Nếu chỉ dựa vào hồi ức tôi có thể tự tin mà nói Yên Thuỷ là một thành phố đẹp, nhỏ mà thơ mộng, cũng giống như bạn nói với tôi rằng quê hương thời thơ ấu của bạn quyến rũ, mê hoặc, rung động lòng người đến đâu, làm người ta quên lối đến đâu. Hồi ức luôn là thứ bạn có thể tuỳ ý tô màu hồng lên những khuyết điểm và phóng đại những ưu điểm. Năm 23 tuổi, tôi quen Ma Nhã. Ma Nhã không chỉ một lần nói với tôi về cái giếng nước khô ở quê em, cái giếng nước tựa hồ một câu chuyện cổ tích, nhưng đến khi đứng bên cạnh cái giếng đó, tôi mới phát hiện ra nó với cái giếng mà Ma Nhã vẫn kể cho tôi khác nhau một trời một vực. Tôi không thể vì thế mà nói Ma Nhã lừa tôi. Thế nên tôi nói với bạn: Yên Thuỷ là một thành phố mộng ảo, tin hay không tuỳ bạn, chí ít tôi chưa từng hoài nghi.
Sau nửa tháng ngồi ôm hàng hoa quả, cô Hạ cho phép tôi nghỉ một ngày, cô còn cho tôi 10 đồng, coi như tiền tiêu vặt. Lần đầu tiên tôi, với vị thế của một người ngắm cảnh chứ không phải là một kẻ chạy đói, đi lượn phố Yên Thuỷ. “Lượn” là từ mà tôi thích dùng, tôi dùng nó để chỉ một trạng thái mà tôi thích hưởng thụ. Cũng giống như đám bạn trâu chó của tôi gọi di động hỏi tôi đang làm gì, tôi luôn trả lời chúng là tôi đang lượn. Tôi đi hết phố này đến phố khác, đi lướt ngang qua những người lạ với những gương mặt không biểu cảm, dáng vẻ bận rộn, cố đoán xem những vui buồn ly hợp, hỉ nộ ái ố của họ. Đáng chết, tôi nên là một nhà viết tiểu thuyết mới phải, mặc dù cho đến hôm nay tôi vẫn là kẻ đứng ngoài vòng văn học. Nói dễ nghe một chút, tôi là một người yêu thích văn học, nói khó nghe một chút thì tôi chẳng qua chỉ là kẻ rỗi hơi không nghề nghiệp.
Không mục đích tôi lượn lờ khắp Yên Thuỷ. Trên phố toàn là chó, cụp đuôi lặng lẽ, hết chạy qua rồi chạy lại, người thì chẳng thấy được mấy. Dân thành phố Yên Thuỷ này dường như rất thích nuôi chó. Những con chó ở đây tạp chủng, nguồn gốc thấp hèn, bạ gì cũng ăn. Tôi nhìn thấy một con chó ta đang như phát điên đuổi theo cắn một tờ báo cũ bị gió thổi bay, rồi cứ thế cắn từng miếng nuốt chửng.
Ánh mặt trời tháng Bảy thiêu đốt khắp nơi, mọi người đều trốn hết vào giường trúc ngủ lười, vất vả chống đỡ với cái nóng. Bên đường có hàng chè đậu xanh, tôi gọi một bát, bà cụ bán chè thấy tôi lôi ra tờ 10 đồng liền cầm lên soi ra ánh sáng, lật đi lật lại mấy lần. Đây là tờ tiền mới tinh, mới như vừa được lấy từ xưởng in ra. Bà cụ trề môi giám định đến nửa ngày mới xong, nhưng lại đưa trả tiền nói bà không có tiền trả lại, và bảo tôi đi tìm người nào có tiền trả lại mà ăn chè đậu xanh. Tôi đành đi ra chỗ khác, tiếp tục lượn trước lượn sau một mình không mục đích, hết lượn trái rồi lại lượn phải.
Sau đó, tôi nhìn thấy một thằng điên. Nhìn một cái tôi nhận ngay ra đó là thằng điên. Bạn đã bao giờ thấy ai giữa trưa hè nóng nực lại mặc một chiếc áo bông, mặc một cái quần đùi sọc, đi một đôi ủng da bò há hốc mõm, cầm que tre, chân đi mốt hai chưa? Nếu như bạn nhìn thấy người như thế mà không cho là thằng điên thì hoạ chăng bạn bị điên. Thằng điên tay cầm que tre, mặt mày hớn hở đi về phía tôi, nó hét: “Mốt hai mốt, mốt hai mốt, ngựa tây gót cao quá đáng, mốt hai mốt, mốt hai mốt, ngựa tây gót cao quá đáng…”, nó lặp đi lặp lại mỗi một câu này. Lúc đi ngang qua tôi, nó giơ tay chào, hô vang chào thủ trưởng mới lạ. Tôi mắt trợn ngược, miệng há hốc. Thằng điên đi xa rồi tôi vẫn chưa hoàn hồn lại. Tôi tự hỏi sao mình lại có may mắn được một kẻ điên coi trọng đến thế? Xem ra Yên Thuỷ này đúng là một nơi ngoạ hổ tàng long, có nhiều tài nhân dị sĩ lắm!
Bạn đừng tưởng là tôi đang chua chát mỉa mai, bởi ngay sau đây tôi lại tiếp tục gặp thêm một quái nhân nữa. Nói nó quái là vì những thứ không thể tưởng tượng của nó. Nó trọc đầu, mặt vuông, mồm rộng, cao khoảng 1m50, những cái này đều không có vấn đề gì; nó mặc áo sơ mi, quần thụng, đi chân đất, cái này cũng không có vấn đề gì. Quái là quái ở chỗ nó lại có thể phun lửa. Phù, phù, nó như một khẩu súng phun lửa. Không khí nồng nặc mùi cồn.
