Máu Đời

Lượt đọc: 37 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Mười Chín

❊ ❊ ❊

"Anh ta vừa nói gì vậy?" Tôi hỏi, khi chưa kịp hiểu trọn tràng tiếng Tây Ban Nha bắn như liên thanh từ buồng lái. Trận chửi thề xối xả ấy vừa lọt tai từ navegacion. Chắc lại có gì hỏng hóc rồi.

Chúa phù hộ chúng ta.

Chiếc trực thăng của Alan Dupre làm tôi nhớ đến mấy chiếc taxi sắp rã đám trên những con đường chi chít ổ gà ở Thành phố Guatemala. Khoang hành khách rung mạnh đến mức làm hàm răng tôiập vào nhau cập cập. Dạ dày tôi cứ lộn tùng phèo như trong một cái bình pha chế cocktail, còn tiếng ồn điếc tai thì chẳng khác nào âm thanh từ địa ngục.

Tôi dán mắt nhìn qua khung cửa sổ nhựa đục mờ, nơi cách mặt đất chưa đầy ba trăm mét, tôi lờ mờ nhận ra ngọn rừng mưa Peten ở Tây Bắc Guatemala đang lướt qua bên dưới. Hóa ra nó là thế này đây. Dày đặc và không thể xuyên thủng, một tấm thảm rụng lá trải rộng ngút ngàn che kín mặt đất—nếu như một thứ cao bằng tòa nhà mười tầng có thể gọi là thảm. Tôi từng đặt chân đến những khu rừng ở Kerala của Ấn Độ và tận mắt thấy vài chòm cây rậm rạp ở miền nam Mexico, nhưng chốn này thì giống như một hành tinh khác.

Vấn đề lớn nhất lúc bấy giờ là một trận mưa như trút nước, khúc dạo đầu của cơn bão lớn, đang càn quét qua bán đảo Yucatan và quật ngả ngọn những tán cây rừng bên dưới. Trận mưa bắt đầu nặng hạt chỉ khoảng mười phút sau khi chúng tôi cất cánh, giờ đây đã dày đặc đến mức gần như làm mù tầm mắt.

Đây là canh bạc mà tôi đã chọn, nhưng phải thú nhận một điều ngay lúc này: Thời tiết khiến tôi thực sự hoảng sợ, móng tay cắmập vào tay vịn và nhịp tim thì loạn nhịp. Và giờ lại còn chuyện gì nữa đây? Chúng tôi mới chỉ bay có ba mươi lăm phút, mà đã chớm gặp rắc rối về cơ khí rồi sao? Còn gì có thể hỏng được nữa chứ?

"Mấy cái bóng đèn vừatắt ngúm hay sao ấy." Dupre nhún vai. "Tôi không chắc lắm. Mà chẳng có gì to tát đâu. Con chim sắt già này lúc nào chẳng hoàn thành nhiệm vụ." Viên phi công của anh ta, Trung úy Villatoro, cựu quân nhân quân đội Guatemala, vừa lớn tiếng báo cáo sự cố mới phát sinh vào khoang khách. "Chắc không có gì đâu. Đừng lo lắng làm gì."

Đừng lo lắng làm gì cơ chứ! Chiếc trực thăng "du lịch" của anh ta chẳng khác nào một ứng cử viên sáng giá cho Bảo tàng Hàng không & Không gian Guatemala, một chiếc Bell UH-1D cũ kỹ được chắp vá bằng nhựa cây và bột ngô. Chắc chắn cơn bão đang đẩy nó vượt xa giới hạn chịu lực rồi.

"Được rồi, thế chính xác là—?"

"Nghe chừng như trạm điều hướng." Anh ta búng tay mở dây an toàn. "Có cái gì đó... Ai mà biết được chứ? Nếu anh thấy yên tâm hơn, tôi sẽ lên trên đó xem sao."

Lòng bàn tay tôi lạnh toát. "Xét tình hình này thì xem ra cũng đáng công đấy chứ."

