Bát nguyệt trăng rằm vời vợi sáng, lãng tử xa quê nhớ cố hương. Rằm tháng Tám, khách đến cửa hàng mua hoa quả nườm nượp, làm tôi nhìn mà mở cờ trong bụng. Tôi nói với Vi Vi, tôi phát tài đến nơi rồi. Vi Vi mỉa mai nói trong mắt tôi chỉ thấy hai chữ tiền tiền, cả người toàn mùi đồng hôi thối, phàm tục hết chỗ nói. Tôi hếch mũi hít quanh người một lượt, hoài nghi hỏi lại, có mùi à, sao tao chẳng ngửi thấy gì thế? Vi Vi nói: “Mày hết thuốc chữa rồi, mày xong thật rồi.” Tôi đáp trả: “Có mùi thì cũng có làm sao, chỉ cần đấy đừng phải là mùi đói nghèo chua chát là được. Nghèo là nhục, kiếm đủ tiền thành tỷ phú tao sẽ mua dăm ba quan chức làm chơi, lúc đấy tha hồ thực hiện ước mơ, tha hồ cải cách xã hội. Có tiền đi đâu cũng được, không tiền đứng một chỗ cũng không yên, điều này chẳng lẽ mày không hiểu?”
Vi Vi nói: “Thế tinh thần của con người không còn quan trọng chút nào à?” Tôi nói tôi không có ý đấy. Tôi chỉ thấy tinh thần không thể đánh bật vật chất, cũng giống như vật chất không thể thay thế tinh thần. Hai điều này tương hợp tương đồng, thiếu một không thành đôi. Cuộc sống lành mạnh là sự cân bằng hoàn hảo giữa một khát khao vật chất vừa phải với một sự hoàn thiện không ngừng của tinh thần. Sự đóng cửa, chôn chân của bất kỳ một trong hai đều sẽ dẫn đến hậu quả trì trệ. Vi Vi nói tôi triết lý rởm. Tôi thở dài, nói: “Mày còn nhỏ, còn chưa phải chịu cái khổ của nghèo đói, nếu như mày đã từng rơi vào hoàn cảnh không đồng xu dính túi, mày sẽ giơ cả hai tay lên tán đồng quan điểm của tao”. Vi Vi nói: “Tao hy vọng đừng bao giờ phải rơi vào cảnh đó.” Suy cho cùng, chỉ cần là người đầu óc bình thường, ai cũng tiềm ẩn trong mình bản năng cận lợi cách hại.
Buổi tối, chúng tôi ăn một bữa thịnh soạn tại quán của Trần Thái Kiện. Thường ngày ki kiết xác, thế mà hôm đó Trần Thái Kiện phá lệ tặng chúng tôi một đĩa xào, chúc chúng tôi Trung thu vui vẻ. Sau khi về nhà, bật tivi lên, hàng loạt quảng cáo của các hãng không hẹn mà cùng chọn giai điệu nhạc dân gian Bước bước cao làm nhạc nền, chỗ này vừa dừng thì chỗ kia lại bắt đầu, buộc người ta phải nhớ Trung thu đã đến. Tôi chưa bao giờ cảm nhận thấy Trung thu quyến rũ đến thế. Sau khi bố ra quân chuyển nghề, Trung thu năm nào bố mẹ cũng ở bên cạnh tôi, cả nhà quây quần bên nhau, cùng ăn bánh thưởng trăng. Mẹ nói con người ta trong ngày này ai cũng hạnh phúc, vì đây là ngày đoàn tụ, ngay cả Hằng Nga thường ngày chỉ ở cung trăng cũng phải bay xuống đoàn viên với chồng mình là Hậu Nghệ. Tôi lúc đó không đồng tình, nhưng bây giờ tôi đã hiểu ý nghĩa câu nói của mẹ. Trăng đã tròn đầy, mà người thì không tụ đủ, đây chẳng phải là nỗi đau lớn nhất, là hình phạt tàn khốc nhất hay sao?
Tối Trung thu, trăng rọi xuống gõ nhẹ vào cửa sổ. Trước đấy và cả sau này tôi không bao giờ còn gặp lại vầng trăng tròn sáng như đêm hôm ấy nữa. Tết Trung thu năm hai mươi ba tuổi này, mây mưa ảm đạm kéo dài, xoá hết dấu tích của trăng rằm, tôi nằm nghe đài phát bài Mây sắc theo trăng dõi lại đêm Trung thu năm mười sáu nào. Đêm đó, trăng tròn vành vạnh, những áng mây nhẹ bồng bềnh trôi, tôi và Vi Vi yên lặng tì tay bên cửa sổ, lắng nghe tiếng gió. Bản nhạc Bước bước cao đánh bằng đàn nhị lặp đi lặp lại, mặt hồ lòng phẳng lặng trong tôi dần gợn lên từng làn mỏng, vội vàng đuổi bước nhau, cuối cùng tạo thành những lớp sóng. Đột nhiên tôi bỗng phát hiện đàn nhị không hợp để đánh những bản nhạc tiết tấu vui nhộn. Cho dù tiếng đàn bây giờ đang hưng phấn cao trào đến đâu cũng vẫn không thể dứt ra khỏi âm sắc trầm buồn, vần vũ, ưu tư, nghẹn ngào vốn có của nó. Tôi muốn khóc.
Vi Vi nói hình như tụi mình quên mất cái gì đó, tôi bảo quên mua bánh Trung thu. Vi Vi gật đầu lia lịa, Trung thu năm nào mẹ nó cũng nhớ mua một hộp bánh nướng. Rằm Trung thu không thể thiếu món bánh này được. Tôi nói để tôi đi mua. Như tên bắn, tôi lách vào không gian đầy ánh trăng. Bắt đầu từ Trung thu mười sáu, tôi tạo cho mình một thói quen tự mua bánh tặng bản thân vào mỗi dịp tết Trung thu. Cũng từ đó tôi yêu thích và quyến luyến hơn với các ngày lễ tết truyền thống, tết Nguyên Tiêu ăn bánh trôi tàu, tết Đoan Ngọ ăn bánh chưng, tết Ngâu tự thưởng cho căn hộ mình một bó hoa tươi, Trung thu ăn bánh nướng, tết Trùng Dương* leo núi. Các lễ tết truyền thống cũng giống như cái áo bông đã dùng lâu năm trong các mùa đông, mặc dù nhìn thì cũ kỹ, chẳng hề hợp mốt, nhưng mặc lên lại có một cảm giác ấm áp kỳ lạ, truyền đến tận tim.
Tết Trùng Dương (hay tết Trùng Cửu): Ngày lễ cổ truyền diễn ra vào ngày mùng 9 tháng Chín âm lịch hằng năm, bắt nguồn từ một truyền thuyết ở Trung Quốc. Vào ngày này, mọi người thường đi leo núi, uống rượu, ngắm hoa cúc… cùng gia đình.