Nhìn qua, nó chỉ tầm khoảng 13, 14 tuổi, nhưng tôi đoán nó không nhỏ hơn tôi. Nó đứng dưới một mái hiên nhựa, chòng chọc nhìn tôi, cứ như tôi nợ nó tám vạn, mười vạn mà không thèm trả một xu. Tôi trong lòng rất khó chịu. Quay mặt ra chỗ khác không nhìn nó, tôi bước ngang qua chỗ mái hiên, nhưng tôi bỗng lại nghe thấy phù một tiếng, một con rồng lửa cuộn nhào lao về phía tôi, tôi giãy nảy người. Tôi nói mày điên à! Người lửa nhìn bộ dạng thê thảm của tôi cười khanh khách. Lúc này sau cái cửa gỗ dưới hiên nhựa thò ra một ông già người nhỏ thó. Ông một mặt cứ xin lỗi tôi, bảo tôi đừng chấp, một mặt túm tai thằng người lửa vừa mắng vừa lôi nó vào trong cái cửa gỗ mất hút.
Đã bao giờ tôi phải sợ hãi thế này đâu! Sờ lên đầu, mồ hôi lấm tấm đầy trán. Ánh nắng chói chang không cho ai thoát, cổ họng như muốn đốt cháy, nhổ một bãi đờm mà như sắp thành quái nhân phun lửa. Phía trước lại có một hàng bán chè đậu xanh. Lần này là một em gái mặc quần áo hoa tết tóc bím. Tôi đưa tiền cho cô bé, cô bé cũng lại như bà cụ lật đi lật lại tờ tiền, sau đó cũng lại thông báo cho tôi biết không có tiền trả lại. Đúng là gặp ma giữa ban ngày. Cầm 10 đồng mà chỉ có thể nuốt nước bọt nhìn một bát chè năm hào, lẽ nào đây lại là tiền giả? Tôi tuyệt đối tin tưởng cô Hạ không giỡn tôi như giỡn khỉ, thế là tôi lại rời khỏi em gái tóc bím, gửi lại phía sau một cái lưng đầy căm phẫn.
Tôi khao khát được ăn bát chè đậu xanh đến thế, tại sao không có ai hiểu cho tôi, lại như tất cả như đang cố tình trêu chọc bắt tôi lang thang lê bước dưới mặt trời tháng 7 chói chang này? Mười sáu tuổi tôi thường có những than thở kiểu như thế. Tôi thường cảm giác mình bị cả những người quen lẫn không quen phụ bạc, thế nên trong mắt luôn có những tia buồn thấp thoáng. Tôi đã mất hết nhã hứng lượn rồi. Yên Thuỷ đã biến thành bãi sa mạc, lục phủ ngũ tạng của tôi sắp bị đốt thành tro. Ai có thể cho tôi ăn một bát chè đậu xanh, người đó chính là kẻ cứu mạng tôi bây giờ. Tôi vốn không phải đam mê chè đậu xanh, nhưng rất nhiều việc đều như thế, càng gồng mình cố gắng thì càng quá khích, càng thề không làm bằng được quyết không dừng tay.
Tôi lại một lần nữa đứng trước một hàng bán chè đậu xanh, lại một lần nữa được thông báo không đủ tiền trả lại, tôi đã gần như tuyệt vọng. Vi Vi đúng lúc này đột nhiên xuất hiện. Nó vẫn trần hai vai, vung tay vung chân tiến tới. Vi Vi kêu hai bát chè, một bát cho nó, một bát cho tôi. Tôi nói tôi có tiền. Nó nói: “Ừ, mày ông chủ, đáng lẽ mày phải mời tao mới phải.” Nó thừa cơ tôi không để ý, giật phát 10 đồng trong tay tôi, “ê” lên một tiếng, nói: “Đây là tiền giả”.
Tôi rốt cuộc vẫn bị cô Hạ giỡn như giỡn khỉ. Vi Vi nói: “Tiền này mày lấy ở đâu?” Tôi nói: “Mày không cần biết!” Vi Vi nói: “Tao thèm vào biết, tao có phải công an đâu, tao mà là công an thì đã bắt mày ngồi dăm bữa nửa tháng trong tù rồi, xem mày còn ngang ngược đến đâu.”
Tôi lòng dạ rối bời. Tôi nghĩ tại sao cô Hạ lại giỡn tôi, chắc chắn cô cũng không biết đây là tiền giả. Buôn bán không tránh khỏi đôi ba lần thu nhầm tiền giả, điều này cũng chẳng có gì phải ngạc nhiên. Rốt cuộc tôi cũng tự giải thích xong, nhưng tôi cũng đã hết hứng thú ăn bát chè đậu xanh mà tôi thèm khát nữa. Vi Vi nói: “Còn làm bộ, không uống thì thôi, mày tưởng tao thích mời mày uống lắm à?” Nó cầm bát chè còn lại húp sụp cái hết, lau mồm, tức giận vung vẩy đi mất.
Cô Hạ hỏi tôi: “Tiền tiêu hết rồi à?” Tôi nói tiêu rồi. Tôi cũng không biết sao mình phải nói dối, tờ tiền đó rõ ràng vẫn trong túi quần tôi. Tôi ngạc nhiên trước câu hỏi của cô Hạ, cũng có thể chính câu hỏi của cô làm tôi tạm thời quyết định nói dối. Tôi từ nhỏ đã hay nói dối, tôi đúng là một vua nói dối không hơn không kém. Nhưng lúc nhỏ tôi vẫn được mọi người công nhận là cậu bé ngoan. Tôi nghĩ có phải vì tôi cố gắng trở thành một cậu bé ngoan trong mắt người lớn mà không ai dạy cũng biết nói dối? Trình độ nói dối của tôi đã đạt mười thành công lực, thâm hậu khôn lường. Vẻ mặt ngây thơ, chân thành có khả năng mê hoặc phi thường. Cô Hạ lại tin thêm lần nữa. Cô nói với tôi: “Chúng mày trẻ con ăn tiêu phung phí thế không được. Phải biết học cách tiết kiệm, phải có quan niệm về tiền bạc, phải tiêu đúng chỗ. Cô không phải trách mày tiêu linh tinh, tiền đưa là để mày tiêu. Cô chỉ hy vọng mày hiểu phải tiêu như thế nào.” Những lời nói của cô Hạ làm tôi tự thấy xấu hổ. Đây là những lời nói tâm huyết của bố mẹ nói với con cái. Thế mà tôi trong bụng lại chỉ một mực nghĩ xấu cho cô. Người ta xem tôi như con, tôi nghĩ như thế chẳng phải có lỗi với cô lắm sao?
