KHI LẶNG LẼ LEO LÊN HÀNG NGŨ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG MÌNH Hillary vẫn đang phải làm quen với Thượng viện. Tháng 1 năm 2003, bà được bổ nhiệm làm chủ tịch Ủy ban Định hướng và Phối hợp Đảng Dân chủ Thượng viện, một chức vị mơ hồ đến nỗi tờ New York Times hay tờ Washington Post đã không được đưa tin thông báo về công việc mới của bà. Về phần mình, tránh né việc thảo luận về vai trò mới này, Hillary cho biết, “Không đến lượt tôi nói.”
Nếu chỉ bằng cái nhìn đầu tiên thì thật là dễ dàng để gạt bỏ các ủy ban này và nó không thích đáng. Bất kỳ một văn phòng nào trong Thượng viện cũng không xa Trụ sở Quốc hội như nó – ở cuối một hành lang trên tầng bảy của Tòa Văn phòng Thượng viện Hart. Guồng máy nhỏ gọn được tài trợ từ ngân sách của người lãnh đạo phe Dân chủ ở Thượng viện, người mà vào năm 2003 là Tom Daschle. Trước khi Daschle bổ nhiệm Hillary vào chức vị đó, nhiệm vụ của nhóm là phối hợp chiến lược với các trưởng văn phòng Đảng Dân chủ bên ngoài Washington và giao nhiệm vụ ủy ban cho các thượng nghị sĩ Dân chủ.
Hillary kế vị John Kerry, người mà vào cuối năm 2002 đã quyết định ra tranh cử tổng thống. (Bà đã giữ chức vụ này trong bốn năm, bước xuống trong thời gian trước cuộc tranh cử của chính bà vào Nhà Trắng.) Ngay khi các phụ tá của Hillary cho văn phòng của Daschle biết rõ rằng “bà quan tâm” đến vị trí trống mới này, bà đã trở thành ứng cử viên sáng giá nhất cho công việc đó.
Dưới thời Kerry, ủy ban là một phương tiện để thúc đẩy hình ảnh của ông hơn là của đảng. “Kerry muốn khiến mọi người nghĩ rằng ông ấy là người thông minh nhất trong căn phòng đó,” một viên chức ủy ban đã làm việc dưới thời Kerry và Hillary cho biết. “Ông ấy lướt vào, ông ấy lướt ra.” Hillary, tuy vậy, đã thành công trong việc xây dựng một chương trình rộng hơn, tham vọng hơn. Bà hứa rằng Đảng Dân chủ sẽ xông xáo vươn ra để lắng nghe những quan điểm và các mối quan tâm của “người dân trong cộng đồng.” Tên của ủy ban thay đổi – nó trở thành Ủy ban Định hướng và Vươn xa Đảng Dân chủ Thượng viện – phản ánh nhiệm vụ đó. Một mục tiêu khác là cố gắng cạnh tranh với phe Cộng hòa, những người được cho là hết sức kinh nghiệm trong “kỷ luật truyền thông.” Phe Dân chủ dường như liên tục tranh cãi với nhau, trong khi phe Cộng hòa biểu thị trước sau như một một bộ mặt thống nhất. Hillary đã đoan chắc rằng Đảng Dân chủ cần phải thu hẹp khoảng cách này. Bà cũng tin rằng Đảng Cộng hòa đã “hiệu quả hơn trong việc vươn xa và trong việc tổ chức,” và rằng trong lúc phe Dân chủ còn chưa sánh ngang được họ, phe Dân chủ sẽ còn phải chịu đựng vào Ngày Bầu cử và trong Quốc hội.
Quyết định đầu tiên Hillary đối mặt khi bà tiếp quản ủy ban vào đầu năm 2003 là liệu có giữ giám đốc guồng máy, Jodi Sakol, hay không. Sakol, đang ở độ tuổi đầu ba mươi, là một nhân vật kỳ cựu trong giao tiếp, từng làm các báo cáo nóng hổi cho Al Gore khi ông còn là phó tổng thống và trong suốt chiến dịch tranh cử tổng thống năm 2000 của ông. Cô ấy tự xem mình là một “người nhiều năng lượng,” người mà ngoài việc làm thêm giờ còn thích chạy đua ma-ra-tông, và cô được thừa nhận là một trong những nhân viên giỏi nhất Trụ sở Quốc hội.