Mua được bánh nướng xong, tôi móc ra cái thẻ điện thoại luôn mang bên mình, cạnh tôi bây giờ là một bốt điện thoại công cộng. Những con số quen thuộc như ngọn lửa bập bùng rực cháy trong đầu tôi, tôi không thể kìm chúng lại. Bố mẹ thân yêu, tết Trung thu này bố mẹ có vui không? Tôi đứng dưới trăng tựa người vào vách buồng điện thoại nước mắt chảy ròng. Một câu chúc tết đơn giản mà tôi cũng không làm sao gọi về nói với bố mẹ, chỉ có thể để chúng dập dềnh, chìm dần, mất tích.
Bác gái trong tổ dân phố đến thông báo Vi Vi đi thăm cô Hạ, tiện thể mang theo một số đồ dùng hằng ngày vào cho cô. Bác trong tổ dân phố ra về xong, Vi Vi thu mình trên ghế sofa không nói tiếng nào. Tôi im lặng ngồi bên nó. Gió thu thổi hơi lạnh se se đến, cây Huyền Linh Mục bên ngoài vẫn nhẫn nại bứt từng chiếc lá vàng xuống, một chiếc lá bay đến dính sạt vào bên ngoài cửa kính, xoay tròn rồi lại theo gió bay đi mất. Vi Vi khẽ giọng hỏi tôi: “Tao nên đi không?” Tôi hỏi mày có muốn gặp cô Hạ không? Mắt nó đỏ hoe, ngân ngấn nước. Tôi nói, mày nhớ mẹ thì đi đi, chắc cô Hạ cũng nhớ mày lắm. Vi Vi nói: “Nhưng tao sợ.” Lúc này đây, Vi Vi lại biến thành một kẻ xa lạ mà tôi đã cố gắng tìm hiểu nhưng vẫn không thể hiểu cặn kẽ được. Nước mắt nó rơi xuống. Vi Vi nói: “Gặp mẹ, tao nên nói gì? Tao sợ tao không nói được câu nào cả.” Tôi ôm mạnh vai Vi Vi, nói: “Đừng sợ, có tao đi cùng mày. Bọn mình cùng đi thăm cô Hạ”. Vi Vi nói: “Tổn thất của mày, tao nhất định sẽ hoàn trả đầy đủ.” Tôi đấm nó một cái: “Bây giờ mà vẫn còn nhắc đến tiền, mày còn phàm tục hơn tao! Quá ư là phàm tục!”
Sáng sớm hôm sau, chúng tôi bắt một chiếc ô tô đi đến trại giam nơi cô Hạ đang thực thi bản án của mình. Ngồi ở hàng ghế sau cùng, Vi Vi tựa mình vào cửa kính, suốt chặng đường nó chỉ thất thần nhìn ra bên ngoài. Mù dày đặc ngang tàng xoá hết quang cảnh dọc hai bên đường, mấy huyện đi qua đang làm đường. Quãng đường vốn chỉ cần hai tiếng là đến bị kéo dài thành bốn tiếng. Sau khi ra khỏi bến xe, chúng tôi lại bắt tiếp một cái xe ba bánh, xóc lên xóc xuống, cuối cùng cũng tới nơi.
Sau khi trình giấy chứng nhận do tổ dân phố đóng dấu cho giám thị trực ban xem, Vi Vi được phép vào bên trong, còn tôi thì ở lại phòng bảo vệ bên ngoài. Nhờ đó tôi có thời gian ngắm nhìn kỹ cảnh vật nơi đây. Nói thật, tôi không hề thích nơi này, nó làm tôi thấy ức chế và sợ hãi. Nghĩ mà xem, trại giam được xây dựng như một hình thức đối lập với tự do của con người, nó là biểu tượng cho sự trừng phạt cái ác và bảo vệ trật tự xã hội, nó làm đứa trẻ con bé nhỏ như con kiến là tôi đây cảm thấy kính sợ là điều đương nhiên. Tôi nhắc đi nhắc lại với chính mình, nhớ đừng bao giờ kết bạn với nhà giam. Đúng thế, hãy tránh xa nơi tù tội, hãy sống cuộc sống tươi đẹp!
Không lâu sau Vi Vi đã quay trở lại, nhưng tôi cảm thấy như đã mấy tiếng đồng hồ trôi qua, nếu để tôi ở đây nửa năm thôi, tôi không phát điên mới lạ. Cô Hạ cũng tội nghiệp. Cuộc sống thật đáng quý; Tình yêu đáng giá hơn; Vì tự do cao cả; Cả hai đều bỏ qua. Tự do là chóp kim tự tháp của tất cả các giá trị của con người. Chỉ có những người có tự do mới có quyền sống cuộc sống thoải mái, đầy màu sắc. Rất nhiều lúc, tự do chính là lý do để chúng ta thêm yêu cuộc sống này.
Trại giam được xây dựng trên một vùng rộng lớn, hoang vu. Đám cỏ dại toàn một màu tàn úa ven đường cao quá đầu người, khoanh cúc dại rực rỡ nở rộ, đủ màu, trắng, vàng trứng, tím xanh, trông giống như những đốm sao mơ ước hy vọng không chịu khuất phục. Vi Vi đứng lại, lướt mắt nhìn về phía một con chim sẻ nhỏ đang bay qua bay lại trên không, thở dài nói: “Mẹ tao già đi rồi”.
Đây là lần thứ hai Vi Vi nói mẹ nó già đi rồi. Lúc nó kể câu chuyện năm sáu tuổi, nó cũng đã nói câu này. Sau khi bố Vi Vi bị xe đâm chết, trong một đêm, cô Hạ như già đi hai mươi tuổi. Nhan sắc thanh xuân của cô Hạ đã một đi không trở lại từ lâu rồi, bây giờ không biết trông cô còn như thế nào nữa! Bốn năm sau, tôi mới có cơ hội gặp lại cô Hạ. Khi tôi đem theo niềm lưu luyến quay về lại nơi xưa, gặp lại cô Hạ mà tôi gần như không dám tin rằng đấy chính là cô. Cô Hạ ngồi sau đống hoa quả bừa bộn, mắt thẳm buồn, mặt không sức sống. Thứ sức sống của một cô Hạ đã từng làm tôi cảm thầm bái phục rời xa cô lắm rồi. Từ trên xuống dưới từ trong ra ngoài cô Hạ đã hoàn toàn biến thành một bà già chậm chạp vụng về, đang cố gắng gắng gượng kéo dài cuộc sống chỉ còn cách nấm mồ trong gang tấc.
Vi Vi nói: “Mẹ tao kể hằng ngày mẹ tao phải dọn nhà vệ sinh, phân loại các loại lông thành từng màu khác nhau, lên lớp cải tạo tư tưởng. Mẹ tao kể một lúc thì khóc. Hết thời gian thăm nuôi, trước khi bị đưa trở lại phòng giam, mẹ bảo tao gửi lời cảm ơn mày, cảm ơn mày đã chăm sóc tao.” Tôi không nói được câu nào. Tôi không dám chắc cô Hạ thật tâm cảm ơn tôi hay là hận tôi. Đúng là buồn cười. Hãy quên cháu đi cô Hạ, cho dù là cảm kích hay là hận thù, hai thứ này năm mười sáu tuổi cháu đều không có khả năng nhận lấy.