Cô Hạ hôm nay dọn hàng sớm, về nhà nấu một mâm toàn món ngon, có cá, có thịt, lại có cả bia. Cô Hạ mở nắp một chai bia đưa cho tôi. Vi Vi nhìn thế nói: “Con cũng muốn uống.” Cô Hạ nói: “Trẻ con chùi đít chưa sạch, uống cái gì?” Vi Vi nói: “Thế sao nó được uống?” Từ “nó” trong câu của Vi Vi là chỉ tôi. Tôi cũng đang không hiểu, tôi và Vi Vi cùng tuổi, nhưng tại sao chúng tôi lại không cùng hưởng một tiêu chuẩn như nhau? Cô Hạ nói: “Mày còn là học sinh, Nam Cung thì không.” Tôi là kẻ làm thuê, tôi không phải là học sinh, tôi dùng đôi bàn tay của mình kiếm tiền nuôi miệng thế nên tôi có quyền lợi như một người trưởng thành. Hoá ra nhân cách được xây dựng và công nhận dựa trên sự lao động cần cù. Tôi bỗng hiểu ra nhiều điều. Tôi tu ừng ực chai bia, cảm nhận mi mắt cay cay, cảm nhận sự hưng phấn từ dưới móng chân chạy dọc lên đỉnh tóc.
Trong mắt bố mẹ tôi, tôi chỉ là một đứa trẻ ranh cần họ giáo dục từ ăn nói đến đi đứng, họ thường bảo cái này không được làm, cái kia không được làm. Họ luôn thấy tôi rất ấu trĩ, trẻ con, không hiểu việc đời, buộc họ phải lo lắng theo dõi. Khi bạn không muốn làm một đứa trẻ ranh nhưng lại không thể không tỏ vẻ giống một đứa trẻ, điều này chắc chắn sẽ làm bạn đau đầu, bực bội. Trong đời lần đầu tiên có người tuổi mẹ tôi cho phép tôi uống thoải mái, lại vạch ranh giới rõ ràng giữa tôi và đứa trẻ ranh, bạn nói xem, làm sao tôi không xúc động muốn khóc, không hưng phấn từ móng chân đến đỉnh tóc cơ chứ?
Cơm no rượu say xong, cô Hạ bưng từ trong nhà bếp ra một bát tô chè đậu xanh, cô múc một bát cho tôi. Vi Vi nói: “Nó không ăn chè đậu xanh.” Vi Vi thật đáng yêu, nếu không thì làm sao cô Hạ một mực nhất định nói nó là đứa trẻ con chùi đít không sạch chứ? Tôi bụng đã no căng, nhưng điều này không làm ảnh hưởng đến việc tôi sung sướng ăn nốt bát chè kia. Tôi thấy thoải mái tuyệt đỉnh. Tôi nhìn thấy Vi Vi đang tròn mắt nhìn, không kìm được tôi tặng nó một nụ cười xin lỗi. Xin lỗi nhé, tôi muốn ăn chè đậu xanh cả ngày hôm nay rồi!
Trên bốn bức tường phủ toàn mạng nhện và vết bẩn hoen ố, tôi dán kín những tờ báo và hoạ báo cũ tôi sưu tầm được. Phòng hầm hoàn toàn thay đổi diện mạo. Tôi phản ánh lại với cô Hạ tình hình đám chuột hoành hành trắng trợn dưới tầng hầm. Vừa tắt đèn là chúng coi tôi bằng vung, con nọ tiếp con kia ăn vụng hoa quả. Cứ thế mãi không được. Cô Hạ nghiêm túc lắng nghe ý kiến của tôi, gật đầu lia lịa, cũng cảm thấy tôi đang nghĩ cho cô. Ngày thứ hai, cô mua ngay về mấy gói thuốc chuột, trộn lẫn với cơm thừa và hoa quả nát, đổ vào đĩa đặt ở các góc của tầng hầm. Mấy ngày sau, tình hình hoạt động của lũ chuột dần dần giảm bớt, chí ít chúng cũng không dám thường xuyên công khai ỉa đái trên cái giường quân dụng của tôi như đi chợ nữa. Phân chuột từng hạt từng hạt một, giống như những hạt vừng bị biến đổi gen, vung vãi khắp nơi trong tầng hầm. Bây giờ đây đã sạch sẽ hơn nhiều. Tôi đã nói tôi có bệnh sạch sẽ, một khi đã ổn định, tôi sẽ phải quan tâm một chút đến chất lượng cuộc sống.
Nằm trên cái giường quân dụng cứng đơ, tôi không biết đã bao lần hoài tưởng về căn phòng nhỏ của tôi. Phòng của tôi được sơn chủ yếu bằng hai màu tím và xanh dương, đây là hai màu tôi yêu thích nhất. Chúng vừa trang nhã, vừa cao quý, gần nhất với thế giới tôi mơ ước. Đầu giường tôi có một chiếc đèn, chủ yếu là để tiện cho việc nằm đọc sách của tôi. Sách tôi xem rất đa dạng. Ngoài thơ ra, còn có các tác phẩm nổi tiếng trong nước và nước ngoài, có sách hoạ, có cả những quyển nhạc các bài hát đang nổi, bí kíp võ công, thường thức khoa học. Nhưng trên thực tế những quyển tôi đã giở từ đầu đến cuối chỉ đếm trên đầu ngón tay. Tôi thường mỗi quyển chỉ giở mấy trang rồi lại vứt sang một bên. Phòng tôi trừ đầu giường hơi lộn xộn một chút, về cơ bản có thể nói là gọn gàng sạch sẽ. Đầu giường tôi xếp đầy các kiểu các loại sách, tôi gối đầu lên chúng ngủ một mạch đến sáng. Chính thế tôi luôn tin rằng sách là bạn của loài người. Sách có sức mạnh của nó. Bạn có thể không cần phải tinh thông hết chúng, bạn thậm chí cũng không cần giở chúng ra, chỉ cần chúng ở gần kề bạn, bạn đã có thể cảm thấy mình luôn tràn đầy sức sống và luôn được chia sẻ.
