HAI GIỜ MƯỜI LĂM chiều thứ tư, 17 tháng 1 năm 2007, Thượng viện, giờ đây do phe Dân chủ điều khiển, trở lại làm việc sau giờ nghỉ trưa. Ngày hôm đó, quan chức chủ trì, một chức vụ mang tính tượng trưng được các thượng nghị sĩ của đảng đa số luân phiên nắm giữ, là Hillary Rodham Clinton.
Mục đầu tiên trong chương trình chiều hôm đó là dành cho việc cá nhân – ông John Kerry tỏ lòng kính trọng đối với cố vấn chính sách đối ngoại sắp về hưu của mình là Nancy Stetson, người đã tốt nghiệp trường Đại học Wellesley sau Hillary hai năm. Hillary đồng ý để Kerry tiến lên sàn để phát biểu.
“Thưa Bà Chủ tịch,” Kerry bắt đầu, “Một trong những điều tốt đẹp nhất về Thượng viện và đặc điểm của nơi này” là những nhân viên chăm chỉ của Thượng viện – “những chuyên gia của chúng ta.” Kerry nói, bà Stetson năm mươi bảy tuổi đây đã phục vụ rất tốt, như “một tôi khác” của chính ông, về chính sách đối ngoại trong mười lăm năm đầu. Ông tóm tắt sự nghiệp Thượng viện dài hai mươi lăm năm của Stetson và ghi nhận rằng “bà từng thấy trước cái hướng đi thảm hại đã xảy ra ở Iraq.” Nhưng ông lại sao lãng không chỉ ra rằng ông đã bỏ qua lời khuyên của bà ở một số thời khắc quan trọng nhất – và rất có thể việc ấy đã khiến ông phải trả giá bằng chiếc ghế tổng thống.
Stetson, đôi khi còn được gọi là “DrNo” trong nhóm của Kerry, đã thúc giục ông bỏ phiếu chống lại nghị quyết chiến tranh Iraq đầu tiên vào năm 2002, mà thay vào đó, ông lại quyết định ủng hộ. Sau đó, bà thúc giục ông bỏ phiếu ủng hộ khoản ngân sách bổ sung 87 tỷ đôla năm 2004 để tài trợ cho quân lính ở Iraq, và sau đó ông đã bỏ phiếu chống. Những lá phiếu đó, cùng những nỗ lực chồng chéo của Kerry nhằm giải thích chúng, được nhiều người cho rằng chính là những nhân tố then chốt nhất trong thất bại sít sao của ông trước George W. Bush tại kỳ bầu cử tổng thống năm 2004.
Buổi chiều hôm đó, khi Kerry ca ngợi người phụ tá của mình, sự chú ý của Hillary đang ở nơi khác. Bà bị hút vào điều mà bà hy vọng sẽ là một chiến dịch mang tính lịch sử, với đỉnh điểm là việc bà tuyên thệ nhậm chức như “Bà Tổng thống” đầu tiên của nước Mỹ. Một vài giờ trước đó, tại nhà mình ở Washington, bà đã ngồi trên một chiếc ghế trường kỷ trong căn phòng khách đầy cửa kính để thu một đoạn phim ngắn tuyên bố việc ứng cử tổng thống; đoạn phim mà ba ngày sau sẽ được đăng trên mạng. Sự chờ đợi và hào hứng càng được tăng thêm do lời tuyên bố ngày hôm trước của Thượng nghị sĩ Barrack Obama, cho biết ông đã nộp hồ sơ để tham gia cuộc chạy đua cho chiếc ghế tổng thống. Ông đã gia nhập vào hàng ngũ đang lớn lên nhanh chóng của những thành viên Dân chủ đầy hy vọng thành tổng thống, bao gồm cựu Thượng nghị sĩ John Edwards cùng các Thượng nghị sĩ Joseph Biden và Christopher Dodd.
