Ma Pháp Sư (Trận Chiến Vết Nứt Thời Gian): Học Đồ

Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 16
Kỳ Kích Bất Ngờ

❊ ❊ ❊

Chiếc xe ngựa rên rỉ kọt kẹt dưới sức nặng của hàng hóa.

Mấy con bò đực lê lết bước đi trong tiếng mắng mỏ khàn đặc của phu xe cùng tiếng bánh xe kêu cót két, khó nhọc kéo theo cỗ xe nặng nhọc đi xuống con đường dẫn ra bãi biển. Arutha, Vernon và Lyane cưỡi ngựa đi phía trước toán binh lính để hộ tống xe ngựa qua lại giữa lâu đài và bờ biển. Theo sau xe ngựa là một đám dân làng áo quần rách rưới. Rất nhiều người mang vác những gói đồ nặng nề hoặc kéo theo xe tay đẩy, đi theo các vị hoàng tử con của công tước để hướng về phía những con thuyền đang chờ sẵn.

Họ rẽ khỏi con đường lớn của thị trấn, Arutha đờ đẫn nhìn cảnh tượng tàn phá trước mắt. Thị trấn Caris vốn từng phồn hoa nay giờ đã bị bao phủ bởi bầu không khí ảm đạm chua xót. Không khí buổi sáng tràn ngập tiếng búa nện và cưa gỗ, những người thợ đang cố hết sức có thể để khắc phục những tổn thất.

Người Tsurani đã tập kích nơi đây vào lúc hoàng hôn hai ngày trước, tàn phá cả thị trấn. Vài lính canh đang túc trực hoàn toàn không kịp chống cự cho đến khi những phụ nữ, người già và trẻ em hoảng sợ kéo chuông báo động. Dị tộc đã xuyên qua toàn bộ thị trấn, không mảy may do dự tiến thẳng đến bến cảng, nơi chúng phóng hỏa thiêu rụi ba chiếc thuyền và tàn phá nặng nề hai chiếc khác. Những con thuyền bị thương đã gượng sức giبح khơi đến Krondor, trong khi những chiếc thuyền không bị tổn hại trong hải cảng cũng đã di chuyển đến nơi ẩn náu tạm thời của chúng ở phía bắc vách đá Sailor's Grief.

Người Tsurani đã ném đuốc vào các công trình kiến trúc gần bến cảng, mặc dù chịu thiệt hại nặng nhưng chúng vẫn có thể cứu vãn được. Ngọn lửa lan dài đến trung tâm thị trấn, gây ra tổn thất cực lớn ở đó. Đại sảnh của các nghiệp đoàn, hai quán rượu và hàng tá công trình nhỏ hơn giờ chỉ còn lại những đống phế tích tích tụ. Gỗ cháy đen, ngói mái vỡ vụn, cùng những hòn đá bị nung cháy đánh dấu vị trí trước kia của chúng. Đúng một phần ba Caris đã bị thiêu rụi hoàn toàn trước khi ngọn lửa được khống chế.

Arutha từng đứng trên tường thành, dõi theo ánh lửa tựa địa phản chiếu lên những đám mây trên thị trấn tựa như một bữa tiệc rực lửa. Khi tia sáng đầu tiên nhen nhóm và anh dẫn quân đồn trú xông ra, anh phát hiện người Tsurani đã biến mất trong khu rừng.

Arutha vẫn cảm thấy bực bội bởi những ký ức đó. Vernon từng khuyên Lyane không nên cho phép quân đồn trú xuất thành trước khi trời sáng — vì sợ rằng đây là quỷ kế nhằm mở rộng cửa thành hoặc dụ quân đội vào ổ phục binh được bố trí trọng binh — và Lyane đã chấp nhận lời thỉnh cầu của lão kiếm thuật trưởng. Arutha chắc chắn rằng nếu lúc đó anh có thể lập tức truy đuổi những tên Tsurani bị đánh tan tác thì nhất định đã có thể tránh được những tổn thất này.

Theo chân họ bước xuống con đường ven biển, Arutha chìm đắm trong dòng suy nghĩ. Một ngày trước đã truyền đến mệnh lệnh yêu cầu Lyane rời khỏi Caris. Sĩ quan tùy dũng trong doanh trại của công tước đã tử trận, và cuộc chiến đã bước sang năm thứ ba vào mùa xuân này, ông muốn Lyane đến doanh trại của mình ở Yabon để hội quân. Nguyên nhân vì sao thì Arutha không tài nào biết được, Công tước Borick không trao quyền chỉ huy cho anh như kỳ vọng; mà thay vào đó lại bổ nhiệm kiếm thuật trưởng làm tổng chỉ huy quân đồn trú. Thế nhưng, vị hoàng tử trẻ nghĩ, ít nhất Vernon sẽ không trực tiếp ra lệnh cho ta khi không có sự hiện diện của Lyane. Anh khẽ lắc đầu nhằm xua đi sự phẫn nộ trong lòng. Anh yêu người anh trai của mình, nhưng anh ước gì Lyane có thể tích cực và tự tin hơn một chút. Kể từ khi chiến tranh bắt đầu, Lyane vẫn luôn thống lĩnh Caris, nhưng hầu như tất cả mọi quyết định đều do Vernon đưa ra. Giờ đây Vernon lại càng danh chính ngôn thuận kiểm soát mọi thứ.

"Có tâm sự sao, tiểu đệ?"

Lyane đã thúc ngựa tiến đến bên cạnh Arutha, người sau lắc đầu cười nhẹ không rõ ý. "Chỉ là ghen tị với huynh mà thôi."

Lyane nở nụ cười ấm áp với em trai mình. "Ta biết đệ rất muốn đi, nhưng mệnh lệnh của phụ thân rất rõ ràng. Nơi này cần đệ."

“Một nơi phớt lờ mọi kiến nghị của ta thì sao lại cần ta chứ?”

Biểu cảm của Lyane tràn ngập sự vỗ về. "Đệ vẫn cảm thấy thất vọng vì phụ thân bổ nhiệm Vernon thống lĩnh quân đồn trú."

Arutha hầu như không thể nhìn thẳng vào đại ca. "Con người hiện tại của ta chính là độ tuổi mà phụ thân được bổ nhiệm làm chỉ huy trưởng Caris. Phụ thân cũng ở độ tuổi này của ta mà trở thành tổng chỉ huy và kỵ sĩ trưởng thứ hai của phương Tây, chỉ mất bốn năm để được bổ nhiệm làm Hộ vệ vương quốc phương Tây. Ông nội hoàn toàn tin tưởng ngài và trao cho ngài toàn bộ quyền lực."

“Phụ thân không phải ông nội, Arutha. Hãy nhớ rằng, ông nội lớn lên trong một thời đại mà Caris liên miên khói lửa chiến tranh, hòa bình chỉ mới đến với đại lục này gần đây thôi. Người lớn lên trong chiến tranh. Còn phụ thân thì không. Tất cả kỹ năng chiến chiến tranh của người đều học được từ Thung lũng Mơ màng, từ cuộc đối đầu với Kesh, chứ không giống như ông nội là bảo vệ quê hương của chính mình. Thời thế đã thay đổi.”

“Họ đã thay đổi rồi, huynh đài.” Arutha lạnh nhạt nói.

“Ông nội, cũng giống như phụ thân của người trước kia, tuyệt đối sẽ không an toàn ẩn nấp sau tường thành. Chiến tranh đã bắt đầu tròn hai năm, nhưng chúng ta lại chưa từng phát động một cuộc tấn công quy mô lớn nào nhắm vào người Tsurani. Chúng ta không thể tiếp tục để họ kiểm soát tiến trình chiến tranh, hay quyết định rằng họ nhất định sẽ chiến thắng.”

Lyane nhìn đăm đăm vào người em trai, trong đôi mắt phản chiếu sự quan tâm. “Arutha, ta biết đệ bị những kẻ địch này hành hạ đến mức không thể chợp mắt, nhưng Vernon nói chúng ta không dám mạo hiểm với quân đồn trú là đúng. Chúng ta buộc phải thủ ở đây để bảo vệ những gì chúng ta đang có.”

Arutha liếc nhanh về phía đám đông dân làng rách rưới đang theo sát phía sau. “Ta sẽ nói cho những người đang đi theo chúng ta này biết họ được bảo vệ tốt đến nhường nào.”

Lyane chua xót nhìn Arutha. “Ta biết đệ trách ta, tiểu đệ. Nếu ta chấp nhận kiến nghị của đệ, thay vì của Vernon…”

Cơn giận của Arutha tiêu tan. “Không liên quan đến huynh,” anh nhượng bộ. “Lão Vernon chỉ là cẩn trọng mà thôi. Ý kiến của ông ấy chính là ý kiến của một người lính có giá trị tương đương với những sợi tóc bạc trên đầu ông ấy. Còn ta chỉ là một đứa trẻ nhà công tước. Ta sợ ý kiến của mình bị xem nhẹ.”

“Hãy kiềm chế sự nóng nảy của đệ, người trẻ tuổi,” anh ra vẻ nghiêm túc nói. “Có lẽ giữa sự táo bạo lỗ mãng của đệ và sự cẩn trọng của Vernon có thể tìm ra một con đường trung dung an toàn hơn.” Lyane cười nói.

Arutha cũng bị nụ cười của huynh trưởng lây nhiễm mà không kìm được nhe răng cười lớn. “Có lẽ vậy, Lyane.” Anh vừa nói vừa cười.

Họ đã đến bờ biển nơi những chiếc xuồng lớn đang chờ đón để đưa những người tị nạn rời khỏi bờ biển lên thuyền. Các vị thuyền trưởng không chịu quay lại hải cảng cho đến khi chắc chắn rằng thuyền của họ sẽ không bị tập kích lần nữa, thế nên những người dân tị nạn đành phải ngồi xuồng lớn vượt biển để lên thuyền. Đàn ông và phụ nữ bắt đầu lội nước lên xuồng, những bọc hành lý chứa tài sản ít ỏi còn lại cùng trẻ nhỏ được nâng niu giơ cao trên đỉnh đầu. Những đứa trẻ lớn hơn thì nghịch ngợm đùa giỡn trong nước, biến việc trốn chạy thành một trò chơi thi đấu. Nhưng cũng có rất nhiều người đẫm lệ tràn ngập nỗi đau chia ly, phần lớn người dân ở lại để xây dựng lại quê hương hoặc tòng quân nhập ngũ gia nhập quân đội của công tước. Phụ nữ, trẻ em và người già thì phải trúng chạy đến bờ biển Tula — thị trấn cực nam của lãnh địa công tước, nơi vẫn chưa bị quấy nhiễu bởi người Tsurani ở Trái Tim Xanh hoặc Hắc Tộc cuồng bạo.

Lyane và Arutha lật người xuống ngựa, một người lính dắt lấy chiến mã của họ. Huynh đệ hai người dõi theo những người lính cẩn thận khiêng những chiếc thùng gỗ đựng bồ câu đưa thư lên chiếc xuồng lớn đang kéo sát vào bờ. Những chú chim này sẽ vượt qua eo biển tối bằng thuyền để đến doanh trại của công tước. Những chú bồ câu này đã được huấn luyện, chúng có thể sẽ được thả bởi những kẻ theo dõi của Longbow Martin và quân trinh sát Nataris, mang tin tức của công tước bay trở về Caris. Những chú bồ câu này chỉ mới hoàn thành huấn luyện trong doanh trại vào năm nay — chúng bắt buộc phải được huấn luyện bản năng tìm đường về nhà.