Nhưng Hillary lại chưa quen thuộc với Sakol, vì vậy người nhân viên trẻ này cần một có một tay trong để bảo đảm rằng cô được chấp nhận. Người giúp Sakol từ bên trong là cựu tham mưu trưởng từ Nhà Trắng của Hillary, Melanne Verveer, người “đảm bảo” rằng Thượng nghị sĩ Clinton sẽ giữ Sakol lại trong nhóm.
Lương của Sakol được văn phòng của Daschle trả, nhưng cô cũng báo cáo mỗi ngày cho tham mưu trưởng của Hillary và mỗi tuần hay mỗi hai tuần cho bản thân Thượng nghị sĩ Clinton. Về thực chất, Hillary đã có thể sử dụng Sakol để lặng lẽ bổ sung cho guồng máy cá nhân của bà mà không phải trả thêm một chi phí nào.
Ngay khi trở thành một thành viên của Thế giới Hillary, Sakol đã kinh ngạc khi khám phá ra lòng trung thành và tận tụy trong cái gia đình chính trị mở rộng của Hillary. Có nhiều lần, Hillary đã yêu cầu Sakol nói chuyện với “những người trong nhóm thân cận,” bao gồm những cố vấn và phụ tá giao tiếp khác nhau, như Ann Lewis, Doug Sosnik, Patti Solis Doyle, Harold Ickes, và Neera Tanden, tất cả trong số đó đã từng làm việc ở những vị trí cao cấp trong Nhà Trắng thời Clinton. Sakol biết hầu hết những người này từ những ngày làm việc trong Nhà Trắng, nhưng giờ đây họ tái xuất hiện dưới một góc độ khác, giúp cô nhận thức được bản chất vô giá của Thế giới Hillary. “Tôi có cảm giác nếu nhân danh Hillary, tôi đòi họ làm cái gì cho bà họ cũng làm,” ngay cả khi họ đã làm những công việc khác, cô nói. Một khi bạn gia nhập vào guồng máy của Hillary, Sakol nhận ra, “bạn thật sự sẽ không bao giờ rời được bà.”
Một số những sáng kiến tốt nhất của ủy ban là bắt nguồn từ Hillary. Ví dụ, bà biết rằng Mike McCurry, cựu thư ký báo chí của Tổng thống Clinton, theo đạo và hoạt động tích cực trong Trường dòng Thần học Wesley. Bà bảo Sakol vươn tới ông ta trong một nỗ lực nhằm mở rộng sự thu hút của Đảng Dân chủ vượt ra ngoài nền tảng vô thần của mình và nhằm làm sứt mẻ sự độc quyền trên thực tế của phe Cộng hòa trong cộng đồng có đức tin.
Để bắt đầu công việc Sakol gọi McCurry từ văn phòng Hillary. Trong vòng vài tuần, McCurry đã tổ chức được một nhóm các nhà lãnh đạo tôn giáo để dự một buổi họp tại Thượng viện. Hillary xuất hiện rất chớp nhoáng để thể hiện sự ủng hộ và khuyến khích. Cuộc họp đầu tiên này khởi đầu cho một nỗ lực kéo dài nhiều năm, phối hợp với những nhóm khác. Và đến những cuộc bầu cử vào năm 2006, những người theo đạo có tư tưởng tự do đã tin rằng mình tạo nên một sự khác biệt. Đảng Dân chủ làm thu hẹp lại sự kiểm soát chặt của Đảng Cộng hòa đối với những người đi nhà thờ thường xuyên và “thậm chí là hút bớt một phần cái nền tảng trung thành nhất của Đảng Cộng hòa – những người da trắng theo phái Phúc Âm của đạo Tin lành.”