Không lâu sau những lời phát biểu của Kerry, Hillary rời diễn đàn Thượng viện và hướng lên lầu, đến phòng S-325 – phòng truyền hình và truyền thanh Thượng viện – để cập nhật về cuộc chiến Iraq cho đám đông trong căn phòng chỉ có chỗ để đứng của khoảng hai trăm phóng viên, phóng viên quay phim, và phóng viên ảnh. Tổng thống Bush đã tuyên bố hai tuần trước đó rằng ông có ý muốn tăng thêm 21.500 quân lính cho lực lượng ở Iraq – một kế hoạch đã gặp phải sự phản ứng tiêu cực một cách dứt khoát từ phe Dân chủ trong Quốc hội. Cỗ máy chính trị của Hillary đã phóng đi ở tốc độ cỡ tổng thống cho cuộc họp báo tóm tắt về Iraq; những phát biểu của bà đã được chuẩn bị trước nhờ những cuộc thăm dò ý kiến rộng lớn, nhờ hàng giờ cố vấn từ Bill, nhờ những cuộc hội đàm không dứt, và một chuỗi nhộn nhịp các cuộc phỏng vấn trên truyền hình liên tiếp. Bà cũng vừa mới trở về từ một chuyến đi tìm hiểu thực tế dài bốn ngày ở Iraq và Afghanistan, nhờ thế đánh bóng được khả năng phát biểu có căn cứ về đề tài đáng lo âu nhất đang đe dọa Washington. Nói chung, những chọn lựa của bà hoặc làm cho bản thân đồng bộ hơn với phe Dân chủ chống chiến tranh, (những người mà bà sẽ phải cần sự ủng hộ của họ trong những cuộc bầu cử chọn ứng cử viên của Đảng Dân chủ vào năm 2008) hoặc để được ở gần hơn với trung tâm an ninh quốc gia – tổ ấm của bà trong suốt năm năm qua và có lẽ là một bệ phóng tốt hơn để thu hút cử tri trong kỳ tổng bầu cử.
Sức ép ngày càng tăng khiến bà phải chọn một lập trường. Vài ngày trước đó, John Edwards đã ra một “đòn rõ ràng” về phía Hillary bằng việc yêu cầu phải kết thúc ngay sự im lặng của những ai chỉ “nghiên cứu các lựa chọn của mình.” Giống như Dodd và Kerry đi trước, Edwards đã tuyên bố từ bỏ lá phiếu ủng hộ cuộc chiến hồi tháng 10 năm 2002 của mình.
Obama, thành viên Dân chủ từ Illinois, đã phản đối cuộc chiến ngay từ khi nó chưa bắt đầu, mặc dầu khi cuộc bỏ phiếu diễn ra ông mới chỉ là một thượng nghị sĩ của tiểu bang Illinois. Sự phản đối ngay từ đầu đã cho phép Obama nổi bật mình lên khỏi những thành viên Dân chủ, như Hillary chẳng hạn, người mà, như ông nói, đã cấp cho Tổng thống Bush “một quyền lực rộng lớn, không giới hạn nhằm tiến hành cuộc chiến này.” Và Obama, giờ đây đang ganh đua vào Nhà Trắng, càng tăng cường các cuộc công kích đó.
Khi Hillary bước vào căn phòng Thượng viện chật ních lúc ba giờ mười một chiều hôm đó, sự chờ đợi tập trung vào việc, liệu bà có thể gỡ mình ra khỏi lá phiếu của chính mình ủng hộ cuộc chiến, đồng thời tránh được di sản lộn xộn và bi đát của Kerry.
Cuộc họp báo bắt đầu như một báo cáo chuyến đi. Những người phát biểu khác là đồng nghiệp quốc hội của Hillary trong nhiệm vụ đi thị sát thực tế: Thượng nghị sĩ Evan Bayh, một thành viên Dân chủ ôn hòa từ Indiana, và Hạ nghị sĩ John McHugh, một thành viên Cộng hòa từ New York. Hai người đàn ông phát biểu trước; Hillary đứng sang một bên, mặt thản nhiên như không, môi mím chặt, hai bàn tay đan vào nhau. Thỉnh thoảng, bà bồn chồn ép hai ngón tay cái của mình vào nhau hay xoay chúng vòng quanh. Đôi lúc, bà gật đầu tán thành khi hai người đàn ông miêu tả tình hình ảm đạm ở Iraq và Afghanistan, một điểm dừng khác trong chuyến đi của họ. (Đến lúc này, Iraq đã bị thất bại trước bạo lực tôn giáo dữ dội vốn đã áp đảo nhiều phần đất trên đất nước, gồm cả Baghdad; trong khi đó, nhóm Taliban đang tập hợp lại và gia tăng một loạt các cuộc tấn công khắp Afghanistan.)
