Máu Đời

Lượt đọc: 37 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Mười Hai

❊ ❊ ❊

Tôi đã thỏa thuận với Patrick Mooney để nhờ cô em gái ở Queens của anh ta, một người phụ nữ đẫy đà tên là Rosalyn, đến hoàn thành nốt công việc khôi phục lại ngôi nhà tan hoang của tôi. Cô ấy đến sau đó một tiếng rưỡi và đang làm việc cật lực lúc tôi rời đi. Tôi cũng từng dằn vặt về vấn đề báo cáo cảnh sát, nhưng cuối cùng quyết định bỏ qua sự phiền toái đó. Lou đã đúng: Đó sẽ là một màn tra tấn vô ích kéo dài hai tiếng đồng hồ. Hơn nữa, tôi còn nhiều việc khác tốt hơn để làm với quỹ thời gian của mình. Tôi định trả ơn bằng một chuyến thám hiểm thu thập thông tin.

Alex Goddard từng nói ông ta sẽ vắng mặt ở Quetzal Manor—chẳng biết trong bao lâu—và lần này tôi sẽ làm cho ra ngô ra khoai, bước tiếp theo trong cuộc nghiên cứu ngầm của tôi. Điều đầu tiên và quan trọng nhất tôi muốn làm là khám phá phòng khám công nghệ cao mới nằm ẩn mình trong khu rừng đối diện tòa nhà cũ. Mọi thứ ở đó hoàn toàn trái ngược với một "Trang viên". Không một chút "tâm linh" Kiểu Mới nào, chỉ có vô số thiết bị kỹ thuật số, máy siêu âm và... còn gì nữa nhỉ? Mối bận tâm lớn nhất của tôi là: Bên sau cánh cửa lớn màu trắng kia là gì?

Có lẽ tôi đang hành động bốc đồng, nhưng thần kinh tôi đang căng như dây đàn và sự thật là, tôi sẽ chẳng thèm chợp mắt cho đến khi biết được nhiều hơn những gì mình đang có. Và nếu tôi đến đó vào tối muộn hôm nay, Chủ Nhật, có lẽ tôi sẽ chẳng phải đối mặt với Ramala.

Tôi gọi cho Roger Drexel, tay quay phim để râu ri xồm xoàm của tôi, và bảo hắn đến gặp tôi ở Applecore. Hôm nay là Chủ Nhật và hắn đang xem hiệp ba của một trận đấu bóng rổ Knicks cùng thùng bia thứ hai, nhưng hắn vẫn đồng ý. Dẫu sao thì, tôi vẫn là sếp hiện tại của hắn.

Tất cả những gì tôi thực sự muốn là chiếc máy quay Betacam và vài cuộn băng từ loại dùng cho phát sóng. (Tôi đã muốn làm điều đó từ hôm qua, nhưng giờ thì thời điểm đã thực sự chín muồi). Chúng tôi gặp nhau ở văn phòng, và hắn mở khóa căn phòng chứa thiết bị quay phim rồi lắp vào một cuộn băng mới. Cầu trời cho hắn kịp về nhà để xem đoạn kết của trận đấu.

Sau đó, tôi ăn một chiếc bánh mì kẹp phô mai béo ngậy và khoai tây chiên tại một quán ăn Hy Lạp cách đại lộ hai dãy nhà. Đó là cách tôi tự nuông chiều bản thân để xốc lại tinh thần.

