về việc này tôi đặc biệt không hài lòng. Tôi quyết định phải làm cái gì đó để thể hiện sự vui mừng, hưng phấn của tôi.
Tôi đóng cửa hàng sớm, mua một bình rượu mạnh, bày la liệt một bàn toàn thức ăn ngon, lôi cái áo có in hình Guevara ra treo trên tường: Nâng cốc, cúi đầu trước anh, người anh hùng của tôi, chiến sĩ vĩ đại của tôi, nhà thám hiểm không tiếc hy sinh thân mình cho sự phồn vinh của chân lý của tôi. Anh sống mãi trong lý tưởng cách mạng của mình, dù chết cũng không thay đổi. Sức mạnh gì giúp anh giữ vững lòng trung kiên với niềm tin của mình? Khi những kẻ thẩm tra tàn ác lần cuối hỏi anh đang nghĩ gì, anh kiên định trả lời: “Tôi đang nghĩ, cách mạng sẽ vĩnh viễn trường tồn. Cách mạng vĩnh viễn trường tồn, những người theo đuổi sự nghiệp cách mạng cũng sẽ vĩnh viễn trường tồn”.
Lúc Vi Vi về đến nhà thì tôi đã là đà say, cảnh tượng này làm nó không khỏi kinh ngạc. Vi Vi hỏi: “Mày nóng đầu à?” Tôi nói: “Tao thích.” Vi Vi lại hỏi: “Có chuyện gì mà vui thế?” Tôi chỉ tay lên tường nói: “Vì người anh hùng này.” Vi Vi chẳng hiểu đầu cua tay nheo ra sao, ngơ ngác hỏi: “Nó là ai? Minh tinh màn bạc Hollywood à?”. Tôi mắt sắp tuột khỏi tròng, hét lên: “Vớ vẩn, vớ vẩn!”. Vi Vi đúng là thằng óc bã đậu, Guevara mà nó dám nghĩ là các ngôi sao điện ảnh. Nó không biết Guevara là cái gai trong mắt, cái đinh trong thịt Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, chính được sự hậu thuẫn của Mỹ mà chính phủ Bolivia mới dám sát hại anh, và giấu biệt tăm tin tức về thi hài của anh.
Tôi quyết định tiến hành một lần phổ cập kiến thức cho Vi Vi. Tôi gọi Vi Vi đến bên ngồi, rồi đem hết vốn kiến thức có trong túi trút hết ra cho nó. Tôi bắt đầu: “Guevara sinh ngày 14 tháng 6 năm 1928 tại một gia đình tư bản kiêm chủ trại vườn tại thành phố Rosario của Argentina. Anh là con trai cả trong nhà, từ nhỏ đã hay ốm đau bệnh tật, thế nên khi trưởng thành anh quyết định đi theo ngành y, tạo phúc cho nhân loại. Nhưng những sự bất công, những cùng cực của con người trên thế gian làm anh thấy rõ sự yếu đuối của y học, muốn thay đổi tận gốc hiện trạng đau thương này vấn đề tiên quyết là phải phát động một cuộc cách mạng. Vì thế anh từ bỏ y đi làm cách mạng trở thành người đồng chí, người bạn chiến đấu thân thiết của nhà lãnh đạo cách mạng Cuba Fidel Castro chinh chiến bắc nam, giành lại những thắng lợi to lớn cho cách mạng Cuba. Nhưng khi ông phát hiện sau chiến thắng, những người làm cách mạng chỉ chăm chú vào việc chia chiến lợi phẩm, chìm đắm trong vật chất và gái đẹp, anh đã từ bỏ tất cả các chức vụ và danh lợi tại quốc gia mà anh đã tham gia đóng góp vào sự hình thành của nó, một lần nữa lựa chọn dấn thân vào cuộc chiến đấu chống chủ nghĩa đế quốc và độc quyền phát xít, lần lượt đi đến Congo ở Nam Phi, đến Bolivia ở châu Mỹ Latinh bắt đầu lại từ đầu. Chiều ngày 8 tháng 10 năm 1967, Guevara không may bị bắt, chiều mùng 9 tháng 10 bị đem ra trường bắn, khi mất anh mới 39 tuổi. Trong lá thư để lại cho con mình, anh viết như thế này: “Bố của các con là một người như thế, ông nghĩ thế nào thì làm thế nấy, không hề do dự, ông trung thành với niềm tin, với tín ngưỡng của mình”. Anh dạy bảo các con mình: “Các con phải có ý thức chiến đấu mãnh liệt với bất kỳ hiện tượng phi chính nghĩa nào tại bất kỳ nơi đâu trên thế giới. Đây chính là phẩm chất cao quý nhất của một nhà cách mạng.”