Từng ngày từng ngày trôi qua. Thời tiết lúc đẹp lúc xấu, thỉnh thoảng có ngày gió nhẹ nắng ấm, vừa chớp mắt đã lại là mây mưa ảm đạm dầm dề. Tôi phát hiện mình đã biến thành một loại động vật biến tính theo thời tiết. Tôi càng ngày càng ghét những ngày mưa, mưa thường làm tôi ngơ ngác, thảng thốt, cảm khái mọi việc. Ánh mắt tôi giữ lại suốt nơi cây Huyền Linh Mục chỉ còn sót lại mấy chiếc lá cuối cùng. Đài phát thanh phố đang phát đi bài Hát cho sức khoẻ của Phạm Hiểu Huyên. Bài hát dành cho thiếu nhi một thời nổi tiếng khắp Bắc Nam này kết hợp với không khí xung quanh đây tạo thành mối mâu thuẫn không thể hoà giải, bất ngờ gợi lên sức căng thần kỳ mang đầy kịch tính, làm tôi nghe như hút mất hồn.
Ma Nhã cũng như tôi, cũng thích Phạm Hiểu Huyên. Chúng tôi thường âu yếm gọi cô ca sĩ này là “Tiểu Huyên Huyên nhà chúng ta”. Trong những ngày đêm nối liền giữa mùa hạ và mùa thu, chúng tôi nghe đi nghe lại album có tên Danh đào tuyệt thê. Phạm Hiểu Huyên đi cùng chúng tôi đến tận bây giờ, bỏ qua xu hướng của thị trường, chỉ với một mong muốn được thể hiện bản thân. Cô không hề cố gắng thổi phồng những tiếng vỗ tay tán thưởng, mà cất công tìm kiếm một nhóm nhỏ những người nghe có sở thích âm nhạc giống mình, để tạo nên sự cộng hưởng. Chúng tôi đào thoát ra từ những phân vân, những do dự, học cách bỏ qua ánh nhìn lạnh nhạt của những người xung quanh. Chúng tôi kiên trì làm chính mình, cho dù toàn thân thương tích cũng không hề hối hận.
Thằng điên đi vào tự lúc nào tôi không hề hay biết. Nó đứng trước sạp bày hoa quả, nhìn những quả lựu mới vào vụ vừa được bày lên giá, rồi lại quay ra nhìn tôi. Vi Vi hỏi có đuổi nó đi không? Tôi nói thôi kệ nó. Người thằng điên toàn mùi nước ẩm mốc, đôi bốt da đi dưới chân đã mòn vẹt hết đế. Tôi nhớ mình còn có một chiếc áo khoác có thể tạm thời đối phó với gió rét, định bảo thằng điên mặc vào thay, nhưng nó giãy ra. Nó vẫn thích trốn trong cái áo bông rách đầy rận hơn, đó là toà thành chắc chắn, là tấm áo giáp kiên cố che chở cho nó tìm thấy bình yên. Thằng điên cười hì hì tay chỉ vào mấy quả lựu rám má. Tôi hỏi: “Muốn ăn không?” Thằng điên mút ngón tay cái nhìn. Tôi lấy một quả chín căng mọng đưa cho nó, thằng điên há mồm ngoạm luôn. Tôi nói không phải như thế. Tôi dùng dao cắt quả lựu thành hai nửa, màu tím óng ánh của từng hạt quả lựu chín làm thằng điên mắt sáng hẳn lên, nó tách từng hạt vứt vào mồm, mặt chăm chú như một đứa trẻ.
Vi Vi nói: “Mày đối xử với thằng điên tốt thật đấy.” Tôi nói: “Thế tao đối xử với mày không tốt sao?” Vi Vi nhún vai cười, nói: “Tao biết mày thương hại nó”. Tôi nói: “Đúng là tao tội nghiệp nó.” Nếu chúng ta vẫn còn có khả năng thương hại người khác, điều đó phải chăng đang chứng minh rằng chúng ta vẫn còn là những người hạnh phúc? Vi Vi nói: “Mày hạnh phúc không?” Tôi nhìn sang thằng điên. Nó đang say sưa trong niềm vui nhỏ nhoi của mình, sự mãn nguyện và niềm vui của nó đang cười vào nỗi buồn và sự trống rỗng trong tôi. Tôi nói: “Cũng có thể chúng ta đều không hạnh phúc, mà nó mới là người hạnh phúc hơn ai hết.”
Mưa tạnh một lúc, đến nửa đêm lại tiếp tục rơi. Vi Vi đã ngủ say. Tôi quấn mình trong cái chăn dạ ngồi co ro trên ghế sofa, vặn nhỏ tivi xuống mức thấp nhất, tập trung tinh thần vào xem một bộ phim cũ sản xuất từ rất lâu. Đây là cái đĩa tôi mới mua được trong một tiệm bán đĩa nằm trên đường về, loại giảm giá, năm tệ một đĩa. Lúc đó, nó nằm trong góc khuất của kệ giá, trên phủ một lớp bụi, dường như chỉ đang đợi tôi đến để nhặt ngọc khỏi cát. Tôi mang nó về, đem chỗ thời gian thừa của đêm mưa cô đơn trao vào tay nó.
A Thi Ma. Chợt nhớ đến rạp chiếu bóng lộ thiên được dựng tạm ở sân trường tiểu học, tôi và mẹ ngồi trên hai cái ghế con, mắt không chớp chờ đợi giây phút chiếu bộ phim này. Đèn sáng, trên màn chiếu các hình loằng ngoằng di dịch, tìm vị trí thích hợp. Hình ảnh xuất hiện, là những hình chớp tuyên truyền cho lợi ích của việc sinh đẻ có kế hoạch, còn có cả hình người dao động, có bóng tay bắt chước các con vật. Trong bóng đêm dịu dàng, cái sân rộng sôi động hẳn lên. Khi tiếng nhạc bắt đầu vang lên, ba con chữ “A Thi Ma” xua tan tất cả sự huyên náo, mọi người chấm dứt các câu chuyện nhà chẳng bao giờ kể hết, chăm chú nín thở theo từng bước đi của “A Thi Ma” mà họ yêu quý.
Lúc đó, A Thi Ma đã được coi là một bộ phim cũ, nhưng sức hấp dẫn của nó với mọi người vẫn rất lớn. Tôi đứng hẳn dậy, những đầu người rậm rạp trước mắt che hết tầm nhìn của tôi. Tôi nhẹ nhàng lách khỏi chỗ mẹ, trốn vào sau tấm màn chiếu. Chỗ đó đã ngồi đầy những đứa trẻ trạc tuổi tôi. Tôi chống cằm ngồi xem, thoắt buồn thoắt vui vì A Thi Ma. Những điệu nhảy quyến rũ, những âm thanh say lòng người, những bộ quần áo hoa lệ, những giai đoạn tuyệt mỹ từ đó in đậm trong đầu tôi.