Đồng hồ chỉ sáu giờ ba mươi lăm phút và trời đang chập tối khi tôi rồ ga chiếc Toyota già nua và bắt đầu hành trình quay lại Quetzal Manor về hướng bắc. Khi tôi đi ngang qua cầu George Washington, những bông tuyết lất phất đầu tiên của một trận bão tuyết trái mùa kỳ lạ bắt đầu quất vào kính chắn gió của tôi. Tốt thật, tôi nghĩ thầm khi bật gạt nước, tầm nhìn càng hạn chế càng tốt. Ít ra thì tôi còn tin điều đó cho đến khi mặt đường bắt đầu trơn trượt và tôi buộc phải giảm ga. Chỉ đến lúc đó tôi mới nhận ra kim đồng hồ tốc độ của mình đã xấp xỉ tám mươi, vượt qua rất nhiều xe. Lời cảnh báo của Lou về việc đừng bao giờ đi đâu một mình vẫn nằm ở một góc trong tâm trí, nhưng tôi cứ cố gạt nó đi. Đôi khi có những việc buộc lòng bạn phải làm.

Con đường cao tốc càng trở nên hiểm trở hơn khi tôi tiến về phía bắc, nhưng xe cộ thưa dần và đến khi tôi rẽ vào lối đi dẫn đến Quetzal Manor, bóng tối đã bao trùm toàn bộ, thêm vào đó là mặt đường được phủ một lớp tuyết mới tinh nguyên tơi xốp dày ít nhất một inch.

Khi tôi từ từ lái xe lên đường, đèn pha phản chiếu vào hàng cây xung quanh khiến chúng lấp lánh với lớp tuyết trắng mỏng nhẹ, trông giống như lớp kem phủ trên đầu của kiểu tóc húi cua. Tôi tắt đèn pha khi thực hiện khúc cua cuối cùng trên đường nhưng không quên liếc nhìn Quetzal Manor, và tôi phải thú nhận rằng mình cảm thấy một cơn rùng mình, vừa giận dữ vừa sợ hãi, chạy dọc sống lưng khi ngắm nhìn những ngọn tháp uy nghi của nó biến mất vào màn đêm đầy tuyết.

Tôi đỗ xe ở phía sau bãi đậu và lấy chiếc đèn pin đã mang theo, một loại vỏ nhựa màu vàng dùng hai pin. Tôi không hề biết trời sẽ có tuyết khi rời nhà, nên tôi chỉ đi một đôi giày vải cũ, nhưng thế là đủ. Sau đó, tôi ngồi im lìm trong bóng tối suốt một phút dài, lắng nghe sự tĩnh lặng và suy ngẫm. Điều đầu tiên là phải tìm xem có ai đang canh gác nơi này không. Điều tiếp theo là quay lại một đoạn video về tòa nhà mới.

Tôi vớ lấy chiếc túi đựng máy quay Betacam, kiểm tra chiếc đèn pin xuống sàn xe, rồi tiến lên con đường ngập tuyết. Tôi bước thẳng qua khung cửa vòm mở rộng ở cửa trước, và lại đặt chân vào hành lang lộng gió nơi tôi đã gặp Ramala vào sáng thứ Bảy. Nơi đây giờ trống hoác và tối om, chẳng có lấy một ngọn đèn, thậm chí cả ở khoảng sân bên ngoài. Sự tĩnh lặng như đá—không âm nhạc, không tiếng tụng kinh—mang lại cảm giác không tự nhiên, nhưng nó cũng gợi ý rằng những tín đồ sùng bái của Alex Goddard đã yên vị trong chăn. Đi ngủ sớm... bạn biết phần còn lại rồi đấy. Thế nên có lẽ tôi thực sự đã đến đúng lúc.

Một cơn gió lạnh buốt thổi lùa vào từ tận đầu bên kia hành lang, và tôi có cảm giác như vừa bước vào một ngôi mộ ẩm thấp, nhưng tôi kéo chặt áo khoác và tiếp tục tiến bước. Khi đến cuối hành lang và nhìn ra ngoài, khoảng sân ngập tuyết trông giống như một tấm bưu ảnh. Và hoàn toàn trống vắng.

Được rồi, tôi nghĩ, hãy chuyển sang mục đích chính của chuyến đi.