Vi Vi ban đầu còn nhăn nhở cười, dần dần ngồi ngay ngắn, vẻ mặt nghiêm túc, chăm chú nghe tôi thao thao bất tuyệt. Nghe tôi kể xong, Vi Vi im lặng hồi lâu, rồi nó giằng lấy bình rượu, tự rót cho mình một cốc, đứng lên nói lớn: “Tao cũng muốn chúc anh một cốc! Không, tao muốn chúc hai cốc, ba cốc, bảy tám chín mười cốc!”.
Tối hôm đó tôi và Vi Vi đều uống say. Tôi chưa bao giờ cảm thấy tôi và Vi Vi gần gũi thân thiết đến như vậy, bức tường vô hình lúc ẩn lúc hiện ngăn cách giữa tôi và nó đã sụp đổ mất tăm. Vi Vi hiểu được sự sùng bái của tôi dành cho Guevara. Mặc dù Guevara chưa được coi là nhà cách mạng vĩ đại nhất, anh có những lúc có những phán đoán sai lầm về thời cuộc, chính sách cải cách kinh tế anh đề ra tại Cuba có phần quá cấp tiến; trong các hoạt động quân sự, những ý nghĩ quá lý tưởng hoá của anh có chút ấu trĩ…, nhưng tất cả các điều này đều không ảnh hưởng đến việc anh trở thành niềm vinh dự của chủ nghĩa lý tưởng đơn thuần. Những cá tính riêng của anh vì được sự tin tưởng, theo đuổi đến cùng mà rực sáng, đây cũng chính là lý do mà tôi mê đắm Guevara.
Kiên trì với lý tưởng của mình là một việc hoàn toàn không dễ dàng gì, Guevara đã làm được, trên góc độ này mà nói, anh xứng đáng với hai chữ “Con Người”. Thậm chí, tôi còn có lúc vô ý lúc cố ý thần hoá anh. Đưa một con người bằng xương bằng thịt trở thành thần tượng cho tín ngưỡng của mình, nói trắng ra, đây chính là một hoạt động tạo thần thầm lặng. Tôi thấy chúng ta ai cũng cần có một vị thần cho tín ngưỡng của riêng mình, vị “thần” này có những thứ bạn mong muốn có nhưng không thể thực hiện được. Bạn đem tất cả những phẩm chất cao đẹp nhất của con người khảng khái tặng cho vị thần tượng của mình, vì bạn hiểu thần tượng của mình cũng không hề hoàn mỹ. Vị thần tượng này không bao giờ là dây xích trói buộc bạn, mà sẽ là ngọn đèn dẫn đường toả sáng trong đêm, chỉ cho bạn phương hướng và đem lại cho bạn dũng khí tiếp bước. Sức mạnh của những tấm gương đi trước là vô tận, sức mạnh của thần tượng cho bạn càng là vô tận.
Chúng tôi mượn rượu giải phóng bản thân, lăn qua lăn lại, hò hét vang nhà, lại còn quên mất liêm sỉ say đắm trong những điệu hát sai nhạc be bét của mình. Chúng tôi đập bàn, gõ chén bát, gào hết bài này đến bài khác, từ Chuẩn bị xong chưa đến Đại dương, quê hương tôi, từ Phong độ trở về đến Đất trời bao la. Vì Vi Vi không biết hát bài Quốc tế ca, một mình độc diễn mất hết ý nghĩa, nên cuối cùng chúng tôi quyết định hạ màn show diễn ngẫu hứng đầy sôi động này, dừng lại để tiếp tục các câu chuyện trên trời dưới đất của chúng tôi.
