Sau khi quyết định bỏ học, Vi Vi đến nhà bà ngoại nó chơi mấy hôm. Nó đòi tôi cùng đi với nó, tôi từ chối. Tôi lấy lập trường tư tưởng của một nhà buôn, ngồi phân tích không biết mệt mỏi cho nó hàng giờ, giảng giải cho nó từng món tiền một sẽ thất thoát như thế nào nếu tôi cùng nó bỏ hàng mà đi. Tôi nói, mày đi một mình được rồi, tao không đi được.
Hằng ngày tôi cặm cụi chăm chỉ chăm sóc cửa hàng hoa quả này. Nhưng nói thật, tôi cũng đã cảm thấy chán nản rồi. Đây không phải là cuộc sống tưởng tượng ban đầu của tôi, dường như tôi đang từng ngày từng ngày bận rộn chỉ là để liên tục lãng phí cuộc sống của chính mình. Tôi không hy vọng như thế này, nhưng không có cách nào khác. Nửa đêm mộng về, tôi đã không chỉ một lần cả người gai lạnh. Tôi thật sự sợ hãi cuộc sống đang diễn ra ở đây.
Ngày thứ hai Vi Vi rời khỏi Yên Thuỷ, tôi tự cho phép mình nghỉ ngơi. Tôi không muốn đi đâu, cũng không muốn làm gì, chỉ nằm thẳng chân thẳng tay trên giường, ngước mặt nhìn trần nhà đờ đẫn. Các đường trang trí trên trần đã tróc rụng, những vết nước ẩm thấm loang lổ như một bức vẽ theo trường phái chủ nghĩa siêu thực. Tôi ngày trước ở nhà cũng hay như thế này, tôi thích nhìn trần nhà, mặc những suy nghĩ của tôi như những con ngựa trời bất kham cuồng loạn khắp nơi. Tôi đang ôn lại giấc mộng xưa, nhưng tôi đã không bao giờ còn tìm lại được niềm vui trong veo vô tư lự nữa. Tôi bực dọc khó chịu, cảm giác như đã mất đi toàn bộ sức tưởng tượng. Ngay cả bộ dạng tôi đang bày ra trên giường bây giờ đây cũng không chút sức sống, cứng đơ, phẳng lì, tàn tạ. Đúng thế, sự tàn tạ kết quả của việc mất đi những đường nét đẫy đà, tươi mát.
Tôi nằm trên giường cả ngày, chỉ ra khỏi giường một lúc để nấu cho mình một gói mì tôm. Không ăn miếng nào, mùi vị của mì tôm kích thích phản ứng sinh học tự nhiên, tôi buồn nôn. Tiếp tục nằm cho đến khi trời tối, không mở đèn, mặc cho màn đêm đâm toạc cửa sổ ùa vào nuốt chửng lấy tôi. Thật ra tôi rất thích trạng thái bây giờ. Cái gọi là thể nghiệm của tự do chỉ trong giây phút này đây mới thoát khỏi mộng cảnh trở về hiện thực. Không gian chỉ của một người, thời gian mặc sức chỉ huy, bạn còn vọng tưởng có niềm hạnh phúc nào hơn thế nữa?
Căn phòng đen đặc tĩnh lặng, những tiếng vỡ vụn vang lên từ trong lòng làm tôi bất an. Nó làm tôi cảm thấy như đang ngồi ôm một không gian khổng lồ, trống tuếch, không thể lấp đầy. Tôi đang chìm đi trong đó. Khi cảm giác thảnh thơi nhàn hạ lâu ngày mới có bỗng biến thành sự hẫng hụt tinh thần, nó làm con người ta như muốn ngạt thở, linh hồn sẽ tự nhiên không yên phận phát ra những tiếng gào thét. Tôi phải đứng lên làm cái gì đó rồi.
Đi ra phòng khách, bật tivi lên, không ngừng chuyển kênh, chỉ vì muốn có một ít tiếng động. Tivi đối với người mà nói là một con búp bê muôn mặt. Nó luôn rất chủ động nhảy vào vòng tay của bạn, nũng nịu đòi được âu yếm. Nhưng tôi lại ngủ quên trước tivi, một giấc ngủ trốn chạy.
Ngủ một mạch đến trưa ngày hôm sau. Tôi không hề có cảm giác đói. Lúc tỉnh dậy phát hiện trần tường thạch cao trên đầu hiện ra gương mặt cười thâm hiểm. Không thể tiếp tục nằm nữa! Tôi vội vàng dậy đánh răng rửa mặt qua loa, mặc vào chiếc áo sơ mi và đôi giày bóng lộn, đi ra phố, chui vào tiệm sách Tân Hoa vắng khách, cầm quyển sách du lịch có kèm hình đứng xem luôn nửa ngày. Ngẩng đầu lên, tôi vô tình bắt gặp ngay cái nhìn lạnh như băng của cô bán hàng, lại vội vàng vứt sách xuống, phi ra cửa chạy mất.
Thu đã đến. Đây là mùa tôi thích nhất. Gió thoảng mơn man vuốt qua mặt, lá của cây Huyền Linh Mục rì rào tát nhẹ vào tôi, dịu dàng đến thế, như muốn tránh điều gì rồi lại ngập ngừng không nói. Đám chó hoang trên đường cũng trở nên mát tính lạ thường. Một con lẵng nhẵng đi theo tôi nửa ngày, tôi tặc tặc gọi nó, nó chạy đến phục dưới chân tôi. Tôi định giơ tay vuốt đầu nựng nó, nhưng vừa giơ tay, lại làm nó sợ, chạy đi, trốn mãi đằng xa. Giữa các sinh mệnh sống chứa đựng đầy rẫy những sự uy hiếp và nguy hiểm tiềm ẩn, chính vì thế mà tự nhiên bản năng sản sinh ra sự đề phòng lẫn nhau. Giãn rộng khoảng cách là cách tốt nhất để bảo vệ chính mình, nhưng dù thế nào, chúng ta cũng vẫn phải xích lại gần nhau trong cảnh giác.
Lượn lờ một hồi, tôi lại quay trở về tiệm sách Tân Hoa, trơ mặt chôn chân trong đám kệ sách kê sát sịt. Tôi không cho rằng sách báo có thể giải quyết tất cả các vấn đề khó khăn của con người, nhưng ít nhất sách báo là một công cụ khơi nguồn sáng tạo không tồi, nó làm kẻ yếu ớt trở nên hùng mạnh, làm kẻ ngu muội trở nên thông minh, làm kẻ man dại trở nên văn minh. Ngồi ôm đống sách mơ màng chính là điểm xuất phát của ước mơ và hy vọng.
Tôi lật giở một quyển từ điển y học. Quyển sách dày đến 2000 trang với những chữ li ti bằng đầu con ruồi làm tôi một lần nữa thán phục trí tuệ và sức mạnh của con người. Tôi cho rằng một quyển từ điển được biên soạn cẩn thận cũng giống như một tác phẩm văn học đầy thành ý, đáng nhận được sự tôn trọng và kính cẩn. Đây cũng là lý do tại sao tôi đặc biệt yêu thích từ điển.