Nhanh chóng, hành lý và người tị nạn đều đã lên thuyền hết, đây là lúc Lyane phải rời đi. Vernon gửi gắm cho anh một lời từ biệt cứng nhắc và mang tính hình thức, nhưng hiển nhiên vị lão kiếm thuật trưởng đã cố gắng kìm nén tình cảm quan tâm dành cho đại công tử. Mặc dù không phải người thân thích, nhưng Vernon nhìn họ lớn lên tựa như một người chú, tự mình truyền dạy kiếm thuật cho họ, bảo dưỡng giáp trụ, cùng cả lý thuyết chiến thuật. Ông vẫn duy trì phong thái lễ nghi chính thức của mình, nhưng cả hai huynh đệ đều có thể nhìn ra tình thân thực sự ẩn chứa bên trong đó.

Khi Vernon rời đi, hai huynh đệ ôm chặt lấy nhau. Lyane nói, “Hãy chăm sóc tốt cho Vernon.” Arutha lộ vẻ ngạc nhiên. Lyane cười toe toét với anh, “Ta không dám tưởng tượng nếu phụ thân lại một lần nữa phớt lờ đệ mà bổ nhiệm Ogen làm chỉ huy quân đồn trú thì nơi này sẽ xảy ra chuyện gì.”

Arutha rên rỉ một tiếng, rồi cùng huynh trưởng cười lớn. Kỵ mã trưởng Ogen chính là người chỉ huy thứ hai chỉ đứng sau Vernon. Toàn bộ người trong lâu đài đều vô cùng yêu mến ông, và dành cho ông sự kính trọng sâu sắc bởi kiến thức phong phú về loài ngựa, thế nhưng tất cả mọi người cũng đều phải thừa nhận rằng trí tuệ của ông chỉ hạn hẹp ở loài ngựa mà thôi. Trong hai năm chiến loạn vừa qua, ông vẫn cự tuyệt việc tin rằng những kẻ xâm lược đến từ một thế giới khác — điều này khiến cho Thần phụ Tarly không biết đã phải nổi bao nhiêu trận lôi đình.

Lyane bước xuống nước, hai người lính đang đỡ lấy một chiếc xuồng dài đang đợi ở đó. Anh quay đầu hét lên, “Hơn nữa, hãy chăm sóc tốt cho muội muội của chúng ta, Arutha.”

Arutha đáp rằng anh sẽ làm vậy. Lyane bước lên xuồng dài, ngồi bên cạnh những chú bồ câu trân quý, chiếc thuyền bắt đầu rời xa bờ. Arutha dõi theo chiếc xuồng dài dần thu nhỏ lại ở đằng xa.

Arutha chậm rãi quay về chỗ người lính đang dắt ngựa cho mình. Anh dừng chân, nhìn xuống bãi biển. Ở phía nam, vách đá Sailor's Grief sừng sững dựng đứng, đâm thẳng lên bầu trời ban mai. Arutha thầm nguyền rủa cái ngày mà những con thuyền của người Tsurani đâm nát vào những mỏm đá đó.

Carine đứng trên đỉnh tháp nam của lâu đài, đăm đăm nhìn về phía xa, cơn gió biển thổi tới khiến chiếc áo choàng của nàng siết chặt vào người. Nàng ở lại trong lâu đài, không muốn cưỡi ngựa ra bãi biển để từ biệt Lyane sớm. Nàng thà rằng không để nỗi sợ hãi của mình che mờ niềm vui khi Lyane đến gia nhập doanh trại của phụ thân họ. Trong hai năm qua, đã rất nhiều lần nàng tự trách mình vì có suy nghĩ như vậy. Họ là những người lính, từ thủa nhỏ đã được huấn luyện cho chiến tranh. Thế nhưng kể từ khi nàng nhận được tin tức Pug ở Caris bị bắt làm tù binh, nàng cảm thấy sợ hãi thay cho họ.

Một tiếng động nhẹ thanh hắng cổ họng. Carine quay người lại. Là phu nhân Ginis, người đã làm bạn đồng hành cùng công chúa suốt bốn năm nay, nàng mỉm cười và gật đầu ra hiệu cho người mới xuất hiện ở cửa cầu thang đỉnh tháp.

Roland xuất hiện ở cửa. Trong hai năm qua cậu đã cao lên rất nhiều, giờ đây đã cao bằng Arutha. Cậu vẫn hơi gầy gò, nhưng những nét trẻ con đã tan biến và hóa thành một người đàn ông.

Cậu cúi đầu nói, “Điện hạ.”

Carine gật đầu đáp lại lời chào của cậu và ra hiệu cho phu nhân Ginis có thể rời đi để nhường không gian riêng cho họ. Ginis quay người đi xuống cầu thang bước vào trong tháp.

Carine dịu dàng lên tiếng, “Đệ không cưỡi ngựa cùng Lyane ra bãi biển sao?”

“Không, thưa điện hạ.”

“Đệ đã nói chuyện với huynh ấy trước khi huynh ấy rời đi chứ?”

Roland chuyển ánh mắt về phía chân trời xa xăm. “Vâng, thưa điện hạ, mặc dù ta phải thừa nhận rằng ta không vui cho lắm về việc huynh ấy rời đi.”

Carine thấu hiểu gật đầu. “Bởi vì đệ buộc phải ở lại.”

Cậu cay đắng nói, “Vâng, thưa điện hạ.”

Carine khẽ nói, “Sao lại phải câu nệ lễ nghĩa như vậy, Roland?”

Roland nhìn công chúa, người vừa tròn mười bảy tuổi vào giữa mùa hè năm ngoái. Nàng không còn là một tiểu thư bướng bỉnh hay nổi cơn thịnh nộ năm nào, nàng đã trở thành một thiếu nữ xinh đẹp, chu đáo và biết tự suy ngẫm. Hầu như tất cả mọi người trong lâu đài đều biết đã có bao nhiêu đêm Carine khóc vì tin tức về Pug. Sau gần mấy tuần lễ sống một mình, Carine dường như đã biến thành một con người khác, dịu dàng hơn, bớt bướng bỉnh hơn. Chỉ nhìn bề ngoài thì thực sự rất khó để nhận ra cảm xúc trong lòng Carine, nhưng Roland biết rằng những vết sẹo vẫn chưa lành hẳn.

Trải qua một thoáng trầm mặc, Roland lên tiếng, “Điện hạ, khi…” Cậu khựng lại, rồi tiếp lời, “Điều đó không quan trọng.”

Carine đặt tay lên cánh tay cậu. “Roland, bất kể thế nào, chúng ta vẫn luôn là bạn bè.”

“Vâng, ta rất vui vì điều đó.”

“Vậy hãy nói cho ta biết, tại sao giữa chúng ta lại xuất hiện khoảng cách?”

Roland thở dài một hơi, trong câu trả lời của cậu không còn sự hài hước tinh nghịch thường thấy nữa. “Nếu như có, Carine, thì đó cũng không phải do ta gây ra.”

Tựa như một tia lửa khiến thiếu nữ bùng nổ như trước kia, nàng cất giọng ở ranh giới giữa sự bốc đồng và tức giận, “Là ta, vậy là ta đã gây ra sự xa cách này sao?”

Giọng nói của Roland cũng tràn ngập sự tức giận. “Đúng vậy, Carine!” Cậu vuốt tay qua mái tóc nâu gợn sóng của mình rồi tiếp tục nói, “Em còn nhớ ngày anh đánh nhau với Pug chứ? Vào cái ngày đặc biệt trước khi anh ta rời đi ấy.”

Khi nhắc đến cái tên Pug, nàng trở nên căng thẳng. “Ừm, tôi nhớ chứ.” Nàng cứng ngắc đáp.

“Rất tốt, đó là một chuyện ngu ngốc, chuyện giữa những đứa con trai với nhau, trận đánh nhau đó. Tôi nói với anh ta rằng không bao giờ được phép làm em bị thương, tôi đánh anh ta. Anh ta đã kể với em chuyện này chưa?”

Nước mắt không hẹn mà gặp làm ướt đẫm đôi mắt nàng. Nàng dịu dàng nói, “Không, anh ấy chưa từng nhắc đến.”

Roland nhìn gương mặt xinh đẹp mà cậu vẫn luôn thầm yêu mến suốt bao nhiêu năm qua và nói, “Ít nhất kể từ lúc đó, tôi đã hiểu rõ đối thủ của mình.” Cậu hạ thấp giọng, cơn giận đã trôi tuột đi từ lúc nào. “Tôi vẫn luôn nghĩ rằng, vào thời khắc cuối cùng, chúng ta đã trở thành bạn bè. Mặc dù, tôi thề rằng tôi sẽ không bao giờ từ bỏ việc cố gắng thay đổi trái tim em.”

Run rẩy, Carine siết chặt chiếc áo choàng của mình mặc dù thời tiết không hề lạnh. Nàng cảm thấy cảm xúc mâu thuẫn và tâm trạng bối rối trong lòng. Nàng có chút run rẩy cất lời, “Vậy tại sao đệ lại dừng lại, Roland?”

Đột nhiên ngọn lửa giận lại bùng lên trong lòng Roland. Lần đầu tiên cậu vứt bỏ chiếc mặt nạ khôn ngoan và lễ phép trước mặt công chúa. “Bởi vì tôi không thể cạnh tranh với một ký ức, Carine.” Mắt nàng mở to, nước mắt trào ra tuôn rơi trên đôi gò má. “Tôi có thể đối mặt với bất kỳ một con người sống sờ sờ nào, nhưng tôi không thể vật lộn với cái bóng của quá khứ.” Ngọn lửa giận bùng nổ trong từng câu chữ của cậu. “Anh ta đã chết rồi, Carine. Tôi rất hy vọng không phải như vậy; anh ta là bạn của tôi, và tôi cũng mất đi anh ta, nhưng tôi đã để anh ta đi. Pug đã chết rồi. Cho dù em có thừa nhận hay không thì đó cũng là sự thật, thế nhưng em lại đang sống trong một hy vọng giả dối.”

Nàng dùng tay che miệng, lòng bàn tay hướng ra ngoài, nàng trân trân trừng mắt nhìn cậu trong im lặng, tràn ngập sự phủ nhận. Đột nhiên nàng quay người chạy xuống cầu thang.

Chỉ còn lại một mình, Roland tựa khuỷu tay lên bức tường đá lạnh lẽo của ngọn tháp cao. Dùng tay nâng đầu mình lên, cậu lẩm bẩm: “Ồ, ta quả thực là một tên ngốc ngếch hết chỗ nói.”

“Đội tuần tra!” Lính canh trên tường thành lớn tiếng hô vang. Arutha và Roland, những người đang kiểm tra binh lính hướng dẫn huấn luyện dân binh được chiêu mộ từ các ngôi làng hẻo lánh, vội vã chạy tới.

Họ đi đến trước cổng thành, đội tuần tra chậm rãi đi vào, một tá kỵ binh bẩn thỉu và mệt mỏi, cùng Longbow Martin và hai kẻ theo dõi khác đi ở một bên. Arutha chào vị thợ săn rồi nói, “Có phát hiện gì không?”

Anh chỉ vào ba kẻ mặc áo chùng ngắn màu xám đang đứng trong hàng ngũ kỵ binh. “Tù binh, thưa điện hạ,” người thợ săn cúi đầu đáp.

Arutha gọi lính canh tới bao vây canh giữ tù nhân để những tên kỵ binh mệt mỏi rời đi. Arutha bước đến chỗ họ đang đợi, khi anh bước tới gần, cả ba người đều quỳ sụp xuống đất, gối đầu sát xuống nền đất.

Arutha nhướng mày kinh ngạc trước cảnh tượng này. “Ta chưa từng thấy chuyện như thế này bao giờ.”