Cuối cùng, đến lượt Hillary. Những lời phát biểu của bà nhằm vào một chuỗi các chủ đề quen thuộc: Tổng thống đã giải quyết tồi cuộc chiến; những nữ và nam quân nhân – những người mà bà, với cương vị thượng nghị sĩ, đã giành được nhiều tín nhiệm – đang làm một công việc tuyệt vời; và quân lính nên được bố trí lại, dần dần ra khỏi Iraq. Bà không hề nói gì về lá phiếu ban đầu của mình. Nhưng bà đã khoanh ra một phạm vi mới, khi nói rằng bà ủng hộ việc giữ nguyên số quân ở mức hiện tại, mặc dù bà thừa nhận rằng sẽ không thực tế nếu Quốc hội cố gắng ngăn đề xuất tăng quân do tổng thống mới đưa ra. Thêm vào đó, bản thân bà cũng kêu gọi một đợt tăng quân, nhưng là đến Afghanistan, hơn là đến Iraq. Hillary cũng đề xuất việc áp đặt của một loạt các điều kiện chính trị, quân sự, và kinh tế mà phía Iraq phải đáp ứng và tổng thống phải đảm bảo. Nếu không có sự đảm bảo đó, bà đề nghị không tài trợ thêm nữa – không phải đối với quân lính Mỹ, mà đối với các lực lượng an ninh Iraq và những nhà thầu bảo vệ quan chức Iraq. Mặc dù Hillary cam kết sẽ giới thiệu kế hoạch Iraq của mình như một dự luật, nhưng bà đã không phát cho các phóng viên một bản nháp nào, một bản tóm tắt chính nào của dự luật đó, như vẫn thường phải thế.
Việc bỏ sót đó đúng là một “cái điềm”. Một cố vấn cho Hillary thừa nhận rằng những đề xuất của bà chỉ đưa bà một “bước nhỏ xíu” ra xa hơn khỏi cái hộp Iraq mà bà đã ở trong đó. Thời gian trôi qua, mọi việc trở nên rõ ràng rằng dự luật của Hillary sẽ không bao giờ trở thành luật. Tuy vậy, đề xuất của bà không phải là không có tác dụng về mặt chính trị tranh cử tổng thống. Bà tiếp tục ủng hộ “sự tái bố trí theo các giai đoạn,” trái với việc ngay lập tức rút bốn mươi hay năm mươi ngàn quân lính do John Edwards đề xuất, hay một sự cắt tài trợ còn kịch tính hơn do những người khác đề nghị. Cách tiếp cận của bà, bà nói với những phóng viên ngày hôm đó, chính là vì “có máu trách nhiệm trong người”. Rõ ràng là bà có ám chỉ đến những thành viên Dân chủ bạn mình.
Khi Hillary rời khỏi phòng họp báo vào lúc ba giờ bốn mươi hai chiều, một phóng viên từ phía sau la to, hỏi khi nào bà sẽ tiết lộ quyết định tranh cử tổng thống của mình. Bà đã không đáp lại.
Ba giờ sau, khi những chương trình tin tức của các mạng lưới truyền thông phát sóng bản tường thuật của họ về bài phát biểu của Hillary, và các phóng viên nộp bài viết của mình nói về những đề xuất của Hillary cho số báo ra ngày hôm sau, thì John Kerry đang bận đề nghị mọi người nâng ly chúc mừng cho Stetson, viên phụ tá sắp nghỉ của mình. Địa điểm là một phòng tiệc nhỏ trên tầng hai của Monocle, nhà hàng gần khu liên hợp văn phòng Thượng viện nhất và là một nơi tụ tập uống rượu rất quen thuộc của các thượng nghị sĩ và các nhà vận động hành lang. Ở đó, vài tá bạn và đồng nghiệp của Stetson ghé qua để chúc bà những điều tốt đẹp.