Thế giới bên dưới chúng tôi là một mớ hỗn độn đầy thù địch của những thân cây chọc trời đang vươn mình đón ánh sáng, trong khi mặt đất lại là một thảm đen chằng chịt dương xỉ, dây leo, dây tơ hồng và những cành tầm gửi—nơi ẩn nấp của loài bọ cạp Olympic cùng vài trong số những loài rắn độc nhất Trái Đất. Nếu chúng tôi buộc phải hạ cánh xuống đây—tôi thậm chí còn chẳng dám nghĩ đến điều đó. Đưa một chiếc trực thăng đâm sầm xuống những con sóng xanh nhấp nhô bên dưới chẳng khác nào tự tìm đường xuống Âm phủ.

"Chỉ là mấy cái bóng đèn thôi, y như hắn vừa nói ấy mà." Dupre quát vọng lại từ cửa buồng lái, để lộ ra cái giọng điệu "tôi đã bảo anh cứ bình tĩnh đi mà". Anh ta đang nheo mắt nhìn qua khoảng trống về phía dãy bảng điều khiển dài ngoằn ngoèo. Tiếp sau câu nói đó là một tiếng thở dài khi anh ta lùi trở lại khoang chính. "Cứ thư giãn đi."

Tôi chẳng thể thư giãn nổi, và nhìn cách mắt anh ta đảo liên hồi cùng điếu thuốc Gauloise hút nối đuôi nhau, tôi thừa biết anh ta đang đứng trước bờ vực suy nhược thần kinh. Trong trường hợp của anh ta, nguyên nhân không chỉ nằm ở thời tiết. Anh ta cứ ngọ nguậy như một con thú sập bẫy, mang lại cho tôi cảm giác rõ mồn một rằng anh ta đang sai bảo ai đó trong vô hình và vô cùng sợ hãi rằng mình sẽ thất bại.

"Thế sao anh không thử sửa nó đi?" Phải chăng anh ta đang cố ra vẻ bình tĩnh chỉ để gây ấn tượng với tôi? "Anh không thể đấm vào bảng điều khiển hay làm gì đó à?"

"Được rồi, được rồi, để tôi xem mình có thể làm gì nào. Chúa ơi!" Anh ta lách người quay trở lại buồng lái, ngồi cạnh Villatoro. Gió quật mạnh đến mức dù đang khom người, anh ta vẫn gặp khó khăn trong việc giữ thăng bằng. Rồi anh ta hờ hững dùng gót bàn tay đập mạnh vào mấy mặt đồng hồ tối thui. Khi cú đánh chẳng mang lại phép màu điện tử tức thì nào, anh ta đành ngồi phịch xuống ghế hoa tiêu.

"Que pasa?" anh ta quát lên với Villatoro, giọng nói gần như bị lấn át bởi tiếng gầm rú của động cơ và những tiếng mưa quất rào rào vào thân máy. Sau đó, anh ta nhìn ra kính chắn gió, ngắm dòng nước lũ đang xối xả đập vào đó, rồi đưa tay chà cằm.

"No se, mi comandante," viên sĩ quan người Guatemala lớn tiếng đáp lại. Tôi cảm thấy anh ta đang cố tỏ ra tháo vát và điềm tĩnh. Dupre từng khẳng định chính viên phi công này đã tự tay kiểm tra và chuẩn bị cho chiếc Bell. Thế mà giờ đây... "Mira. Như tôi đã nói đấy, mấy cái bóng đèn. Ở trạm điều hướng ấy. Có lẽ hệ thống điện—"

"Thế còn pin dự phòng thì sao?" Dupre đang cố gắng kìm chế lắm rồi.

Villatoro gãi cằm. "Thú thật với ngài nhé. Pin dự phòng tiêu đời rồi. Tôi đã kiểm tra trước khi cất cánh, nhưng chẳng tìm được cục thay thế nào ở Provisiones cả. Tôi cứ nghĩ chẳng sao đâu, nhưng giờ thì, amigo..."

Một làn sóng hoang mang nữa lại dâng lên trong tôi, xoáy thẳng vào cái dạ dày đang lộn mửa.

"Thôi được, cứ giữ hướng bắc." Giọng Dupre phát ra từ một sự dằn vặt tột cùng. "Và nếu anh nhìn thấy sông Rio Tigre, thì Baalum hay bất cứ thứ gì ở đó sẽ nằm ở phía tây, theo như tôi phỏng đoán. Cứ mở to mắt mà nhìn cho kỹ vào." Anh ta dừng lại. "Khổ nỗi, với cái tầm nhìn mưa gió thế này, tìm được con sông quả là mò kim đáy bể."