Tôi nói: “Tao thật sự muốn làm thằng lính quèn dưới sự chỉ đạo của Guevara, thế thì hạnh phúc biết mấy. Tha hồ tung hoành trong rừng rậm, đối diện với bệnh tật, thương tích, cái chết thì cũng có làm sao? Trong lòng luôn rực cháy lý tưởng cao đẹp của con người, đồng thời dám dũng cảm thực hiện nó, cuộc sống như thế mới có ý nghĩa!” Vi Vi hỏi: “Nam Cung, mày có lý tưởng không?”
“Tất nhiên là có”
“Là gì?”
Tôi do dự trong một giây, nói: “Làm nhà văn”. Thật ra tôi muốn nói là nhà thơ, nhưng tôi đã không thể viết tiếp thêm bất kỳ câu thơ nào nữa, tôi đánh mất rồi sự thuần khiết lãng mạn của một nhà thơ, tôi không xứng đáng làm một nhà thơ nữa. Tôi hiểu rất rõ điều đó, nhưng lại không muốn ngay lập tức hót hết, dọn sạch mơ ước của mình, thế nên mới nghĩ đến hai chữ nhà văn. Nhà văn và nhà thơ gần như một mẹ. Tôi nói: “Tao muốn làm một nhà văn!” Tôi lấy điều này làm minh chứng cho việc tôi không phản bội bản thân.
Trước khi nói câu này, tôi chưa từng mơ ước làm một nhà văn. Các nhà văn thường thích kể lể dài dòng, con cà con kê, túm năm tụm ba, khoác lác phóng đại, một mình một kiểu, độc chiếm một phương, đây là tất cả ấn tượng của tôi có được sau khi đọc các tác phẩm được mệnh danh tiểu thuyết cận đại kinh điển do thầy cô giới thiệu những lúc rỗi rãi khi còn ở trường. Khi tôi nói tôi muốn làm một nhà văn, lập tức tôi nghĩ ngay đến tôi mất đi tư chất để trở thành một nhà thơ nhưng lại có được quyền lợi lọt vào hàng ngũ các nhà văn. Sự tính toán và hiểu đời chính là viên gạch nền, là giấy thông hành của tôi. Bây giờ ngẫm lại, tôi thấy xấu hổ với những suy nghĩ nông cạn và hẹp hòi về công việc nhà văn thời đó của mình. Chỉ trách tôi lúc đó không được đọc một tác phẩm văn học nào có thể làm tôi rung động, tôi cho rằng tiểu thuyết chỉ là “nhỏ tiếng thuyết giảng”, chỉ chú trọng vào việc miêu tả những mặt nổi bề ngoài của câu chuyện. Cho đến một ngày tác phẩm Biên thành của Thẩm Tòng Văn xuất hiện trong thế giới đầu óc nhỏ bé của tôi, tôi bị chấn động chân tay rụng rời, tôi bấy giờ mới phát hiện sức mạnh của tiểu thuyết không hề thua kém thơ ca, thậm chí nó còn mãnh liệt và trường tồn hơn nữa.
Vi Vi nói: “Tao không có lý tưởng. Tao thậm chí còn không biết thế nào là lý tưởng. Mày có thấy tao tội nghiệp không? Tao còn thấy tao tội nghiệp nữa là. Tao thấy tao như đang trôi trong không trung, đầu không chạm trời, chân không chạm đất, cũng có lúc thấy mình như bị đóng đinh một chỗ, không tài nào xê dịch được. Nam Cung, mày hiểu cảm giác của tao không? Ý tao muốn nói là tao không biết mình muốn làm gì, phải làm gì. Ngày qua ngày thế này, mẹ nó, đúng là chán ngắt, chắn phát điên!”
Mùa hè năm 23 tuổi, tôi ký túc tại thành phố phồn hoa nhộn nhịp, hoa lệ này. Tôi thường một mình đi dạo ở trung tâm thành phố, chờ đợi một cái gì đó bất thần xuất hiện kích hoạt cuộc sống trống rỗng ảm đạm của tôi. Tôi bắt đầu cảm thấy sợ hãi những trai gái thực dụng đang sống lồ lộ ngay bên cạnh tôi đây, nhưng đồng thời tôi vẫn phải lẫn sâu vào trong đống bầy nhầy đó để giấu đi nỗi sợ hãi của mình. Tôi thể nghiệm thấy sự mâu thuẫn của bản tính con người. Bản tính của con người đầy rẫy những sự mâu thuẫn, chúng ta lọt vào giữa các khe hở khi thì nổi lên, lúc lại chìm xuống, tỉnh táo hoặc mơ màng, mỗi một kiểu dạng đều thể hiện rõ ý nghĩa của thuyết siêu hình trong triết học.