Khi Hillary bước vào chiến dịch tranh cử tổng thống, bà chuyển công việc vươn tới tôn giáo của mình sang cho Bill. Bill kết hợp với Jimmy Carter để tổ chức những người theo đạo Baptist ôn hòa như một đối trọng với Hội nghị Baptist miền Nam thân Cộng hòa. Minyon Moore, một người Mỹ gốc Phi có liên quan đến những nỗ lực của ủy ban định hướng, cũng trở thành một cố vấn quan trọng cho chiến dịch tranh cử tổng thống của Hillary.
Hillary biết rằng nền tảng tiền bạc truyền thống của Đảng Dân chủ hiện đại – Hollywood và các công đoàn – cần phải được bồi thêm sinh lực mà cũng phải mở rộng thêm. Hillary cũng hiểu rằng nếu bà có bất cứ cơ hội nào để trở thành tổng thống, bà cần phải mở rộng ngay mạng lưới vốn đã rất mênh mông các mối liên lạc được gầy dựng trong suốt tám năm của chồng bà ở Nhà Trắng. Hộp chứa danh thiếp đồ sộ của ủy ban định hướng vì vậy có giá trị cực kỳ to lớn.
Không lâu sau, ủy ban được hồi sinh đã hoạt động tốt đến nỗi những thượng nghị sĩ Dân chủ lâu năm, ít được biết đến hơn đã cằn nhằn một cách kín đáo rằng Hillary đang củng cố quá nhiều quyền lực. “Các thượng nghị sĩ trở nên khó chịu về việc bà trở thành bộ mặt của các thượng nghị sĩ Dân chủ, được xem là người điều khiển con rối, người soạn thông điệp đằng sau sự lãnh đạo của Thượng viện,” Sakol nói. Các thượng nghị sĩ ganh tị gồm có Dick Durbin, nhân vật thứ hai của Đảng Dân chủ trong Thượng viện, và Byron Dorgan, người đứng đầu Ủy ban Chính sách Dân chủ, một ủy ban nhìn bề ngoài thì có vị thế công chúng đáng chú ý hơn ủy ban định hướng.
Sự oán giận và ganh tị này thúc đẩy ủy ban định hướng phải khoác lên mình một vị thế ít nhiều bớt gây chú ý hơn. Bằng cách chuyển sự chú ý của nhóm sang một loạt những vấn đề trong nước có ý nghĩa, từ sức cạnh tranh kinh tế, gia đình, và các quyền công dân đến dịch cúm, nhà cửa, và an ninh quốc gia, Hillary đã có thể xoa dịu một phần sự căng thẳng. Nhưng đến khi đó, bà đã đạt được phần lớn những gì bà hy vọng đạt được.
Sakol rời ủy ban vào năm 2004 và được Dana Singiser kế nhiệm. Hai người phụ nữ vốn là bạn, nhưng Singiser lại là một luật sư, không phải là một người giao tiếp. Cô từng làm việc tại một công ty luật hàng đầu Washington, Akin Gump, nơi cô vận động hành lang cho một loạt các khách hàng, bao gồm các ngân hàng, viện an dưỡng, nhà máy, một công ty dược, một công ty viễn thông khổng lồ, các đài truyền thông phụ, và các nhà cung cấp dịch vụ y tế. Khi Hillary từ chức khỏi ủy ban định hướng vào cuối năm 2006, Singiser trở thành giám đốc của chương trình Vươn tới Phụ nữ trong chiến dịch tranh cử tổng thống của Hillary. Vài phút sau khi Hillary chính thức phát động cuộc tranh cử tổng thống, một Singiser phấn khích tung ra một tin nhắn, qua chiếc điện thoại di động BlackBerry của mình, đến bạn bè và gia đình mình, tìm kiếm sự ủng hộ của họ và giới thiệu Hillary như một “kiểu sếp biết chúc mừng sinh nhật bạn và gửi cho bạn một lời chia sẻ khi cha bạn bệnh.” Thế giới Hillary thế là đã có thêm một thành viên.