Tiệm sách cũng bán các loại băng đĩa ca nhạc. Lúc rời tiệm sách, tôi có mua một băng nhạc, tôi vẫn còn nhớ đó là tuyển tập bài hát thiếu nhi của Phan Hiểu Huyên. Trong tiết tấu nhanh, nhịp điệu rộn rã, Phan Hiểu Huyên cố gắng làm bật lên sự ngây thơ trong trắng của mình, nhưng theo những nốt nhạc, tôi cảm nhận rõ ràng nỗi buồn và sự hoang mang trong đó. Tối đến, tôi trằn trọc nằm nghe đĩa hát. Một chàng trai đang quay đầu nhìn lại tuổi thơ dần xa, thoáng chút do dự, thời con trẻ chỉ trong phút chốc đã quay mình biến mất hút nơi góc rẽ của cuộc sống. Vĩnh biệt nhé, tuổi thơ của tôi. Vĩnh biệt nhé, tuổi thơ tươi đẹp không bao giờ trở lại của tôi.
Khi Vi Vi từ nhà bà ngoại “cưỡi ngựa hồi dinh”, nhìn thấy tôi, nó lập tức xuýt xoa kinh ngạc. Nó nói: “Mới mấy ngày không gặp, sao mày đã ra nông nỗi này rồi?” Tôi hỏi: “Tao làm sao?”, rồi vội chạy đến trước gương tủ, phát hiện gương mặt Nam Cung Vĩ trong gương trông như một thằng người hoang dã hiện đại vừa thoát khỏi nơi rừng rú. Đám râu măng đầy dã tâm của tôi lún phún chọc da chờ ngày xuất phát, đầu tóc tôi rối bù, mỡ lên trông như rơm để lâu ngày. Một gương mặt phờ phạc, khoé mắt tích đầy gỉ mắt đã lên vảy. Vi Vi dí sát mặt vào hỏi: “Mấy hôm nay mày kiếm được bao nhiêu nhân dân tệ rồi? Dù kiếm nhiều kiếm ít, hôm nay mày nhất định phải mời tao đi ăn lẩu xiên.” Tôi vốn định nói tôi không hề mở cửa bán hàng, nhưng chợt thấy cụt hứng bèn không nói gì nữa.
Mấy hôm nay tôi chìm đắm trong nỗi buồn mãnh liệt mà mông lung của tôi. Nỗi buồn này tơ vò trăm mối, không biết bắt đầu từ đâu, nó nhằng nhịt, trừu tượng, là thứ mà người lớn thường cho rằng “nói là buồn cho oai”, thứ có chút trẻ con, có chút cố làm ra vẻ huyền bí. Nhưng không thể hoài nghi, khi nó xuất hiện trước mặt bạn, đối với bạn mà nói, nó hoàn toàn chân thực, đáng tin cậy, không cho phép bạn nghi ngờ. Tất nhiên cảm giác đó tôi không thể dùng lời lẽ để nói rõ.
Lẩu xiên là một món ăn dân dã rất được ưa chuộng ở Trùng Khánh, Tứ Xuyên. Một nồi nước dùng cay, đỏ, bốc mùi thơm ngào ngạt để trên một cái bàn vuông, thịt hoặc rau được dùng các que tre xiên lại thành các xiên, một hào một xiên, vừa rẻ vừa ngon. Đêm về khuya, những xe đẩy bán lẩu xiên đúng giờ xuất hiện ở các đầu đường hoặc đầu hẻm. Lẩu xiên là món không thể lọt vào các cửa hàng ăn sang trọng, cách phối hợp đồ ăn hết sức tuỳ ý đã quyết định bản sắc quê mùa của nó. Nhưng chúng tôi đặc biệt thích ăn lẩu xiên. Sự không cầu kỳ của nó đã tạo cho chúng tôi một vũ đài tuyệt vời nhất, tự nhiên nhất để chúng tôi tha hồ ngoác mồm nhai nuốt, tha hồ xuýt xoa kêu cay.
Tôi với Vi Vi đang mồm hét, tay chơi oẳn tù tì. Các kiểu các loại chơi được lôi ra bằng hết, từ anh với em đến đi chặt củi, từ con hổ con sâu lại con gà cho đến hai con ong con, cuối cùng Vi Vi dạy cho tôi một kiểu oẳn tù tì phạt uống rượu rất đặc biệt. Vi Vi khua tay múa chân đọc: “Mặt trời đo đỏ, bầu trời xanh xanh; Thảo nguyên một màu, chân trời bất tận; Cụ già xuống núi thích xem phim mát; Phim mát 10 đồng, phim mát 15 đồng, phim mát 20 đồng, phim mát miễn phí…”
Bài oẳn tù tì phạt rượu này làm tôi nghe xong đỏ hết mặt. Nhìn sang xung quanh, không thấy có ai dội những con mắt ngạc nhiên vào chúng tôi. Đã thế làm tới luôn, chúng tôi giống như những thằng đàn ông lao động thô lỗ, áo không đóng ngực phanh ra, gào lên tục tĩu mà không hề xấu hổ. Tôi nhìn thấy cuộc sống của tôi đang dọc theo đường ray chìm tiếp tục chạy sâu xuống, không thể quay ngược trở lại. Tôi từ chín tầng mây rơi thẳng xuống dưới mặt đất. Cũng có thể cuộc sống thực vốn là tục tằn, thô lỗ như thế, nhưng liệu có phải vì thế mà chúng ta buộc phải từ bỏ khao khát về một cuộc sống nhẹ nhàng, hiền hoà, văn minh?
Chúng tôi ăn uống nhồm nhoàm, thỉnh thoảng đệm thêm vào một số đề tài nóng. Sắp kết thúc, Vi Vi đột nhiên tuyên bố: “Nam Cung, tao quyết định rồi, tao với mày cùng đi buôn”. Tôi châm chọc: “Không phải mày có món tiền lớn à? Cần gì phải chịu khổ chịu nhọc?” Vi Vi nói: “Nam Cung tao đây không phải nói đùa với mày đâu, cũng không phải là tao nhất thời nổi hứng. Mấy hôm nay tao nghĩ kỹ rồi, mày nói đúng, chẳng ai có thể ôm một quyển sổ tiết kiệm ăn cả đời được.” Vi Vi nói rất kiên định, chính vì sự kiên định đó của nó, tôi đã phải trợn mắt nuốt trọn tất cả những lời nói đùa ngược vào trong bụng. Suy nghĩ một lúc tôi hỏi: “Mày nghĩ kỹ rồi?” Vi Vi trả lời: “Nghĩ kỹ rồi.” Tôi hỏi: “Không hối hận?” Nó đáp: “Không hối hận.” Tôi cười cười, hạ thật thấp giọng: “Câu này bây giờ nói còn hơi sớm”. Không biết Vi Vi có nghe thấy không.