Tôi nằm đó xoay người liên tục, trong đầu toàn hình ảnh về căn phòng nhỏ và cái giường chất đầy sách của tôi. Nỗi nhớ này làm tôi càng không vừa lòng thậm chí là chán ghét cái giường quân dụng hiện tại. Giường quân dụng nhỏ và chật, tôi không thể ngủ yên lành. Ngày đầu tiên ngủ trên cái giường này, tôi đã ngã đập trọn mông xuống đất, dập không hề nhẹ. Bắt đầu từ ngày hôm đấy, ngày nào tôi cũng ngủ trong nỗi lo sợ, lo sợ mình lại lăn từ trên giường xuống một lần nữa. Căn phòng đáng yêu của tôi bây giờ liệu có bị mạng nhện chăng đầy? Liệu đám sách đầu giường của tôi có bị bụi phủ đầy? Nghĩ đến đây tôi lại nhớ bố mẹ. Hơn một tháng rồi, chắc họ đã hiểu ra được con trai của họ nói một là một, hai là hai, chứ không phải đang giỡn chơi với họ.
Bỗng nhiên tôi cảm thấy đắc ý, nhưng sao có một làn hơi cay cay đang chạy dần từ trong tim lên mũi. Họ đã thấy hối hận chưa? Họ nhất định đang lục tung thế giới này lên tìm tôi mất! Vừa nghĩ đến hai bố mẹ tội nghiệp của tôi, làn hơi cay kia càng được thể nhất tề xung phong xộc thẳng vào mắt tôi. Tôi thảm bại trước nước mắt của mình. Trong trận khóc này, nước mắt tôi rơi như mưa trút, như muốn vỡ đê. Con xin lỗi, mẹ, con không muốn làm mãi đứa trẻ ranh chùi đít không sạch trong mắt bố mẹ nữa, con chỉ muốn chứng minh cho bố mẹ thấy con đã có quyền lựa chọn và có đủ khả năng chịu trách nhiệm với sự lựa chọn của mình. Chỉ thế mà thôi!
Trong lúc tôi nước mắt nước mũi tèm nhem, cửa phòng hầm bật mở, Vi Vi nhón chân nhón tay mò vào.
“Ơ, đang bận à?” Vi Vi cười hì hì hỏi: “Sao lại khóc như trẻ con thế kia? Nhớ mẹ à?”
“Mày xuống đây làm gì?” Tôi quệt hết nước mắt nước mũi trên mặt, nghiêm mặt hỏi. Tôi thấy Vi Vi chẳng có chút văn hoá nào hết, trước khi vào cũng không thèm gõ cửa. Đúng là phải tìm cách lắp cái khoá thôi.
Vi Vi “xuỳ” một tiếng, nói: “Đừng ồn”. Trên tay nó cầm một chai bia. Hoá ra nó mò xuống đây để uống trộm.
“Mày uống ở phòng mày không được à? Xuống đây làm gì?”
“Mẹ tao tuổi Tuất, mũi cực thính. Uống phát phòng có mùi ngay. Không giấu được.” Nó đáp lại.
“Mày uống thì người cũng có mùi rượu cơ mà? Cũng có giấu được đâu?” Tôi cũng vặn lại nó.
“Uống xong tao đánh răng súc miệng luôn. Ai biết được? Chỉ có ở đây an toàn nhất, mày không nói, mẹ tao cả đời cũng đố có biết.”
“Ngày mai tao đi nói cho mẹ mày biết.”
“Mày á? Còn lâu!” Vi Vi cười xảo quyệt, trông nó bây giờ y như hồ ly tinh. Nó có hàm răng trắng phau, đều tăm tắp, nhắc tôi nhớ đến cái răng sâu trong mồm. Tôi hơi ganh tị với việc nó sở hữu một bộ răng đẹp đến thế. Vi Vi nói: “Nếu mày mách thì bây giờ mày đã mách rồi. Với lại, tao thấy mày cũng không phải loại người đó.”
Nó dựa vào đâu mà tin vào tôi, quả quyết rằng tôi sẽ không bán rẻ nó? Phải nhớ rằng tôi không hề có chút thiện cảm nào với nó. Nó hồn nhiên ngồi lên cái giường quân dụng của tôi, “phóc” một cái cắn rơi nắp chai. Lại một lần nữa tôi ngưỡng mộ hàm răng của nó. Nó ngửa cổ tu một hơi hết nửa bình, hít thêm một hơi mới nói: “Còn lâu tao mới là trẻ ranh! Mẹ tao chẳng hiểu cái gì!” Hoá ra lý do làm nó bực bội mãi trong lòng, nửa đêm gà gáy mò uống bia trộm là đây. Nó nói với tôi: “Mày cũng làm một ngụm đi.”
Lần này tôi không từ chối. Tôi đang buồn đây, không phải vẫn nói uống rượu tiêu sầu sao? Tôi cầm chai bia, tu như điên. Vi Vi cuống quýt kêu: “Phần tao một ít.” Tôi chẳng thèm để ý, uống một hơi cạn đáy. Vi Vi trừng mắt nhìn tôi: “Sao mày có thể thế được nhỉ?” Sau đó nó lại nói luôn: “Mày cũng uống được phết nhỉ?”
Việc buôn bán của cửa hàng hoa quả lúc được lúc không. Lúc nào đông khách thì cho dù có mọc thêm ba đầu sáu tay cũng chẳng đủ. Nếu vắng khách thì thậm chí ngồi không thôi cũng đủ mọc ra vài cái mụn ở đít. Tôi lựa dịp vắng khách xin phép cô Hạ nghỉ. Cô Hạ hỏi: “Mày đi đâu đấy?” Tôi nói: “Cháu hơi đau bụng đi ngoài, chắc tối qua ăn linh tinh nhiều quá, cả ngày hôm nay bụng lâm râm đau.” Thế là cô Hạ ký sắc lệnh cho phép tôi nghỉ, còn giục tôi mau về nhà.
Tôi không phải là thằng hay bị ốm, tôi cũng chẳng bị đi ngoài. Tôi chạy qua hai con phố, chui vào một bốt điện thoại công cộng, đứng sững nhìn cái máy điện thoại. Bốt điện thoại dán dọc dán ngang các thể loại quảng cáo rẻ tiền, quảng cáo làm hộ bằng cấp, rồi quảng cáo tuyển nhân viên. Không hiểu bố mẹ tôi bây giờ ra sao rồi? Mặc dù tôi không sợ họ, nhưng tôi vẫn rất yêu quý họ, cũng giống như họ rất yêu quý tôi vậy. Yêu quý lẫn nhau, quan tâm lẫn nhau, nhưng lại như nước với lửa, không thể dung hoà. Tôi nghĩ con người sở dĩ phức tạp là vì trong con người đầy những sự mâu thuẫn. Cùng xuất phát ở vạch tình yêu, nhưng đích đến thường lại là sự hận thù. Cũng có thể yêu và hận vốn là hai nhân trong một trứng, khó có thể tách rời. Tôi không thể nói rõ hay phân biệt rạch ròi nỗi nhớ và lo lắng được tạo bởi sự đan xen giữa yêu và hận trong tôi. Tôi cứ đứng nhìn thế mãi, không biết nên làm gì nữa.