Cho đến hôm nay, trong đĩa phim này, tôi mới tìm lại được cái tên mà lúc nhỏ chưa kịp ghi nhớ lại: Dương Lệ Khôn, người đóng vai A Thi Ma. Tính ra bà cũng đã trở thành bà già run tay run chân rồi, nhưng nét thanh xuân e lệ thướt tha của bà trong tôi không bao giờ già đi cả, mặc cho thuỷ triều lên rồi lại xuống, vẫn mãi tròn đầy và rõ rệt như thế. Trong ký ức của tôi, đó là gương mặt hoàn hảo nhất. Cũng chính vì gương mặt này làm tôi định ra những chuẩn mực khắt khe dành cho cái đẹp, cũng vì điều này mà tôi đã bỏ lỡ bao nhiêu câu chuyện ngọt ngào của tuổi chớm yêu.
Tôi phát hiện mình vẫn yêu A Thi Ma, vẻ đẹp thuần khiết, lương thiện của A Thi Ma của tôi xua tan hết những đám mây đen. Có một ngày, trong ánh nắng ban mai mờ ảo, tôi đã gọi Ma Nhã là A Thi Ma. A Thi Ma của tôi, bao giờ chúng ta mới có thể theo tiếng leng keng lục lạc ngựa, theo tiếng hót ca của những chú chim nhỏ quay trở về quê nhà xa vắng đã lâu?
Tôi xem đi xem lại A Thi Ma, một lần chưa đủ, hai lần vẫn chưa đủ, đúng thế, cho dù nghìn lần vạn lần đều không đủ. Chuông báo thức đồng hồ kêu, vệt hồng ban mai hé lộ. Vi Vi tỉnh dậy. Đánh răng xong nó hỏi tôi: “Mày cả đêm không ngủ à?” Tôi nói sao chưa gì trời đã sáng? Mưa nhẹ hắt. Tôi nói sao mưa mãi không tạnh?
Tôi cố tránh không đi đến chợ bán buôn hoa quả, lý do là tôi không muốn khó xử khi giáp mặt với mẹ con nhà Lã Tam. Cãi nhau với người khác trên đường phố không phải là sở trường của tôi, thế nên tôi liên hệ với mấy quầy hoa quả bán buôn tương đối thật thà, yêu cầu họ mang hàng đến tận nơi, đồng thời dựa vào ba tấc lưỡi của mình, tôi đã thuyết phục được họ miễn cưỡng không thu thêm phí vận chuyển. Nhưng cuối cùng tôi vẫn lỗ nặng, hoa quả họ mang đến đều là hàng loại kém chất lượng, xem ra vẫn phải tự mình ra tay. Tôi trao công việc nặng nề này lên đôi vai Vi Vi. Cái thằng từ xưa đến nay luôn sợ mệt sợ khổ nay lại nhanh nhẹn gật đầu, lãng phí bao nhiêu lý do tôi cố vắt kiệt óc nghĩ ra.
Chúng tôi đẩy cái xe kéo gỗ ra khỏi nhà, dọc đường tôi không ngừng truyền thụ cho Vi Vi các mánh khoé phân biệt hoa quả ngon dở, làm thế nào để dìm giá, mức trần là bao nhiêu… Vi Vi gào lên kêu: “Biết rồi, lắm lời quá.” Đến gần chợ bán buôn, tôi chui vào một quán mì ven đường, dõi mắt nhìn theo Vi Vi đơn thương độc mã nhưng vẫn phừng phừng khí thế xông pha vào đầm rồng huyệt hổ, chỉ cầu mong sao nó đừng bị bóp thê thảm quá thì A di đà Phật lắm rồi.
Kết quả là Vi Vi với cái giá thấp nhất mua vào những hàng tốt nhất, nó làm tôi không thể không dụi mắt ngắm lại. Tôi nói: “Mày được vị cao nhân nào chỉ điểm hay nhặt được cuốn bí kíp võ công nào mà chốc lát lợi hại đến thế?” Vi Vi nói đây là bí mật. Một khoảng thời gian sau Vi Vi mới thổ lộ cho tôi, nó biết được cái nào tốt hay không tốt, giá đắt hay không đắt, đều là nhờ Lã Yến đi bên cạnh giúp trí giúp lực. Từ điểm này có thể nhận thấy Lã Yến có đầu óc hơn hẳn bà mẹ và cô chị, di truyền được sự thông minh, bản lĩnh của Lã Tam.
Quan hệ giữa Vi Vi và Lã Yến đột ngột tiến triển mạnh từ lúc nào tôi không hề biết. Truy hỏi Vi Vi mãi, nó mới chẳng hề vui vẻ khai ra là lúc nào ở đâu, nó bắt gặp Lã Yến và chị gái Lã Xuân bị hai thằng lưu manh bắt nạt. Hai thằng đó là bạn cùng lớp cấp ba với nó, không cái gì từ, gần đây mới bị nhà trường đuổi học. Hai đứa đó cũng không có bố nhưng lại thích bắt nạt những đứa trẻ không cha khác. Thù cũ hận mới gộp lại, Vi Vi dũng cảm khác thường xông vào kiên cường biểu diễn màn anh hùng cứu mỹ nhân. Như thế, Lã Yến thành bạn của nó. Tôi không tin, Vi Vi chỉ tay lên trời thề độc nếu lừa tôi thì sẽ mù cả hai mắt. Tôi nói mày lại thế rồi, mày thích thành thằng mù lắm à? Vi Vi cười hì hì nói: “Điên mới thích mù!”
Một ngày Chủ nhật quang đãng, tiệm chúng tôi tiếp một vị khách quý. Đại tiểu thư nhà Lã Tam, Lã Xuân, mặc một chiếc váy liền lông cừu cổ trái tim màu hồng đến tìm Vi Vi, định mời Vi Vi đi xem biểu diễn ngoài trời ở cửa hàng bách hoá. Vi Vi nói: “Tớ không đi được, ông chủ đang ngồi ở đây này, không khéo lại trừ tiền công tớ mất.” Lã Xuân nằn nì đi mà đi mà! Vi Vi vẫn chỉ nói: “Lần sau đi, lần sau gọi cả em bạn cùng đi.” Không cần chờ đến lần sau, ngay sau khi cô chị gái thất vọng bỏ đi không lâu, Lã Yến cũng xuất hiện bên ngoài hàng hoa quả. Lã Yến mặc một cái quần nhung màu xanh lục, một cái áo khoác cotton màu hoàng yến, tập tễnh bước đến trước mặt Vi Vi, tay nhặt mấy quả quýt không hạt lên, mồm hỏi: “Bận không?”. Vi Vi vội nói một tràng không bận không bận. Thằng ranh này, lật mặt còn nhanh hơn lật bàn tay. Lã Yến nói: “Đi chơi không?” Vi Vi hỏi đi đâu? Lã Yến nói đi loanh quanh. Vi Vi thận trọng hỏi lại: “Có người khác nữa không?” Lã Yến nói: “Chỉ có hai đứa thôi.” Vi Vi cười gật đầu: “Thế thì được.”