Bữa ăn kết thúc, những nhà dân xung quanh hầu như đã tắt hết đèn. Trên đường, đèn cao áp cái tối, cái sáng. Nhìn lên một cái còn đang sáng, một thứ ánh sáng đang giãy lên lần cuối trước khi ngừng hẳn, thứ ánh sáng làm người ta hoang mang bực bội. Tôi và Vi Vi đi sâu vào trong bóng tối, Vi Vi tay vung cao, chân sải bước dài tiến lên phía trước, còn tôi nhìn trước ngó sau, chỉ sợ vấp ngã. Chúng tôi cứ thế đi, trong đêm vang lên tiếng hát biến dị của Vi Vi đang trong thời kỳ vỡ giọng. Tiếng hát đó xuyên qua tầng tầng, lớp lớp màn sương năm tháng, cất cao vang vọng, như đang lảnh lót ngay bên tai. Bạn nghe xem, Vi Vi đang hát:
“Vứt đi ưu phiền, làm điều mình muốn!
Vứt đi ưu phiền, làm điều mình muốn!…”
Vi Vi trở thành thằng học việc của tôi, câu này là tự Vi Vi nói, nếu để tôi nói thì đây là tôi mời một đại gia đến nhà. Vi Vi là loại ham ăn lười làm, cái chổi đổ xuống cũng không thèm dựng lại. Tôi nói Vi Vi thế có thể không công bằng lắm, nói gì đi nữa, lúc nó thích lên cũng chạy trước chạy sau, nhiệt tình giúp sức. Nhưng, nói có lương tâm, những lúc như thế tuyệt đối chỉ là hãn hữu, trăm năm khó được một lần. Mâu thuẫn hai đứa nảy sinh. Tôi nghiêm mặt nói với Vi Vi: “Lưu Vi, mày nghĩ kinh doanh buôn bán là trò chơi à? Thích chơi sớm về nhà mà chơi, tao không hơi đâu hầu mày chơi.” Vi Vi cười khì khì: “Mày không thấy tao cả người mồ hôi hôi rình đây à, chơi đâu mà chơi?” Tôi không có cách nào nói cho nó hiểu, đành lắc đầu, thở dài, quay đi.
Hội chợ. Trưa đến, tôi bảo Vi Vi chạy đến cửa hàng ăn của Trần Thái Kiện ở đầu phố mua hai phần cơm hộp về. Trần Thái Kiệt năm nay tuổi đã quá ba mươi nhưng vẫn độc thân, mấy lần đến mua hoa quả hàng tôi, đi qua đi lại thế là quen. Anh ta là một nhà chính trị gia nông thôn nhiệt tình, có một hệ thế giới quan mâu thuẫn nhưng rất thú vị. Vi Vi đi nửa ngày rồi vẫn chưa thấy về, tôi đoán chắc nó lại đang gân cổ lên tranh cãi với Trần Thái Kiện. Tôi từng nói đùa Trần Thái Kiện không làm luật sư quả là phí, anh ta mà đã tranh luận một vấn đề gì với bạn, việc gì cũng có thể tạm thời bỏ đấy, một lòng một dạ nói cho đến khi bạn im lặng giơ cờ trắng đầu hàng mới chịu thôi. Nhưng Vi Vi cứ nhất định thích cạnh tranh với anh ta. Bạn chưa nhìn thấy cảnh tượng đó, hai người vì một chuyện chẳng hề liên quan đến mình gân cổ đỏ mặt lên tranh cãi, tay vung chân vung như muốn chiến đấu một mất một còn. Tôi thấy Vi Vi cũng thật là, tôi ngồi đây đợi mòn đợi mỏi bụng sôi ùng ục, nhưng lại không thể bỏ hàng đi được, sợ đi một cái mất toi một người mua.
Một tiếng sau, Vi Vi cuối cùng cũng trở về, tay bưng khay đựng một đĩa rau cải trắng xào, một đĩa thịt chiên muối, một bát canh rau, một bát cơm. Tôi nở nụ cười thân thiện chào tiễn biệt một bà khách vừa mua lê, quay đầu lại, mắt long sòng sọc nói với Vi Vi: “Tao cứ tưởng mày bị mẹ mìn bắt đi rồi chứ, đang định đi báo công an đây!”. Vi Vi điềm tĩnh nói: “Ăn cơm xong lấy sức cáu tiếp, cáu lúc đói bụng dễ bị đau dạ dày.” Tôi nói: “Mày về muộn thêm tí nữa dạ dày tao cũng đủ đau rồi!” Tôi mặc dù trong lòng còn rất bực tức, nhưng không có thời gian để chấp với Vi Vi, vội vàng ăn cơm. Ăn giữa chừng, Vi Vi đột nhiên hỏi: “Mày nhìn thấy đĩa bay bao giờ chưa?”. Tôi nhất thời không nghe rõ, hỏi lại: “Cái gì?”. Vi Vi ngừng đũa nói: “Trần Thái Kiện nói nhìn thấy đĩa bay. Tao chắc là nói dối.”
Lúc này có người vào mua táo tàu, chờ tôi tiễn khách đi xong, Vi Vi tiếp tục: “Tao thấy Trần Thái Kiện đầu óc có vấn đề. Đĩa bay, sao tao không thấy bao giờ?” Tôi nói: “Cái mày chưa thấy còn đầy, mày có thể nói chúng đều không tồn tại không?” Vi Vi cãi: “Tai nghe là ảo, mắt nhìn mới là thực, tao chỉ tin những gì tao nhìn thấy.” Tôi nói: “Mày nhìn thấy đều nhất định là thực à?” Đối với những thứ tôi không hiểu, tôi không bao giờ khinh suất phủ định, nhưng tôi sẽ giữ một chút cảnh giác và nghi ngờ hợp lý và cần thiết, vì thế giới này có quá nhiều chân tướng bị bao trùm bởi các ảo giác, đúng và sai không phân biệt rõ ràng.
Cuộc nói chuyện của tôi và Vi Vi không đi sâu thêm nữa. Bên ngoài cửa có tiếng ồn ào, rồi tiếng trống chiêng rộn rã, giọng khàn khàn của một người đàn ông có tuổi át hết các tạp âm phố chợ: “Võ cổ truyền dân gian, đem vui cho mọi người, có tiền cho tiền, không tiền góp vui!”. Vi Vi chạy vút ra, sự tò mò của tôi cũng bị đánh thức, tôi ra đứng bên cửa nhòm về phía đám đông.