Trên người tôi có một thẻ điện thoại tôi lặng lẽ đem theo lúc đi khỏi nhà. Suy nghĩ của tôi lúc đó là chuẩn bị cho mình một con đường thoát. Mặc dù cô Hạ phê bình tôi không có khái niệm về tiền bạc, nhưng thằng ngu cũng hiểu được rằng cầm ba trăm đồng trong túi ra đường không sống nổi vài ngày. Tôi lúc dỗi bỏ nhà ra đi đã chuẩn bị cho mình một trái tim rực lửa và đôi bàn tay. Tốt nhất là mọi chuyện suôn sẻ như ý, còn nếu thực sự đến mức cùng kiệt thì cũng đành phải gọi điện cầu cứu về nhà! Thẻ điện thoại tôi luôn để bên mình, lúc cần gọi tôi đã không gọi, vì tôi không muốn mình cúi đầu gục ngã quá sớm. Còn bây giờ, tôi hoàn toàn không cần gọi điện cầu cứu, tôi lại muốn gọi, muốn phát điên.
Tôi cầm điện thoại lên. Tiếng tút tút trong ống nghe làm tim tôi như ngừng đập, toàn thân lạnh cứng. Điện thoại gọi về, tiếng mẹ tôi vọng lại từ đầu dây bên kia.
“Alô, alô, là Tiểu Vĩ hả? Sao con không nói gì thế? Mẹ biết là con. Con đang ở đâu thế?…”
Mẹ chưa nói hết thì điện thoại đã bị bố giằng lấy, tôi nghe thấy tiếng bố. Giọng bố vừa lo lắng vừa tức giận. Bố vẫn tính nóng như lửa. Bố quát:
“Mày là Tiểu Vĩ hả? Thằng ranh con đừng để tao tìm thấy. Tao mà tìm thấy xem tao có đánh gẫy chân mày ra không. Cho mày bỏ nhà đi tiếp! Xem mày có còn đi được nữa không? Khổ rồi hả con? Đừng tưởng thế giới bên ngoài toàn là màu hồng, cho dù có thật là màu hồng đi chăng nữa cũng không đến lượt thằng nhãi con như mày muốn gì được nấy. Chịu đủ khổ rồi thì cuốn về nhà ngay cho tao!…”
“Con rất khoẻ! Bố mẹ đừng lo.”
Nói xong câu này tôi vụt cái thò tay rút thẻ điện thoại ra cắt đứt cuộc gọi. Tôi vẫn chưa muốn về nhà. Tôi vẫn chưa nhìn thấy biển. Mặc dù tôi đã ăn đủ khổ rồi, nhưng bây giờ hằng ngày chí ít tôi vẫn có bát cơm đút mồm. Tôi cứ nghĩ việc tôi bỏ nhà ra đi đã dập tắt cơn thịnh nộ của bố, không ngờ nó vẫn đang hừng hực cháy. Bố tôi nói là làm, nếu bây giờ về nhà chắc chắn bố sẽ cho rằng tôi không chịu được xã hội bên ngoài nữa, giương cờ đầu hàng, bố sẽ đánh gẫy chân tôi thật mất. Thế thì về sau, tôi chỉ có thể làm thằng trẻ con chùi đít không sạch để mặc bố mẹ điều khiển mà thôi. Tôi thề không thể để họ điều khiển, cho dù họ có là ai đi chăng nữa, cho dù tôi còn muốn mơ mộng nữa hay không. Mười sáu tuổi là cái tuổi bướng bỉnh, ngang ngược, đầu óc toàn những suy nghĩ nguy hiểm, không sợ trời cũng chẳng sợ đất, chỉ sợ nhất bị người khác coi là trẻ con, cũng giống như ở tuổi 23 tôi luôn hy vọng người khác coi tôi như trẻ con. Ở đây lại xuất hiện một cặp mâu thuẫn, nhưng tôi không hiểu nó có ngụ ý gì nữa.
Tôi trở lại hàng hoa quả, một cô béo phục phịch đang mua nho thuỷ tinh. Cô béo mua xong đi mất, tôi ngồi phịch xuống cái ghế đẩu. Cô Hạ quan tâm hỏi: “Đỡ chút nào chưa? Có cần đi khám không?” Tôi lắc đầu, cố ghìm sự tủi thân đang dần đầy lên trong lòng. Thái độ ân cần nhẹ nhàng của cô Hạ làm tôi nhớ đến mẹ. Mẹ tôi xinh hơn cô Hạ nhiều, nhưng lúc này đây tôi thấy cô Hạ cũng rất xinh. Tôi chỉ chực khóc!
Lã Tam đeo một cái kính râm to bự khấp khểnh đi đến. Lã Tam gầy như cái que phơi quần áo, mụn đỏ trên mặt còn nhiều hơn trứng cá của cả tôi lẫn Vi Vi cộng lại, trông giống như thanh niên mới lớn hocmon tiết ra quá nhiều. Thật ra ông ta đã qua tuổi 40 mấy năm rồi, và hiện là bố của một cặp chị em song sinh xinh đẹp. Nhân trung giữa mặt ông ta sâu như dao khắc. Lã Tam cười để lộ hai khoé miệng như hai vết sẹo cứa sâu, lúc nào cũng chuẩn bị cứa bạn vài đường.