Tôi căm ghét nhưng đồng thời lại không thể cô lập khỏi đám người vội vã qua lại kia, tôi thèm khát tiếp cận được họ sau đó lập tức quay lưng tháo chạy. Buổi trưa hôm nay, dưới cái nắng thiêu đốt thành phố, các biểu hiện trên mỗi gương mặt bị sức mạnh của ánh mặt trời cô đọng lại thành từng chiếc mặt nạ vô cảm. Tôi bắt đầu thục mạng chạy, đập vào là những ánh mắt hoặc kinh ngạc hoặc lãnh đạm, chạy hết một con phố buôn bán, nhảy lên một chiếc xe buýt công cộng trống người. Tôi không biết tôi sẽ đi về đâu, tôi chỉ muốn rời xa vĩnh viễn nơi này, nhưng xe buýt chỉ có thể đưa tôi đến trạm cuối cùng đã được quy định sẵn. Tôi lại một lần nữa lẫn lộn trong dòng người. Đi một mạch qua mấy con phố, tại một hầm thông hành vắng vẻ, tôi cuối cùng đã có thể thở một hơi dài.
Tôi đã không còn tiếp tục truy tìm nguyên nhân. Tôi đã không còn là chàng trai cố chấp tuổi 16, việc gì cũng nhất quyết tra cho rõ ngọn ngành. Tôi đã hiểu cái gọi là bất thường chính là cửa ngõ để bạn trút bỏ những đè nén trong lòng. Bạn sẽ có lúc bị một trạng thái tâm lý nào đó trói chặt, như bị điên, muốn phá phách để giải toả. Dưới hầm ngầm qua đường, tôi thở những hơi dài, dưỡng tinh thần nuôi sức lực cho lần tháo chạy tiếp theo.
Trở lại trên mặt đất tôi không thể tiếp tục tháo chạy như mong muốn. Chân tôi nặng như đeo đá. Một gã hát rong vô gia cư ngồi bên lề đường tự đàn tự hát, gào thét lên như không có ai bên cạnh:
“Đừng động vào tôi, tôi đang bực đấy!
Đừng động vào tôi, tôi đang bực đấy!…”
Nước mắt tôi trong tích tắc này chảy dài. Hoá ra chúng ta đều cần sự cô đơn. Vì những việc muộn phiền có đầy đủ lý do hoặc chẳng có lý do nào cả. Hoá ra cô đơn cũng là thứ mà ta không thể thiếu. Tôi lấy tay che mặt, cảm nhận được nước mắt mặn dớp dính đang bốc thành những làn hơi mỏng khô dần. Tôi chỉ muốn gào vào những người hiếu kỳ: “Đừng động vào tôi, tôi đang bực mình đấy!”
Khi tôi tiếp tục cầm bút viết tiếp câu chuyện này đã là một tháng sau. Chiều muộn, gió thổi to, cứ tưởng sẽ mưa, nhưng mãi không thấy giọt nào. Gần căn hộ nơi tôi đang ở có một bà cụ qua đời. Con cháu của bà mời một đội kèn trống đến. Đội kèn dựng rạp bên ngoài cả ngày ỉ ôi, kéo nhị đánh trống thổi kèn. Bà cụ đã lên thượng thọ, do tuổi cao bệnh nặng không qua khỏi, chính vì thế sự ra đi của bà trong con mắt của những người thân là một việc đáng mừng. Tôi đứng nơi ban công bên ngoài nhìn xuống cỗ quan tài lạnh giá, trong lòng tự nhiên xuất hiện nỗi ai oán vô cớ. Bất chợt tôi nghĩ đến vấn đề giữa sự sống và cái chết. Tôi biết mình không đủ khả năng để đào sâu, những suy nghĩ của tôi chỉ là ánh nắng chiếu vào mặt nước, chạm rồi phản lại. Thế nhưng cho dù là như vậy, tôi vẫn cảm thấy hoảng hốt. Bạn đã đến thế giới này, nhưng thời gian vô tình cuối cùng rồi cũng sẽ xóa mờ vết tích tồn tại của bạn. Chúng ta phải chăng nên vì chính mình mà lưu lại cho thế giới này chút gì đó? Tôi chính vì lẽ này mà thừa nhận sự vĩ đại và thần kỳ của các con chữ. Lịch sử có thể được ghi lại bằng lời nói hoặc chữ viết, nhưng sự lưu truyền bằng miệng dễ dẫn đến những hiểu nhầm, cũng như bị biến dạng, thậm chí là bị tiêu diệt. Tôi không kìm được, lại tiếp tục nắm lấy bút viết lại những gì đã qua, coi như là bái cúng, coi như là nhắc nhở, coi như là tổng kết, coi như là chuyển giao, nói tóm lại, tôi không cho phép mình quên lãng.