HILLARY ĐÃ CHÚ Ý KỸ việc cánh hữu định hướng hình ảnh công chúng của Al Gore như thế nào, và bà biết rằng cần thiết phải vận dụng các phương tiện truyền thông đại chúng mới nổi trên Internet để phản kích lại các địch thủ chính trị của mình. Không có gì ngạc nhiên khi có ngay một bầu không khí hồ hởi tiếp thu các ý kiến này trong các nhà hoạt động có tư tưởng tự do.
Vào năm 2003, Trung tâm vì Sự tiến bộ nước Mỹ của John Podesta đang chuẩn bị một bản tóm tắt tin hàng ngày thúc đẩy chương trình nghị sự thân tả của tổ chức. Mỗi sáng, các viên chức từ trung tâm sẽ báo cho Sakol thông điệp trong ngày của họ. Với sự giúp đỡ của các cố vấn bên ngoài và các phụ tá của Daschle, cô sẽ lại chuẩn bị một thông điệp phản ứng nhanh của ngày hôm đó cho các thượng nghị sĩ Dân chủ. Sakol nhận thấy kỳ quặc – “gần như là ngược đời” – khi có những người ngoài, nhiều người trong số đó là những người trung thành với Clinton, đang lặng lẽ dựng lên các thông điệp về các vấn đề cho toàn bộ phe Dân chủ trong Thượng viện. Vì những lý do hiển nhiên, Hillary không hề có những nghi ngại kiểu đó.
Song song đó, và dùng thời gian của riêng mình, Sakol tham gia vào các cuộc thảo luận về sự thành lập của một nhóm phi lợi nhuận, thân tả khác, nhóm Công dân vì Trách nhiệm và Đạo đức ở Washington (CREW), một nhóm tập trung vào sự tham nhũng của chính phủ. Chính những nỗ lực “tiên phong” của Hillary trong lĩnh vực này và khát khao của bà để “đánh bại Đảng Cộng hòa tại cuộc chơi của chính họ” đã thúc đẩy người sáng lập CREW, Melanie Sloan – một cựu công tố viên, mời Sakol đến các buổi họp phác thảo ý tưởng ban đầu vào năm 2003 nơi CREW ra đời. CREW được thành lập như một nhóm phi đảng phái và được miễn thuế; thỉnh thoảng nó cũng theo đuổi các mục tiêu thuộc Đảng Dân chủ. Nhưng vì vào lúc nó được thành lập, Quốc hội và cơ quan hành pháp đều nằm trong tay phe Cộng hòa, nên các cuộc điều tra của nó đều tập trung hướng vào phe Cộng hòa. Sakol cảnh báo Hillary và guồng máy của bà về cái nhóm mới được thành lập này và nhu cầu của nó về “tiền bạc tăng không ngừng của phe Dân chủ.” Niềm hy vọng ở đây là CREW sẽ chứng tỏ mình là một đối trọng hoàn hảo với Gác canh Pháp luật (Judicial Watch), tổ chức giám sát nạn tham nhũng đã gây nhiều phiền nhiễu cho nhà Clinton với những cuộc kiện tụng và các buổi họp báo trong suốt những năm 1990. Người tổ chức thăm dò ý kiến và là chiến lược gia của Hillary, Mark Penn, trở thành một giám đốc và phó chủ tịch của CREW. “CREW có thể làm những việc các thượng nghị sĩ không thể làm,” Sakol nói. Và một khi những cáo buộc của CREW “xuất hiện trên báo chí,” Sakol lưu ý, những người khác có thể trích dẫn trong các bản tin về các phát hiện của nhóm, vốn thường được miêu tả là phi đảng phái. CREW đã đóng một vai trò quan trọng trong việc phanh phui một số vụ bê bối trong Quốc hội, trong đó có vụ giúp đỡ một hạ nghị sĩ Dân chủ sắp về hưu từ Texas nộp một đơn kiện chống lại Lãnh đạo Phe Đa số Hạ viện là Tom DeLay.