Một đám người vây xung quanh một già một trẻ. Hai người này như đã từng gặp ở đâu. Ông già mặc một chiếc áo tà dài, thằng nhỏ trọc đầu chân đi đất. Ông già gõ chiêng thu hút khách, thằng nhỏ ở giữa lộn liền bảy, tám vòng. Trong đám người xem vang lên những tiếng khen hay. Vì cách mất một đoạn, thêm nữa bị người che mất tầm nhìn, tôi xem không được rõ lắm. Tôi đoán hai ông cháu này tám, chín mươi phần trăm là lưu lạc giang hồ. Những người kiểu này hết sức xa lạ đối với tôi. Năm mười tuổi, có một đoàn xiếc tỉnh ngoài đến thành phố nơi tôi cư trú. Ngày đó, tôi ngày nào cũng đòi mẹ cho đi xem họ biểu diễn, xem họ bay đi bay lại trên không trung, nuốt kiếm, giẫm chân đi trên đậu phụ, dạy chó tập tính. Trong mắt tôi, họ đều là những nhân vật thần bí. Tôi mê đắm họ đến mức tẩu hoả nhập ma, không phương cứu chữa. Trong một khoảng thời gian rất dài sau khi họ rời khỏi thành phố, tôi vẫn ấp ủ trong lòng hy vọng một ngày nào đó họ sẽ trở lại. Nhưng họ không quay trở lại. Sự xuất hiện bất thần của họ dường như chỉ để tặng cho tuổi thơ tôi những câu chuyện cổ tích hiện thực tuyệt vời, cho tôi tin rằng không có gì là không thể. Rất nhiều năm sau đây, họ lại xuất hiện dưới hình thức khác. Cho dù tôi cố gắng tỏ vẻ trưởng thành đến đâu, sự trẻ con của tuổi mười sáu vẫn không thể kìm nén, xộc hết ra ngoài. Tôi bước nhanh khỏi hàng hoa quả, cắm đầu lách vào đống người ồn ã, phát huy hết tinh thần kiên cường bất khuất cao đẹp, không sợ khó khăn gian khổ, lách cho lên tận hàng đầu.
Biểu diễn của hai ông cháu bắt đầu đến hồi gay cấn. Ông già tay cầm một bó đuốc, hua đi hua lại trong không trung, thằng nhỏ phì hơi, một con rồng lửa đột nhiên vụt bay lên không rồi chớp mắt biến mất. Tôi nhớ ra rồi, buổi chiều giữa hè tháng Bảy, tôi đã gặp thằng nhỏ này, nó chẳng thèm báo trước xông ra doạ tôi hồn bay phách lạc. Chính nó và những kỳ nhân khác đã khơi gợi sự tò mò của tôi về mảnh đất Yên Thuỷ nhỏ bé này, họ đã viết nên những cung điệu ký ức của tôi: ngạc nhiên, kỳ bí, khó nắm bắt, không thể đoán trước.
Hàng loạt các con rồng lửa vụt bay vụt biến, đám người nổ tung lên những trận reo hò. Không biết từ bao giờ Vi Vi đã mò ra bên cạnh tôi, Vi Vi nói: “Thế nào, họ biểu diễn không tồi đấy chứ?”. Tôi nói: “Tao ngày trước xem qua rồi.” Vi Vi không hề tỏ vẻ ngạc nhiên, nó nói: “Họ sống ở Yên Thuỷ, mày chưa xem bao giờ thì mới lạ”. Nó bổ sung thêm câu nữa: “Họ là khách của Trần Thái Kiện.”
Thằng nhỏ bắt đầu tung hứng bóng, năm quả bóng màu cam lượn lên lượn xuống bay múa trong tay thằng nhỏ, nhìn hoa hết mắt. Ông già tay cầm một cái đĩa đồng sứt vàng choé đi đến trước từng người để xin thưởng. Mọi người rào rào vứt một hào hai hào lẻ vào cái đĩa sứt. Ông già đi đến trước mặt chúng tôi, Vi Vi vứt vào đấy một đồng xu một tệ. Tôi thọc tay vào túi, tiền trong túi ấm và ráp. Tôi lôi ra một tờ mười tệ để vào trong đĩa, ông già cất tiếng cảm ơn.
Ông già đi ra chỗ khác, Vi Vi quay sang nháy mắt cười: “Mày rộng rãi thế. Tao cứ nghĩ mày là thằng bủn xỉn cơ đấy”.
“Ai nói tao rộng rãi? Tao là thằng bủn xỉn đấy!” Nói thật, tiền vừa vứt ra tôi đã thấy đau lòng lắm. Những mười tệ, nửa cân hoa quả mới kiếm được hai ba hào bạc, phải bán bao nhiêu hoa quả mới kiếm được chứ! Nhưng tôi không hối hận. Họ đã giúp tôi đánh thức dậy những ký ức tuổi thơ phủ đầy bụi của tôi, tôi vì thế mà được hưởng thụ trong phút chốc sự ngọt ngào ấm áp ngày xưa. Số tiền tôi đã trả có đáng là bao.
Ông già đi đến ai cũng gật đầu cảm ơn. Khi ông đến trước mặt một người đàn ông tuấn tú mặc comlê thẳng đứng, mọi người đều giật sững mình, vì tất cả rõ ràng vừa nhìn thấy người đàn ông kia đưa một xấp tiền mới tinh cho ông già. Kiểu thưởng này đã không thể dùng hai chữ “thương tình” mà có thể giải thích được. Càng làm người ta kinh ngạc là ông già không những không nhận món tiền từ trên trời rơi xuống, mà còn nhổ toẹt một bãi đờm vào bộ quần áo của người đàn ông đẹp trai kia, chỉ thẳng vào mặt anh ta giọng đanh thép: “Biến!”.
Tôi cũng giống như tất cả mọi người há hốc mồm chẳng hiểu chuyện gì. Ông già nhìn thẳng vào mặt người đàn ông, mặt đỏ bừng như sắp bùng nổ, cơ thịt mỏng trên mặt rung lên từng cơn như bị co giật, nhưng cuối cùng ông không nói ra câu nào, thở dài một tiếng, lập chập quay ra thu dọn đạo cụ, dắt thằng nhỏ bước thấp bước cao đi mất. Người đàn ông kia như muốn gọi lại, nhưng cũng chỉ há mồm mà không nói, rồi ủ rũ ngậm lại, uể oải lách khỏi đám đông.
Họ đi xong, đám người còn lại bùng nổ các loại thảo luận, ầm ĩ một hồi, nhưng vì không ai biết nội tình, nên cũng chỉ dừng lại ở các giả thuyết tưởng tượng. Tôi nghe thấy Vi Vi nói: “Võ Hãn Đông với bọn họ chắc chắn có mối quan hệ không bình thường, Võ Hãn Đông chắc làm chuyện gì có lỗi với hai ông cháu rồi. Mày nghĩ đúng không?” Tôi hỏi: “Võ Hãn Đông là ai?” “Võ Hãn Đông chính là người mặc comlê đấy,” Vi Vi trả lời, “tao nhìn thấy lúc đi hình như anh ta khóc. Đàn ông con trai mà khóc, đúng là kém! Quá kém!”