Trước khi nâng ly, Kerry một lần nữa ca ngợi viên cố vấn được tin tưởng của mình. Lần này, ông thật thà hơn. Lần đầu tiên trước một nhóm đông người, ông thừa nhận rằng ông đã phạm một “sai lầm” khi không nghe theo lời khuyên của bà về Iraq. Ông thừa nhận, nếu hồi đó ông làm theo lời khuyên của bà, cuộc đua vào Nhà Trắng của ông có thể đã diễn ra theo một hướng khác. Sau khi cạn ly, Kerry cúi xuống để ôm lấy bà Stetson bé nhỏ. Một tuần sau, ông tuyên bố trên sàn Thượng viện rằng mình sẽ không theo đuổi một cuộc đua nào nữa cho chiếc ghế tổng thống.
Hillary, cũng vẬy, có nhỮng VẾT THƯƠNG LÒNG do lá phiếu của mình về Iraq, nhưng bà đã kiên quyết tránh lặp lại sai lầm của Kerry. Một trong những cố vấn của bà giải thích, “Bà ấy lo lắng về chuyện cứ thay đổi ý kiến” và bất kỳ một so sánh nào với Kerry, vì vậy bà “không muốn làm bất kỳ điều gì khiến lung lay cái suy nghĩ rằng bà là người mạnh mẽ và biết tin vào những gì mình làm.” Bill, cố vấn thân cận nhất của bà về Iraq, tin rằng sức mạnh là một phẩm chất then chốt của một nhà lãnh đạo trong thời buổi bất an. Vị cựu tổng thống nói với một nhóm các thành viên Dân chủ vào tháng 12 năm 2003: “Khi con người cảm thấy không chắc chắn, họ sẽ muốn thà có một người mạnh mẽ và sai lầm, còn hơn là một người yếu đuối và đúng đắn.” Chiến lược gia trưởng của bà, Mark Penn, đưa ra một lập luận khác: “Điều quan trọng là phe Dân chủ phải kiên quyết giữ cho từ sai lầm rơi về phe Cộng hòa và Tổng thống Bush.” Hillary, vốn vẫn lưỡng lự khi phải thừa nhận sai lầm, chắc chắn lại càng không làm điều đó vào lúc này.
Sáng thứ bảy, ngày 20 tháng 1, một ngày tin tức vắng lặng như thường lệ, Hillary bước vào lịch sử. Cuộc phát động tranh cử tổng thống của bà là một sự kiện đặc biệt được dàn dựng tỉ mỉ bằng điện tử; hàng ngàn thư điện tử được phát đi cho các phóng viên và bạn bè, trong khi trang web chiến dịch tranh cử Thượng viện cũ của bà được chuyển thành một trang mới dành cho cuộc chạy đua vào chiếc ghế tổng thống của bà. Trên một nền đỏ, trắng, và xanh dương ái quốc là một bức ảnh lồng khung của một Hillary thư giãn đang ngồi trên một chiếc ghế trường kỷ. Nhấp một cú lên bức ảnh là người xem được đưa ngay đến một đoạn phim dài một phút và bốn mươi giây của Hillary, giải thích vì sao bà “vào cuộc để thắng.”
Đằng sau quyết định quan trọng của Hillary có ẩn nấp Bill. Bà đã bóng gió chung chung về vai trò của ông khi nói với Brian Williams trên chương trình Nightly News của NBC rằng cuộc phát động là “kế hoạch của chúng tôi,” sau khi đã nói lúc đầu rằng đây là kế hoạch là của bà. Mickey Kantor, một cố vấn không chính thức, công nhận Bill đang đóng một “vai trò chủ yếu” trong chiến dịch. Những người bạn và cố vấn khác hé cửa thông tin thêm chút nữa; họ nói rằng từ lâu vị cựu tổng thống đã lên kế hoạch cho con đường của Hillary vào Nhà Trắng và là người ra quyết định chính phía sau cú lật lá bài vào phút chót.