Đúng là có bồ quên bạn. Tôi lấy túi ni lông nhặt mấy quả quýt không hạt vào đưa cho Lã Yến, Lã Yến đưa tôi tiền, Vi Vi giành lại nói: “Không cần không cần, tính vào của tao”. Lã Yến nhất định dúi tiền vào tay tôi. Trước hàng loạt lời can ngăn của Vi Vi, cô gái nói: “Bạn còn thế nữa tớ giận đấy”. Vi Vi thế mới thôi. Hai người đi ra đến cổng, Vi Vi đột nhiên quay đầu lại nói: “Nam Cung, đi cùng đi, cũng chẳng có ai đến mua đâu mà”. Nó hạ thấp giọng nói khẽ: “Tao nói với Lã Yến mày là người đại đại đại tốt, nhân cơ hội này, chúng mày nói chuyện một chút, hiểu nhau thêm một chút.” Tôi nói: “Mày có ý gì?” Thật ra tôi hiểu đây là dụng tâm tốt của Vi Vi, nó hy vọng hoá tan những hiểu nhầm của Lã Yến với tôi, sưởi ấm quan hệ. Tôi liếc nhìn về phía Lã Yến đang đứng ngoài cửa, vẻ sốt ruột hiện rõ trên mặt, tôi nói: “Thôi hai đứa chúng mày đi đi”. Vi Vi chẳng thèm để ý cảm giác của tôi thế nào, kéo tay tôi nói: “Đừng lèm bèm như con gái nữa, đi thôi, đi!”.
Chúng tôi đi dạo dọc theo mấy con phố lớn. Vi Vi và Lã Yến cười nói vui vẻ, tôi không chêm được câu nào vào, như một người thừa đi bên cạnh. Vi Vi nói: “Nam Cung, sao không nói gì thế?” Tôi ho khan hai tiếng, nói gì bây giờ được đây? Đầu óc tôi lúc đó chắc chắn ngập trong mỡ lợn rồi, nghĩ đi nghĩ lại, đắn đo lên xuống mà câu đầu tiên làm lành với Lã Yến lại là: “Chân bạn sao lại thế?”. Lã Yến lạnh lùng trả lời là do lúc nhỏ bị ngã. Tôi đúng là tự mình giết mình, không nói gì vẫn là hơn. Vi Vi kịp thời chêm vào mấy câu đùa vui, giải nguy cho tôi, rồi ngầm quay ra gửi cho tôi một dấu hỏi và dấu chấm than to tướng.
Đi hết các con phố lớn ở Yên Thuỷ, đến cửa hàng bách hoá. Quảng trường bên ngoài nhộn nhịp tiếng khua chiêng gõ trống, huyên náo cả một góc trời. Vi Vi nói: “Ê, lại có cái hay ho xem kìa.” Hoá ra cửa hàng đang tổ chức chương trình giảm giá nên dựng một sân khấu ngoài trời. Trên đó một tốp học sinh đang biểu diễn những tiết mục tương đối người lớn. Những hoạt động như thế này ở Yên Thuỷ không nhiều, mọi người đều thấy mới mẻ, nên lượng người vây quanh không ít. Vi Vi xúi quẩy cũng đáng đời, nó mải vui quên khuấy Lã Xuân cũng có trong đám người kia.
Lã Xuân trợn tròn đôi mắt đen óng chặn ngang đường Vi Vi: “Bạn không phải rất bận sao? Sao lại có thời gian rảnh rỗi ra đây thế này?”. Lã Yến nhìn thấy chị gật đầu chào, Lã Xuân coi như không thấy. Vi Vi nói lúc nãy bận, bây giờ hết bận rồi. Lã Xuân hỏi lại thật thế à? Ánh mắt như muốn đâm cho Vi Vi một trăm hai mươi phát, máu chảy thành vòi. Bốn người chúng tôi đứng thành một tụm. Bên cạnh, tiếng hò reo, tiếng huýt sáo của đám người đứng dưới, tiếng nói đùa tuỳ tiện của người dẫn chương trình, tiếng nhạc rộn ràng sôi nổi từ mấy chiếc loa thùng lớn dệt thành thứ tiếng ồn khủng khiếp. Tôi cảm nhận được không khí căng thẳng, nhưng Vi Vi và Lã Yến vẫn chẳng hề hay biết, vẫn cứ tiếp tục cười nói vui vẻ.
Lã Yến bóc một quả quýt, chia làm đôi, một đưa cho chị, một đưa cho Vi Vi. Vi Vi đưa sang cho tôi, tôi không cầm, nó liền bóc một múi vứt vào mồm hớn hở nhai, ai ngờ chua muốn rụng cả răng. Vẻ mặt nó làm Lã Yến khúc khích cười. Lã Xuân đột nhiên giằng lấy vứt chỗ quýt trong tay Vi Vi ra đầy đất, xù lông lên như con gà chọi. Nó kéo tay Lã Yến nói: “Đi theo tao về nhà! Tao sẽ mách mẹ mày chơi với hai đứa chúng nó, mẹ không đánh cho mày què nốt cái chân kia mới lạ!” Lã Xuân không thèm để ý đúng sai kéo luôn Lã Yến đi, Vi Vi không ngờ mọi chuyện lại xảy ra như thế, đứng đực người một lúc mới tức tối nói: “Lã Xuân tự nhiên nổi cơn gì thế? Y như con điên!”.
“Tình yêu là thứ tình cảm như thế nào?”
“Có người nói nó có vị ngọt, có người lại nói nó rất chua chát.”
“Thế còn anh?”
“Ngọt ngào.” Tôi áp vào tai Ma Nhã nói nhẹ, cứ như mình là một cái kẹo mút vĩ đại, mỗi một tế bào đều căng mật.
“Nghe lợm quá!” Ma Nhã vừa nói vừa đẩy tôi ra, “cứ tưởng hay lắm!”
Tôi không để Ma Nhã trốn thoát khỏi tầm kiểm soát của mình, kéo em vào lòng nói tiếp: “Lấy cái này làm niềm vui là việc ngốc nghếch chỉ có những kẻ yêu nhau ở trần gian này mới làm được. Em đừng hòng vứt anh đi được. Bên cạnh em, anh mới thành được cây kẹo mút ngọt ngào, không có em anh chỉ còn là ly cà phê đắng ngắt”.
Ma Nhã cười nói: “Anh ấy, ngốc, toàn nói chuyện ngốc!”