Tôi cố gắng rướn người nhìn ra ngoài cửa sổ, dò dẫm trong từng nhịp thở đứt quãng. Vẫn chẳng thấy gì. Chúa tôi, lại chuyện gì nữa đây?

Cuối cùng Dupre cũng quay trở lại, bấu víu vào bức tường ngăn khi anh ta khom người bước qua cánh cửa để vào khoang chính. Khi ngồi phịch xuống chiếc ghế đối diện tôi, anh ta trừng trừng nhìn tôi cứ như thể mọi chuyện đều là lỗi của tôi vậy. "Biết gì không." Anh ta lại lớn tiếng gào lên. "Tôi bắt đầu nghĩ hay là chúng ta tìm một khoảng trống nào đó rồi ngồi đợi qua cái thứ thời tiết khốn kiếp này cho đến sáng nhỉ." Anh ta chồm người nhìn xuống qua những ô cửa sổ bên hông chiếc Bell lấm lem nước mưa để quan sát thảm rừng rậm rạp bên dưới. Một lúc sau, anh ta đứng dậy và lại hướng về phía buồng lái với vẻ mặt đầy lo lắng quen thuộc. Tuy nhiên, lần này gương mặt anh ta lại rạng rỡ hẳn lên khi hét vọng lại.

Biết đâu Chúa vẫn còn thương chúng ta. Tôi nghĩ chúng ta vừa cắt ngang sông Rio Tigre rồi đấy. Giờ chúng ta có thể bay hướng tây, dọc theo con sông. Sẽ sớm tới nơi thôi, nếu đúng là nó nằm ở chổ tôi nghĩ.

Tôi quay lại nhìn xuống lần nữa, lờ mờ nhận ra sợi chỉ của dòng nước qua làn mưa. Đúng rồi! May ra vẫn còn hy vọng. Thế nhưng, ngay bên dưới chúng tôi, những ngọn cây bị gió thổi bạt đi lại là một khối đặc quánh những tia sáng lấp lánh màu phấn, một biển xanh đói khát đang uốn lượn... Nhưng rồi tôi chợt thấy thứ gì đó. Này! Trông giống một khoảng trống lắm. Tôi vội tháo dây an toàn và luồn lách tiến về phía buồng lái, bám víu vào bất cứ thứ gì có thể với tới.

"Alan, nhìn kìa," tôi hét lên, tay chỉ về một phía, nhìn qua khung kính chắn gió mờ mịt nước mưa. "Tôi nghĩ chúng ta vừa bay qua một thứ gì đó. Lúc nãy ấy. Thấy không?"

"Đâu cơ?" Anh ta nheo mắt.

Vẫn còn nhận ra được mà. Tôi xoay người tiếp tục chỉ trỏ. Tôi cắn môi, cố giữ cho mình không phát điên. "Ở kìa... trông giống một bãi đất trống nào đó. Có lẽ... tôi cũng chẳng rõ nữa, nhưng nhỡ chúng ta cứ hạ cánh xuống đó rồi đợi cơn bão này qua đi thì sao?"

Anh ta ra lệnh cho Villatoro nghiêng cánh quạt quay lại kiểm tra. Chỉ vài khoảnh khắc sau, quả thật có một khoảng trống giữa các tán cây.

"Ừ, ghé xuống xem thế nào." Anh ta nói gì đó với Villatoro và chúng tôi bắt đầu lượn dần về phía đó, quả nhiên là một khoảng không gian rộng mở. Đại dương cây cối đang cuồn cuộn bên dưới dường như rẽ lối như Biển Đỏ khi chúng tôi hạ độ cao. Chắc chắn dưới đó phải có mặt đất vững chắc. Phải thế chứ.

"Cái gì thế..." Tôi đưa tay chỉ. "Kìa, sang bên kia kìa, giống một quả đồi hay thứ gì đó. Nó là—"

"Đâu cơ?" Dupre lại nheo mắt, giọng bắt đầu lạc đi. Rồi anh ta tập trung nhìn kỹ. "Ừ, hình như có cái gì ở đó thật. Dù khó mà đoán ra là thứ gì. Nhưng chắc sắp được sáng tỏ rồi đấy."