Hai ngày sau tuyên bố của mình, Hillary bắt đầu một trận bão các cuộc phỏng vấn truyền hình, xuất hiện trên tất cả các chương trình tin tức lớn. Cùng lúc đó, bà bắt đầu một cuộc đối thoại trực tuyến kéo dài ba ngày. Mỗi tối, bắt đầu từ bảy giờ, bà trả lời một lượng nhỏ các câu hỏi do các phụ tá chọn lọc ra từ những câu được hàng chục ngàn người xem gửi tới. Hillary có vẻ như đầy năng lượng trong các cuộc phỏng vấn và thoải mái trong những mẩu đối thoại trên web của mình, tuy sau hai ngày, bà cho biết giọng của bà đang mất dần vì “Tôi đã phải nói quá nhiều.”
Ngay cả với một giọng nói bị khàn đi, bà vẫn giữ vững lập trường mỗi khi nói đến Iraq. Đám phóng viên và cử tri cố hỏi đi hỏi lại bà liệu lá phiếu năm 2002 của bà có phải là một “sai lầm.” Bà từ chối nói “phải”. Thay vào đó, bà nói rằng lá phiếu của mình “hóa ra trở thành một quyết định tồi tệ cho tất cả mọi người” và rằng “những người chúng tôi trong Quốc hội” đã phạm “rất nhiều sai lầm.”
Có lẽ trong suy nghĩ của Hillary, thừa nhận tội lỗi tập thể là đủ. “Tôi nghĩ ở một mức độ nào đó, bà ấy nghĩ rằng mình đã bác bỏ lá phiếu của mình rồi,” một cố vấn cho biết vào lúc đó. Nhưng những nhà hoạt động Dân chủ, bao gồm cả những người ở Iowa và New Hampshire, vẫn còn chia rẽ về việc liệu Hillary có ngay thẳng. Ở Berlin, một thị trấn nhà xưởng nhỏ ở phía bắc New Hampshire, một nhà cố vấn tài chính tên Roger Tilton đã nói với Hillary rằng ông đang chờ đợi nghe bà khước từ lá phiếu của bà. “Tôi muốn biết liệu ngay ở đây, ngay bây giờ, một lần cho mãi mãi và không hề chệch choạc, bà có thể nói rằng việc phê chuẩn chiến tranh là một sai lầm không,” Tilton nói. “Tôi, và tôi nghĩ nhiều cử tri cho cuộc bầu cử chọn ứng cử viên tổng thống trong nội bộ đảng – cho tới khi nghe được bà nói điều đó, chúng tôi sẽ không nghe tất cả những điều vĩ đại khác mà bà đang nói.”
“Nếu biết được những gì chúng ta biết bây giờ,” Hillary đáp, “thì tôi đã không bao giờ bỏ phiếu ủng hộ chiến tranh.” Nhưng bà tịnh không hề khen ngợi hay công nhận những người ở Quốc hội đã nhìn được xa hơn với độ chính xác cao hơn và bỏ phiếu chống lại cuộc chiến ngay từ lúc đầu. Bà còn thêm vào rằng cử tri cuối cùng sẽ tự quyết định liệu lập trường của bà là có chấp nhận được hay không. “Chính vị tổng thống này, người đã làm cho đất nước này, quốc hội này lầm đường, mới là người gây ra những lỗi lầm này.” Khán giả vỗ tay và reo hò.
Ở Washington, một người bạn và là đồng nghiệp Cộng hòa của Hillary tự hỏi tại sao bà không giáng một lời phàn nàn như vậy từ sớm hơn. Thượng nghị sĩ John McCain nói, “Tôi đã không hề thấy sớm hơn, hay ít nhất là trong vòng hai hay ba năm, trong luận điệu kết tội Tổng thống Bush có trích dẫn câu nào là ‘sử dụng sai quyền hạn của ông’.” Nhưng nếu Hillary từng là một trong những thành viên Dân chủ ủng hộ chiến tranh nhất, khi vào thời điểm ngày ấy, những cuộc thăm dò ý kiến đang nghiêng về một phía, thì giờ đây bà lại mang tới nhiều điều hài lòng hơn cho cánh chống chiến tranh của đảng mình. Bà nói với Ủy ban Quốc gia Dân chủ rằng bà sẽ kết thúc cuộc chiến ở Iraq ngay khi bà trở thành tổng thống.