Cuộc sống của tôi trước năm 16 tuổi là một mặt hồ thu, phẳng lặng đến độ làm tôi bất mãn. Tôi lúc nào cũng mơ ước bão táp phong ba mau đến cuốn tôi đi vào những câu chuyện truyền kỳ đầy bí ẩn. Tôi cho rằng truyền kỳ chỉ là thứ do các nhà văn tưởng tượng ra, còn cuộc sống thực tế của chúng ta chỉ là những chuỗi ngày vụn vặt, buồn chán. Về sau tôi phát hiện cái được gọi là truyền thuyết đều được ấp ủ từ những vụn vặt cuộc sống, con người ta sống trong đó mà không hề hay biết, phải đợi đến lúc mọi chuyện đã qua, quay đầu nhìn lại mới chợt hiểu ra, ngộ ra điều diệu kỳ trong đó. Quá trình trải qua chỉ cho chúng ta những cảm nhận mơ hồ, còn để nhìn nhận rõ ràng cần phải đứng trên một điểm cao sau khi toàn bộ quá trình đã kết thúc. Chúng ta không ngừng thể nghiệm, không ngừng đi từ những điểm cao này đến điểm cao khác. Trong quá trình lên lên xuống xuống, lớp nọ chồng lớp kia, chúng ta vẽ nên đồ thị cuộc đời hình răng cưa của chính chúng ta. Không phải là toàn bộ, nhưng lại là toàn bộ.
Hoàng hôn, tôi dựa lưng vào cửa, tắm mình trong những tia nắng cuối cùng của ngày. Màu tím trầm sâu từ từ lượn quanh tôi, chìm dần. Tôi cảm nhận thấy cái giá lạnh trong gió. Đám lá đã chuyển sang màu nâu sẫm của cây Huyền Linh Mục từng chiếc từng chiếc rụng xuống. Thu là mùa buồn, khi một trái tim nhạy cảm chạm vào thu sẽ tạo thành chữ sầu. Nỗi buồn nhớ nhà của người trai trẻ lần đầu xa quê như từng lớp tơ cuốn chặt lấy tôi.
Tôi nhớ mẹ. Hồi nhỏ tôi bước trước bước sau quấn lấy mẹ không rời. Đêm đến sợ tối, tôi nhất định đòi bằng được mẹ nằm bên cạnh mới có thể yên tâm say ngủ. Không còn nhớ là năm lên năm hay sáu tuổi nữa, nửa đêm tỉnh dậy, không thấy mẹ đâu, tôi thất thanh khóc lớn: “Mẹ, mẹ, mẹ ơi! Mẹ ở đâu rồi? Mẹ ơi, mẹ ơi, mẹ về mau đi, con sợ!…”. Tôi mò mẫm trong đêm tìm dây cắm đèn, nhưng ma xui quỷ khiến thế nào lại vấp vào chum đựng nước. Lúc đó đang là đông, tôi ướt lướt thướt bò dậy, run rẩy chui vào ngồi cạnh lò sưởi, khóc hết một đêm. Sáng hôm sau mẹ tan ca về, nhìn thấy tôi xót xa ôm vào lòng. Tôi giãy ra, dùng hai bàn tay bé xíu đánh vào người mẹ, gào lên khóc: “Mẹ hư! Mẹ hư!”. Mẹ vuốt ve tôi nói: “Là mẹ hư, mẹ đáng đánh, Tiểu Vĩ đừng khóc nữa, mẹ xin lỗi Tiểu Vĩ rồi còn gì!”. Mẹ lột bộ quần áo ướt ra thay bộ mới, nhẹ nhàng ru tôi ngủ. Về sau, khi lên cấp Hai, có một lần mẹ vô tình nhắc lại chuyện cũ, cười tôi là đồ nhát gan, tôi cãi bay, lấy lý do không nhớ, buộc tội mẹ đặt điều. Nhưng thật ra, tôi vẫn nhớ mãi. Cảm giác hoảng sợ, lo lắng, bất an khi mất đi sự bảo vệ đủ để làm một đứa trẻ yếu ớt suy sụp, tuyệt vọng. Tôi mong muốn biết bao được một lần nữa ngủ trong lòng mẹ, để mẹ vỗ nhẹ vào lưng, hát ru, kể chuyện, dỗ tôi ngủ ngoan. Tôi hy vọng được sống cả đời hạnh phúc như thế.
Còn cả bố nữa. Lúc nhỏ bố vẫn còn đi bộ đội, hiếm lắm tết lễ mới được về nhà. Bố mua cho tôi rất nhiều đồ chơi, tôi vẫn nhớ có hai con gà trống sắt sơn màu sặc sỡ, vặn dây cót lên, hai con gà trống con liền tách tách nhảy bắt sâu. Mấy ngày cuối cùng của Tết năm đó, món đồ chơi yêu thích của tôi không cánh mà bay, tôi khóc, bố liền dỗ: “Không sao, bố sẽ mua con khác cho con!”. Bố quả thật mua lại cho tôi một con. Lúc đó tôi thấy bố yêu tôi lắm, tôi cũng yêu bố. Đến lúc bố phải về đơn vị, tôi không muốn bố đi, tôi nói: “Bố ơi, bố đừng đi”. Bố xoa đầu tôi nói: “Con trai ngoan, mấy tháng nữa bố lại về, con ở nhà phải nghe lời mẹ, biết không?” Tàu lăn bánh, trong tiếng rít sắc nhọn của bánh sắt tàu chạm vào ray, tôi khóc sưng húp hết hai mắt, ai dỗ cũng không nghe, chỉ một mực hét gọi bố ơi, bố ơi…
Nắng chiều tan, đêm đến. Trong cái vòng luẩn quẩn của sáng sáng chiều chiều của hoàng hôn nối tiếp, trong cái vòng luẩn quẩn của gió thu lá rơi của trăng tròn trăng khuyết, trong cái vòng luẩn quẩn của đêm đến phố nhỏ, nhà nhà lên đèn, trong cái vòng luẩn quẩn của nhớ mong mong nhớ thảng thốt không yên, tôi sắp bị vùi ngập, mất đi nhịp thở, nhịp đập tim. Tôi sắp bị bản thân xé nát rồi! Tôi sắp phát điên rồi! Phát điên! Phát điên! Phát điên! Điên thật sự!
Vi Vi đã về nhà, một mình tôi đi trên phố, ánh trăng tràn ra như nước. Tại sao ánh trăng lại luôn như nước? Trăng hôm nay trắng bệch, như mặt một đứa trẻ vừa bị doạ nạt, mờ mờ hiện lên làn khói băng xanh mỏng manh, đẹp yếu ớt. Gió rất dịu dàng thổi những làn hơi buốt mang mùi rừng thẳm, giống như một điệu hát cúng nguyền rủa thoảng bay, làm người ta run sợ, rung động tâm thần. Lá khô dưới chân phát ra những tiếng vỡ vụn, một thứ tiếng mang theo mùi chết chóc để bắt đầu cho mầm mới của sự sống. Quả quyết, dứt khoát, không thể đổi thay.