Nhưng khi tôi quay người đi ngược lại hành lang, hướng về phía vòm cửa ra vào, tôi thoáng thấy một bóng người lén lút, tối mờ và đầy bí ẩn, đang thập thò ngay bên ngoài. Quái quỷ thật! Tôi khựng lại tại chỗ, nhưng rồi bóng người đó bước hẳn vào trong, mặc thứ gì đó khiến tôi liên tưởng đến câu chuyện Cô bé quàng khăn đỏ, giống như một bóng ma nhỏ trong chiếc áo trùm đầu.

Đó chính là Tara, cô nàng ngẩn ngơ của Alex Goddard, đang di chuyển kỳ lạ đến mức thoạt đầu tôi tưởng cô ta đang mộng du.

Tất nhiên là cô ta không mộng du. Cô ta vừa mới đi dạo quanh lối đi ngập tuyết trở vào. Chẳng mấy chốc tôi nhận ra cô ta sống cuộc đời mình trong trạng thái tựa như người mất hồn, cứ như thể cô ta là cư dân vĩnh viễn của thế giới tâm linh. Đối với cô ta đó là một trạng thái tự nhiên.

"Trời đẹp quá phải chi thế này," cô ta lầm bầm mơ màng, cứ như thể chúng tôi đang giữa một cuộc trò chuyện kéo dài suốt đời. "Em thích lắm." Giọng cô ta vừa đủ thì thầm, nhưng trong không gian tĩnh lặng lại như dội ngược vào những bức tường đá. "Em muốn đưa chúng ra ngoài, cho chúng thấy bức tranh của Chúa. Chị sẽ giúp em chứ?"

"Đưa ai ra cơ?" tôi hỏi, lập tức quyết định thuận theo dòng sự việc.

Cuối cùng cô ta cũng nhìn thẳng vào tôi và nhận ra mình đang nói chuyện với ai.

"Chị đã ở đây trước đó rồi. Em đã cố đưa thảo dược để giúp chị, nhưng rồi anh ấy đến và..." Giọng cô ta nhỏ dần khi cô ta quay người đi ngược qua mái hiên rồi bước ra ngoài khoảng tuyết lơi bay. Sau đó, cô ta giơ hai tay lên, như thể đang cố bắt lấy những bông tuyết để làm kỷ vật. "Em rất muốn cho chúng xem. Chúng chưa bao giờ thấy cảnh này trước đây cả." Cô ta liếc nhìn lại tôi. "Nào. Đi thôi."

Khi tôi đi theo cô ta bước ra làn tuyết lãng đảng và băng qua bãi đậu xe, lớp tuyết tích tụ ngày càng dày hơn, giờ đã đủ để bắt đầu phủ lấp những chiếc xe, thế nhưng, trực giác mách bảo tôi rằng trận bão tuyết này sẽ không kéo dài lâu. Tôi hít một hơi thật sâu bầu không khí ẩm ướt và bật mở chiếc hộp đựng máy quay Betacam, sẵn sàng lôi nó ra ngay khi chúng tôi bước vào trong.

Chà, tôi nghĩ, có lẽ mình gặp may rồi. Cô ta đang hướng về phía phòng khám mới, đó chính xác là nơi tôi muốn đến. Nó nằm ẩn mình giữa những tán cây, dọc theo một lối đi uốn lượn, và khi lê bước, tôi có thể cảm nhận được tuyết đang ngấm qua giày vải của mình.

Khi đến cửa trước, một cánh cửa kính lớn, cô ta cứ thế đẩy mở.

Mara chúng ta chưa bao giờ khóa cửa bất cứ thứ gì," cô ta tuyên bố, liếc nhìn lại phía sau. "Đó là một trong những quy tắc của tụi mình."

Hành lang tối om, tĩnh lặng và trống trải ngoại trừ hai chúng tôi. Dù vậy, tôi vẫn cảm thấy một chút dè dặt khi bước vào. Ở một mức độ nào đó, đây là hành vi đột nhập trái phép.