Tháng 10 năm 1997, Vi Vi cuối cùng vẫn bỏ học. Trên thực tế, khi tôi vẫn cứ nghĩ nó đang cắp sách đến trường vùi đầu trong sách vở, thì nó sung sướng chơi điện tử trong quán. Buổi chiều hôm đó, trên đường lấy hàng về nhà, nó từ hàng điện tử mò ra thì bị tôi bắt gặp tại trận. Vi Vi không ngờ sẽ gặp tôi, mặt mũi hiện chút hoảng hốt. Tôi hỏi: “Sao mày không đi học mà lại ra đây chơi?” Vi Vi nói: “Hôm nay không có tiết.” Nó nhanh chóng chuyển đề tài: “Để tao giúp mày đẩy hoa quả về.”
Tối tắm rửa xong lên giường, Vi Vi mặc độc cái quần cộc chui vào trong chăn, tôi nhìn thấy trên người nó có vết trầy xước, những vết thâm trước ngực và sau lưng. Tôi hỏi: “Mày đánh nhau hả?” Vi Vi nói: “Chẳng may bị ngã.” Tôi nói: “Mày đừng có lừa tao, ngã gì kiểu này? Khai thật ra.” Vi Vi không nói tiếng nào, coi như là công nhận. Tôi cau mày. Tôi ghét nhất người khác đánh nhau, trong mắt tôi tất cả những người thích đánh nhau đều là kẻ man dại, ngang ngược. Tôi nghĩ chuyện gì cũng đều có thể giải quyết bằng lời, chứ không phải dùng vũ lực để định đoạt thắng thua. Vì thế tôi thường xuyên không thể lý giải việc con người yêu thích bạo lực. Ví dụ như Võ Tòng, người được gọi là anh hùng, tôi thấy hắn nhiều lắm cũng chỉ được coi là tên đồ tể tư lợi, hẹp hòi, tâm thần biến thái. Người anh hùng phải có một tấm lòng bao la, còn Võ Tòng thì mỗi một xuất phát điểm đều gắn kết chặt chẽ với quyền lợi cá nhân. Nếu hắn cũng được coi là anh hùng thì những kẻ tội phạm giết người cũng là anh hùng tất à? Nói vớ vẩn! Tôi ngay lập tức quay ra nói với Vi Vi: “Sao mày đánh nhau? Tao ghét nhất đánh nhau!” Tôi chú ý xem phản ứng của Vi Vi, nó xoay người, quay lưng vào tôi, vẫn không thèm hé môi nói câu nào. Tôi thở dài, cũng quay lưng ra chỗ khác. Tôi nghĩ tôi có nói Vi Vi cũng chẳng thèm nghe.
Đến ngày thứ hai, tôi lưu tâm. Sau cơm trưa, tôi đóng cửa hàng hoa quả, lẹ làng đến quán điện tử. Trong quán tiếng ồn ầm ĩ, rất nhiều những đứa trẻ ranh đang hò hét, ra sức bấm nút điện tử. Tôi có một dự cảm, cảm thấy mình nhất định sẽ tìm thấy Vi Vi ở đây. Dự cảm là một thứ rất huyền diệu, nó sản sinh từ sự chú ý vô thức đối với tất cả những việc nhỏ nhặt xung quanh. Tôi nghĩ mãi về vết thương trên người Vi Vi, có thể đây là nguyên nhân nó trốn trường bỏ học.