Anh ta ra hiệu cho viên trung úy, sủa ra một mệnh lệnh bằng tiếng Tây Ban Nha ngắn gọn. Trong lúc chiếc Bell tiếp tục hạ thấp qua khoảng trống, Dupre bật đèn hạ cánh và lẩm bẩm một lời cầu nguyện tạ ơn.

Tôi trân trân nhìn ra ngoài, sự khó hiểu ngày một dâng cao. Một "ngọn đồi" ở đó, đúng thế thật. Vấn đề là nó do con người tạo ra hẳn hoi, trên đỉnh còn có một tòa nhà bằng đá. Tôi lờ mờ nhận ra dưới ánh đèn rực chói.

"Anh nghĩ đó là cái gì?"

"Tôi nghĩ gì á?" Dupre đăm đăm quan sát cảnh tượng thêm một lát, rồi khuôn mặt anh ta giãn ra thành nụ cười đầu tiên kể từ lúc chúng tôi cất cánh. "Tôi nghĩ chúng ta may mắn đến mức khó tin đấy. Chúa phù hộ chúng ta, hình như chúng ta tìm thấy nó rồi. Kia rất có thể là cái kim khốn kiếp hay bất cứ thứ gì mọc ở cái xó xỉnh này." Anh ta ngả người ra sau. "Được rồi, xin chúc mừng nhé. Nhìn cái thứ chết tiệt kìa. Hoặc đây chính là nơi chúng ta tìm kiếm, hoặc chúng ta sắp trở thành những nhà khảo cổ học của năm đến nơi rồi. Lên trang bìa tạp chí Time ấy chứ. Cả giải Nobel khốn kiếp nữa."

Lúc đó suýt chút nữa tôi đã muốn ôm chầm lấy Alan Dupre, nhưng mà thôi. Thay vào đó, tôi bước hẳn vào trong buồng lái, cố rướn người nhìn qua tấm kính chắn gió. Lúc bấy giờ chúng tôi đã hạ xuống sâu qua khoảng trống giữa các tán cây, các tay điều khiển của trực thăng đang oằn mình chống lại những cơn gió táp mưa sa, khiến tôi có cảm giác như mình đang lặn sâu xuống đáy đại dương trong một quả chuông lặn, xung quanh bị vây bọc bởi những cành cây quằn quại đập roi đét.

Tuy nhiên, lúc này tôi đang trân trân nhìn vào hình bóng ma quái của ngọn kim tự tháp nhô lên từ màn mưa.

"Trông nó mới tinh ấy chứ."

“Ờ, cả cái vùng này là ‘Disneyland trong rừng rậm’ mà, nhớ không? Chỉ có điều vụ này không dính dáng gì đến chuột Mickey đâu, tin tôi đi. Xung quanh đây khối lính túc trực đấy.”

Trung úy Villatoro đưa chúng tôi hạ thấp hơn nữa, nhẹ nhàng điều khiển chiếc trực thăng sà xuống, và giờ chúng tôi chỉ còn cách mặt đất vài bước chân. Dù mưa gió mịt mù, chẳng thể nào nhầm lẫn được những thứ xung quanh chúng ta. Ngọn kim tự tháp sừng sững ở một bên quảng trường lớn, một khoảng sân lát đá rộng thênh thang gần như bị che khuất khỏi bầu trời bởi những tán cây đan xen uốn lượn che kín tầm nhìn từ trên không.

"Được rồi, chúng ta sắp chạm đất rồi đây." Dupre đang thò tay vào túi, thèm thuồng một điếu thuốc. "Thế nên nếu anh vẫn muốn ra ngoài, thì dịch ra phía cửa đi. Tôi sẽ ngắt động cơ chính ngay khi hạ cánh."