Tôi cứ thế đi, chậm rãi gặm nhấm sự mệt mỏi và cô đơn. Đêm thật tuyệt, có thể đắm chìm trong tâm sự riêng mình mà không sợ ai quấy rầy. Xin hãy cho tôi quay lại với khoảng thời gian ngây thơ trong sáng không chút lo lắng muộn phiền! Tại sao cứ phải trưởng thành? Cái giá của trưởng thành sao cứ nhất định phải là sự không thống nhất giữa tư tưởng của hai thế hệ, thậm chí là sự chia cắt hoàn toàn? Khi cô giáo đưa cho bố bản nháp thơ nham nhở tôi viết trong giờ lên lớp, bố đã cho tôi một cái bạt tai. Đấy là lần đầu bố đánh tôi, còn cả mẹ, người từ trước đến giờ luôn che giấu tội lỗi cho tôi, cũng nghiêm khắc phê bình tôi. Tôi hoảng sợ ngơ ngác đối diện với sự thay đổi quá nhiều và quá nhanh, tôi sợ họ đã không còn yêu tôi nữa, tôi không còn là bảo bối cưng mà họ yêu thương nữa. Tại sao lại thế? Ai có thể cho tôi biết tại sao, tại sao, tại sao không?
Một người lang thang trong cô đơn, một hồn ma cô độc, không chốn quay về, không một mục đích. Những người khác đều đang tập trung trước tivi chờ đợi những tập phim truyền hình xem rồi để quên. Ánh trăng khoác lên người tôi, bên cạnh tôi bây giờ chỉ có một cái bóng đơn mảnh. Đột nhiên nỗi buồn tự đến, đúng thế, tôi nhớ nhà. Sắc trăng mùa thu là thứ dễ gợi nỗi buồn tha hương của người xa xứ nhất. Tôi thật sự nhớ bố mẹ, họ liệu chăng cũng nhớ tôi như thế?
Tôi không ngờ giờ khắc này, không gian này có thể bị kẻ khác phá vỡ. Phù một tiếng, luồng lửa hung hãn, độc đoán xuất hiện đánh tan suy nghĩ ngọt ngào, chua xót của tôi. Trong bóng tối dưới mái hiên góc phố phát ra tiếng cười khoái chí của thằng con trai. Tôi không kìm được tức giận, sắp bộc phát ra, chợt nghe thấy tiếng của thằng nhỏ. Tôi không nhìn rõ mặt nó. Thằng con trai nói: “Muộn thế này rồi, mày đi một mình à?” Nó lại tiếp tục khanh khách cười, hạ thấp giọng âm u hỏi: “Mày không sợ ma à?”.
Cái cửa gỗ đằng sau lưng nó mở bung, ánh đèn đục hắt ra, tiếng một người đàn ông có tuổi gọi lớn: “Cường Oa, con đang nói chuyện với ai đấy?”.
Thằng con trai trả lời không theo đúng nội dung được hỏi: “Hôm nay nó cho chúng ta mười đồng đấy!”
Tôi đã nhìn rõ hai người này, chính là hai ông cháu sáng nay tôi vừa xem họ biểu diễn. Ông già chậm rãi ngước nhìn kỹ tôi, gật đầu cười, nói: “Vào uống chén nước cho nóng người đã. Đêm nay hơi buồn cười, trời nổi gió đông bắc”.
Đêm muộn xào xạc hát. Gió thổi mây đến, ánh trăng ngoài cửa biến mất. Tôi ngồi trên một cái ghế tựa gỗ sơn màu đỏ, đối diện là hai ông cháu chuyên đi đây đi đó biểu diễn võ cổ truyền. Cách ăn mặc khác thường của hai ông cháu đã nói rõ công việc khác người của họ, dường như nó cũng ẩn dụ cho cuộc đời đầy bí ẩn của họ nữa. Ông già đưa cho tôi một cốc trè hoa nhài vừa pha. Nhấm một ngụm nhỏ, mùi nhài ngào ngạt, tôi nói: “Trà ngon”.
Ông già nói: “Ngon ở đâu?”
Tôi trả lời: “Có một mùi thơm thoảng rất dễ chịu, vị cam ngọt.”
Ông già cười nói: “Đây vẫn chưa được coi là trà ngon, trong mắt người biết thưởng thức trà, trà nhài chỉ được coi là loại thấp cấp không đáng để đem ra tiếp đãi.”
Tôi phản đối nói: “Nhưng mà cháu thích, với cháu nó là trà ngon. Cháu mà không thích, cho dù là trà Long Tỉnh cũng chẳng là gì.”
Tôi muốn biểu đạt một ý, nhưng lúc đó bản thân tôi cũng chưa kịp nghĩ kỹ càng. Tôi bây giờ muốn nói rõ, ý tôi muốn nói là, một người nếu như chỉ quá chú trọng vào đẳng cấp mà quên đi cảm nhận thực thụ, thì người đó chỉ là đang biểu diễn một màn kịch khoe khoang mà thôi. Nếu như một cốc trà hoa nhài có thể đem lại cho bạn niềm vui và sức khoẻ, bạn hoàn toàn có thể dõng dạc tự tin nói cho người khác biết bạn đang thưởng thức một cốc trà ngon. Không lừa dối người khác, quan trọng hơn là không lừa dối bản thân, cách thưởng thức như vậy mới thể hiện là người có tính cách mang đặc trưng riêng và vượt lên những phàm tục đời thường.
Ông già lại cười, một nụ cười mỉm gói chút thích thú và đồng tình. Thằng có tên là Cường Oa đang rất mất kiên nhẫn ngồi bên cạnh nghe chúng tôi nói chuyện. Đột nhiên nó vỗ vào vai tôi, bẹt một tiếng, nó vứt lên bàn uống nước một đống gì đen sì sì. Cái đống đấy cử động được, ngoằn ngoằn ngoèo ngoèo, thè lưỡi phun phì phì, hiện rõ thân hình của một con trăn hoa, xém chút nữa là tôi co chân chạy.
Ông già đanh giọng mắng nó: “Mày lại đi doạ người rồi, lần sau mà như thế xem ông có đánh cho quắn đít không?” Cường Oa cứ như không nghe thấy gì, nó hai tay nâng con trăn hoa lên quấn vào cổ mình, nói: “Mày sợ nó à? Yên tâm, nó không cắn mày đâu, mày xem, răng nó bị tao bẻ hết rồi”. Cường Oa vạch cái mồm rộng hoác của con trăn ra cho tôi xem: “Thế nên mày không phải sợ, mày sờ nó xem. Nó sẽ nói cho mày biết, tên nó là Hoa Hoa. Tên này tao đặt đấy, hay không?”
Tôi bị kinh động nhũn hết chân tay. Tôi trước có nói rằng tôi sợ nhất là trăn rắn, nhìn thấy chúng, các lỗ chân lông của tôi co cụm hết lại, nổi sần gai gà, làm sao còn dám mó dù chỉ một ngón tay vào nó. Ông già lớn tiếng ra lệnh mang con trăn đi chỗ khác, Cường Oa đầy thất vọng liếc khoé tôi một phát, mặt sa sầm đi ra ngoài.