Đúng thế, tôi là thằng ngốc, là tình yêu đã làm tôi biến thành một kẻ đại ngốc. Trước mặt Ma Nhã, tất cả trí tuệ và lý trí của tôi đều biến thành những quả bong bóng xà phòng, búng cái là vỡ, tôi cam tâm tình nguyện là kẻ ngốc. Tôi nói: “Ma Nhã, em thử sờ vào trái tim anh, nó sẽ mách cho em biết em quan trọng thế nào đối với anh. Những người thân, những người bạn, họ là niềm an ủi cho cuộc sống của chúng ta, nhưng có một nỗi cô đơn ngay cả họ cũng không thể xoa dịu. Nỗi cô đơn nảy mầm từ khi sinh, giống như nỗi cô đơn của vũ trụ thời hỗn mang. Cảm tạ thượng đế đã đem em đến bên anh, sau khi rời khỏi bụng mẹ, anh bây giờ mới tìm lại được đường về. Tan đi trong cơ thể em, nỗi cô đơn của anh không còn tồn tại. Cảm tạ em, Ma Nhã của anh!”
Không biết bao nhiêu hoàng hôn, chúng tôi má kề má, vai kề vai, chia sẻ nỗi cô đơn bản năng. Kéo chiếc rèm cửa nặng mềm bằng nhung thiên nga ra, tịch dương mệt mỏi làm thành phố đang phát triển vươn lên từng ngày này biến thành tấm ảnh cũ phai màu hoen úa. Các toà nhà cao tầng vươn dài lên bầu trời, dưới bóng nắng to lớn của nó luôn có những căn nhà ngói xiêu vẹo đổ nát chen chúc xếp sít nhau tầng tầng lớp lớp. Hướng đi của tương lai cùng vết tích của quá khứ đan xen nhau kết thành bức ảnh thực tại lem nhem rực rỡ, chứa đầy những ẩn số khó giải, bạn tưởng rằng mình đã có đáp án trong tay, mà không hề hay biết nó đã dần biến số. Thành phố là thánh đường của văn minh, hoặc chỉ là một đống đổ nát.
Phía dưới cửa sổ tầng mười bảy nhà chúng tôi, bên cạnh toà nhà Hoa Hạ sang trọng bóng lộn, là một ngõ hẻm quanh co uốn lượn như một bài hát bay bổng du dương. Tôi và Ma Nhã thường đi dạo quanh nơi đó, mê đắm quên cả lối về. Những mái ngói nâu xếp chồng hình vây cá, những tấm cửa gỗ rạch đầy vết nứt, những bậc thềm lên xuống lát đá xanh, con ngõ nhỏ toát lên vẻ đẹp của không gian. Tại đây chúng tôi thường kể cho nhau những ấn tượng về quê hương những ngày còn nhỏ. Tiến trình đô thị hoá đã làm mất đi những đặc trưng nổi bật của quê hương trong ký ức của chúng tôi. Chúng tôi ước mong trong thành phố vẫn còn giữ lại những mảnh xương tàn của con đường trở về với kỷ niệm quê xưa, để chúng tôi có thể đôi lúc quay đầu nhìn lại, lắng nghe trong gió phảng phất đâu đây thổi lại tiếng cười đùa của đám bạn trẻ xưa.
“Có một ngày, khi chúng ta đều đã già, không thể đi được nữa, chúng mình sẽ chọn một chỗ như thế này ở, tay nắm tay, ngắm nhìn mỗi lần mặt trời lặn, được thế thì tốt biết bao.” Tôi như nói mơ, mặt thẫn thờ tưởng tượng. Ma Nhã cười vô cảm, nói: “Đấy là cuộc sống anh mong muốn?”. Tôi hỏi lại: “Em không thích thế sao?” Ma Nhã vẫn vô cảm nói tiếp: “Có một kiểu sống tốt nhất chỉ nên để ước mơ, đừng bao giờ lại gần. Mong muốn và thực tế không cùng một không gian, cũng giống như tình yêu không đồng nghĩa với trọn đời bên nhau vậy. Nam Cung, em yêu anh, nhưng em không thể đảm bảo ngày mai sẽ ra sao. Chúng ta không ai có thể chắc chắn được cả.”
Trời tối, trên đường về tôi gặp thằng điên đang ngồi xổm bên vệ đường, mặt cúi gằm xuống đất, u u a a tự nói chuyện một mình. Vi Vi đã về nhà từ lâu, nó phải về để kịp xem chương trình hoạt hình Cối xay gió, ông rùa béo lùn là niềm đam mê của nó. Tôi đến gần thằng điên, nó giật mình kinh hãi ngẩng lên, thấy tôi, nó nhoẻn miệng cười, tay chỉ chỉ xuống đất, nói: “Bộ đội”. Trên đất một quân đoàn kiến đầu đỏ đang hành quân, trật tự thành hàng vận chuyển chỗ thức ăn chúng vất vả mới kiếm được. Thằng điên nói: “Bộ đội, mốt hai mốt, mốt hai mốt, hà hà, của tao!”
Tôi ngồi xổm xuống, thằng điên bằng lòng chia sẻ với tôi niềm vui của nó. Tôi nói đây là một binh đoàn ưu tú. Thằng điên thích chí đập đập vào vai tôi, cho tôi xem bảo bối trong túi nó, một cái còi hoen rỉ. Vỏ thiếc bên ngoài đã tróc rỉ, nhưng vẫn có thể tưởng tượng ra màu bạc sáng bóng ban đầu của nó. Thằng điên cầm nó trong tay, đưa lên bên mồm, hít một bụng khí, dồn sức thổi một hơi dài. Cái còi phát ra tiếng thét hú xé rách tai, giống như từ trong thâm sơn cùng cốc một ngọn gió sắc nhọn xuyên thủng không gian thổi đến, làm người ta rởn người. Thằng điên cười hì hì nhìn tôi, nó chìa cái còi ra trước mặt tôi, mắt chớp chớp, “a” lên một tiếng.
“Mày muốn tao thử à?” Tôi không dám chắc ý đồ của thằng điên. Thằng điên tay vẫn giơ như cũ, chỉ cười. Tôi hỏi: “Được không?” Tôi cầm cái còi từ tay thằng điên, thổi một tiếng. Hơi chậm rề, như thúc quân cuốn cờ rút lui. Thằng điên không vừa ý “a” lên tiếng nữa, hy vọng tôi thổi lại. Lần này tôi hít sâu, dồn khí xuống đan điền, ép mạnh ra. Tôi nghe thấy tiếng gió huýt rít xuyên thẳng mây, lau sậy hai bên đổ rạp, sóng bị đá ngầm đập nát thành bọt biển. Tôi nhắm chặt mắt, làm được điều này, cả người tôi đều sít chặt thành một khối cứng ngắc. Trong tiếng còi như phát điên, tôi thấy máu trong người sôi sục, mà thân thể thì rệu rã hết lực. Tiếng còi đanh gọn chấm dứt, tôi lại nghe thấy một tiếng hò reo như thét gào khác. Mở to mắt, thằng điên mặt biến dạng rít lên những tiếng kỳ quái: “Âu xù… Âu xù…”.