Lã Tam cười híp mắt đi đến bên cạnh quầy, tiện tay bứt một quả nho tím to như quả nhãn vứt tọt vào mồm. Ông ta nhổ hết vỏ nhổ đến hạt, sau đó quay ra nói với cô Hạ: “Buôn bán thế nào?”. Cô Hạ nói: “Thì cũng thế. Kiếm miếng cơm ăn. Sao bì với Lã Tam ông được?” Lã Tam nói: “Đều vì miếng cơm cả, đều vì miếng cơm cả!” Cô Hạ nói: “Anh phát lương thực mà, có gì tốt nhớ đừng quên chị Hạ này nhé!” Lã Tam nói: “Quên là quên thế nào, không quên được.” Rồi đột nhiên Lã Tam hạ thấp giọng thì thầm: “Hàng lần trước bán thế nào?”
Lã Tam là vua hoa quả nổi tiếng ở Yên Thuỷ này. Ông ta quen biết rộng, lần trước nhập một nửa tàu loại xoài vỏ mỏng ở Quảng Tây về, cô Hạ lấy thử hai hòm, ai ngờ được, chớp mắt đã bán hết veo. Vì chuyện này, cô Hạ hối hận không ít, bỗng dưng vứt đi cơ hội phát tài nhỏ. Cô Hạ nói: “Dạo này có hàng nào hay không?” Lã Tam nói: “Dưa hấu không hạt Hải Nam, hai ngày nữa hàng về. Chị Hạ thẳng thắn, nhanh nhẹn, hào phóng, lộ trước cho chị biết, lấy bao nhiêu tuỳ ý chị.” Cô Hạ nói: “Lấy tạm ba thùng.” Lã Tam nói: “Ít thế thôi à? Đây là cơ hội kiếm tiền đấy!” Cô Hạ nói: “Chúng tôi làm ăn nhỏ, lỗ cái chết. Chẳng may không bán đi được, lỗ cả chì lẫn chài thì hỏng. Ăn miếng nào biết miếng đấy thì làm sao có thể làm một ngày ăn cả đời được!” Lã Tam cười, lại ngắt thêm quả nho nữa, vừa nhổ vỏ với hạt vừa nói: “Nói chị Hạ khôn, chị còn khôn hơn quỷ, cẩn thận lái tàu, trăm năm không đắm chẳng sai đi đâu cả”.
Lã Tam lại đeo cái kính râm to bự khấp khểnh đi về phía quán trà Tả Ngạn phía trước. Bước chân của Lã Tam không dài, đít nhô lên hạ xuống. Đây chính là kiểu đi điển hình đang rất thịnh hành của những người sắp thành ông chủ ở khắp các thành phố Trung Quốc bấy giờ. Nếu như cắp thêm cái cặp da đen ở nách nữa thì càng giống. Kiểu đi này luôn làm người ta có cảm giác bay bổng, đê mê, cao hơn người, bành trướng bản thân. Nghe nói kiểu đi này cùng với sự mở cửa của Trung Quốc, đã được các tư bản gia Đài Loan và Hồng Kông đem vào. Trải qua mười mấy năm phổ cập và phát triển, nó đã trở thành bài học vỡ lòng cho những người chuẩn bị gia nhập hàng ngũ các tư bản gia. Nhìn Lã Tam đang say sưa nhấp nhô mông đi vào quán trà Tả Ngạn, tôi thấy dạ dày lộn ngược buồn nôn. Tôi ba tuổi đi nhà trẻ, mười mấy năm đèn sách không phải là công không. Nội dung trọng tâm thầy cô giáo giảng thường gắn liền với hai từ “tố giác” và “phê phán”. Hai từ này làm tôi từ nhỏ đã hiểu địa chủ và tư bản đều không phải thứ tốt đẹp gì. Sự căm thù của tôi với chúng càng ngày càng tăng, cài sâu rễ cọc. Không ngờ rằng cô Hạ cũng tâm đầu ý hợp với tôi. Cô Hạ nhìn về phía lưng của Lã Tam, nhổ toẹt một bãi đờm, nghiến răng nói: “Toẹt! Đồ khốn!”. Rõ ràng nhận thức chính trị của cô Hạ cao hơn tôi hẳn một bậc, cô không những cho rằng Lã Tam là đồ chẳng ra gì, thậm chí còn cho rằng Lã Tam chẳng là đồ gì cả. Tôi học cách của cô Hạ, cũng mắng đế: “Đồ khốn”. Cô Hạ nói: “Mày chửi nó làm gì?” Tôi nói: “Cô chửi thì cháu cũng chửi.” Cô Hạ cười vỗ vai tôi, nụ cười vừa rạng rỡ vừa như được an ủi, cô nói: “Mày lớn hơn Vi Vi nhiều. Cái thằng quỷ sứ đấy có ngày nào không làm cô lo cơ chứ? Giống hệt thằng bố chết tiệt của nó”.
Tôi đã nhìn thấy bố của Vi Vi. Bố của nó quả đúng là ông bố chết tiệt, không chệch đi đâu. Bố nó trốn trong cái khung ảnh đen, khung ảnh đó được đặt ở nơi trang trọng nhất trong phòng khách nhà cô Hạ. Bố nó nhìn qua còn rất trẻ, trông như Vi Vi mười mấy năm về sau, mày rậm mắt nhỏ, khi cười lộ ra hàm răng trắng như sứ đúc. Ông bố nó mất năm 35 tuổi, xe chở than đè bố nó bẹp rúm như bánh kẹp thịt, năm đó Vi Vi sáu tuổi, cô Hạ vẫn còn là công nhân nữ tuyến một của xưởng dệt khăn mặt Thành Nam. Từ đó cô Hạ và Vi Vi sống dựa vào nhau. Cũng có người giới thiệu cho cô Hạ, nhưng với điều kiện của cô, những người được giới thiệu phần đông cũng cùng hoàn cảnh cả, cô Hạ nhất loạt từ chối. Lý do cô đưa ra là cô không muốn làm mẹ kế của người khác, cũng không muốn người khác làm cha dượng của Vi Vi. Bản thân cô cũng có cha dượng cô hiểu nỗi khổ đó.