"Đi thôi," cô ta nói, thản nhiên bật một công tắc trên bức tường bên phải khiến hệ thống đèn huỳnh quang trên trần nhấp nháy sáng lên. "Bây giờ anh ấy đi vắng rồi, và mọi người đều đã đi ngủ. Nhưng em cá là trong này họ vẫn còn thức. Đây là thời điểm hoàn hảo."

Tôi chẳng thấy có gì là hoàn hảo cả, nhưng tôi biết chắc mình muốn tìm hiểu xem có gì đằng sau cánh cửa mà tôi đã thấy khi rời đi. Nó nằm ở cuối hành lang, rộng, bằng thép và được sơn màu trắng bệnh viện. Và quả nhiên, đó chính xác là nơi Tara đang hướng tới.

Cô ta cứ thế huyên thuyên không ngừng bằng giọng điệu mơ màng của một đứa trẻ. "Chúng ta phải cố gắng làm cho họ hiểu là mọi chuyện đều ổn cả. Rằng chỉ một lát thôi mà."

Cô ta đẩy mạnh cửa mà không thèm gõ, và tai tôi đón nhận những giai điệu thoang thoảng của bản "Ánh trăng" (Moonlight Sonata) do Beethoven sáng tác, một trong những bản nhạc yêu thích của tôi. Trong khoảnh khắc, tôi bị cuốn vào âm nhạc, một khoảnh khắc đầy xúc cảm kéo tôi vào trong.

Căn phòng rộng rãi, với một dãy nôi trắng xếp dọc theo một bên tường và ánh sáng mờ ảo phát ra từ những bóng đèn huỳnh quang nhỏ dọc theo các bức tường. Tôi lập tức nhận ra đây là một nhà trẻ không có dịch vụ rườm rà. Bên cạnh những chiếc nôi là các bàn đặt sữa công thức, hộp tã lót Pampers và khăn giấy ướt Handi-Wipes. Hai người phụ nữ thấp người không rõ quốc tịch—trông họ phảng phất nét Á Đông—đang túc trực, và lúc này một người đang quay lưng lại và dỗ dành một đứa trẻ trên vai cô ấy. Đứa bé trông giống một con trai—hay đó chỉ là trí tưởng tượng của tôi?—và tôi cảm thấy lòng mình chùng xuống. Ánh sáng mờ ảo, nhưng tôi có thể nhận ra thằng bé là một đứa trẻ tóc màu cát tuyệt đẹp, bụ bẫm và hồng hào, trông thật đáng yêu trong sự mong manh đầy dịu dàng khi nó đảo mắt nhìn xung quanh với vẻ đầy tin tưởng. Nó đang trân trân nhìn thẳng vào tôi và trước khi kịp ngăn mình lại, tôi khẽ vẫy tay và nhăn mũi với nó. Nó nhìn tôi một giây rồi đáp lại bằng một nụ cười vô cùng nhỏ. Chà, tôi nghĩ, mình có duyên ngầm đấy chứ.

"Đi nào," Tara nói phớt lờ hai người phụ nữ, "để em cho chị xem nhé. Tất cả chúng đều rất đáng yêu."

Lúc đó mắt tôi đã quen với ánh sáng mờ ảo, và khi chúng tôi bước đi ở giữa căn phòng dài, tôi xác nhận lại phỏng đoán của mình rằng những chiếc nôi đặt cạnh bàn đều có trẻ sơ sinh bên trong. Tôi không phải chuyên gia về trẻ nhỏ, nhưng tôi đoán tất cả chúng đều khoảng sáu tuần tuổi, hoặc tối đa là vài tháng.

Đây chính là cái ổ, tôi nghĩ. Tâm điểm của mọi thứ. Rất có thể Kevin và Rachel cũng từng ở trong căn phòng này vào một thời điểm nào đó. . .

"Chúng tuyệt vời lắm phải không?" Tara vẫn đang nói bằng chất giọng eo éo, lơ đễnh của mình.