Ngày 15 tháng 2, khi Harry Reid tổ chức một cuộc họp trong văn phòng của ông với những thành viên Dân chủ khác để thảo luận các lựa chọn cho vấn đề Iraq, Hillary đã vắng mặt, nhưng ngày tiếp theo, vào thứ sáu trước kỳ cuối tuần kéo dài ba ngày nhân dịp lễ Tổng thống, bà đã lặng lẽ giới thiệu dự luật của mình. Hillary đợi đến thứ bảy để đưa ra một lời tuyên bố. Đến lúc đó, bà đã ở Dover, New Hampshire, mạnh mẽ nói với cử tri: “Nếu điều quan trọng nhất đối với bất kỳ ai trong các bạn chỉ là chọn cho được một người nào đó đã không bỏ lá phiếu ấy hay nói rằng lá phiếu của ông ta là một sai lầm, thì bạn sẽ có nhiều người khác để mà chọn (chứ không phải tôi).”
Dự luật chiến tranh Iraq của Hillary, vốn không có một nhà bảo trợ nào ngoài bà, chủ yếu là bám theo điều mà bà đã tuyên bố một tháng trước; hai điều kiện chủ yếu của nó là một mức trần cho số quân hiện tại và một điều khoản nhằm tạm dừng các khoản tài trợ của Mỹ cho chính quyền Iraq. Nhưng hai điều khoản then chốt đó giờ đây chứa đựng “một khoảng ngọ nguậy” đáng kể – đó là những cáo tri pháp lý (caveat) mà Hillary và các phụ tá của bà, cùng báo chí đã không nhắc tới. (Một cáo tri cho phép mức trần của bà sẽ được gỡ bỏ trong sáu mươi ngày nếu tổng thống yêu cầu một sự từ bỏ mức trần trên cơ sở có một mối đe dọa đến an ninh quốc gia của nước Mỹ. Một cáo tri khác là các khoản tài trợ vẫn sẽ được tiếp tục ngay cả khi tổng thống không chứng thực được, rằng đã đáp ứng đủ những mục tiêu ở Iraq mà dự luật đề ra – và đó một lỗ hổng quan trọng cho một vị tổng thống muốn tiếp tục với cuộc chiến.)
Không có gì ngạc nhiên khi Hillary sẽ không muốn người ta chú ý đến những điều khoản rõ ràng đó – chúng làm yếu đi cái thông điệp chống Bush và cứng rắn hơn mà bà bắt đầu sáng tác. Tuy nhiên, lời phát biểu của bà về dự luật, đưa ra vào ngày thứ bảy của kỳ cuối tuần nghỉ lễ, đã nhắc đến một khía cạnh khác mà chắc chắn là chọc giận những người chỉ trích cuộc chiến. Nó nhắc rằng kế hoạch của bà cho phép một sự “có mặt có giới hạn” của quân lính Mỹ ở Iraq sau cuộc tái bố trí quân, một điều mà bà đã không đề cập đến trong cuộc họp báo của mình một tháng trước.
Đến tháng năm, Hillary lại thực hiện một nỗ lực khác nhằm bác bỏ lá phiếu năm 2002 của mình, mặc dù bà dừng lại, không nói rõ rằng lá phiếu của mình đã là một sai lầm. Thay vào đó, bà đề xuất Quốc hội đảo ngược sự cho phép từ đầu của cuộc chiến.
Kịch tính diễn ra cuối buổi chiều ngày 3 tháng 5, khi Hillary phát biểu trong hai phút trước một tòa Thượng viện hầu như trống vắng. Bà nói rằng bà muốn hủy việc cho phép tiến hành cuộc chiến, không phải bằng cách cắt nguồn tài trợ (cách chắc chắn duy nhất để dừng nó), mà bằng cách hủy bỏ việc cho phép từ đầu vào ngày 11 tháng 10 năm 2007, kỷ niệm năm năm ngày cuộc chiến được thông qua. Tổng thống Bush sẽ phải tìm kiếm một sự cho phép khác nếu đề xuất của bà, đồng bảo trợ với Thượng nghị sĩ Robert Byrd, được ban hành.