Longbow gật đầu đồng tình. “Họ không mặc giáp, và khi chúng ta tìm thấy họ ở Stilt-ru thì cũng không hề cố gắng kháng cự hay trốn chạy. Bọn họ y hệt như những gì ngài thấy bây giờ, chỉ là sau đó cứ lải nhải không ngừng như vợ của ngư dân vậy.”

Arutha nói với Roland, “Dẫn Thần phụ Tarly tới. Ông ấy có thể hiểu được ngôn ngữ của bọn chúng.” Roland nhanh chóng đi tìm vị linh mục. Longbow đuổi hai kẻ theo dõi của mình đi, hai kẻ đó cắm cổ chạy thẳng tới nhà bếp. Một lính canh được cử đi tìm kiếm thuật trưởng Vernon và báo cho ông biết tin tức về tù binh.

Vài phút sau, Roland và Thần phụ Tarly đã quay lại. Vị linh mục già người Astrand mặc một chiếc áo choàng dài màu xanh đậm gần như ngả sang đen, ngay khi ông vừa xuất hiện, ba tên tù nhân bắt đầu thì thầm to nhỏ không ngừng. Khi Tarly nhìn về phía bọn chúng, bọn chúng lập tức im bặt. Arutha kinh ngạc trao đổi ánh mắt với Longbow.

“Đã xảy ra chuyện gì ở đây vậy?” Tarly hỏi.

“Tù binh,” Arutha nói, “Ông là người duy nhất ở đây có thể giao tiếp bằng ngôn ngữ của bọn chúng, ta nghĩ ông có thể tìm hiểu được điều gì đó từ bọn chúng.”

“Về lần tiếp xúc tinh thần với tên Tsurani Xomich trước đó, ta không nhớ được nhiều lắm, nhưng ta có thể thử xem.” Vị linh mục lắp bắp nói ra mấy từ, lập tức gây ra sự hỗn loạn, cả ba tên tù nhân gần như đồng thời lên tiếng. Thế nhưng kẻ ở giữa đã hừ mũi một tiếng với đồng bọn của mình, đám kia lập tức rơi vào im lặng. Hắn không cao lắm, nhưng thể hình tráng kiện, có mái tóc màu nâu, làn da ngăm đen, thế nhưng đôi mắt của hắn lại có màu xanh lục đáng kinh ngạc. Hắn chậm rãi nói chuyện với Tarly, không hiểu sao thái độ của hắn dường như không hề cung kính như đồng bọn của mình.

Tarly lắc đầu. “Ta không dám chắc, nhưng ta nghĩ hắn muốn biết ta có phải là ‘Chí Tôn’ của thế giới này không.”

“Chí Tôn?” Arutha hỏi.

“Tên lính sắp chết trên ván thuyền lúc trước cũng từng kinh hãi gọi một người là ‘Chí Tôn’. Ta nghĩ đó là tước hiệu dành cho một nhân vật đặc biệt nào đó. Có lẽ sự hoài nghi của Gugan là đúng, những kẻ này bị kiểm soát bởi pháp sư hoặc linh mục mà chúng kính sợ.”

“Những kẻ này là ai?” Vị hoàng tử hỏi.

Tarly lại dùng những từ ngữ lắp bắp nói chuyện với bọn chúng. Kẻ ở giữa chậm rãi đáp lời, nhưng một lúc sau Tarly khoát tay ngắt lời hắn. Ông nói với Arutha, “Những kẻ này là nô lệ.”

“Nô lệ?” Cho đến nay sự tiếp xúc với người Tsurani chỉ giới hạn ở các chiến binh. Đây là lần đầu tiên phát hiện ra bọn chúng còn có nô lệ. Trong vương quốc, ai cũng biết nô lệ không phổ biến và chỉ giới hạn ở những trọng phạm. Vùng ven biển thì hầu như không có sự tồn tại của nô lệ. Arutha cảm thấy vô cùng khó chịu về điều này. Xuất thân của một con người có thể thấp kém, nhưng cho dù là nông nô hèn m kém đến đâu thì vẫn có quyền lợi và nghĩa vụ được tôn trọng và bảo vệ. Thế mà nô lệ lại bị đối xử như đồ vật, Arutha đột nhiên cảm thấy hơi buồn nôn, “Nhân danh lòng nhân từ, bảo bọn chúng đứng lên đi.”

Tarly nói vài câu, mấy kẻ đó chậm rãi đứng dậy, hai kẻ đứng hai bên trông giống như những đứa trẻ bị dọa sợ. Mà kẻ thứ ba lại vô cùng bình tĩnh, trong mắt chỉ mang theo vài phần chán nản. Tarly lại một lần nữa thẩm vấn những kẻ này, đồng thời cố gắng hiểu câu trả lời của bọn chúng.

Kẻ ở giữa nói rất lâu, khi hắn nói xong, Tarly liền nói, “Bọn chúng được phân công đến làm việc ở khu vực bị chiếm đóng gần bờ sông. Bọn chúng nói doanh trại của bọn chúng đã bị người rừng — ta đoán ý hắn là yêu tinh — cùng một số người lùn tàn phá.”

“Không còn nghi ngờ gì nữa, là người lùn.” Longbow cười bổ sung.

Tarly lạnh nhạt lườm hắn một cái. Kẻ lang thang trong rừng rậm chỉ tiếp tục mỉm cười. Martin là một trong số ít những người trẻ tuổi trong lâu đài không hề sợ hãi vị linh mục già, ngay cả trước khi trở thành thủ hạ của công tước cũng vậy.

“Đúng như ta đã nói,” vị linh mục tiếp tục, “Yêu tinh và người lùn đã đập phá doanh trại của bọn chúng. Bọn chúng trốn chạy, sợ rằng mình sẽ bị giết chết. Bọn chúng lang thang ở Stilt-ru một thời gian cho đến khi đội tuần tra bắt được bọn chúng vào sáng nay.”

Arutha nói, “Kẻ đứng ở giữa trông có vẻ khác biệt đôi chút so với những người khác. Hãy hỏi hắn tại sao.”

Tarly chậm rãi nói chuyện với người đó, giọng điệu trong câu trả lời của kẻ sau có phần biến đổi. Khi hắn nói xong, Tarly kinh ngạc nói với những người khác, “Hắn nói tên của hắn là Tacha-aka-chakoola. Hắn từng là một sĩ quan chỉ huy tấn công của người Tsurani!”

“Đây quả thực là điều vô cùng may mắn. Nếu hắn hợp tác, chúng ta cuối cùng có thể hiểu rõ về kẻ địch của mình,” Arutha nói.

Kiếm thuật trưởng Vernon từ phía lâu đài xuất hiện và vội vã chạy đến chỗ Arutha đang thẩm vấn tù nhân. Chỉ huy quân đồn trú Caris nói, “Các người có phát hiện gì không?”

Arutha giải thích những gì anh nắm được về những tên tù nhân này, khi anh nói xong, Vernon liền nói, “Rất tốt, tiếp tục thẩm vấn đi.”

Arutha nói với Tarly, “Hỏi hắn làm thế nào mà biến thành nô lệ.”

Không hề biểu lộ bất kỳ sự lúng túng nào, Tacha-aka-chakoola bình tĩnh kể câu chuyện của mình. Khi hắn kết thúc, Tarly lắc đầu. “Hắn là một đội trưởng tiến công. Chúng ta cần thời gian để tìm hiểu xem chức vị của hắn tương đương với cấp bậc nào trong quân đội chúng ta, nhưng ta phỏng đoán hắn ít nhất tương đương với một phó kỵ sĩ trưởng. Hắn nói người của hắn đã bị đánh tan tác trong một trận chiến từ sớm, và ‘gia tộc’ của hắn đã mất đi rất nhiều vinh quang. Hắn không cho phép bản thân tiếp tục bán mạng cho một kẻ mà hắn gọi là lãnh tụ chiến tranh. Hắn đã trở thành nô lệ để chuộc lại sự sỉ nhục mà hắn mang đến cho quyền chỉ huy của mình.”

Roland trầm giọng huýt sáo một tiếng. “Người của hắn trốn chạy và hắn phải gánh chịu toàn bộ trách nhiệm.”

Longbow nói, “Còn tệ hơn cả một vị bá tước được lệnh của công tước phục vụ cho nam tước biên giới hành quân về phía bắc mà chỉ huy lại hỗn loạn nữa.”

Tarly sầm mặt lườm Martin và Roland một cái. “Các ngươi nói xong chưa?” Ông tiếp tục nói với Arutha và Vernon: “Từ những gì hắn nói, có thể thấy rõ ràng là hắn nắm rất rõ mọi thứ. Hắn sẽ vô cùng hữu ích đối với chúng ta.”

Vernon nói, “Đây có thể là một cái bẫy. Ta không thích dáng vẻ của hắn.”

Đầu người đàn ông kia đột nhiên ngẩng lên, hắn nheo mắt đánh giá Vernon. Cằm của Martin suýt thì rớt xuống. “Nhân danh Kelewan! Ta nghĩ hắn hiểu những gì ông nói đấy.”

Vernon bước đến trước mặt Tacha-aka-chakoola. “Ngươi hiểu lời ta nói ư?”

“Một chút thôi, chủ nhân.” Giọng địa phương của hắn rất mơ hồ, hơn nữa khi nói chuyện còn mang theo một loại ngữ điệu tựa như nhạc kịch. “Rất nhiều nô lệ vương quốc ở Kravon. Biết một chút tiếng vương quốc.”

“Tại sao lúc nãy không nói?” Vernon hỏi.

Lại một lần nữa hắn không mang theo bất kỳ cảm xúc nào đáp lại, “Không có mệnh lệnh, nô lệ phục tùng. Không…” Hắn quay sang Tarly và nói mấy từ.

Tarly nói, “Hắn nói đây không phải là nơi nô lệ nên thể hiện sự chủ động.”

Arutha nói, “Tarly, ông cho rằng hắn đáng tin cậy không?”

“Ta không biết, câu chuyện của hắn rất kỳ quái, nhưng bản thân bọn chúng trong mắt chúng ta đã là những kẻ kỳ quái rồi. Rất nhiều thứ ta nhìn thấy khi kết nối tâm trí với tên chiến binh sắp chết kia đến nay ta cũng vẫn không thể hiểu nổi.”

Tên người Tsurani nói với Arutha, “Tacha-aka-chakoola nói.” Hắn kích động nói, “Ta Vedar-yao. Gia tộc của ta, họ. Ta thuộc thị tộc Han-se. Cổ xưa, rất nhiều vinh quang. Bây giờ là nô lệ. Không gia tộc, không họ, không phải người Tsurani. Không vinh quang. Nô lệ phục tùng.”

Arutha nói, “Ta nghĩ ta đã hiểu rồi. Nếu ngươi quay lại chỗ người Tsurani, ngươi sẽ thế nào?”

Tacha-aka-chakoola nói, “Là nô lệ, có lẽ. Bị giết, có lẽ. Đều như nhau.”

“Vậy nếu ngươi ở lại đây thì sao?”

“Là nô lệ, bị giết?” Hắn nhún vai, vẻ mặt dửng dưng.

Arutha chậm rãi nói, “Chúng ta không có nô lệ. Nếu chúng ta trả tự do cho ngươi thì ngươi sẽ làm gì?”

Trên mặt tên nô lệ lóe lên một tia biểu cảm nào đó, rồi hắn quay sang Tarly nói nhanh, Tarly phiên dịch lại, “Hắn nói chuyện thế này ở thế giới của bọn họ là điều không thể, hắn hỏi ngài có thực sự làm vậy không.”

Arutha gật đầu, Tacha-aka-chakoola chỉ vào đồng bọn của mình. “Bọn chúng làm việc. Bọn chúng vẫn luôn là nô lệ.”