Tôi đang mở túi đựng máy quay Betacam thì người phụ nữ đầu tiên, người đang bế và nhẹ nhàng ru đứa con trai nhỏ của cô ta, lơ đễnh thò tay xuống dưới tấm chăn mỏng của đứa bé, rồi nói chuyện với người kia bằng tiếng Anh phát âm nặng đặc trưng.

"Nó lại tè dầm rồi."

Đó là những từ đầu tiên mà một trong hai người họ thốt lên. Sau đó cô ta quay sang tôi với vẻ bực bội, chắc là tưởng tôi thuộc giáo đoàn của Alex Goddard. "Tôi vừa mới thay tã cho nó xong." Lại là giọng điệu lơ lớ đó, nhưng tôi vẫn không thể nhận ra đó là tiếng gì. Cô ta nhăn mặt, rồi bế đứa trẻ đến chiếc bàn thay tã bằng ván ép ở giữa phòng.

Tôi cảm thấy một khao khát có em bé dâng trào khi bước đến bên cạnh cô ta, nhưng cô ta lại cư xử giống hệt như một nhân công làm công ăn lương theo giờ điển hình, ủ rũ làm việc của mình, và tôi chỉ đứng đó một lát, vô vọng muốn được bế thằng bé, rồi quay lại nhìn Tara.

"Tất cả những đứa trẻ này từ đâu tới vậy?"

Ramala bảo chúng là trẻ mồ côi hoặc bị bỏ rơi hay gì đó. Từ nước ngoài hoặc đâu đó." Cô ta thở dài. "Chúng hoàn hảo lắm."

Cô ta hoàn toàn đờ đẫn mấtý thức. Cảm giác như đang nói chuyện với một viên kẹo dẻo đang phê thuốc.

"Nhưng chính xác thì làm sao mà—?"

"Mọi người đưa chúng đến đây." Cô ta có vẻ không hứng thú với câu hỏi, cứ thế lủi thủi bước tiếp dọc theo dãy nôi.

Cuối cùng tôi cũng lấy lại được sự tỉnh táo để lôi chiếc Betacam ra, dù ánh sáng thực ra không đủ để làm việc, chắc chắn không đạt chất lượng phát sóng.

Cô ta dừng lại và bế một đứa trẻ sơ sinh ra khỏi nôi, rồi quay lại nhìn tôi, ánh mắt trở nên dịu dàng khi ôm nó vào lòng giống như đang ôm một chú cún con. "Đứa này xinh xắn chưa này? Em rất muốn có được nó."

Cô ta có đang dùng loại thuốc nào kìm hãm sự tò mò không nhỉ? Tôi tự hỏi trong lúc quét ống kính máy quay quanh phòng. Chắc phải có ít nhất hai mươi chiếc nôi, cái nào cũng giống cái nào, làm bằng mây với phần mui ren trắng. Mấy đứa trẻ đang sụt sịt, và đứa mà Tara vừa bế lên bắt đầu khóc ré lên, khiến cô ta vô cùng khó chịu. Căn phòng thoang thoảng mùi phấn rôm trẻ em.

"Rồi chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo?" Cuối cùng tôi cũng hỏi, vừa xoay ống kính phóng to vào một trong những người phụ nữ.

"Chuyện gì xảy ra khi nào?" Lúc này Tara đang xoay tròn tại chỗ, vô ích ngân nga dỗ dành đứa trẻ đang gào khóc. "Ý chị là, sau khi chúng đến đây ấy hả?"

"Đúng vậy." Chúa ơi, gặng hỏi câu trả lời từ cô ta khiến tôi phát điên lên được.

Những cô gái ở đây sẽ đưa chúng đến với những người mẹ mới của chúng." Ánh mắt cô ta càng trở nên mơ màng hơn khi cô ta nhẹ nhàng nhún người ru cái bọc đang gào khóc trên tay lần cuối, sau đó đặt nó trở lại nôi. Rồi cô ta đảo mắt nhìn quanh phòng. "Thật buồn khi phải nhìn chúng rời đi."