Ưu tiên khác của Hillary khi đảm nhiệm quyền quản lý ủy ban định hướng là nhằm cải thiện sự liên lạc và khả năng truyền thông điệp của các thượng nghị sĩ Dân chủ. Đối với bà, đó là một hành trình quay về những ngày sóng gió của chiến dịch tranh cử tổng thống năm 1992.
Không lâu sau khi tiếp quản ủy ban, bà nói với Sakol, “Tôi muốn thiết lập một phòng tác chiến trong Thượng viện.” Sáng kiến của Clinton là nhằm triển khai “một nơi giải quyết mọi vấn đề về thông tin liên lạc cho các thượng nghị sĩ mà trước đó chưa từng có.” Hillary họp với Daschle đầu năm 2004, và các phụ tá và cố vấn của bà sử dụng chương trình PowerPoint để trình bày báo cáo của họ. Daschle dường như đã bị thuyết phục.
Nhưng kế hoạch sớm bị trì hoãn. Sakol tin rằng, một trở ngại chính cho những tham vọng của Hillary, chính là viên tham mưu trưởng mẫn cảm với chuyện đấu đá của Daschle, Pete Rouse, người sau này trở thành tham mưu trưởng của Thượng nghị sĩ Barak Obama. Ông lo lắng về việc Hillary sẽ nhận được sự khen ngợi cho sáng kiến đó và sẽ có được một bệ phóng to lớn hơn cho những khát vọng chính trị trong tương lai của bà. Tuy không được biết đến rộng rãi, nhưng Daschle đã nghiêm túc cân nhắc một cuộc chạy đua cho chiếc ghế tổng thống vào thời điểm đó. Vì vậy nỗ lực của Hillary tiến triển một cách chậm chạp, bị ngăn trở bởi “sự kháng cự thụ động” từ phía các nhân viên của Daschle. Sakol và các đồng nghiệp của mình thành lập một chiến dịch nòng cốt, tọa lạc tại dãy văn phòng do vị lãnh đạo phe Dân chủ quản lý, nhưng nó không có đủ các nguồn lực.
Những cuộc bầu cử năm 2004 – dịp để cỗ máy thông tin Đảng Cộng hòa phô bày sự thành thạo của nó trong kỹ năng thông tin – cuối cùng đã đánh thức các thượng nghị sĩ Dân chủ. Trong số những thành viên Dân chủ bị mất ghế có Daschle, và người kế nhiệm của ông là Harry Reid, từng nhìn nhận ý tưởng của Hillary là “quá hiển nhiên”. Một vài tuần sau kỳ bầu cử, Reid công khai tuyên bố thành lập một phòng tác chiến, phân bổ nhân sự và các nguồn lực mà Hillary đã tìm kiếm nhưng không có kết quả. Reid trở nên thường xuyên dựa vào lời khuyên của Hillary trong việc tìm cách làm thế nào để phản ứng trước những vấn đề cấp bách hay soạn thảo một thông điệp hàng ngày.
Một trong những người tham dự các buổi họp dẫn tới sự ra đời của CREW là David Brock, một cựu thù chuyển sang thành đồng minh của Hillary, người đã khởi đầu nhóm phi lợi nhuận của riêng mình vào cùng thời điểm đó. Hillary và Brock tạo nên một liên minh có vẻ lạ thường. Tổ chức phi lợi nhuận của Brock, một dự án giám sát truyền thông có trụ sở tại Washington với tên gọi Những vấn đề Truyền Thông cho nước Mỹ, tìm được một chỗ ở tạm vào đầu năm 2004 trong Trung tâm vì Sự tiến bộ của nước Mỹ. Vốn vẫn cung cấp những báo cáo tin tức hàng ngày của mình cho Hillary, nay trung tâm giúp Sakol lấy các phân tích truyền thông hàng ngày được dự án Những vấn đề Truyền thông chuẩn bị nhằm giúp định hình các hoạt động của phòng tác chiến Thượng viện.