Ông già nói: “Cháu đừng giận.” Mãi đến lúc này tôi mới hoàn hồn, miễn cưỡng nở một nụ cười méo xẹo đáp lễ ông. Ông già tiếp: “Cháu không phải người bản địa đúng không?” Tôi nói: “Cháu không phải ạ.” Ông già nói: “Chúng tôi cũng là người nơi khác đến.”
“Đến đây bao lâu rồi ạ?”
“Hơn nửa năm.” Ông nhà lẩm nhẩm nói: “Đúng tròn bảy tháng.”
“Chỉ ở Yên Thuỷ này thôi ạ?” Tôi hỏi.
“Cũng gần như thế.” Ông già uống một ngụm trà nói: “Bình thường các dịp hội chợ cũng đến các vùng xung quanh, kiếm miếng cơm ăn thôi mà.”
“Sao ông lại chọn ở lại Yên Thuỷ?” Trong đầu tôi nghệ nhân giang hồ và kẻ lưu lạc nay đây mai đó là hai từ đồng nghĩa, họ không có lý gì dừng chân lâu ngày tại một nơi, vì thế tôi hỏi tiếp: “Sao ông không đi đến chỗ khác?”.
Ông già trầm ngâm một hồi mới nói: “Có việc mới ở lại”.
“Rất quan trọng ạ?”
“Rất quan trọng.”
Bên ngoài trời đổ mưa. Trận mưa đầu tiên của mùa thu. Những con ve sầu giấu mình trong góc của bóng tối đang hát lên những bài điếu tang cho chính mình. Sau trận mưa này chúng đều sẽ chết, đợi đến mùa hè rực rỡ năm sau mới lại quay lại trần gian. Đất trời mênh mông, khách qua đường vội vã. Ai không phải là khách qua đường? Cuộc sống ngắn khổ!
Vù vù mấy tiếng, bàn trà trước mặt tôi lại có thêm mấy cái phi tiêu nhỏ đuôi cột dây đỏ. Đây tất nhiên vẫn là kiệt tác của Cường Oa. Ông già mắng nó. Cường Oa nhăn mặt nhìn ông, sau đó rất đắc ý quay ra tôi nói: “Thế nào? Lợi hại không? Tao còn biết múa đao đầu quỷ đấy, mày muốn xem không?”. Tôi nói: “Để sau đi, có thời gian tạo nhất định sẽ học mày vài đường.”
Tôi đứng dậy cáo từ. Đêm rất muộn, tôi cũng đã buồn ngủ, bây giờ tôi chỉ muốn mơ một giấc mơ đẹp. Ông già bảo Cường Oa đưa tôi về, tôi cảm ơn từ chối. Ông già cũng không ép, ông đưa cho tôi một cái ô giấy dầu nói: “Mưa đấy, đừng để ướt, mưa đêm lạnh, dễ ốm lắm”.
Vi Vi vẫn chưa ngủ, nằm trên giường xem phim Trai giang hồ do Trịnh Y Kiện đóng. Lúc đang tắm tôi nghe thấy tiếng Vi Vi hỏi vọng vào: “Nam Cung, tao nấu mì tôm, mày có ăn không?” Tôi không trả lời, đầm mình trong bồn tắm như một con cá thân mềm nhiệt đới chỉ sống ở các vùng biển sâu.
“Hỏi mày đấy, điếc à?”
“Không ăn.” Tôi nói như hết hơi trả lời Vi Vi.
Trên mặt nước ấm nóng bốc lên một lớp mù trắng mỏng, da của tôi đỏ hồng. Tôi tưởng tượng mình đang trôi dạt trong đại dương mênh mông, nơi nhiệt độ nước luôn được giữ ở mức 37 độ rưỡi, hoa xuân phá vỡ những giới hạn của thời tiết đua nhau khoe sắc, ánh mặt trời ấm áp, tĩnh lặng. Ước mơ của tôi, ôi ước mơ của tôi! Ước mơ của tôi đang càng ngày càng giống một giấc mơ, nhắm mắt vào giơ tay ra là chạm đến, mở mắt ra lại vời vợi xa vời. Thế nên tôi cố nhắm chặt mắt, cứ như thế, yên lặng, từ từ chìm dần xuống, chìm dần xuống, chìm xuống mãi.
Vẫn lại là Vi Vi. Vi Vi lúc nào cũng làm tôi thảng thốt bừng tỉnh. Vi Vi đang đập cửa nhà tắm rầm rầm nói: “Xong chưa? Lâu thế, đừng để chết đuối trong đấy!”. Vi Vi kiên quyết không buông tha cho tôi, nó gào lên giục, tôi ngao ngán rời khỏi lồng ấp những ước mơ của mình. Nghe tiếng nước nóng xiết chảy xuống lỗ thoát, tôi ngơ ngác như vừa mất một điều gì.
Lúc sấy tóc, Vi Vi dựa bên cạnh tôi nói: “Mày mua hả?”. Trong tay nó đang cầm cái ô giấy dầu ướt sũng, mở ra xoay một vòng. Ô giấy dưới ánh đèn xoay ra những mảng sáng rời rạc, phía trên là hình một đoá hoa mẫu đơn nở rộ tượng trưng cho đại phú đại quý. Tôi giằng lại cái ô, nói: “Đừng có làm rách”. Vi Vi nói: “Xem mày xót xa kìa, ai thèm?” Tôi nói: “Không phải của tao đâu, mượn của người khác đấy.” Vi Vi truy hỏi, tôi nói: “Mày còn nhớ ban sáng hai ông cháu mãi võ trước cổng quầy hoa quả mình không?”. Vi Vi kinh ngạc hỏi: “Là họ?” Tôi gật gật đầu.
Tôi cất cái ô vào góc nhà. Vi Vi vẫn không chịu tha cho tôi, tiếp tục truy hỏi không ngớt: “Mày làm sao quen họ thế?”.
“Không biết.”
Tôi thật không biết. Cả buổi tối hôm nay tôi cứ mơ mơ màng màng, tôi không biết làm sao quen được họ. Cũng chưa nói được là đã quen, chỉ được coi là duyên bèo nước, phận gió mây. Nhưng vẫn là duyên phận. Không hề có sắp xếp, cưỡng chế, tất cả đều theo tự nhiên, nước chảy thành sông. Chúng ta đều là những cánh thuyền mỏng trôi dạt trên dòng sông cuộc đời, cái được gọi là duyên phận chỉ là chiếc thuyền bạn có một lần lướt ngang qua chiếc thuyền cuộc đời khác mà thôi.
Nằm xuống, tôi mặc kệ Vi Vi thích nói gì thì nói. Không hiểu Vi Vi tối nay sao tinh thần thế nữa, cứ như một cái máy môtơ, rồ rồ kêu không cho ai ngủ. Tôi kéo chăn che kín mặt. Vi Vi vẫn rầm rầm rì rì nói đến nửa ngày nữa, thấy tôi không động tĩnh gì, mới mất hứng, đành ngậm mồm, tắt đèn, đi ngủ.