“Còn ngươi thì sao?” Arutha hỏi.

Tacha-aka-chakoola trân trân nhìn chằm chằm vào hoàng tử và tiếp tục nói với Tarly, nhưng ánh mắt của hắn chưa từng rời khỏi Arutha dù chỉ một khoảnh khắc. Tarly phiên dịch lại, “Hắn đang kể về dòng dõi của mình, hắn nói hắn là Tacha-aka-chakoola, đội trưởng tiến công của Vedar-yao, thuộc thị tộc Han-se. Phụ thân của hắn là lãnh tụ quân đội, còn ông cố của hắn là lãnh tụ chiến tranh của thị tộc Han-se. Hắn từng chiến đấu vinh quang, chỉ có một lần nhiệm vụ của hắn thất bại. Bây giờ hắn chỉ là một tên nô lệ, không gia tộc, không họ tên, không dân tộc, không vinh quang. Hắn hỏi ngài có thể ban lại vinh quang cho hắn hay không.”

Arutha nói, “Nếu người Tsurani tới, ngươi sẽ làm thế gì?”

Tacha-aka-chakoola chỉ vào đồng bọn của mình. “Những kẻ này nô lệ. Người Tsurani tới, bọn chúng không làm gì cả. Chờ đợi. Đi, và…” Hắn giao lưu ngắn gọn với Tarly một chút rồi Tarly cung cấp một số từ ngữ mà hắn mong muốn. “... kẻ chiến thắng. Bọn chúng sẽ đi theo kẻ chiến thắng.” Hắn nhìn Arutha, trong mắt tràn đầy sức sống. “Ngài cho Tacha-aka-chakoola tự do, Tacha-aka-chakoola là người của ngài, vương. Vinh quang của ngài chính là vinh quang của Tacha-aka-chakoola. Dâng hiến sinh mệnh nếu ngài muốn. Chiến đấu với người Tsurani nếu ngài muốn.”

Vernon nói. “Giống như trong truyện cổ tích vậy. Tám phần mười hắn là gián điệp.”

Tên người Tsurani trừng trừng nhìn Vernon, rồi đột nhiên bước một bước về phía vị kiếm thuật trưởng, trước khi bất kỳ ai kịp phản ứng, từ trên thắt lưng rút ra con dao của Vernon.

Longbow trong khoảnh khắc cũng rút ra con dao của chính mình, đồng thời thanh trường kiếm của Arutha cũng đã tuốt vỏ. Roland và những người lính khác cũng theo sát phía sau. Người Tsurani không hề làm ra bất kỳ động thái đe dọa nào, chỉ đơn giản là lật ngược con dao lại, hướng mũi dao về phía bản thân rồi đưa chuôi dao cho Vernon.

“Chủ nhân cho rằng Tacha-aka-chakoola là kẻ địch? Chủ nhân giết đi. Cái chết của một chiến binh. Trở về với vinh quang.”

Arutha thu kiếm vào vỏ rồi nhận lấy con dao từ tay Tacha-aka-chakoola. Trả lại con dao cho Vernon, anh nói, “Không, chúng ta sẽ không giết ngươi.” Anh nói với Tarly, “Ta nghĩ người này rất có ích, hiện tại thì ta tin tưởng hắn.”

Sắc mặt Vernon vô cùng khó chịu. “Ngươi có thể là một tên gián điệp cực kỳ thông minh, nhưng ngươi nói đúng. Chỉ cần canh chừng ngươi thật chặt thì sẽ chẳng có tai họa gì đâu. Thần phụ Tarly, sao ông không dẫn những kẻ này đến khu nhà dưới của binh lính và xem ông có thể học hỏi được gì từ bọn chúng. Ta sẽ qua đó sớm thôi.”

Tarly nói với ba tên nô lệ và ra hiệu cho bọn chúng đi theo. Hai tên nô lệ nhát gan lập tức đi theo, nhưng Tacha-aka-chakoola lại quỳ sụp xuống trước mặt Arutha. Hắn nhanh chóng nói vài câu bằng tiếng Tsurani; Tarly phiên dịch lại. “Hắn vừa mới yêu cầu ngài hoặc là giết hắn, hoặc là thu nhận hắn làm người của ngài. Hắn nói một người đàn ông được trả lại tự do sao có thể không có gia tộc, họ tên hay vinh quang, ở thế giới của bọn họ những người như thế gọi là chiến binh xám, là những kẻ không có vinh quang.”

Arutha nói, “Cách thức của chúng ta khác với các ngươi. Con người ở đây không thuộc về bất kỳ gia tộc hay họ tên nào nhưng vẫn sở hữu vinh quang.”

Tacha-aka-chakoola cúi đầu lắng nghe, rồi gật đầu. Hắn ngẩng đầu nói, “Tacha-aka-chakoola hiểu.” Sau đó hắn cười bổ sung, “Nhanh thôi, ta là người của ngài. Vua tốt cần chiến binh tốt. Tacha-aka-chakoola là chiến binh tốt.”

“Tarly, dẫn bọn họ đi đi, rồi xem Tacha-aka… Tacha-aka-ka…” Arutha cười lớn. “Ta không thể phát âm trọn vẹn cái tên này được.” Anh nói với tên nô lệ, “Nếu ngươi muốn làm việc ở đây, ngươi cần một cái tên mang phong cách vương quốc.”

Tên nô lệ suy nghĩ một lúc rồi ngắn gọn gật đầu.

Longbow nói, “Gọi hắn là Charles đi. Đây là cái tên gần nhất mà ta có thể nghĩ ra.”

“Kể từ bây giờ, ngươi sẽ được gọi là Charles.”

Tên nô lệ mang cái tên mới nói, “Tacharles?” Hắn nhún vai rồi gật đầu. Không nói thêm một chữ nào nữa, hắn đứng sang bên cạnh Thần phụ Tarly, người dẫn các nô lệ bước về phía khu nhà dưới của binh lính.

“Ngươi nghĩ sao về chuyện này?” Nhìn ba tên nô lệ biến mất ở góc khuất, Roland lên tiếng.

Vernon nói, “Thời gian sẽ trả lời xem chúng ta có bị dắt mũi hay không.”

Longbow cười. “Ta sẽ chú ý đến Charles, kiếm thuật trưởng. Hắn là một tên nhóc không tồi. Khi chúng ta đưa bọn họ về, hắn vẫn luôn rất thân thiện. Có lẽ ta sẽ huấn luyện hắn thành một kẻ theo dõi.”

Arutha ngắt lời hắn. “Chuyện này phải đợi đến khi ta xác định có thể thả hắn ra ngoài tường thành rồi mới tính tiếp.”

Vernon đổi chủ đề, nói với Longbow, “Ngươi tìm thấy bọn chúng ở đâu vậy?”

“Ở phía bắc, dọc theo nhánh suối nguồn trong suốt của con sông. Chúng ta phát hiện đại quân đang hướng về phía bờ biển.”

Vernon trầm ngâm suy nghĩ một lúc. “Gedan đang dẫn dắt một đội tuần tra khác ở gần đó. Có lẽ bọn họ sẽ nhìn thấy chúng và giúp chúng ta tìm ra bọn chúng đang định giở trò quỷ gì.” Ông không nói gì thêm, quay người bước về phía lâu đài.

Martin cười lớn; Arutha kinh ngạc nhìn anh ta. “Có gì đáng cười thế, thợ săn?”

Martin lắc đầu. “Chỉ là một chút chuyện nhỏ thôi, thưa điện hạ. Là chính vị kiếm thuật trưởng ấy mà. Ông ấy sẽ không nói với bất cứ ai đâu, nhưng ta dám cá là ông ấy sẵn sàng đánh đổi mọi thứ miễn là phụ thân ngài quay lại chỉ huy. Ông ấy là một chiến binh giỏi, nhưng ông ấy không thích trách nhiệm.”

Arutha đăm đăm nhìn theo bóng lưng đang rời đi của kiếm thuật trưởng với vẻ lo âu, rồi nói, “Ta nghĩ ngươi nói đúng, Martin.” Anh trầm ngâm nói. “Ta vậy mà đến tận bây giờ mới phát hiện ra sự khác thường gần đây của Vernon, ta đã quên mất một sự thật rằng, ông ấy chưa từng chủ động yêu cầu sự ủy nhiệm này.”

Hạ thấp giọng xuống, Martin nói, “Ta có một kiến nghị, Arutha.”

Arutha gật đầu, Martin chỉ về phía Vernon. “Nếu Vernon xảy ra chuyện gì, lập tức bổ nhiệm một vị kiếm thuật trưởng khác; đừng đợi sự đồng thuận của phụ thân ngài. Nếu ngài cứ tiếp tục chờ đợi, Ogen có thể sẽ giành lấy quyền chỉ huy, mà hắn ta lại là một tên ngốc.”

Arutha xị mặt trước giả thiết của vị thợ săn, còn Roland thì vẫn luôn dùng ánh mắt cảnh cáo để cố gắng ra hiệu cho Martin ngậm miệng lại. Arutha lạnh lùng nói, “Ta còn tưởng ngươi là bạn của kỵ mã trưởng chứ.”

Martin mỉm cười, trong mắt lóe lên sự hài hước kỳ quái. “À phải rồi, ta là, giống như tất cả mọi người trong lâu đài vậy. Nhưng giống như ngài hỏi bất kỳ ai cũng sẽ nhận được câu trả lời tương tự: cướp đi lũ ngựa của ông ấy, Ogen chẳng qua chỉ là một kẻ tư duy không đáng nhắc tới.”

Cảm thấy bực bội vì thái độ của Martin, Arutha nói, “Vậy ai có thể thay thế vị trí của ông ấy? Thợ săn chắc?”

Martin cười lớn, âm thanh sảng khoái, hiển nhiên chỉ là để tiêu khiển mà thôi, Arutha phát hiện bản thân đối với kiến nghị của anh ta đã không còn tức giận như vậy nữa.

“Ta ư?” Thợ săn nói. “Thưa điện hạ, ta chỉ là một tên thợ săn bình thường, chỉ thế mà thôi. Không, nếu có cần thiết, hãy bổ nhiệm Gedan. Hắn đại khái là người lính phù hợp nhất ở Caris rồi.”

Arutha hiểu Martin nói đúng, nhưng vẫn nôn nóng nói. “Đủ rồi. Vernon rất tuyệt, và ta tin rằng ông ấy sẽ mãi tuyệt vời như vậy.”

Martin gật đầu. “Nguyện thần phù hộ cho ông ấy… cùng tất cả chúng ta. Xin ngài thứ lỗi, chỉ là có chút lo lắng mà thôi. Giờ thì, xin điện hạ cho phép ta cáo từ, ta đã một tuần không được ăn một bữa cơm nóng nào rồi.”

Arutha ra hiệu cho anh ta có thể đi, Martin lập tức quay người đi về phía nhà bếp. Roland nói, “Có một điểm hắn đã sai rồi, Arutha.”

Arutha khoanh hai tay trước ngực, đăm đăm nhìn theo bóng hình Longbow biến mất ở góc khuất. “Ý gì đây, Roland?”

“Tên đó không chỉ là một kẻ thợ săn đơn thuần như hắn ngụy trang đâu.”

Arutha trầm mặc một lát. “Đương nhiên hắn không phải rồi. Thỉnh thoảng Longbow Martin lại khiến ta cảm thấy bất an, dù cho ta không thể bắt bẻ được lỗi lầm nào ở hắn.”

Roland cười, Arutha nói, “Lần này lại là cái gì khiến đệ cảm thấy buồn cười thế, Roland?”

Roland nhún vai. “Chỉ là rất nhiều người cảm thấy ngài rất giống hắn đấy thôi.”