Khi chúng tôi hạ độ cao, cánh quạt bắt đầu tạo ra hiệu ứng mặt đất, hất tung những giọt nước văng khỏi các phiến đá lát đang lấp lánh dưới chùm ánh sáng lạnh ngắt từ đèn pha. Và sừng sững ngay trước mặt, lệch về bên phải, là một ngọn kim tự tháp bậc thang mang phong cách Maya cổ điển. Tất cả chúng tôi chìm vào im lặng khi phần càng đáp của chiếc Bell đập bộp xuống những phiến đá. Viên cựu phi công quân đội Villatoro cứ liếc nhìn về phía ngọn kim tự tháp như thể hắn chẳng muốn thừa nhận mình đang nhìn thấy nó. Phải chăng hắn biết điều gì mà Alan và tôi không biết?

Đây chính là khoảnh khắc tôi đã chuẩn bị tinh thần đón nhận. Tôi ngày càng tin chắc rằng có ai đó muốn tôi phải tận mắt nhìn thấy nơi này, dù nó là cái quái gì đi nữa, nhưng giờ tôi nên làm gì tiếp theo đây?

Thì việc đầu tiên là phải thử nhúng chân xuống nước, trinh sát nhanh trên mặt đất cái đã. Nếu đây thực sự là Baalum, công viên Disneyland Maya của Dupre, thì nó có thể đồng thời là một phần phòng khám "phép màu" của Alex Goddard, cái địa điểm mà Sarah gọi là Ninos del Mundo? Nếu tôi biết chắc điều đó, tôi mới có thể bắt đầu tìm cách xác định xem cô ấy có ở đây không—như tôi vẫn nghi ngờ—và đưa cô ấy thoát khỏi nanh vuốt của hắn ta. Biết đâu cái đại sứ quán chuyên "nhắm mắt làm ngơ" kia lại nổi hứng giúp đỡ một công dân Mỹ được một lần thì sao.

"Tôi xuống đây để ngó nghiêng một chút, nhưng đợi đến khi anh tắt máy đã nhé. Tôi muốn dùng được đôi tai của mình."

"Được thôi, nhưng đừng có lê thê cả ngày đấy. Kiểu thời tiết này, tôi muốn giữ cho máy ấm." Anh ta quay sang Villatoro và lớn tiếng ra lệnh. Giữa lúc mưa như trút nước thế này, tôi đoán chẳng ai có thể nghe thấy tiếng chúng tôi đáp xuống cả. Ít ra đó cũng là một tín hiệu tích cực.

Khi vòng tua máy của động cơ đã lịm dần, tôi bấm mở cánh cửa rộng của chiếc Bell, trượt nó ra và đưa mắt nhìn quanh. Dưới ánh đèn pha, tôi nhận ra ngay những viên đá này rất cổ xưa, sờn cũ và mòn vợi, nhưng lớp vữa trám giữa chúng lại trắng tinh và mới coong. Quảng trường chẳng một bóng rêu phong, sạch sẽ hệt như ngày vừa mới hoàn thành—mà trông có vẻ như chuyện đó chưa xảy ra cách đây quá lâu. Ngay phía trên tôi, ngọn kim tự tháp với những tầng giật cấp liên tục bằng những phiến đá lấp lánh, sừng sững vươn lên giữa đường chân trời mờ ảo của hàng cây.

Tôi bước chân xuống mặt đường lát đá, nín thở. Quảng trường rộng suýt soát một sân bóng đá, gợi cho tôi nhớ đến một quảng trường kiểu Ý. Xung quanh tôi, mưa đã ngớt đi đôi chút, và khi mắt tôi đã quen dần... lạy Chúa. Ở đây không chỉ có một ngọn kim tự tháp; qua những giọt nước mưa lấp lánh ở rìa ánh đèn trực thăng, tôi có thể nhìn thấy thứ trông giống như một lối đi lát đá cuội rộng lớn đâm thẳng vào khu rừng rậm ngay sát rìa quảng trường, có lẽ hướng về phía nam, tách biệt khỏi con sông, nối liền quảng trường với những cụm nhà mái tranh nhỏ xíu ở đằng xa...

Liệu phòng khám "phép màu" của Alex Goddard có nằm trong một nhúm lều tranh nguyên thủy nào đó không nhỉ? Thật vô lý hết chỗ nói.