Tâm trạng của thằng điên truyền sang tôi, tôi không kiềm chế được mình cũng hét lên những tiếng kỳ quái theo nó. Tôi nhét lại cái còi vào túi thằng điên, rất vô cớ tự nhiên ngưỡng mộ việc nó được quyền thích gì làm nấy, ngưỡng mộ nó dễ dàng thoả mãn. Nếu như tôi chưa từng bị mê hoặc bởi các bài thơ của Hải Tử, nếu như tôi chưa từng mơ ước đến biển, liệu tôi cũng có thể thoả mãn với những niềm vui nho nhỏ như thế này không?
Màn đêm buông xuống, đèn đường mờ bụi hắt ra mảnh sáng âu sầu. Một bóng đen đi về phía chúng tôi, thằng điên dừng tiếng hét, hai tay nắm chặt túi quần, đột ngột quay người bỏ chạy. Dưới ánh đèn, tôi nhận ra gương mặt của người đến. Trần Thái Kiện tươi cười chào hỏi tôi đã ăn chưa? Tôi nói vẫn chưa. Trần Thái Kiện nói, đi, anh và chú đi uống vài chén. Tôi nói không đi, anh từ đâu nhảy ra thế? Trần Thái Kiện nói: “Vừa mới đi thu nợ về, thằng quỷ Nguy Tiểu Thiên đánh bài thua lại định chuồn, hứa hôm sau đưa anh, nửa tháng không thấy nói năng gì. Đã thế tìm nó, nó còn ngông nghênh, tưởng anh mày không dám làm gì nó.”
Tôi chẳng hứng thú nghe Trần Thái Kiện huênh hoang. Trần Thái Kiện thông báo nguyên nhân kết quả xong, chuyển đề tài hỏi tôi: “Lúc nãy ai đứng cạnh chú thế? Trông giống Đường Lâm Sinh”. Tôi hỏi: “Đường Lâm Sinh?” Trần Thái Kiện nói: “Thì là thằng điên ý. Thằng này ngày xưa đi bộ đội, nhãi ranh cũng học đòi yêu đương dám viết thư tán tỉnh vợ của liên trưởng, yêu đâu chẳng thấy, chỉ thấy bị đánh cho thành thằng thần kinh, cũng đáng đời.”
Hoá ra thằng điên lại có một đoạn đời như vậy. Tôi không thể lấy chứng thực từ mồm nó. Tôi nói, cho dù nó đáng hay không đáng bị đánh như thế, nhưng kẻ đánh người cũng vẫn phải chịu trách nhiệm của mình. Trần Thái Kiện nói bên bộ đội đền một khoản tiền, cắt chức viên liên trưởng, chuyện này thế là xong. Nói thật, thằng khỉ Đường Lâm Sinh này từ nhỏ đã nghịch ngợm láu cá, không ngờ lớn lên lại rơi vào hoàn cảnh này. Con người ta, vận may vận rủi, ai được chọn lựa, nói cũng còn chẳng thể nói rõ được nữa là.
Trong một đêm những linh cảm sáng tác rụt rè hiện thân tìm đến, tôi đã tự hư cấu một câu chuyện tình yêu. Thằng điên ở thành phố Yên Thuỷ này là nguyên hình của nhân vật chính trong câu chuyện. Tôi thậm chí vẫn sử dụng tên gốc của nó: Đường Lâm Sinh. Chỉ tiếc là do những lần di chuyển nay đây mai đó, không biết đi đâu về đâu, đã làm bản thảo tác phẩm của tôi trở thành những tờ giấy lộn không đáng giá một xu trong mắt các bà chủ thuê nhà, không thể tìm lại được nữa. Có điều tôi muốn thuật lại nội dung đại khái của câu chuyện, để hoàn thành nốt những hiếu kỳ cũng như nhớ mong còn sót dở với người bạn xưa mà tôi không thể quên lãng.
Tôi lấy thời gian bắt đầu câu chuyện vào năm Đường Lâm Sinh mười tám tuổi. Đang lúc giao mùa thu đông. Tân binh Đường Lâm Sinh phục vụ trong một doanh trại bộ đội đóng quân ở biên giới Tây Bắc. Vóc dáng người phía Nam của Đường Lâm Sinh nằm giữa đám nam binh vai to eo rộng càng tô thêm vẻ nhỏ bé. Lính cũ của trại cũng khá quý mến thằng lính tân binh lém lỉnh này, thường lấy mấy chuyện hơi khiếm nhã đùa với nó. Đường Lâm Sinh biết sống với mọi người sao cho mình được lợi, tác phong làm việc nhanh nhẹn kỹ lưỡng của nó rất được lòng liên trưởng. Liên trưởng thường cho nó đi theo, xử lý các việc vặt vãnh mà cũng vẫn rất cần thiết trong ngày.
Trong ngăn bàn làm việc của liên trưởng có để một bức ảnh bạn gái. Một cô gái trẻ, mảnh mai, dịu dàng, mang đặc trưng của con gái phía Nam đang ngượng ngùng hé cười dưới tán liễu rủ trong công viên. Đường Lâm Sinh lần đầu tiên xem ảnh đã thấy rất gần gũi, như đã từng quen. Chắc chắn đã gặp đâu rồi, kiếp trước, trong mơ, hay là trong một tưởng tượng bất chợt? Đường Lâm Sinh nói, liên trưởng, bạn gái của anh xinh thật. Câu nói này là thật tâm. Liên trưởng cũng không khách khí, hãnh diện trả lời đấy là đương nhiên. Liên trưởng kể họ quen nhau trên một chuyến tàu, liên trưởng còn kể hai người viết thư tâm sự những hai năm, gần đây mới xác định rõ ràng quan hệ.
Đường Lâm Sinh trách phận mình không có phúc được gặp cô gái kia trên tàu, nhưng vẫn may mắn là nó biết viết thư, nó tự tin thư nó viết không thua gì liên trưởng. Đường Lâm Sinh kín đáo ghi lại địa chỉ của cô gái trong mơ của nó. Lần nào đi gửi thư, nó cũng cảnh giác để bức thư tình nồng nàn của mình xếp xuống cuối cùng thế nên chẳng ai phát hiện, mà có phát hiện cũng chẳng ai nghi ngờ.
Đường Lâm Sinh cũng có lúc tự thấy ngạc nhiên sao mình không dưng lại yêu một người cách xa hàng trăm hàng ngàn dặm, mà lại chưa từng quen biết. Nhưng có ai có thể giải rõ đáp án của câu đố tình yêu? Tỉnh táo, mù quáng, quen biết, lạ lẫm, tất cả đều có thể trở thành lý do để bạn yêu một ai đó. Tình yêu là một đứa trẻ nghịch ngợm, quen được nuông chiều, nó không cần biết đến lôgic hay lý lẽ thông thường, nó chỉ biết đến cảm giác.