Tôi không tìm thấy Vi Vi. Điều này làm tôi hơi thất vọng. Tôi nghĩ nếu dự cảm của mình không được chứng minh, thì tất cả những cảm nhận mà tôi luôn dương dương tự đắc cũng chỉ được coi là triệu chứng của bệnh đa nghi, thần hồn nát thần tính, không có cũng tưởng có mà thôi.
Tôi đi về quầy hoa quả, ngang qua rạp chiếu phim. Cửa rạp chiếu khóa chặt, bên ngoài một đám con trai đang rượt đuổi đánh nhau. Ba thằng đuổi đánh một thằng, do sự mất cân bằng về lực lượng, thằng bị rượt đuổi nhanh chóng bị ba thằng còn lại đè xuống đất, chúng khoái trá gọi nó là đồ con hoang. Thằng con trai cố gắng giãy giụa, nhưng không có tác dụng. Mặt nó hứng thêm hai cái tát.
“Vi Vi!” Tôi kinh ngạc thất thanh kêu lên. Thằng đang bị đánh kia rõ ràng là Vi Vi! Tất cả mấy đứa còn lại cùng một lúc quay ra nhìn tôi. Cách ăn mặc của một ông chủ cửa hàng hoa quả làm tôi
trông già dặn đứng đắn hơn hẳn, tôi vừa xông đến chỗ ba thằng vừa gào tướng: “Chúng mày làm gì đấy hả?”. Đám trẻ mất dạy bị khí thế của tôi đè bẹp, hô nhau tháo chạy mất. Tôi rượt đuổi theo. Ba thằng đó nhanh nhẹn hơn tôi, chạy đến chỗ xa đứng lại, quay đầu nhìn tôi doạ dẫm: “Mày đến đây, đến đuổi bọn tao đây này!”. Tôi đang định bụng căng hết dây cót cho chúng biết sự lợi hại của tôi, thì đằng sau tiếng Vi Vi thều thào gọi lại: “Nam Cung, đừng đuổi nữa!”. Tôi đứng lại. Vi Vi lồm cồm bò dậy, bên mép vẫn còn vết máu bẩn, nó dùng bắp tay thử quệt qua, đầu cúi gằm bảo tôi: “Nam Cung, về thôi!”.
Vi Vi cả đường đều không dám ngẩng đầu nhìn tôi. Chúng tôi một trước một sau bước đi. Tôi không nhịn được muốn hỏi Vi Vi rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì, nhưng nhìn bộ dạng ỉu xìu như bánh đa gặp nước của nó lại không nỡ nhẫn tâm tra hỏi. Chúng tôi cứ thế đi. Đó quả thật là một con đường trở về dài dặc. Những đứa trẻ mới lớn cô độc, nỗi đau đang đè nặng lên chúng tôi, sẻ chia vừa là ước vọng đồng thời cũng là những hố ngăn giữa chúng tôi. Không phải chúng tôi không muốn chia sẻ cho nhau, mà chúng tôi không muốn vì thế mà bị người khác coi thường. Tôi hết lần này đến lần khác đứng lại chờ Vi Vi đi lên. Tôi rất muốn hỏi thăm vết thương của nó, nhưng tôi không sao mở miệng được. Tôi quá hiểu Vi Vi, giờ phút này, tôi chỉ có cách coi như không để ý, không biết màn trình diễn vừa qua mới là cách an ủi tốt nhất đối với nó. Đây chính là sự tự tôn tội nghiệp mà chúng tôi vất vả bảo vệ.
Cuối cùng cũng về đến nhà. Trong lúc tôi lạch cạch mở cái cửa sắt nặng nề, tôi nghe thấy Vi Vi đột nhiên nói một câu: “Tao không muốn đi học tiếp”. Vi Vi nói xong quay người không muốn cho tôi nhìn thấy mặt nó, nhưng những giọt lệ ngân ngấn nơi khoé mắt nó vẫn bị tôi bắt gặp. Tôi không thể nói thêm câu phản đối nào nữa. Tôi bỗng phát hiện mình không hề có quyền phản đối, lý do là tôi không biết cái gì đang xảy ra ở đây. Tôi hoá ra cũng không hiểu Vi Vi.