Nhưng tôi quyết định sẽ đến gần hơn để quan sát. Tôi vừa bước ra khỏi chiếc trực thăng khoảng ba mươi feet, sải bước trên nền đá trơn trượt, thì thấy một tia chớp lóe lên ở hướng đông nam, tiếp theo là một tiếng sấm rền vang vọng khắp quảng trường.

Ít nhất thì tôi nghĩ đó là tiếng sấm. Hoặc có lẽ quân đội đang tập trận pháo binh hạng nặng đâu đó gần đấy. Ngay lập tức, những giọt mưa lại biến thành một trận cuồng phong dữ dội, và điều tiếp theo tôi nghe thấy là tiếng động cơ trực thăng gầm rú khởi động trở lại. Rồi tôi cảm nhận được cánh quạt chính bắt đầu quay, những tiếng "vù, vù, vù" đột ngột tăng dần tần suất.

Này! Tôi đã bảo hắn là không được—!

Khi tôi quay lại nhìn cánh cửa mở toang của chiếc Bell, Dupre đang đứng ở đó, cuống cuồng lục lọi trong bóng tối rồi quăng chiếc ba lô màu nâu của tôi cùng thứ trông giống như một chiếc túi ngủ cuộn tròn ra ngoài, cả hai rơi tõm xuống khoảng sân ướt sũng nước mưa.

Cái gì thế này! Khoảnh khắc đó tôi cứ ngỡ tiếng sấm sét, hay thứ âm thanh nào đó tương tự, đã làm hắn ta hoảng loạn hoàn toàn. Rồi sự thật phũ phàng mới giáng xuống đầu tôi với một sức mạnh kinh hoàng.

"Alan, đợi đã!"

Tôi lao đầu chạy ngược trở lại, nhưng lúc này cánh quạt chính đã tạo ra một luồng gió hạ áp cực mạnh, hất tung nước mưa quật thẳng vào người tôi như một trận cuồng phong gió mùa. Khi tôi vừa văng mình vượt qua màn nước bắn tung tóe ấy, cánh quạt đã đạt công suất tối đa và Alan Dupre cùng chiếc Bell của hắn ta đã cất cánh bay lên. Tôi với tay rướn người, vừa khít quẹt trúng một bên càng đáp đẫm dầu mỡ khi hắn xoay vòng vút thẳng lên bầu trời đêm mưa gió.

"Đồ khốn!" Tôi gào lên, nhưng câu lẩm bẩm từ biệt cuối cùng đã chìm nghỉm trong tiếng réo gào của động cơ. Chúa ơi, tôi thầm nghĩ khi nhìn hắn khuất dạng, tôi vừa bị bỏ rơi giữa vùng rừng mưa Trung Mỹ cách đây hàng trăm dặm.

Rồi mọi chuyện mới vỡ lẽ. Kẻ nào đứng sau sai khiến hắn đang chơi một ván bài lật ngửa đầy hiểm độc. Chúng không chỉ muốn tôi tận mắt thấy Baalum, mà muốn tôi phải bị tống đến tận đây. Có lẽ là để giam lỏng tôi ở cùng một chỗ với Sarah. Đại tá Ramos, hay bất kẻ kẻ nào đã dọa cho Dupre sợ mất mật để hắn đưa tôi đến đây, từ đầu đã muốn tóm gọn cả hai chúng tôi rồi. Vậy giờ phải tính sao đây? Cả hai chúng tôi sắp bị "biến mất" luôn hay sao? Đưa mắt nhìn quanh ngọn kim tự tháp và quảng trường trống trải, tôi cảm nhận rõ lồng ngực mình đang đập thình thịch.

Rồi tôi vấp phải chiếc túi ngủ cuộn tròn và khuỵu gối ngã sụp xuống ngay giữa quảng trường lộng gió mưa tạt, ướt sũng từ đầu đến chân và tức đến mức run lẩy bẩy. Phía trên cao kia, Alan Dupre, kẻ hai mặt đốn mạt, đã tắt vụt đèn hạ cánh, và chỉ vài khoảnh khắc sau, tiếng vo ve của chiếc Bell đã bị nuốt chửng bởi những âm thanh ban đêm của khu rừng—tiếng dế réo vang chói tai, tiếng kêu lảnh lót của loài chim đêm, tiếng kêu ồm oàm trầm đục của lũ ếch nhái đang hân hoan chào mừng cơn bão.