Cô Hạ không bao giờ kể về tuổi thơ lãng mạn nhưng cũng đầy vất vả của cô. Điểm này hoàn toàn trái ngược với bố mẹ tôi. Bố mẹ tôi lúc nào cũng so sánh kể lể chỉ với một mục đích duy nhất, cho tôi hiểu rằng cuộc sống của tôi bây giờ hoàn mỹ và sung sướng biết bao, rằng tôi nên trân trọng, gắng học tập, phấn đấu để thành người có ích. Bố tôi kể khi ông còn nhỏ bụng đói, phải đi bảy, tám cây số đường núi để đi nhặt (mà tôi ngờ là đi trộm) khoai lang ăn; mẹ tôi kể khi bà còn nhỏ ngày nào cũng phải lên núi nhặt củi, chỉ vì một cành củi nhỏ mà bị những đứa trẻ khác bắt nạt; bố tôi nói, ngày bé bố cùng bà nội đi bán nước mát dạo, một xu một cốc, cả ngày kiếm được một xu tiền lãi đã sướng rơn như nhặt được cả cục vàng; mẹ tôi kể ngày bé bà phải đi đào rau dại như đi đào mìn, quỳ bên ruộng, đầu cúi gằm để tìm những cọng rau chỉ cần ăn vào không chết người để chống đói. Họ nói suốt ngày, chỉ tiếc không đạt được hiệu quả như mong muốn. Tôi vẫn hết sức ngưỡng mộ cái thời kỳ tự do rực lửa ấy. Về sau tôi có may mắn được xem bộ phim “Những ngày nắng rạng” của đạo diễn Khương Văn thì nỗi khát khao trở về thời kỳ ấy của tôi càng thêm mãnh liệt. Tôi không thể hiểu được tại sao lại vẫn có người coi những năm sục sôi ấy là một cơn ác mộng? Rốt cuộc là bố mẹ hay Khương Văn lừa gạt tôi, hay những người đang mơ những giấc mơ hãi hùng lừa gạt tôi?
Cô Hạ không bao giờ làm tôi phải băn khoăn như thế. Cô rất kỵ nhắc đến tuổi thơ của cô, cô chỉ kể về cuộc phấn đấu của hai mẹ goá con côi là cô và Vi Vi. Năm Vi Vi sáu tuổi, cô bị xưởng dệt khăn mặt đuổi về hưu sớm, lý do là cô đã thành một vật thừa, chỉ làm ảnh hưởng đến sản xuất của xưởng mà thôi. Cô Hạ nói: “Đấy mày xem, kết cục của các chị em công nhân vô sản là thế đấy.” Tôi ậm ừ gật đại, chỉ muốn hợp tác một chút để cô Hạ tiếp tục câu chuyện của mình. Cô Hạ sau khi bị xưởng đuổi chỉ muốn nhảy xuống sông Yên Thuỷ chết đi cho xong, nhưng lại thương Vi Vi còn nhỏ, cô đành ngậm đắng nuốt cay, cắn chặt răng cố gắng cho đến tận bây giờ. Cô trở thành hộ cá thể buôn bán nhỏ. Lúc đó hộ cá thể bị coi là công dân hạng hai của xã hội, không ai tôn trọng, cũng không ai thèm quan tâm giúp đỡ. Cô đã từng bán rượu ngoại, thuốc lá ngoại, bán trứng gà nhà, bán đĩa lậu, nếu không phải của nợ Vi Vi vướng chân vướng tay, có thể cô đã là bà triệu phú lâu rồi, một năm kiếm tầm năm sáu trăm nghìn chỉ là chuyện nhỏ.
Tôi cực kỳ khâm phục cô Hạ. Tôi một thân một mình xông pha chưa đến một tháng mà đã bụng đói cật rét, gần như tuyệt vọng rồi, thế mà cô Hạ hai bàn tay trắng lại thêm một đứa con nhỏ nhưng vẫn tạo dựng nên cơ ngơi của riêng mình. Mặc dù cô chẳng qua chỉ là một bà bán hoa quả ven đường, nhưng cô mua được nhà, mua được ấm no cho hai mẹ con. Điều này không biết có gợi cho những người cả ngày chỉ biết ngồi phòng lạnh hưởng lương nhà nước, ăn uống chơi bời, không làm việc gì, chút suy nghĩ nào không? Tôi nói: “Cô Hạ, cô đúng là một nữ hào kiệt! Cháu cũng sẽ học cô, cố gắng phấn đấu tự thân lập nghiệp.” Cô Hạ cười vang, vỗ lưng tôi nói: “Mồm mày đúng là bôi mật ong! Nói cứ ngọt như đường. Mày về sau nhất định sẽ thành công cháu ạ. Vi Vi thì chán lắm. Thằng ranh tính ngang như cua, có vào ngõ cụt cũng nhất định không thèm quay đầu lại, không tài nào yên tâm được”.
Cô Hạ làm gì cũng không quên nhắc đến thằng con trai cưng, nghe qua cũng thấy cô coi Vi Vi như hòn ngọc của mình. Thằng ranh Vi Vi đúng là sướng không biết đường sướng, chỉ thích làm phản. Nhưng nghĩ đi nghĩ lại, tôi cũng có khác gì Vi Vi đâu? Tôi không dám nghĩ tiếp nữa. Tôi không muốn người khác lo lắng cho mình, việc của tôi, tôi muốn tự quyết định lấy.
Vi Vi đối xử với tôi lịch sự hơn nhiều rồi, đấy là vì tôi nắm được đuôi của nó. Tôi mãi không có thời gian lắp cái khoá ở cửa, hoặc trong thâm tâm tôi chưa bao giờ định làm thế cả. Vì thế cửa phòng tầng hầm có cũng như không. Vi Vi dăm bữa nửa tháng lại xách chai bia mò xuống. Đầu tiên nó cầm một bình, một khoảng thời gian sau là hai, một bình cho nó, còn một cho tôi. Tôi hỏi: “Mày thích uống bia thế à?” Không ngờ câu trả lời của Vi Vi là: “Chẳng thích tí nào. Y như nước đái ngựa.” Tôi nói: “Thế mà mày còn uống? Giống hệt thằng bợm rượu.” Vi Vi cười khì khì: “Tao cứ uống. Thì làm sao? Tao thích thế!”
Tôi thấy thật ra mình thích Vi Vi xuống dưới đây. Nói thật tôi rất sợ ngồi một mình trong cái lỗ chuột này. Tôi không mở miệng, cả phòng yên tĩnh như một cái vực không đáy hút hết mọi thứ vào trong, còn tôi giống như một mảnh giấy rách, lờ đờ rơi tự do, nhưng rơi mãi, rơi mãi vẫn không chạm đến đáy, cứ xoay tròn, xoay tròn bay mãi. Đây là một trạng thái rất đáng sợ, tôi nếm thấy một vị có tên là cô đơn. Cô đơn làm người ta phát điên. Thế nên khi Vi Vi xuống đây, tôi mặt thì giả vờ không vui, nhưng trong lòng vui như mở cờ.