Liệu Paula và Carly có nhận con theo cách này không? Tôi tự hỏi. Chắc là vậy rồi, nhưng đó lại là một điều nữa mà tôi quên bén mất không hỏi.

"Đi nào," Tara tiếp tục. "Chúng ta hãy đưa vài đứa ra ngoài đi. Anh ấy bắt các y tá phải cố gắng nói tiếng Anh khi ở bên cạnh bọn trẻ, nhưng thực ra họ chẳng biết mấy đâu. Có lẽ chị có thể tìm cách, kiểu như, giải thích—"p>

"Tara, chị không nghĩ việc đưa mấy đứa bé này ra ngoài tuyết là một ý hay ho đâu. Không phải tối nay. Chắc để sáng mai." Kéo dài thời gian với cô ta thôi, tôi nghĩ. Cô ta hoàn toàn mất tỉnh táo rồi. Sau đó tôi nhìn sang người phụ nữ đang thay tã cho đứa bé. Quả nhiên, tôi đã đoán đúng. Đó là một bé trai.

"Nhưng em muốn thế." Tara cúi gằm mặt đầy thất vọng. "Để cho họ thấy chúng đẹp cỡ nào—"p>

"Thôi đi, chị có biết bọn họ đang nói thứ tiếng gì đâu," tôi nói, ngắt lời cô ta. "Chị thậm chí còn không chắc mình có thể giải thích nó bằng tiếng Anh cho có lý nữa là. Nên em sẽ phải tự làm điều đó mà không có sự trợ giúp của chị rồi."

Rồi tôi quay sang người phụ nữ vừa thay tã cho đứa bé.

"Cô có biết đứa trẻ này từ đâu tới không?" Sao lại không thử vận may cơ chứ?

Cô ta chỉ trân trân nhìn tôi đầy hoảng hốt, rồi quay mặt đi. Chẳng có gì cả. Rõ ràng cô ta không đời nào chịu nói cho tôi biết điều gì, ngay cả khi cô ta có biết đi nữa. Cô ta và những người khác chỉ là nhân công thuê mướn giá rẻ, có lẽ là những kẻ nhập cư bất hợp pháp không có thẻ xanh và sợ mất việc đến phát khiếp. Họ sẽ chẳng đời nào đem hết mọi chuyện kể vanh vách cho bất kỳ ai nghe đâu.

Tôi suy ngẫm về tình hình một lúc, và quyết định rằng mình đã thấy những gì cần thấy. Đây chính là mỏ vàng. Alex Goddard đang điều hành một cơ sở nhận con nuôi quy mô lớn, đúng như những gì Lou từng nghi ngờ. Ông ta gom những đứa trẻ da trắng xinh đẹp từ "nước ngoài hoặc đâu đó", rồi bán chúng ở đây với giá sáu mươi ngàn đô la một đứa.

Điều đó phần lớn đã lý giải tại sao ông ta không muốn Hội Những người con Ánh sáng xuất hiện trong bộ phim của tôi. Và viên đại biểu người Guatemala vừa tàn phá ngôi nhà của tôi gần như chắc chắn là có nhúng tay vào hoạt động này. Alex Goddard có thể là một nhà chữa lành theo phong cách Kiểu Mới tái khám phá các bài thuốc thảo mộc cổ xưa của người bản địa châu Mỹ, nhưng đồng thời ông ta cũng đang vận hành một cỗ máy in tiền cực kỳ hiệu quả.

Dù vậy, câu hỏi lớn vẫn cứ trở đi trở lại: Ông ta lấy tất cả những đứa trẻ đó từ đâu? Để khai thác thêm bất kỳ thông tin nào về điều đó từ Quetzal Manor, tôi sẽ phải đột nhập vào một văn phòng nào đó, và tôi thì chưa sẵn sàng cho việc đó lắm. Tôi không có gan như Đại tá Jose Alvino Ramos.