Và còn thứ gì khác nữa, một cảm giác kỳ lạ đến rợn người mang hơi hướng phi tự nhiên. Tôi chẳng tài nào giải thích nổi. Ngay cả tiếng hót ban đêm của loài chim cũng mang đầy điềm gở, như thể khu rừng nguyên thủy đang đòi lại uy quyền của nó. Thật ám ảnh, tựa như thiên nhiên đang chế giễu hoàn cảnh khốn cùng của tôi. Tôi đấm thùm thụp vào chiếc túi ngủ và tự thầm rủa... chết tiệt, sao mình lại để nông nỗi này xảy ra cơ chứ?

Bình tĩnh lại xem nào. Cuối cùng tôi cũng đứng dậy và đảo mắt nhìn quanh. Có lẽ khi Chúa muốn ban ơn cho anh một cách trọn vẹn, Ngài sẽ cho anh đúng thứ anh cầu xin. Anh đã lợi dụng Alan Dupre y như dự tính ban đầu: Hắn đã đưa anh đến đây. Nhưng trò chơi của kẻ đang giật dây con rối này chắc chắn còn thâm hiểm hơn thế. Cho nên việc cần làm lúc này là đừng để bản thân bị dắt mũi thêm phút nào nữa. Đứng dậy khỏi cái mông ẩm ướt này và bắt đầu giành lại quyền kiểm soát tình hình đi...

Đúng lúc đó, tôi thoáng nhìn thấy một bóng hình màu trắng ở phía nam, nơi rìa khu rừng của quảng trường. Cái gì thế kia! Tôi cúi rạp người xuống, đinh ninh rằng có kẻ đang mai phục ở đó, chực chờ lao ra đập chết tươi tôi giống như chúng từng làm với Sarah. Lẽ nào Ramos định ám sát tôi ngay lập tức sao?

Nhưng trốn đi đâu được nữa. Nếu tôi nhìn thấy họ, chắc chắn họ cũng thấy tôi. Mà dù sao thì tôi còn trốn đi đâu được chứ?

Tôi lục tìm chiếc đèn pin nhựa màu vàng trong ba lô rồi run rẩy bật sáng. Tuy nhiên, luồng sáng vừa lóe lên đã bị màn mưa nuốt trọn. Thôi được rồi. Tôi siết chặt quai ba lô, hít một hơi thật sâu, vác cuộn túi ngủ lên vai và bước qua khoảng sân trơn trượt tiến về phía bóng trắng đang lấp lánh sau từng đợt chớp lóe từ xa.

Đối đầu trực diện luôn xem sao. Cứ thử đánh lừa chúng xem nào.

Tuy nhiên, khi đến gần hơn, tôi mới nhận ra thứ mình vừa nhìn thấy thực chất chỉ là một bộ da báo đốm đã được tẩy trắng phau, phần đầu vẫn giữ nguyên, nhe nanh giương vuốt đầy vẻ đáng sợ được treo lủng lẳng bên cạnh lối đi lát đá. Ơn Chúa.

Nhưng rồi, khi rọi đèn pin lên đó, tôi thầm nghĩ, Điềm gở đây rồi. Cuộc chạm trán đầu tiên của tôi ở Baalum lại là với một cái xác con mãnh thú kỳ quái. Cảm giác lạnh sống lưng như báo hiệu một điềm báo... tôi chẳng dám chắc là điềm gì.

Tôi đứng đăm đăm nhìn nó thêm một lát dưới ánh đèn pin, người run lẩy bẩy, rồi quay đầu rảo bước băng qua quảng trường hướng về ngọn kim tự tháp giờ chỉ còn lờ mờ ẩn hiện trong mưa. Nếu quanh đây có báo đốm, hay bất cứ thứ quái quỷ gì khác, tôi nghĩ trèo lên đỉnh cao nhất vẫn an toàn chán.