Đầu đông, liên trưởng nói bạn gái của anh sắp đến doanh trại chơi. Đường Lâm Sinh biết tin còn vui hơn cả liên trưởng. Mấy ngày tiếp theo nó hồn như treo trên mây, suốt ngày xoè tay đếm ngày gặp mặt cô gái kia. Vừa mong chờ, vừa lo lắng.
Ngày đó từ từ đến. Mọi việc cũng thật khéo, liên trưởng bận việc, sai Đường Lâm Sinh ra ga tàu đón hộ bạn gái. Đường Lâm Sinh muốn mua bó hoa ra tặng, nhưng lại không dám. Nhà ga người ra nườm nượp, Đường Lâm Sinh tay giơ cao bảng giấy có ghi tên cô gái. Hành động này tuyệt đối thừa, trong đám người, Đường Lâm Sinh chớp mắt đã nhận ngay ra cô. Cô thanh thoát, xinh đẹp như trong bức ảnh, thậm chí còn làm người ta rung động hơn thế nữa. Đường Lâm Sinh rụt rè báo cáo danh tính: “Tôi là Đường Lâm Sinh.” Cô cười rất nhẹ. Cô không hề biết người đứng trước mắt đây đã viết biết bao bức thư tình cho cô, trong thư Đường Lâm Sinh không hề ký tên. Nụ cười của cô gái làm Đường Lâm Sinh hồn bay phách lạc, tim đập chân run.
Cô gái trở thành tâm điểm của các câu chuyện trong đội. Các chiến hữu đều dùng ánh mắt ngưỡng mộ dõi theo từng bước đi của cô và liên trưởng. Đường Lâm Sinh đêm đêm mất ngủ, đem tất cả nỗi niềm gửi vào trang giấy. Đường Lâm Sinh xung phong đưa cô đi xem doanh trại, xem chuồng lợn do anh em tự làm, xem ruộng rau tự trồng, xem sân luyện binh dài rộng. Đường Lâm Sinh vắt kiệt óc biên ra các câu chuyện cười, đem mọi chuyện hài của lính kể cho cô nghe. Cô gái vẫn cười rất nhẹ, chỉ coi nó như một đứa em trai vui tính.
Tết Nguyên đán, liên trưởng đưa cô vào phố chơi. Đường Lâm Sinh dõi theo chiếc xe jeep chở hai người cuốn bụi đi mất. Hàng cây bạch dương ven đường đất vàng cô đơn đứng đó, gió bắc thổi chúng rạp sang một bên. Đường Lâm Sinh tinh thần rệu rã. Có một câu nói kìm chặt trong lòng rất lâu, nó không đủ dũng cảm nói ra. Đường Lâm Sinh thấy mình thật vô dụng.
Mùa đông phương Bắc lạnh lạ lùng. Chiều tối, trời bỗng nhiên rơi tuyết. Bay lượn bay lượn, mặt đất rất nhanh bị phủ lên một lớp dày cộp. Liên trưởng và bạn gái trở về, mua theo rất nhiều quà, họ ngồi cùng các binh sĩ cắn hạt dưa, ăn kẹo, hát những bài hát cách mạng hào hùng. Trong phòng không khí đầm ấm, bên ngoài tuyết càng rơi càng to, cả một vùng trắng xoá, sạch tinh. Không ai để ý đến Đường Lâm Sinh ngồi một góc im lặng không nói, ngoại trừ cô. Buổi tiệc kết thúc, cô gái tặng Đường Lâm Sinh một cái áo bông. Cô nói: “Nhìn em thấy không được khoẻ. Chú ý sức khoẻ mình đấy!”
Đường Lâm Sinh trốn trong chăn khóc, không rõ là vì cảm động hay là vì vui mừng. Nó như thấp thoáng nhìn thấy hy vọng ở phía trước. Ngày hôm sau, nhân lúc liên trưởng không ở đó, Đường Lâm Sinh đem xấp thư chưa gửi đưa cho cô gái. Nó quay về chờ đợi phản hồi từ cô. Vẻ kiên định vốn có của cô như một giọt mực rơi tõm vào trong hồ nước, dần dần biến mất, thay vào đó là sự kinh ngạc và hoảng hốt lộ rõ. Đường Lâm Sinh vốn tưởng có thể đến gần hơn, nhưng trong phút chốc cô gái đã trở nên xa vời không thể với tới. Đường Lâm Sinh hỏi do tôi không phải là liên trưởng đúng không? Cô nói em còn nhỏ, em chưa hiểu được chuyện của người lớn với nhau, vài năm nữa lớn lên em sẽ thấy chị không phải là người mà em muốn tìm. Đường Lâm Sinh như gào lên ai nói tôi không hiểu? Tôi hiểu! Cô gái không muốn nghe tiếp nữa, nhưng nó không kiềm được nữa, nó ôm chầm lấy cô.
Đường Lâm Sinh ghen tị với liên trưởng. Liên trưởng thổi còi chỉ đạo toàn bộ binh lính thao luyện. Đúng thế, cả liên đội chỉ có một mình liên trưởng mới có quyền thổi còi oai phong như thế. Đường Lâm Sinh nghĩ, nếu mình cũng là liên trưởng, liệu cô ấy có từ chối nữa không?…
Viết đến cuối cùng, sự tưởng tượng của tôi đã hoàn toàn lật úp nhúm tư liệu nhỏ nhoi không biết thực hư mà Trần Thái Kiện cung cấp. Tôi tự ý thay đổi kết cục câu chuyện. Người con gái phía Nam ấy mùa đông năm đó kết hôn cùng liên trưởng, cô khoan hồng giữ kín bí mật với một thằng bé. Cô nhớ rõ buổi trưa sau khi tuyết tạnh nắng lên, ánh mặt trời rón rén bước chân đùa nhau trên lớp băng mỏng, chàng tiểu binh vì cô thổi lên một tiếng còi ánh bạc. Chàng tiểu binh còn đặc biệt thay mặc cái áo bông cô tặng tối trước. Lũ thỏ rừng và lũ chim đen giật mình sợ hãi toán tác loạn xạ rúc khắp nơi trên đất tuyết.
Chàng tiểu binh trong một lần diễn tập quân sự lớn bị thương giải ngũ hồi hương, từ đó cũng không còn liên lạc với cô gái. Tuyết hằng năm vẫn bay múa hồn nhiên, mỗi lần như thế, cô gái lại nhớ đến buổi chiều tuyết trắng ngập tràn nắng ấy, một tiếng còi vút vang đã từng làm cô ù tai rộn ràng thế nào. Chàng tiểu binh mặc chiếc áo bông mới đứng đó chăm chú nhìn cô. Đó là đứa con cô. Đúng thế, trên mặt đứa bé trong tay cô, cô một lần nữa tìm lại thấy vẻ mãn nguyện và ngây ngô của chàng tiểu binh thủa nào. Hoa tuyết bay bay, từ năm này đến năm khác, bay dài đến mỗi sớm mỗi chiều của cuộc đời.