"Này Tara, chị nghĩ mình phải té đây." Tôi đang cất chiếc máy quay Betacam vào túi. Không có thước phim nào tôi vừa quay đạt dù chỉ một phần nhỏ chất lượng phát sóng, nhưng ít nhất tôi đã có bằng chứng về những gì đang diễn ra. Cuộc điều tra "ngầm" của tôi đang có chút tiến triển.

"Vâng." Cô ta thở dài, vẻ mặt ngày càng thẫn thờ.

Tôi đưa mắt nhìn quanh căn phòng lần cuối, ngắm nhìn dãy nôi, sau đó vỗ nhẹ vào vai cô ta để chào tạm biệt rồi tiến về lối ra.

"Này," tôi nói khi quay đầu lại lúc đã đến cửa. "Đừng nói với ai về việc chị ở đây tối nay nhé, được chứ? Chúng ta cứ giữ đó là bí mật của hai đứa thôi, được không?"

"Được chứ, sao cũng được." Cô ta lơ đễnh nhún vai. Kiểu như, sao mà không được cơ chứ.

"Và Tara, hãy tự cứu lấy mình đi. Rời khỏi nơi này đi."

"Nhưng chẳng có nơi nào khác cho em đi cả," cô ta nói với nỗi buồn hiện rõ trong mắt. Khi tôi từ từ khép cánh cửa lại, âm thanh cuối cùng tôi nghe được là tiếng bản sonata của Beethoven đang nhỏ dần rồi tắt hẳn.

Quả là một ngày... và một đêm. Khi bước đi dọc hành lang tay xách túi máy quay, tôi cố gắng xâu chuỗi lại những thông tin mới của mình. Tôi vừa chứng kiến những đứa trẻ đáng yêu đến không thể tin được. Phía đó là một trải nghiệm tuyệt đẹp, thứ chạm đến những sợi dây cảm xúc trong tôi mạnh mẽ hơn bất cứ điều gì tôi từng tưởng tượng. Phần khiến tôi bận tâm chính là, những đứa trẻ ấy quá giống nhau, quá trắng trẻo, và... tất cả chúng đều có thể là những đứa anh chị em ruột hoàn hảo của Kevin và Rachel.

Không, tôi tự nhủ, chắc chắn đó chỉ là trí tưởng tượng của mình thôi. Dù trông chúng có vẻ giống nhau một cách đáng kinh ngạc...

Khi băng qua bãi đậu xe, tôi tưởng như mình thoáng thấy một bóng người chuyển động trong bóng râm ngay sát vòm cổng ra vào, một sự thay đổi nhanh chóng trong mảng tối. Tự hỏi đó là Ramala hay một trong những cô gái, hay đó chỉ là sự hoang tưởng của chính tôi?

Cứ bước tiếp đi, tôi tự nhủ. Hãy hòa mình vào màn tuyết. Cách duy nhất để bọn chúng ngăn cản bạn vạch trần đường dây này lúc này chính là thủ tiêu bạn.

Khi quay trở lại xe, tôi ngước nhìn những ngọn tháp uy nghi của Quetzal Manor lần cuối, thầm ước gì có đủ ánh sáng để quay phim chúng, và thu xếp lại suy nghĩ của mình. Liệu câu chuyện về việc những đứa trẻ là trẻ mồ côi hay trẻ bị bỏ rơi hoặc "bất cứ thứ gì" đó có thực sự là sự thật không? Tôi không tin điều đó, dù chỉ là một phút.

Nhưng như Carly Grove đã nói, Alex Goddard có thể "biến mọi thứ thành hiện thực". Vấn đề đối với tôi là, ông ta sẽ không nói cho tôi biết ông ta kiếm đâu ra đám trẻ đó, và cho đến nay chẳng có ai tôi nói chuyện tỏ vẻ muốn biết cả, không thực sự muốn biết.

Còn tôi thì muốn biết.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Thomas Hoover

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.