Trong bài phát biểu ngắn của mình được viết ra để đáp ứng ảnh hưởng ngày càng tăng của phe Dân chủ chống chiến tranh, lối diễn đạt của Hillary đã chậm lại để làm nổi bật một mẩu thành tích về Iraq từ lâu đã bị lãng quên của bà mà giờ đây bà nóng lòng muốn nhấn mạnh. Bà nhớ lại, vào một hôm trước khi bỏ phiếu ủng hộ sự cho phép tiến hành cuộc chiến, bà đã ủng hộ một điều khoản do Thượng nghị sĩ Byrd đưa ra, điều khoản này “đúng ra là giới hạn sự cho phép lần đầu chỉ trong một năm.” Một cựu phụ tá Thượng viện liên quan đến cuộc tranh luận về chiến tranh năm 2002 giải thích, điểm nhấn mới vừa được khám phá này chính là để “ám chỉ rằng bà ấy cũng muốn kết thúc cuộc chiến,” ngay cả khi bà đã cấp phép cho nó. Vậy là Hillary đã chống cuộc chiến trước khi ủng hộ nó, rồi lại chống nó lần nữa.
Nhưng điều khoản năm 2002 của Byrd, vốn đã bị bác bỏ bởi 66 phiếu so với 31 phiếu thuận, đã không hẳn như Hillary miêu tả. Điều khoản đó cho phép tổng thống “nhiều lối thoát,” vậy nên nó “chẳng có gì ghê gớm lắm” và hầu như chẳng hề có cuộc tranh luận nào về nó lúc đó. Cụ thể là, nó cho phép tổng thống, sau một năm, được gia hạn sự cho phép tiến hành chiến tranh thêm “một khoảng hay nhiều khoảng thời gian, với mỗi khoảng là 12 tháng” miễn là tổng thống – và chỉ mình tổng thống – xác định rằng đó là “cần thiết cho những chiến dịch quân sự đang tiến hành hay sẽ tiến hành để chống lại Iraq.” Thứ ngôn ngữ “bỏ ngỏ” này đồng nghĩa với việc miêu tả của Hillary vào tháng 5 năm 2007 là gây hiểu lầm.
Điều đó đã không ngăn được Hillary khai thác thêm phiếu bầu trong bài diễn văn hai phút của mình. Bà đăng những lời phát biểu của mình trên các trang web của chiến dịch tranh cử và Thượng viện của mình; bà phát động một thỉnh nguyện thư trên internet để “rút lại sự cho phép tiến hành chiến tranh”; và kế hoạch của bà nhằm đảo ngược đường lối đã xuất hiện trên trang bìa của tờ New York Times ra ngày hôm sau. Một viên phụ tá chỉ ra, “Điều khoản có khả năng nhất để dừng được cuộc chiến” vào năm 2002 là “điều khoản của Levin, chứ không phải điều khoản của Byrd.” Vậy nhưng bài diễn văn của Hillary vào ngày 3 tháng 5, nhanh chóng được đăng lên YouTube, đã im lặng về lá phiếu của bà chống lại giải pháp ngoại giao cứng rắn của Levin.
Cách lựa chọn đầy tính toán cẩn thận của Hillary cho việc bỏ phiếu của mình phù hợp với những tham vọng tổng thống của bà – ít nhất là trong thời gian ngắn. Bằng việc phớt lờ đề xuất của Levin và làm nổi bật một khía cạnh của điều khoản mà Byrd đưa ra, bà giờ đây dựng cho mình một chân dung như một người chỉ hờ hững ủng hộ chiến tranh hồi tháng 10 năm 2002. Đây là ván bài của Hillary nhằm đập tan thành từng mảnh đề tài nguy hiểm nhất đang đe dọa con đường của bà đi đến sự chỉ định đại diện ứng cử tổng thống của Đảng Dân chủ. Bà đang đặt cược rằng những đối thủ của mình – và cả các cử tri – sẽ không kiểm tra phần phụ chú.