Arutha sầm mặt lườm Roland một cái, người sau lắc đầu nói, “Người ta thường nói hình ảnh chúng ta nhìn nhận về bản thân mình và trong mắt kẻ khác luôn khác nhau một trời một vực. Điều đó là thật, Arutha. Sự hài hước của hai người đều sắc bén như nhau, tựa như đang nhạo báng, hơn nữa cả hai đều không thể dung thứ cho việc bị dắt mũi.” Giọng điệu của Roland trở nên nghiêm túc. “Điều này không có gì mới mẻ, ta nghĩ, ngài rất giống phụ thân của mình, mà Martin lại không có người thân, thế nên anh ta cũng lấy công tước làm gương mẫu phỏng theo.”

Arutha đột nhiên trầm ngâm. “Có lẽ đệ nói đúng, nhưng vẫn còn có chuyện khác khiến ta cảm thấy phiền muộn về con người này.” Anh mang theo tâm sự chưa có lời giải đáp quay người bước về phía lâu đài.

Roland sát bước theo sau vị hoàng tử đang trầm tư và bắt đầu nghi ngờ không biết vừa rồi bản thân có nói gì sai trái hay không.

Đêm hôm đó sấm chớp ầm ầm. Tia chớp giận dữ xé nát màn đêm, những đám mây đen cuồn cuộn trên bầu trời phía tây. Roland đứng trên tháp nam dõi theo kỳ cảnh này. Kể từ sau bữa tối, tâm trạng của cậu u ám tựa như bầu trời phía tây kia. Ngày hôm nay không hề suôn sẻ. Đầu tiên cậu cảm thấy bất an vì cuộc đối thoại với Arutha ở cổng thành. Thứ hai, trong bữa tối Carine vẫn luôn lạnh nhạt và im lặng đối với cậu, hơn nữa tình trạng này đã kéo củi từ hai tuần trước sau buổi gặp mặt trên tháp. Carine trông dịu dàng hơn nhiều, thế nhưng mỗi lần Roland dồn ánh mắt về phía nàng đều có thể cảm nhận được sự phẫn nộ của nàng chĩa thẳng vào mình. Roland cũng vẫn có thể nhìn thấy nỗi đau trong đôi mắt công chúa. “Ta quả thực là một kẻ ngốc nghếch vô tri.” Cậu lớn tiếng nói. “Anh không phải là ngốc, Roland.”

Carine đứng cách đó vài bước chân, đăm đăm nhìn cơn bão đang kéo đến gần. Nàng siết chặt chiếc khăn choàng trên vai mặc dù thời tiết vẫn rất ấm áp. Tiếng sấm che lấp đi tiếng bước chân của nàng, Roland lên tiếng, “Đây không phải là một đêm thích hợp để leo tháp đâu, tiểu thư của ta.” Nàng bước đến bên cạnh cậu nói, “Sẽ mưa chứ? Những đêm oi bức thế này luôn sấm chớp đùng đùng, nhưng lại rất ít khi mưa.”

“Sẽ mưa đấy. Hầu gái của em đâu rồi?”

Nàng chỉ về phía cửa tháp. “Trên cầu thang. Bọn họ sợ sấm chớp, ngoài ra, em muốn nói chuyện riêng với anh.”

Roland không nói gì cả, Carine trầm mặc một lát. Màn đêm bất ngờ bị nguồn năng lượng xé toạc bầu trời rạch ngang qua, theo sau đó là tiếng sấm nổ đì đùng.

“Khi em còn nhỏ,” nàng cuối cùng cũng lên tiếng, “Phụ thân thường nói những đêm như thế này là do các vị thần đang đi lại trên không trung.”

Roland đăm đăm nhìn gương mặt được chiếu sáng bởi chiếc đèn lồng cô độc treo trên tường của nàng. “Phụ thân ta bảo rằng bọn họ đang đánh nhau.”

Nàng mỉm cười. “Roland, những lời anh nói vào ngày Lyane rời đi rất đúng. Em đã chìm đắm trong nỗi bi thương của mình mà không thể nhìn rõ sự thật. Pug cũng từng nói với em rằng không có chuyện gì là vĩnh hằng cả. Chìm đắm trong quá khứ là điều ngu ngốc và sẽ cướp đi tương lai của chúng ta.” Nàng hơi cúi đầu xuống. “Có lẽ phụ thân cũng nên hiểu điều đó. Kể từ khi mẫu thân mất, ngài chưa từng hoàn toàn bình phục trở lại. Lúc đó em còn rất nhỏ, nhưng em vẫn nhớ ngài đã từng như thế nào. Trước khi ngài qua đời, ngài thường xuyên cười lớn. Lúc đó ngài giống hệt như Lyane, nhưng sau đó… đúng vậy, ngài trở nên giống Arutha hơn. Ngài cũng cười, nhưng trong nụ cười đó lại tràn ngập sự sắc bén, cay đắng.”

“Giống như đang nhạo báng ư?”

Nàng đăm chiêu gật đầu. “Đúng vậy, nhạo báng. Sao anh lại nói thế?”

“Anh chỉ nghĩ đến một chuyện… một vài chuyện, hôm nay anh từng chỉ ra cho huynh trưởng của em. Về phần Longbow Martin.”

Nàng thở dài. “Đúng vậy, em hiểu chứ. Longbow cũng thế mà thôi.”

Roland dịu dàng nói, “Tuy nhiên, em không phải chuyên đến đây để nói chuyện về huynh trưởng hay Martin với anh đấy chứ?”

“Không, em đến là để xin lỗi vì những việc em đã làm trong quá khứ. Hai tuần trước, em đã nổi giận với anh, nhưng em đã sai. Anh chỉ nói lên sự thật mà thôi. Thế mà em lại đối xử với anh tệ như vậy.”

Roland vô cùng kinh ngạc. “Em đâu có đối xử tệ với anh, Carine. Là anh đã cư xử thô lỗ mới đúng.”

“Không, anh chỉ đối xử với em như một người bạn thôi, Roland. Anh nói cho em biết sự thật, mặc dù đó không phải là điều em muốn nghe. Điều đó chắc chắn rất khó khăn… nếu cân nhắc đến cảm xúc của anh.” Nàng nhìn về phía cơn bão đang tiến đến gần. “Khi em lần đầu tiên nghe tin Pug bị bắt làm tù binh, em cảm thấy toàn bộ thế giới đã chấm dứt rồi.”

Cố gắng tỏ ra thấu hiểu, Roland trích dẫn câu nói, “Tình đầu luôn gian nan mà.” Carine nở nụ cười đáp lại câu thành ngữ đó. “Đó là cách nói của bọn họ. Anh nghĩ sao?”

Roland làm ra vẻ mặt thoải mái. “Anh nhìn nhận nó theo cách đó đấy, thưa công chúa.”

Nàng dùng tay vòng lấy cánh tay cậu. “Dù sao thì chúng ta cũng quan tâm đến đối phương mà, Roland.”

Nụ cười của cậu trở nên bi thương. “Đó là sự thật, Carine.”

“Anh sẽ mãi là người bạn tốt của em chứ?”

Ý nghĩa thực sự ẩn chứa trong lời nói của nàng chạm đến tâm can Roland. Nàng đang cố gắng sắp đặt lại mối quan hệ giữa bọn họ, chỉ là không phải bằng thứ thủ đoạn mà nàng hay giở khi còn nhỏ nữa. Nàng đang nỗ lực hết sức để tránh làm tổn thương cậu mà biến mối quan hệ giữa hai người thành tình bạn hoàn toàn. “Anh sẽ làm vậy, Carine. Anh sẽ mãi là người bạn tốt của em.”

Nàng nhào vào lòng cậu và cậu siết chặt lấy nàng, đầu nàng áp sát vào lồng ngực cậu, dịu dàng nói, “Thần phụ Tarly nói, đôi khi tình yêu giống như cơn gió biển không mời mà đến, nhưng đôi khi lại đâm chồi nảy lộc từ hạt giống tình bạn.”

“Anh sẽ kỳ vọng vào vụ mùa đó, Carine. Nhưng cho dù nó có không bao giờ đến đi chăng nữa, anh vẫn sẽ là người bạn tốt của em.”

Họ ôm chặt lấy nhau đứng lặng yên ở đó một lúc, an ủi đối phương vì những lý do khác nhau, sự thân mật này đã hai năm không hề có lại. Giờ đây họ đắm chìm trong sự an ủi vì cảm giác gần gũi với đối phương, và không một ai trong số họ chú ý rằng, vào khoảnh khắc ánh chớp lóe lên chiếu sáng bầu trời, ở phía chân trời, bến cảng bị những con sóng vỗ vào, một con thuyền đang chạy tới.

Theo cơn cuồng phong quất đánh lên những lá cờ trên tường thành, những giọt mưa bắt đầu rơi xuống. Nước mưa tụ lại thành vũng, phản chiếu hai bóng hình mờ ảo đứng trên tường thành dưới ánh đèn mờ ảo của lâu đài.

Một tia chớp chiếu sáng mặt biển, một người lính hét lên, “Kìa! Điện hạ, ngài có thấy không? Ở chỗ đá ngầm phòng thủ có ba chấm đen.” Cậu ta giơ cánh tay lên, chỉ về hướng đó.

Arutha đăm đăm nhìn màn đêm, đôi mày cau lại. “Tối quá, ta chẳng nhìn thấy gì cả. Ở đó thậm chí còn tối hơn cả linh hồn của mục sư Guis-wan.” Nghe thấy nhắc đến tên của vị thần sát lục, người lính kia liền làm một dấu hiệu ban phúc. “Ngọn hải đăng có tín hiệu gì không?”

“Không, thưa điện hạ. Không có bất kỳ ánh sáng hay tín hiệu nào cả.”

Một tia chớp khác chiếu sáng bầu trời đêm, Arutha nhìn thấy một con thuyền xuất hiện trên chân trời xa xôi. Anh chửi thề, “Nó cần tín hiệu của hải đăng dẫn đường mới có thể vào cảng an toàn được.” Không nói thêm một lời nào nữa, anh chạy xuống cầu thang dẫn đến sân thành. Bên cạnh cổng thành, anh chỉ thị một người lính dắt ngựa của mình ra, thêm hai kỵ binh khác sẽ đi cùng anh. Đúng lúc anh đang đợi, cơn mưa lớn đã qua đi, chỉ còn lại bầu trời đêm quang đãng và nóng ẩm. Chẳng mấy chốc, Vernon xuất hiện từ hướng doanh trại. “Đã xảy ra chuyện gì thế này? Đi hóng mát à?”

“Một con thuyền đang hướng về hải cảng, nhưng hải đăng hoàn toàn không có tín hiệu nào cả.”

Theo việc một phu xe dắt chiến mã của Arutha tới, theo sau là hai tên kỵ binh, Vernon nói, “Vậy thì tốt nhất là ngươi nên đi xem thử, rồi bảo đám lười biếng ở hải đăng làm xong việc thì ta có chuyện muốn nói với bọn chúng.”

Arutha vốn tưởng rằng sẽ phải tranh cãi một trận với Vernon nhưng lại dễ dàng nhận được sự đồng ý khiến anh không khỏi cảm thấy nhẹ nhõm. Anh tung người lên ngựa, cổng thành mở ra, bọn họ cưỡi ngựa phi ra khỏi thành, dọc theo con đường đi xuống. Cơn mưa giông ngắn ngủi vừa rồi khiến bầu trời đêm tràn ngập hương vị tươi mát và phong phú: hoa dại ven đường, vị muối đến từ đại dương, thế nhưng khi họ đến gần thị trấn, những mùi vị này nhanh chóng bị che lấp bởi mùi hăng nồng phát ra từ gỗ cháy trên các công trình kiến trúc bị tàn phá.