Hôm đó nửa đêm Vi Vi lại mò xuống.
Tôi nói: “Mày sao cứ như mấy con hồ ly tinh với ma nữ trong Liêu Trai ấy, chỉ chuyên đến lúc nửa đêm đèn tắt?”
Vi Vi chỉ tay vào cái đèn 12W nói: “Đèn đã tắt đâu, vẫn sáng ởn đấy thôi.”
Tôi lạnh lùng nói: “Sắp rồi. Tao chuẩn bị cho nó tắt bây giờ.”
Vi Vi nói: “Thế sao được! Tao là hồ ly tinh với ma nữ đấy, mày sợ không?”
Tôi lườm nó một cái, nói: “Chỉ tiếc mày là giống đực. Trong truyện truyền thuyết ma quỷ Liêu Trai toàn là hồ ly cái nửa đêm thanh vắng đến dụ dỗ tú tài nghèo thôi. Mày không phải hồ ly cái, tao cũng không phải tú tài nghèo. Mà cho dù mày là hồ ly cái đi, tao vẫn không phải là tú tài nghèo. Sợ gì?”
“Thế mày là gì?” Nó hỏi.
“Tao là đạo sĩ núi Lao Sơn.” Tôi vênh mặt nói, “chuyên trị hồ ly tinh.”
Vi Vi khì khì bật cười, lại lần nữa lộ ra hàm răng trắng muốt hút lấy cái nhìn của tôi, nhen nhóm lên mầm lửa ghen tị từ trong sâu thẳm. Vi Vi nói: “Mày cũng hài hước gớm nhỉ.” Nó ngồi xuống mép giường. Khoảng thời gian gần đây, nó lần nào đến cũng ngồi ngả ngốn trên cái giường quân dụng của tôi. Lần này thì càng được đằng chân lân đằng đầu, nhấc cả cái chân bẩn lên giường.
Tôi nói: “Ê ê ê, chú ý cái chân của mày đấy, đừng có mà làm bẩn giường tao.”
Vi Vi không những chẳng thèm nghe lời cảnh cáo của tôi, ngược lại còn vươn dài vai, nhấc nốt cái chân còn lại lên giường. Nó nheo cái mắt bé tí nhìn tôi nói: “Giường nào của mày? Giường này là của tao.”
Tôi nói: “Của mày thì mày khênh về phòng đi. Nếu mày đã đặt ở đây, xin lỗi nhé, nó là của tao.”
“Mày ngang ngược gớm!” Vi Vi nện cả người nó xuống cái giường của tôi. Tôi không làm gì được, đành tức tối lườm cái hình hoạ báo minh tinh cũ mèm trên tường, ừ hữ cho qua. Minh tinh trên tờ hoạ báo là Phạm Hiểu Huyên. Phạm Hiểu Huyên đang đội một cái mũ nghịch ngợm màu đen, mặc một cái váy bồng màu xanh da trời, nửa chính nửa tà nhìn tôi mỉm cười.
“Mày thích Phạm Hiểu Huyên à?” Vi Vi đột nhiên hỏi. Nó hôm nay không mang theo bia, ai mà biết nó mò xuống đây làm gì? Tốt nhất là lờ nó đi. Vi Vi lẩm bẩm một mình: “Phạm Hiểu Huyên cũng được. Tao cũng thích nghe nhạc của Hiểu Huyên.”
“Tao không thích.” Tôi tự dưng buột miệng nói. Tất nhiên là tôi thích rồi, nếu không tôi việc gì phải dán hình Hiểu Huyên ngay chỗ dễ nhìn nhất? Tôi thấy tiểu ma nữ này có thể đem lại cho tôi rất nhiều niềm vui. Âm nhạc của Huyên mang trong mình một thứ tiết tấu sôi động, phiêu bồng phản nghịch. Nhưng tôi nhất định nói là tôi không thích, tôi phải vạch rõ ranh giới với Vi Vi.
“À…” Vi Vi thở dài, nói: “Mày có ghét tao không?”.
Tôi hơi giật mình, đang định nói có, nhưng chẳng hiểu tại sao lại không thể thốt ra khỏi miệng. Thật ra Vi Vi không đến nỗi đáng ghét lắm. Ấn tượng của tôi về nó hơi tệ một chút nhưng cũng chưa đến nỗi ghét. Tôi phát hiện chúng tôi có nhiều tính giống nhau, chúng tôi đều là những thanh niên tuổi 16, muốn chứng minh rằng mình đã lớn đến phát điên. Chỉ có điều chúng tôi đều đang lên gân với nhau, tỏ vẻ mình chẳng thua kém thằng nào hết. Tôi quay đầu nhìn Vi Vi.
Vi Vi nhìn lại tôi, mặt nó lúc này trông thật tội nghiệp. Nó nói: “Tao muốn làm bạn với mày, mày không từ chối chứ?” Tôi đột nhiên cảm thấy có cái gì đó ẩn sâu đằng sau ánh nhìn của Vi Vi, một tia buồn mà lúc bình thường được Vi Vi nguỵ trang kín, bị tôi sơ ý bỏ qua. Tôi như nhìn thấu sự yếu ớt, mệt mỏi cắm rễ nơi thế giới nội tâm của Vi Vi. Nó không còn là thằng thanh niên đầu óc đơn giản, tính khí nóng nảy, vô tâm vô tư, nghĩ gì nói nấy nữa. Nó có tâm sự. Những người mang trong mình những suy tư thì làm sao có thể trở nên giản đơn được? Cho dù có giản đơn đi chăng nữa, cũng có thể đơn giản được đến đâu?
Tôi cuối cùng đã không từ chối. Khi người khác đưa cho bạn một cành ô liu thân thiện, liệu bạn có vứt nó xuống đất quay lưng đi không? Chí ít là tôi không thể. Tôi vẫn là đứa yếu lòng. Tôi nói: “Được thôi.” Tôi thấy Vi Vi cười. Lần này ai nói nó giống hồ ly tinh, tôi sẽ tặng ngay cho bông hoa năm ngón!