Khi đến chân tháp và rọi đèn ngược lên những bậc thang, tôi nhận ra chúng dốc hơn tôi tưởng, nhưng trông có vẻ là sản phẩm của một cuộc trùng tu tỉ mỉ và hoàn toàn mới tinh, chắc là leo lên được. Và ngay trên đỉnh là một ngôi nhà bằng đá, nguyên vẹn cả thứ trông như phần mái che. Tốt quá rồi. Nếu xung quanh mà chẳng có nổi thứ gì cao hơn thế này chắc tôi đã tống cổ trèo lên cây mất thôi.

Trên đường leo lên, tôi bắt đầu cố ngẫm nghĩ xem nơi thực sự này là cái quái gì. Ngọn kim tự tháp này là "đồ giả"... hay thật thế? Trăm năm trước, nhà khảo cổ học người Anh eccentric Sir Arthur Evans từng ngẫu hứng "tái thiết" Cung điện Minos ở đảo Crete bằng tiền túi của chính ông, và cho đến nay nó vẫn là điểm nhấn thu hút khách du lịch. Vậy hà cớ gì mà người ta lại không thể làm điều tương tự với một ngọn kim tự tháp Maya được phục dựng ở Trung Mỹ cơ chứ? Dù vậy, nơi này vẫn có gì đó khác biệt, mang đậm nỗi ám ảnh cuồng loạn của một kẻ nào đó.

Khi đặt chân lên đến đỉnh, tôi nhận ra tòa nhà ngự trị trên đỉnh ngọn kim tự tháp cũng là một công trình được "trùng tu" hệt như mọi thứ khác, bao gồm cả khung xà bằng gỗ được chạm trổ phía trên cửa ra vào trông như vừa mới được sơn múc bóng loáng. Thật kỳ quái.

Tôi bước qua cánh cửa và trút bỏ ba lô gánh nặng, sau đó lôi bình nước vốn đã vơi đi một nửa ra uống ực một hơi. Cuối cùng, tôi trải chiếc túi ngủ của Alan Dupre lên sàn đá (đã khô ráo), cởi bộ đồ ướt sũng ra phơi bày tứ phía, tiện thể tè luôn một bãi sát mép tường, rồi lôi một bộ đồ lót, quần jean và áo sơ mi mới tinh từ trong ba lô ra mặc vào, phập phồng bò vào trong túi ngủ. Người tôi đang run bắn lên—không biết là vì trận mưa ướt át hay vì sợ hãi—và hàm răng cứ đánh vào nhau lập cập. Liệu tôi đã trốn kỹ để được an toàn chưa nhỉ? Tôi chịu. Tất cả những gì tôi biết lúc này là mình đang vướng vào một vụ rắc rối sâu hơn bất cứ thứ gì trong đời, và tôi hoàn toàn mù tịt không biết phải thoát thân kiểu gì. Trong lòng vừa sợ chết khiếp vừa tức điên người.

Tuy nhiên, tôi chắc chắn Sarah đang ở đây. Tựa như giác quan thứ sáu, tôi có thể cảm nhận được sự hiện diện của cô ấy đâu đó ngoài kia trong màn mưa. Khoảng khắc đó tôi chỉ muốn lao mình vào cơn bão để tìm kiếm cô ấy, nhưng chỉ một tích tắc suy nghĩ đã mách bảo rằng đó là điều ngu ngốc nhất mình có thể làm. Thay vào đó, tôi nên cố chợp mắt nghỉ ngơi một chút cho đến ngớt bão, đồng thời thỉnh thoảng canh chừng quảng trường phòng hờ có kẻ xuất hiện. Rồi ngay khi trời hửng sáng, tôi sẽ lập tức xuất phát để đi tìm cô ấy.

Hình như chẳng bao giờ mọi chuyện diễn ra theo đúng kế hoạch cả. Tâm trí tôi cứ quay cuồng và dây thần kinh thì căng như dây đàn, nhưng sự mệt mỏi sau chuyến đi long trời lở đất trên chiếc trực thăng Bell khiến tôi chẳng thể tỉnh táo nổi lâu hơn. Mặc kệ sự đời, cuối cùng tôi cũng chìm dần vào một giấc ngủ mờ mịt không mộng mị, nạn nhân của bản giao hưởng ru ngủ từ tiếng gió thổi qua những tán cây Cebia khổng lồ và tiếng mưa rừng gõ nhịp đều đặn trên mái nhà.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Thomas Hoover

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.