Mưa bao quanh, mù bao quanh, Vi Vi sung sướng giương cái ô giấy dầu đi đi lại lại trên phố. Mùa mưa đã đến, công việc kinh doanh trở nên ảm đạm, tôi ngồi sau chồng hoa quả bắt đầu một ngày trông ngóng. Các kiểu các màu ô hỗn hợp là khung cảnh duy nhất còn đáng ngắm trên phố. Tôi ngày trước đặc biệt yêu thích mưa thu, tôi thường chọn những đường phố tĩnh lặng, vắng người chầm chậm đi dạo trên đó. Các bài thơ của tuổi trẻ tôi đều thích dùng hình ảnh mưa phùn bay huyền ảo làm nền, để rồi những ý thơ rớt từng giọt nhẹ lên trái tim trẻ đa cảm. Nhưng bây giờ đây, tôi không còn tìm thấy cảm giác đó nữa, tôi chỉ còn một suy nghĩ, trận mưa thật đáng ghét. Trời âm u, mưa trở thành kẻ thù lớn của tôi. Tôi nhìn ra cửa, nơi chiếc ô này qua rồi lại chiếc ô khác lại, ước mong tha thiết sẽ có một cái ô nào đó nhẹ nhàng đậu đến bên quầy hoa quả của tôi. Xin hãy ghé thăm, hỡi những thượng đế áo cơm mà tôi yêu quý, kính mến.
Cả một buổi chiều, tôi chỉ bán được cân rưỡi táo xanh. Trận mưa dai dẳng đáng ghét này, tao đã không cần mày nữa, phiền mày, cầu xin mày hãy nhanh chóng ngừng lại. Xin mày hãy đến rơi trước cửa sổ của những người đang hưởng thụ hạnh phúc, ngồi ngắm nhìn cuộc sống, xin hãy rời xa hàng hoa quả của tao. Tôi đột nhiên cảm thấy những câu thơ mưa phùn lất phất trước kia của tôi quá ư yểu điệu, đúng là không đáng để nhắc đến, những vấn đề mà tôi đang gặp phải bây giờ mới là căn bản nhất, quan trọng nhất. Tôi căm thù mưa. Trong làn hơi ẩm ướt của không khí, tôi thấy rõ những thùng hoa quả tươi ngon, mỡ màng của tôi đang dần nhăn nheo héo úa, chuỗi thơm benzen đang lặng lẽ phân tách, những biến đổi vật lý cộng với những phản ứng hoá học sẽ làm tôi tổn thất nặng nề.
Cuối cùng cũng có hai chiếc ô hoa trôi về phía tôi. Tôi lập tức phấn chấn tinh thần, điều chỉnh tâm lý, quét hết những âm u, thay bằng những nụ cười đón chào hai người khách quý. Là hai đứa con gái, trong đó có một đứa chân hơi tập tễnh. Chúng đi vào hàng nhưng không thèm liếc đến đám hoa quả nửa mắt, chỉ đứng nhìn tôi đầy hận thù. Cuối cùng chúng nhổ toẹt bãi nước bọt ngay bên chân tôi rồi vung áo ra đi. Bao nhiêu tinh thần bay biến hết! Hai đứa con gái đó tôi biết, chúng chính là hai bông hoa sinh đôi yêu quý của Lã Tam. Coi như tôi xúi quẩy, nhiệt tình đi chào đón hai bãi đờm nguyền rủa. Ôi, cái trời mưa xúi quẩy!
Tôi bụng tức anh ách, chỉ muốn tìm thứ gì để trút hết lên. Tôi quyết định đem hết chỗ tức tối trút lên đám hoa quả tội nghiệp của mình, so với việc hai tay đem chúng dâng tặng cho đám vi sinh vật chỉ hiện nguyên hình dưới kính hiển vi, thì thà tôi ăn sạch còn hơn. Nói thật, từ khi làm ông chủ nhỏ đến giờ tôi còn không được ăn nhiều hoa quả bằng hồi chỉ làm thằng giúp việc. Kệ ra sao thì ra, tôi nhiệt tình ăn, ăn không sợ chết, chết no càng tốt. Chỉ tiếc cái dạ dày của tôi nhỏ quá, không gian dung nạp thức ăn có hạn, đám hoa quả trong quầy xem ra vẫn không chút suy giảm. Tôi nghĩ, nếu có Vi Vi thì tốt quá, con mèo lười tham ăn Vi Vi, nó ăn được hơn tôi nhiều.
Tôi ợ hơi chán nản tiếp tục ngồi ngắm phố. Thằng trứng thối Vi Vi chết đâu rồi không biết? Cái ô giấy dầu trong những lời kêu gọi cộng nguyền rủa của tôi đã loé hiện từ nơi sâu thẳm của màn mưa, trôi dần về. Đến gần nhìn, bên mép ô rách đến mấy chỗ, người Vi Vi toàn là bùn. Tôi hỏi: “Xảy ra chuyện gì rồi?” Vi Vi nói: “Tao gặp thằng nhóc trọc đấy rồi. Rõ vô duyên, tự nhiên nó nhảy ra giằng lấy cái ô, nói ô là của nó, lại còn nhất định nói tao là ăn trộm, đòi tao trả bằng được.” Tôi nói: “Ô vốn là của nó, mày trả nó cho xong.” Vi Vi không đồng ý: “Ô đúng là của nó không sai, nhưng tao mượn từ tay mày, có trả thì cũng phải trả mày. Đây là vấn đề nguyên tắc.” Tôi nói: “Vấn đề nguyên tắc?” Nói xong, tôi không nhịn được cười ha hả. Trong cái trời mưa xui xẻo này cuối cùng cũng đã xuất hiện một việc làm tôi cười lên được. Vi Vi vênh mặt nói cái gì “vấn đề nguyên tắc”. Đây quả là một chuyện lạ tai và thú vị.
Vi Vi bị tôi cười phát ngượng, nó cáu: “Có cái gì đáng cười hả? Cấm mày cười, mày cười nữa tao ăn sạch đống hoa quả trong hàng này, lúc đấy mày khóc không kịp”. Tôi cười gập cả người, vẫy tay nói: “Xin mời, đừng khách khí, ăn hết càng tốt, tao đang mong thế không được đây!”. Vi Vi nheo mắt nhìn tôi không hiểu, hỏi lại: “Mày ấm đầu à?”. Tôi nói: “Ừ, đúng thế! Tao ấm đầu, đều do cơn mưa này gây ra cả. Mày đừng lo, chỉ cần mày ăn hết chỗ hoa quả này, tao hết ấm đầu ngay.” Vi Vi lắc đầu nói: “Mày không biết trông mày kỳ quái thế nào đâu. Mày đúng là thằng kỳ lạ nhất Yên Thuỷ này.”