Họ đi qua thị trấn tĩnh lặng, dọc theo con đường tiến về hải cảng. Hai người lính đồn trú gần bến cảng nhìn thấy hoàng tử phi ngựa vụt qua thì hoảng loạn đứng dậy hành lễ. Những kiến trúc đóng chặt cửa sổ tĩnh mịch không một tiếng động ấy đang ngầm ám chỉ một cách khó chịu rằng chúng đã bị bỏ hoang sau trận tập kích đó.

Họ rời khỏi thị trấn tiếp tục cưỡi ngựa tiến về phía hải đăng, đi theo con đường uốn lượn. Ở phía bên kia cách thị trấn không xa, cuối cùng họ cũng nhìn thấy ngọn hải đăng, tọa lạc trên một hòn đảo đá ngầm hình thành tự nhiên, được nối liền bởi con đê được đắp bằng đá, bề mặt là con đường đất được bồi bằng bùn đất. Khi họ đến dưới tòa tháp cao, móng ngựa nện xuống mặt đất để lại một tràng dấu chân. Một tia chớp chiếu sáng bầu trời, ba người cưỡi ngựa có thể nhìn thấy con thuyền đó đang chạy với tốc độ toàn lực hướng về hải cảng. Arutha hét lớn với những người khác, “Không có hải đăng dẫn đường bọn chúng sẽ đâm vào đá ngầm mất.”

Một người lính lớn tiếng đáp lời, “Nhìn kìa, điện hạ. Có người đang phát tín hiệu!”

Bọn họ siết chặt dây cương và nhìn thấy ở chân tháp có một số bóng người. Một người đàn ông mặc đồ đen đang nhanh chóng đóng mở một chiếc đèn lồng có chớp cửa sổ. Nó có thể được nhìn thấy rõ ràng bởi người trên thuyền, nhưng lại sẽ không bị người trên tường thành của lâu đài phát hiện ra. Dưới ánh sáng leo lắt, Arutha có thể nhìn thấy những binh lính Caris đang nằm trên mặt đất. Bốn người, đồng thời đều mặc trang phục màu đen và dùng khăn che mặt màu đen, bọn họ chạy bổ về phía những kẻ cưỡi ngựa, ba tên từ trong vỏ kiếm sau lưng rút trường kiếm ra, tên thứ tư thì giương cung tên lên. Người lính bên phải Arutha hét thảm một tiếng khi mũi tên bắn xuyên qua ngực rồi ngã nhào xuống ngựa. Arutha thúc ngựa lao về phía ba kẻ đang vây quanh tới, vung lợi kiếm chém ngã hai tên, lập tức giương kiếm chém qua gương mặt của tên thứ ba. Tên đó không rên lấy một tiếng ngã lăn xuống đất. Vị hoàng tử quay đầu ngựa lại, nhìn thấy đồng bạn của mình cũng chẳng nhàn rỗi gì, đang chém gã cung thủ ngã nhào xuống đất. Thế nhưng có thêm nhiều tên mặc đồ đen nữa xông ra từ trong tháp, im lặng không một tiếng động vây lại gần.

Con ngựa của Arutha phát ra một tiếng hý dài. Chàng có thể nhìn thấy một mũi tên cắm vào cổ nó. Ngay lúc con vật tội nghiệp ngã gục xuống dưới thân mình, chàng rút chân trái ra khỏi bàn đạp và vắt chân trái qua cổ con ngựa sắp chết, nhảy xuống mặt đất khi con ngựa ngã quỵ xuống. Chàng va xuống đất, lộn một vòng, rồi đứng phắt dậy trước mặt một tên mặc áo đen có thân hình thấp lùn đang giơ cao thanh trường kiếm qua đầu. Thanh trường kiếm chém mạnh xuống như chớp giật, Arutha nhảy sang bên trái, đồng thời đâm ra thanh kiếm của chính mình. Chàng đâm thủng lồng ngực kẻ đó, rồi lập tức rút kiếm về. Giống như những kẻ khác trước đó, tên mặc áo đen ngã gục xuống mà không kêu lên một tiếng nào.

Một tia chớp khác soi sáng đám người đang từ trong tháp lao về phía Arutha. Arutha quay người ra lệnh cho kỵ binh sống sót quay về thành cảnh báo cho lâu đài, nhưng mệnh lệnh của chàng chưa kịp thốt ra đã nghẹn lại, khi chàng tận mắt chứng kiến một đám người mặc áo đen lôi đồng bạn của mình từ trên yên ngựa ngã xuống đất. Arutha né tránh kẻ địch lao đến đầu tiên đang nhắm vào mình, rồi bỏ lại ba tên ngơ ngác ở phía sau. Chàng dùng chuôi kiếm nện vào mặt tên thứ tư, cố gắng hất tên đó sang một bên. Chàng chỉ có một suy nghĩ duy nhất: phá vỡ vòng vây để có thể trốn thoát và đi cảnh báo cho lâu đài. Tên bị đánh lảo đảo ngã ngửa ra sau, còn Arutha chuẩn bị nhảy qua người hắn. Tên ngã xuống đưa một tay ra túm chặt lấy chàng, hắn nắm lấy đôi chân của Arutha đang định nhảy lên. Arutha ngã nhào xuống tảng đá và cảm thấy một đôi bàn tay điên cuồng ôm lấy chân phải của mình. Chàng dùng chân trái mang ủng đá mạnh một cú vào cổ họng kẻ đó. Theo sau một tiếng khí quản vỡ nát, kẻ đó co giật run rẩy.

Arutha gượng đứng dậy thì một kẻ tấn công khác cũng đã đến trước mặt, những kẻ khác chỉ còn cách vài bước chân. Arutha lùi lại một bước, cố gắng kéo giãn khoảng cách. Gót chân chàng va phải một tảng đá, ngay lập tức, cả thế giới đột nhiên nghiêng ngả điên cuồng. Trong khoảnh khắc ấy, chàng thấy mình bay lên không trung, tiếp đó chàng nảy người khỏi rìa con đê chắn sóng, vai va vào tảng đá. Chàng va phải thêm nhiều hòn đá nữa, rồi làn nước biển băng giá bao bọc lấy chàng. Sức va đập của sóng biển khiến ý thức chàng trở nên mơ hồ. Hoa mắt, theo bản năng, chàng nín thở, nhưng vẫn sặc một ít nước biển. Không chút do dự, chàng gạt dòng nước nhô đầu lên khỏi mặt biển, phát ra một tiếng thở dốc lớn và chói tai. Mặc dù vẫn cảm thấy chóng mặt, chút lý trí còn sót lại khiến chàng ngay lập tức lặnỏm một cú xuống nước, đồng thời vài mũi tên cắm xuống mặt nước ngay bên cạnh chàng. Ngoài làn nước biển đặc quánh và tối đen, chàng không thể nhìn thấy bất cứ thứ gì, chàng bám chặt lấy tảng đá, giữ vững thân thể. Chàng tiến về phía ngọn hải đăng theo phần chân của con đê chắn sóng, hy vọng những kẻ tấn công sẽ tưởng rằng chàng đã đi sang phía bên kia.

Chàng nhẹ nhàng nhô đầu lên khỏi mặt nước, đôi mắt mờ đi vì nước biển mặn chát. Cẩn thận vòng ra sau một bãi đá ngầm khổng lồ, chàng nhìn thấy những bóng người màu đen đó đang lùng sục mặt biển tối đen. Arutha nhẹ nhàng dịch chuyển, bò lên khỏi mặt nước bám vào bãi đá ngầm. Cơ bắp và các khớp xương bầm tím khiến chàng hầu như không thể cử động, nhưng dường như không có tổn thương lớn nào. Một tia chớp khác thắp sáng cả vạn hải cảng. Arutha có thể nhìn thấy con thuyền đó đang lướt vào cảng Karred một cách êm ả. Đây là một con thuyền thương gia, nhưng đã được cải tạo lại để có tốc độ và trang bị giống như chiến hạm. Bất luận kẻ nào đang điều khiển con thuyền này, hắn thực sự là một thiên tài điên rồ, hắn đã thành công trong việc né tránh các bãi đá ngầm khi thiếu thốn sự dẫn đường và tầm nhìn đầy đủ, chạy thẳng vào con đê chắn sóng hình bán nguyệt của hải cảng. Arutha có thể nhìn thấy những người đang kéo dây thừng, vừa di chuyển vừa cuộn buồm lại một cách điên cuồng. Boong tàu ken dày các chiến binh mặc giáp đen tay cầm vũ khí.

Arutha chuyển sự chú ý trở lại những kẻ trên đê chắn sóng, trong đó có một kẻ im lặng ra hiệu cho những người khác. Chúng nhanh chóng chạy về hướng thị trấn. Bất chấp những cơn đau trên cơ thể, Arutha trèo lên trên, theo những tảng đá nhẵn nhụi quay trở lại con đường đất của đê chắn sóng. Có chút lảo đảo, chàng đứng dậy nhìn về hướng thị trấn, mọi thứ đều vô cùng yên bình, nhưng chàng hiểu rằng, đây chỉ là sự tĩnh lặng cuối cùng trước khi nguy hiểm bùng nổ. Arutha lảo đảo chạy về phía ngọn hải đăng, gượng sức leo lên cầu thang. Có hai lần chàng suýt ngã ngửa về phía sau, nhưng cuối cùng chàng cũng lên đến đỉnh tháp. Chàng nhìn thấy cái xác lạnh ngắt bên cạnh ngọn đèn hiệu. Khúc gỗ tẩm dầu đã bị tấm chắn che khuất, gió biển lạnh buốt thổi xuyên qua các ô cửa sổ giống hệt nhau ở bốn phía đỉnh tháp.

Arutha lấy đá lửa, thanh sắt và bùi nhùi từ trong chiếc túi nhỏ trên người tên lính canh đã chết. Chàng mở cánh cửa nhỏ bên cạnh lớp vỏ kim loại, dùng cơ thể che chắn ngọn gió biển dữ dội. Tia lửa chạm vào củi khô, ngay lập tức bùng lên một ngọn lửa nhỏ. Ngọn lửa nhỏ đó nhanh chóng biến thành ngọn lửa rực trời, Arutha kéo sợi xích để nâng lớp vỏ che lên. Theo lớp lò sưởi kêu có kèn kẹt được nâng lên, ngọn lửa nương theo sức gió, lưỡi lửa vươn thẳng lên tận mái nhà. Dựng sát vách tường là một bình bột do Gugan điều chế dùng cho những thời điểm khẩn cấp. Arutha cắn răng nén cơn chóng mặt, cúi người rút con dao giắt ở thắt lưng của người vệ binh đã chết. Chàng dùng nó cạy nắp bình rồi đổ bột vào ngọn lửa.