Mặc dù độc lập, nhưng trong số những cố vấn và người ủng hộ sớm nhất của Những vấn đề Truyền thông đã có các đồng minh lâu năm của Hillary và Đảng Dân chủ. Một trong số họ, Kelly Craighead, người vẫn hoạch định các chuyến đi lại của Hillary trong tám năm khi bà còn là Đệ nhất Phu nhân, đã cố vấn Những vấn đề Truyền thông “trên mọi phương diện” vào buổi mới ra đời. Và cái nhóm mới này không hề phung phí một chút thời gian nào để trở thành người bảo vệ cho danh tiếng của Hillary và khoe khoang về vai trò của nó như một cảnh sát bảo vệ sự thật, truy sát các phóng viên nếu thấy rằng họ đã bỏ sót các thông tin quan trọng hay chọn lựa tài liệu có tính toán. Brock cho biết trong vòng ba năm, nhóm đã vạch ra hơn bảy ngàn ví dụ của “thông tin sai lệch thân bảo thủ”.
Hillary, tuy không phải là một người bạn thân của Brock, đã cố vấn cho ông và “lặng lẽ ủng hộ” đế chế phi lợi nhuận của ông. Những người kiểm tra tại Những vấn đề Truyền thông thường vội vã đi đến việc bảo vệ Hillary. Ví dụ, khi phóng viên tờ New York Times Anne Kornblut phạm một sai lầm về Hillary trong một bài báo ngắn vào ngày 16 tháng 7 năm 2006, Những vấn đề Truyền thông chộp ngay lấy lỗi lầm đó. Trước đó Kornblut diễn giải sự ám chỉ của chữ “chúng tôi” mang nghĩa phê phán mà Hillary đã đọc trong một bài diễn văn về sự bất hoạt của Quốc hội là để chỉ phe Dân chủ, trong khi trên thực tế, Hillary đã ám chỉ tới Quốc hội dưới quyền kiểm soát của Đảng Cộng hòa. Bài viết của Kornblut chỉ xuất hiện trên trang web của tờ báo, chứ không phải trên báo giấy.
Sau khi bài báo của mình được đăng trên trang Web, Kornblut thực hiện chuyến nghỉ mát đã được định trước đến Barbados. Có thể đoán được, các blogger bảo thủ bèn ca ngợi bài viết của Kornblut về việc Hillary chỉ trích đảng của chính bà, trong khi những người theo chủ nghĩa tự do công kích bài báo sai lệch của Kornblut. Các phụ tá Thượng viện của Hillary đệ đơn kiện riêng với tờ New York Times. Một phóng viên tại một tờ báo kình địch cho biết ông đã ngạc nhiên khi các nhân viên báo chí của Hillary “nổi khùng” về sai lầm đó, bởi vì nó chỉ mới xuất hiện trên báo mạng và thậm chí chưa được xuất bản trên báo giấy. Sau đó hai ngày, tờ Times xuất bản một lời lưu ý của ban biên tập trên tờ báo, sửa lại lời giải thích sai chỉ xuất hiện trên web của Kornblut đối với các nhận xét của Hillary.
Một tuần sau, Hillary đến Denver để công bố “Sáng kiến Giấc mơ Mỹ,” một dự án của Hội đồng Lãnh đạo Dân chủ, một nhóm ôn hòa của phe Dân chủ, do Bruce Reed, một đồng minh lâu năm của Clinton đứng đầu. Kornblut, vốn là thành viên của một nhóm phóng viên tờ Times được chỉ định đưa tin về các nhân vật chính trị nổi tiếng tại bang nhà của tờ báo, bay đến Denver vì có bài diễn văn của Hillary. Kornblut quay trở về phòng mình tại khách sạn Hyatt Regency sau buổi lễ để viết và nộp mẩu tin. Cô thay bộ trang phục đi làm của mình bằng quần jeans và áo thun không tay. Cảm thấy khát, cô phóng nhanh xuống sảnh trệt của tòa khách sạn cao tầng mua một ly soda. Vài phút sau, Hillary, mặc một đồ đen, xuất hiện và nhìn thấy Kornblut.