Ngọn lửa lập tức biến thành một màu đỏ sẫm chói mắt, một thứ pháo hiệu cảnh báo tuyệt đối không thể nhầm lẫn với ánh sáng bình thường. Arutha nhìn về phía lâu đài, đứng sát bên cửa sổ để tránh che khuất ánh lửa. Theo ngọn lửa càng lúc càng chói mắt, ý thức của Arutha cũng dần phai nhạt. Một khoảng thời gian rất lâu, màn đêm tĩnh mịch không một tiếng động, rồi đột nhiên, tiếng chuông báo động vang lên từ trong lúc lâu đài. Lúc này Arutha mới thở phào nhẹ nhõm. Ngọn đèn tháp màu đỏ đã vạch mặt những kẻ tấn công ở hải cảng, khiến lâu đài có thể chuẩn bị sẵn sàng ứng phó. Vernon có lẽ sẽ thận trọng trong việc có nên truy đuổi đám người Tsurani đang ẩn nấp trong màn đêm hay không, nhưng một con thuyền cướp biển đậu trong cảng của lão sẽ giúp lão đưa ra quyết định. Arutha đi xuống tháp theo bậc thang, chàng dừng lại dựa vào khung cửa. Toàn bộ cơ thể chàng đều bị thương, gần như ngất lịm. Chàng hít một hơi thật sâu rồi đi về hướng thị trấn. Khi đến nơi con ngựa chết của mình đang nằm, chàng tìm kiếm thanh kiếm của mình, rồi chợt nhớ ra rằng mình đã mang theo nó rơi xuống biển. Chàng vấp phải xác của một kỵ binh đi cùng mình, nằm bên cạnh là một tên cung thủ giáp đen. Arutha cúi người nhặt lấy thanh kiếm của người lính đã chết, lúc đứng thẳng người dậy thì cảm thấy gần như ngất xỉu. Chàng đứng vững bất động đợi một lát, sợ rằng chỉ cần cử động là mình sẽ mất đi tri thức, và chờ đợi cái đầu đang ong ong của mình tĩnh lại. Chàng chậm rãi đưa tay xoa trán. Có một chỗ đau đặc biệt, một khối u nhỏ cho biết khi rơi khỏi đê chắn sóng, chàng đã va đập đầu ít nhất một lần. Những ngón tay của chàng rời khỏi cục máu đông dính bết. Arutha bắt đầu đi về phía thị trấn, theo nhịp di chuyển của chàng, tiếng chuông trong đầu chàng lại bắt đầu vang lên. Chàng lảo đảo, cố gắng chạy, nhưng chỉ bước đi lảo đảo vài bước là lại phải quay trở lại tốc độ đi bộ. Chàng đi nhanh nhất có thể, dọc theo con đường quanh co cho đến khi thị trấn lọt vào tầm mắt. Chàng nghe thấy tiếng chém giết yếu ớt. Ở đằng xa, chàng có thể nhìn thấy ánh đỏ rực trời của ngọn lửa, các công trình kiến trúc bị châm lửa đốt cháy giống như những ngọn đuốc. Arutha hầu như có thể nghe thấy tiếng thét của đàn ông và phụ nữ vọng lại không một tiếng động.

Chàng ép mình chạy lên, khi đến gần thị trấn, không có cuộc giao chiến ác liệt như dự đoán, mà chàng lại cảm thấy bất an hơn. Chàng quay người hướng về phía hải cảng; các công trình kiến trúc ven biển đang bốc cháy, sáng như ban ngày, nhưng tầm mắt nhìn qua lại trống không một bóng người. Con thuyền của những kẻ tấn công vẫn đậu ở cầu tàu, một chiếc cầu thang dây bắc lên bãi đá ngầm. Arutha lặng lẽ đến gần, sợ rằng vẫn còn lính canh gác nó. Chàng tiến lại gần cầu thang dây, mọi thứ đều vô cùng tĩnh lặng. Tiếng chiến đấu ở rất xa, giống như tất cả những kẻ tấn công đều đã tiến sâu vào trong thị trấn. Đúng lúc chàng chuẩn bị rời đi, một tiếng hét phát ra từ trong thuyền, "Hỡi các vị thần nhân từ! Có ai ở đó không?" Giọng nói trầm và có lực, nhưng lại tràn ngập sự kinh hãi.

Arutha vội vã chạy qua cầu thang dây, trường kiếm trong tay. Khi đến tận cùng thì chàng dừng lại. Từ miệng hầm phía trước, chàng có thể nhìn thấy ngọn lửa chói mắt đang nhảy múa dưới boong tàu. Chàng rảo mắt tìm kiếm khắp nơi: đập vào mắt là những thủy thủ nằm trên mặt đất chết trong vũng máu của chính mình.

Từ phía sau thuyền, giọng nói đó gọi lên, "Này anh bạn. Nếu anh là một thần dân của vương quốc kính sợ các vị thần, xin hãy qua đây giúp tôi một tay."

Arutha bước qua những thây người rải rác khắp nơi, phát hiện ra một người đàn ông đang ngồi tựa vào mạn lan can bên phải.

Hắn vóc dáng cường tráng, bờ vai rộng, và lồng ngực vạm vỡ. Độ tuổi của hắn khoảng từ hai mươi đến bốn mươi tuổi, tay phải hắn che chặt lấy bụng, máu từ kẽ tay không ngừng trào ra. Mái tóc đen dài uốn xoăn được buộc gọn ở sau gáy bằng một sợi dây thắt nhỏ, để râu ngắn màu đen. Hắn miễn cưỡng nặn ra một nụ cười yếu ớt chỉ vào cái xác tên mặc áo đen nằm bên cạnh mình. "Mấy tên khốn này đã giết thủy thủ của ta và cướp tàu của ta. Nhưng hắn đã phạm một sai lầm, hắn không giết được ta trong cuộc tấn công đầu tiên." Hắn chỉ vào cái cột buồm bị đổ đè lên chân mình và nói, "Ta không thể vừa cầm máu vừa di chuyển cái cột buồm chết tiệt đó. Nếu anh có thể nâng nó lên một chút, ta nghĩ mình có thể thoát ra được."

Arutha ước lượng: Người đàn ông đó bị đè bởi phần đuôi cột buồm, những mảnh vụn hỗn độn và dây thừng quấn vào nhau. Chàng nắm chặt lấy phần đầu mút dùng sức nhấc bổng lên, cột buồm chỉ dịch chuyển lên trên được vài inch, nhưng thế là đã đủ rồi.

Người bị thương rên rỉ kéo chân ra, "Ta nghĩ chân mình chưa gãy đâu, anh bạn. Kéo ta một cái là chúng ta sẽ biết ngay."

Arutha vươn tay ra, khi tên thủy thủ vạm vỡ giãy giụa đứng dậy suýt chút nữa thì ngất xỉu ngã xuống đất. "Được, bây giờ nào." Người đàn ông vạm vỡ bị thương nói. "Trông anh có vẻ cũng bị thương không nhẹ đâu, anh không sao chứ?"

"Tôi sẽ ổn thôi," Arutha nói, chàng buộc phải đỡ lấy người đó mới có thể đứng vững trong cơn chóng mặt ập đến bất ngờ.

Tên thủy thủ kéo Arutha đứng dậy. "Chúng ta tốt nhất nên đi nhanh lên, ngọn lửa đang lan rộng." Dưới sự giúp đỡ của Arutha, hắn lảo đảo bước qua cầu thang dây. Khi họ đến được cầu tàu, đã thở hổn hển, nhịp tim đập loạn nhịp. Tên thủy thủ bị thương thở dốc nói, "Tiếp tục đi!" Arutha gật đầu rồi gác cánh tay của tên thủy thủ lên vai mình. Họ bước xuống cầu tàu, lảo đảo giống như những tên thủy thủ say rượu trong thị trấn.

Đột nhiên theo một tiếng nổ lớn, cả hai người cùng ngã nhào về phía trước. Arutha lắc lắc cái đầu chóng mặt rồi quay đầu nhìn lại. Phía sau chàng là một cột lửa khổng lồ phóng thẳng lên tận mây xanh. Toàn bộ con thuyền đã biến thành một bóng đen mờ ảo nằm ở tâm của ngọn lửa màu vàng trắng chói mắt. Sức nóng cuồn cuộn ập tới, tựa như họ đang đứng trước cánh cửa của một lò luyện kim khổng lồ.

Arutha khàn giọng hỏi, "Đó là cái gì?"

Đồng bọn của hắn đáp lại bằng một giọng yếu ớt tương tự: "Hai trăm thùng dầu lửa Quigan." Arutha hoài nghi nói. "Vừa nãy anh căn bản không hề nói cho tôi biết trong thuyền này chứa đầy dầu lửa."

“Ta không muốn anh quá phấn khích. Trông anh đã nửa sống nửa chết rồi. Dù sao thì chúng ta hoặc là vượt qua được, hoặc là tiêu đời.”

Arutha cố gắng đứng dậy, nhưng lại ngã gục xuống. Đột nhiên chàng cảm thấy nằm trên tảng đá lạnh ngắt lại thoải mái đến vậy. Chàng nhìn chằm chằm, ngọn lửa trước mắt dần chìm vào tĩnh lặng, rồi mọi thứ đều chìm vào bóng tối.

Arutha mở mắt ra, nhìn thấy vài bóng người mờ ảo đang đứng xung quanh mình. Chàng cảm thấy hơi hoa mắt rồi khung cảnh dần trở nên rõ ràng. Karin đang cuộn rèm giường của anh lại, lo lắng nhìn vị linh mục Tully đang kiểm tra cho mình. Phía sau Karin, Vernon cũng đang chăm chú nhìn, đứng bên cạnh lão là một người lạ mặt. Tiếp đó, Arutha nhớ ra rồi. "Người trên con thuyền đó."

Người đó nhe răng cười. "Amos Trask, nguyên chủ nhân của Citondry biết rõ lũ súc sinh đó—xin điện hạ tha thứ—lũ chuột cống đáng nguyền rủa đó đã thiêu rụi nó. Lại cảm ơn ngài một lần nữa, điện hạ."

Tully ngắt lời vào. "Cảm thấy thế nào rồi?"

Arutha ngồi dậy, cảm thấy toàn thân nhức mỏi. Karin đặt một chiếc gối mềm phía sau lưng chàng. "Tôi có cảm giác như mình bị đập vụn ra vậy, nhưng tôi sẽ ổn thôi." Chàng cảm thấy hơi hoa mắt. "Tôi chỉ thấy hơi chóng mặt một chút."

Tully nhìn xuống đầu của Arutha từ phía trên mũi. "Vết thương nhỏ. Cậu ngã một cú khá nặng đấy. Cậu sẽ cảm thấy chóng mặt liên tục mấy ngày liền, nhưng ta nghĩ điều này không nghiêm trọng lắm."

Arutha nhìn vị kiếm thuật trưởng. "Mấy ngày rồi?"

Vernon nói, "Một đội tuần tra đã đưa cậu về vào tối ngày hôm qua. Bây giờ là buổi sáng rồi."

“Những kẻ đột kích đó thì sao?”

Vernon chán nản lắc đầu. "Thành phố đã được giữ vững. Chúng ta đã tiêu diệt toàn bộ bọn chúng, nhưng Karred cũng đã không còn một công trình kiến trúc nguyên vẹn nào đứng vững nữa. Ngoại trừ ngôi làng chài ở tận cùng phía nam cảng không bị chạm đến, tất cả mọi thứ khác đều đã bị phá hủy."

Karin bận rộn xung quanh Arutha, chốc chốc lại kéo chăn hoặc điều chỉnh lại gối mềm cho chàng. "Cậu nên nghỉ ngơi đi."

“Được rồi, tôi đói rồi.” Chàng nói.

Cô mang đến một bát súp thịt nóng hổi. Arutha ngoan ngoãn đón lấy bát súp thịt thiếu thốn thức ăn đặc này, nhưng kiên quyết từ chối để cô đút cho mình. Chàng vừa ăn vừa nói, "Kể cho tôi nghe chuyện gì đã xảy ra đi."

Vernon trông có vẻ phiền muộn. "Là người Tsurani."

Arutha xua tay ngắt lời lão, chiếc thìa canh dừng lại giữa miệng và bát. "Người Tsurani? Tôi tưởng bọn chúng là hải quân cướp biển, đến từ Đảo Hoàng Hôn."

“Ban đầu chúng ta cũng nghĩ vậy, nhưng khi sau đó chúng ta nói chuyện với vị thuyền trưởng Tros này, và cả những nô lệ Tsurani ở cùng chúng ta nữa.”