“Anne, tôi nghĩ cô rời Barbados rồi chứ,” Hillary bắt chuyện, cho người phóng viên biết rằng bà biết cô đã đi nghỉ mát ở đâu, một mức độ về chi tiết khiến Kornblut cảm thấy bị đe dọa.
Sự chỉ trích có hiệp đồng nhằm vào bài báo của Kornblut đã được thành viên mới nhất tại phòng tác chiến của Hillary mở màn. Vào giữa năm 2006, Hillary thuê Peter Daou, người vào năm 2004 đã quản lý việc vươn xa bằng blog và phản ứng nhanh trực tuyến cho chiến dịch tranh cử tổng thống của Kerry và sau đó làm việc cho Những vấn đề Truyền thông. Daou, vốn lớn lên tại Li-băng trước khi định cư ở Manhattan, xem báo chí chính thống là “hèn nhát” và “bợ đỡ.”
Vài tuần trước khi tham gia vào chiến dịch của Hillary, Daou đã viết trên blog của mình về “lực lượng truyền thông đã cố gắng hết sức để giúp đỡ tòa Nhà Trắng này và để nhai lại các quan điểm thân Cộng hòa – bài Dân chủ.” Daou tin rằng phe Dân chủ đã liên tục thua ở các kỳ bầu cử vì “các tình tiết thân Cộng hòa được xây dựng một cách tài tình đã được bơm vào dòng máu Mỹ” bởi các phóng viên truyền thông xuất chúng như Tom Brokaw, Cokie Roberts, Bob Schieffer, và Tim Russert, cũng như các phóng viên tại các tờ New York Times, Washington Post, và Newsweek. Đó là một thông điệp vang vọng tới Hillary.
Daou đồng ý làm việc cho Hillary với tư cách là cố vấn về blog bởi vì anh nghĩ nó bày ra một “cơ hội đặc biệt” để biến lời của anh thành hành động, nhằm “tạo điều kiện và mở rộng mối quan hệ của bà với cư dân mạng,” và nhằm áp dụng những gì anh đã học được tại Những vấn đề Truyền thông về khả năng của “thông tin sai lệch thân bảo thủ” trở thành một phần của báo chí chính thống. (Từ lâu trước khi thuê Daou, Hillary đã nói với một phụ tá rằng blogs “sẽ trở thành kẻ lãnh đạo dư luận.”)
Daou lúc đầu trở thành một nhà tư vấn cho Ủy ban chiến dịch và Ủy ban hành động chính trị (PAC) của Hillary. Khi bài báo sai lệch của Kornblut bất ngờ xuất hiện thì anh vừa mới ký nhận việc. Một vài tuần sau, Daou trở thành một thành viên chính thức của Thế giới Hillary, đảm nhiệm chức danh giám đốc Internet cho chiến dịch tranh cử tổng thống mới phát động của Hillary vào năm 2007. Trong năm ngày đầu tiên, trang web của Hillary đăng ký cho hơn 140.000 người ủng hộ và thực hiện ba buổi phát tin trên internet, thu hút hơn 25.000 câu hỏi và 50.000 người xem. Hillary cũng đã sử dụng dịch vụ Trả lời Yahoo! để hỏi những người nhiệt tình trên không gian ảo một câu hỏi về y tế, nhận được 35.000 lời đáp, con số câu trả lời cao hàng thứ hai trong lịch sử của dịch vụ.
Daou tin rằng “ứng cử viên nào sử dụng khéo léo internet năm 2008 sẽ có một lợi thế quyết định.” Sếp của ông đồng ý, nhưng bà cũng cho thấy rõ, rằng tuy đã trở thành công nghệ cao, nhưng chắc chắn bà không trở thành mềm dẻo. Tại chặng dừng chân chính thức đầu tiên trong chiến dịch tranh cử tổng thống của mình, bà nói với các nhà hoạt động Dân chủ ở Iowa, “Khi bạn bị tấn công, bạn phải hạ đo ván đối thủ của mình.” Đó không chỉ là một chiến lược – Đó hóa ra cũng là một lời dự báo.