Tully thuật lại vắn tắt. "Từ câu chuyện của những tên nô lệ, những kẻ đó là những con người đặc biệt được lựa chọn. Bọn chúng được gọi là đội cảm tử. Chúng được chọn để thâm nhập vào thị trấn, tàn phá càng nhiều thứ càng tốt, rồi chết đi mà không hề sợ hãi. Việc chúng đốt tàu chính là biểu hiện quyết chiến đến cùng không còn đường lui. Ta phỏng đoán từ lời thuật lại của bọn chúng rằng điều này được coi là vinh quang trong mắt bọn chúng."

Arutha nhìn Amos Trask. "Bọn chúng đã cướp tàu của ông như thế nào vậy, thưa thuyền trưởng?"

“Ồ, đó là một câu chuyện đau lòng, thưa điện hạ.” Hắn hơi nghiêng sang phải một chút, Arutha nhớ ra hắn vẫn còn bị thương.

“Eo của ông thế nào rồi?”

Trask nhe răng cười, đôi mắt đen tràn đầy niềm vui. "Vết thương tồi tệ, nhưng không nghiêm trọng. Vị linh mục tốt bụng này đã khiến nó hồi phục như mới rồi, thưa điện hạ."

Tully cười nhạo. "Con người này đáng lẽ phải nằm trên giường bệnh rồi. Hắn bị thương nặng hơn cậu rất nhiều. Nhưng hắn không chịu rời đi trước khi nhìn thấy cậu mọi chuyện đều ổn."

Trask phớt lờ Tully. "Ta từng bị những vết thương nặng hơn thế. Chúng ta từng chiến đấu với hải quân cướp biển lái chiến thuyền Quylthan, và—ừm, đó là một câu chuyện khác. Cậu hỏi ta về con thuyền của ta." Hắn đi tập tễnh lại gần chiếc giường của Arutha. "Chúng ta vận chuyển vũ khí và dầu lửa Quigan từ Landas đến nước ngoài. Xem xét tình hình ở đây, chúng ta muốn tìm một mối tiêu thụ tốt hơn. Chúng ta xuất phát rất sớm, lén lút vượt qua những con thuyền khác, ít nhất là chúng ta kỳ vọng như vậy."

“Nhưng việc xuất ra khơi sớm đã khiến chúng ta phải trả giá. Một cơn bão kinh hoàng thổi đến từ phương nam, chúng ta di chuyển trong bão suốt một tuần lễ. Khi nó kết thúc, chúng ta hướng về phía đông, thả neo tại một bờ biển. Ta nghĩ chúng ta có thể dễ dàng phán đoán vị trí của mình từ địa mạo. Nhưng khi chúng ta nhìn thấy đất liền, không một ai nhận ra nơi đó. Mỗi người chúng ta đều thường xuyên qua lại phía bắc Karred, chúng ta nhanh chóng hiểu ra rằng mình đã đến một nơi xa hơn rất nhiều so với tưởng tượng.”

“Chúng ta thả neo một ngày, cho đến khi màn đêm buông xuống, ta không thể mạo hiểm việc mắc cạn hoặc đâm phải đá ngầm. Vào ban đêm, người Tsurani đến, bọn chúng bơi từ bờ biển giống như những con cá heo. Bọn chúng trèo lên thuyền từ cả hai phía. Khi ta tỉnh dậy từ âm thanh bạo loạn trên boong tàu, nơi đó đã có nửa tá lũ súc sinh chết tiệt đó—xin điện hạ tha thứ cho ta—những kẻ Tsurani đó ùa về phía chúng ta. Bọn chúng chỉ mất vài phút để cướp đi con thuyền của ta." Vai hắn hơi sụp xuống một chút. "Mất đi một con thuyền là đả kích đau đớn nhất đối với ta, thưa điện hạ."

Hắn lộ ra vẻ mặt đau đớn, Tully bước lên trước, để Trask ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh Arutha. Trask tiếp tục câu chuyện của mình. "Chúng ta không thể hiểu bọn chúng nói gì; ngôn ngữ của bọn chúng giống loài khỉ hơn là con người—bản thân ta cũng biết nói vài thứ tiếng nước ngoài và biết hơn một tá ngôn ngữ ký hiệu. Nhưng như ta đã nói, chúng ta không thể hiểu những lời vô nghĩa của bọn chúng. Nhưng ý đồ của bọn chúng thì vô cùng rõ ràng."

“Bọn chúng nghiên cứu kỹ lưỡng hải đồ của ta." Nhớ lại chuyện này hắn không nhịn được nhe răng cười. "Ta mua chúng từ tay một vị lão thuyền trưởng đã nghỉ hưu ở Durbin. Những tấm bản đồ đó kết tụ kinh nghiệm hàng hải năm mươi năm, từ đó, từ Karred cho đến tận bờ biển liên bang Kesh xa xôi, bọn chúng vứt tất cả những tấm vải bạt rách nát đó ra khỏi cabin của ta, cho đến khi tìm được thứ chúng muốn. Trong số bọn chúng có vài tên thủy thủ, và nhanh chóng nhận ra những tấm bản đồ đó, chúng đã cho ta biết kế hoạch của chúng."

“Nguyền rủa ta là một ngư dân ngu ngốc, chúng ta cập bờ ở vùng đất chỉ cách hải đăng của các ngươi chừng vài dặm về phía trên. Nếu chúng ta di chuyển xa hơn một chút, chúng ta đã có thể an toàn đến cảng Karred hai ngày sau đó."

Arutha và những người khác không nói câu nào. Tros tiếp tục nói, "Bọn chúng kiểm tra hàng hóa trên thuyền của ta rồi bắt đầu ném mọi thứ xuống biển. Hơn năm trăm thanh kiếm rộng Quigan, đều bị ném ra ngoài. Giáo, lao, cung tên, tất cả mọi thứ—ta đoán chắc là không thể vận chuyển đến Karred được nữa. Nhưng bọn chúng không biết phải làm gì với số dầu lửa Quigan đó—những cái thùng lớn đó cần một cái cần trục ở hải cảng mới có thể lôi ra khỏi khoang hàng—cho nên bọn chúng đành phải để lại nó. Ngoài những vũ khí trong tay bọn chúng ra thì không còn bất kỳ một món vũ khí nào ở lại trên tàu nữa. Sau đó một số tên chuột cống trong số đó mặc áo choàng đen của chúng lên, bơi vào bờ, bắt đầu đi dọc theo bờ biển hướng về ngọn hải đăng đó. Khi bọn chúng rời đi, những kẻ còn lại bắt đầu cầu nguyện, ngoại trừ những kẻ cầm cung tên canh gác toàn bộ thủy thủ đoàn của chúng ta, những người khác đều quỳ hai gối không ngừng dập đầu quỳ lạy. Sau đó, đại khái là ba giờ trước khi mặt trời lặn, đột nhiên bọn chúng đứng dậy và đá văng người của ta, chỉ tay về phía hải cảng trên bản đồ."

“Chúng ta bắt đầu xuôi theo bờ biển mà hành trình. Những gì còn lại các vị đều đã biết. Ta đoán bọn chúng cho rằng các ngươi sẽ không dự đoán được chúng tấn công từ đường biển."

Vernon nói, "Bọn chúng đoán đúng rồi. Kể từ lần đột kích trước của chúng, chúng ta đã tăng cường trọng binh tuần tra trong rừng. Bọn chúng không thể đến Karred trong vòng một ngày mà không để chúng ta phát hiện ra. Con đường này khiến chúng ta hoàn toàn không hay biết." Giọng của vị lão kiếm thuật trưởng vừa mệt mỏi vừa đau đớn. "Bây giờ thị trấn đã bị phá hủy hoàn toàn, sân nhà của chúng ta lại chật ních những dân làng hoảng loạn."

Giọng của Trask cũng đau đớn không kém. "Bọn chúng phái phần lớn người nhanh chóng đổ bộ, nhưng lại để lại hai chục người để tàn sát thủy thủ đoàn của ta." Một nỗi đau khắc cốt ghi tâm hiện lên trên khuôn mặt hắn. "Bọn họ quả thực không phải là những con người hoàn hảo, điện hạ của tôi, nhưng nhìn chung thì họ đều là những người tốt. Chúng ta hoàn toàn không biết chuyện gì đã xảy ra cho đến khi những đứa con của ta bắt đầu rơi xuống từ cột buồm, trên người cắm những mũi tên của người Tsurani, chúng rơi xuống nước tạo nên từng làn sóng bắn tung tóe giống như từng chiếc cờ hiệu. Ta nghĩ chúng bắt đầu phản kháng muốn cướp lại con thuyền. Những đứa con của ta đều lập tức lao vào chiến đấu, ta dám cá là vậy. Nhưng chúng vẫn chưa đủ nhanh. Gai cá cờ và kim cáp không thể chống lại những kẻ cầm trường kiếm và cung tên."

Trask thở dài một hơi thật sâu, sự đau đớn mà câu chuyện của hắn mang lại cũng kịch liệt giống như vết thương trên người hắn vậy.

“Ba mươi lăm người. Bọn họ có lẽ đều là những tên tiểu nhân, hung thủ, kẻ sát nhân, nhưng họ là người của ta. Ta là người duy nhất có quyền giết họ. Ta đập nát hộp sọ của tên Tsurani đầu tiên tìm đến ta, cướp lấy thanh kiếm của hắn, rồi lại giết một tên khác. Nhưng tên thứ ba đánh rơi thanh kiếm trong tay ta rồi lao vào ta." Hắn phát ra một tiếng cười ngắn và chói tai. "Ta vặn gãy cổ hắn. Ta ngất đi một lúc. Bọn chúng chắc chắn nghĩ rằng ta đã chết. Sau đó những gì ta biết chính là ngọn lửa bùng lên, ta bắt đầu kêu cứu. Sau đó ta nhìn thấy cậu trèo lên cầu thang dây."

Arutha nói, "Anh là một người dũng cảm, Amos Trask."

Một tia đau đớn sâu sắc lướt qua khuôn mặt của người đàn ông cao lớn. "Vẫn chưa đủ dũng cảm để giữ lấy con thuyền của mình, thưa điện hạ. Ta lúc này giống như một tên thủy thủ trên bãi biển, hai bàn tay trắng chẳng có gì cả."

“Đủ rồi, Arutha, cậu cần phải nghỉ ngơi." Tully vừa nói vừa đặt tay lên vai Amos Trask. "Thưa thuyền trưởng, ông thực sự coi cậu ấy là một tấm gương tốt đấy. Vết thương của ông nặng hơn rất nhiều so với những gì ông thừa nhận. Ta đưa ông đến căn phòng có thể để ông nghỉ ngơi đây."

Vị thuyền trưởng chuẩn bị đứng dậy, Arutha lên tiếng, "Thưa thuyền trưởng Trask."

“Vâng, thưa điện hạ?"

“Chúng ta cần những người có năng lực ở lại Karred."

Một nụ cười hài hước hiện lên trên khuôn mặt tên thủy thủ. "Ta cảm ơn ngài, điện hạ. Nhưng không có thuyền, ta không biết mình còn có thể làm gì nữa."

Arutha nói, "Giao cho tôi và Vernon, chúng tôi sẽ tìm cho ông đầy đủ việc để ông bận rộn."

Người đàn ông hơi cúi người, bị hạn chế bởi vết thương bên sườn. Hắn rời đi cùng với Tully. Karin đặt một nụ hôn lên má Arutha, nói: "Bây giờ nghỉ ngơi đi." Cô thu dọn bát súp rồi rời đi dưới sự hộ tống của Vernon. Trước khi cánh cửa một lần nữa khép lại, Arutha đã chìm vào giấc ngủ sâu.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.