Đứa Trẻ Cát

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 14 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Nhà Thơ Mù
17

❊ ❊ ❊

NHÀ THƠ MÙ

“Điều bí mật là thiêng liêng, nhưng đôi khi không kém phần buồn cười.” Người đàn ông nói câu này là một người mù. Rõ ràng ông ấy không cầm gậy mà đang đặt tay lên vai một đứa bé. Áo quần màu tối, cao, mảnh mai, ông bước lại ngồi vào bàn của hai người đàn ông đang suy ngẫm về câu chuyện của Fatouma. Không ai mời ông cả. Ông già mù xin lỗi, đưa tay sửa lại cặp kính đen, móc túi cho đứa trẻ một đồng xu bảo cậu ra chỗ khác chơi, rồi quay lại phía người đàn bà, cất tiếng nói:

- Ðúng thế! Điều bí mật là thiêng liêng, nhưng một khi nó trở thành khôi hài, thì tốt nhất là nên xả hết ra đi... Rồi thì chắc bà sẽ hỏi tôi là ai, ai đã phái tôi tới đây và tại sao tôi lại xỉa vào câu chuyện của bà như vậy... Bà có lí. Tôi sẽ giải thích cho bà... Không... Hãy biết rằng đơn giản là tôi đã trải qua một cuộc đời sống trong giả tạo hoặc làm phai nhạt những câu chuyện của những người khác... Chuyện tôi từ đâu đến thì có hệ trọng gì đâu và tôi không thể nói với bà về những bước đi đầu tiên của tôi có in dấu trên lớp bùn của bờ đông hay là bờ tây của dòng sông hay không. Tôi thích bịa ra những kỉ niệm. Điều này phụ thuộc vào thái độ của người đối thoại với tôi. Đúng vậy, có những bộ mặt mà trong đó chỉ có một linh hồn ẩn hiện và lại có những bộ mặt khác chỉ xuất hiện dưới hình dạng một chiếc mặt nạ bằng da người nhăn nheo, phía sau chả có gì cả. Tôi thừa nhận rằng, từ ngày bị mù, tôi chỉ còn biết trông chờ vào linh cảm của mình mà thôi… Tôi đi du lịch rất nhiều. Trước đây tôi chỉ hay quan sát, nhìn ngó, dò xét và ghi chép vào trong đầu. Còn bây giờ, tôi lại làm những chuyến đi như vậy. Tôi dỏng tai lên lắng nghe và biết được rất nhiều chuyện. Thật thú vị khi đôi tai làm việc nhiều và có hiệu quả. Tôi có cảm giác rằng chúng cung cấp cho chúng ta nhiều nhất và tốt nhất về trạng thái của vạn vật. Tôi đã từng đụng chạm tới những bộ mặt và phát hiện được những dấu vết của tâm hồn từ trong những bộ mặt ấy. Tôi thường gặp gỡ rất nhiều nhà thơ và người kể chuyện. Tôi gom góp những quyển vở của họ, sắp xếp lại, gìn giữ chúng cẩn thận. Tôi còn kê cả một chiếc giường ngay tại nơi làm việc. Tôi là một người lính gác làm việc cả ngày lẫn đêm. Tôi nằm ngủ, đầu gối lên những tác phẩm đó tuy thế, tôi lại là một người bạn luôn phải cảnh giác với chúng, vừa là kẻ tâm tình và cũng là kẻ sẵn sàng phản bội lại chúng.

Tôi từ xa đến đây, từ một thế kỉ xa xăm khác về đây, đổ một câu chuyện khác vào câu chuyện này và vào câu chuyện của bà, bởi đó không phải là một bản dịch của sự thật làm cho tôi quan tâm. Tôi đã ghi chép lại như nó vốn có, giả tạo và đau đớn. Ngày tôi còn trẻ, tôi đã xấu hổ khi làm một người chỉ biết yêu những cuốn vở mà lẽ ra phải là một con người hành động. Cho nên, tôi đã cùng với đứa em gái bịa ra chuyện tôi thường xuyên đánh nhau với lũ ma quái, và thế là, tôi dễ dàng bịa ra, kể hết chuyện này sang chuyện khác mà không bao giờ mảy may lo lắng về sự xác thực của nó. Cho nên, ngày hôm nay, tôi như một thứ đồ vật được đặt vào trong câu chuyện của bà mà tôi không hay biết gì cả. Tôi bị trục xuất - từ này có thể hơi quá - ra khỏi một câu chuyện, rồi như có ai đó thì thầm vào tai tôi làm như tôi là một kẻ đang hấp hối cần được nghe những lời thơ mộng, an ủi giúp cho sự ra đi được dễ dàng và thanh thản hơn. Khi đọc một câu chuyện là tôi hòa mình trong câu chuyện đó. Ðó là khuyết điểm của tôi. Tôi đã nói với bà lúc nãy rằng tôi là một kẻ ngụy trá, tôi là người viết tiểu sử về sự nhầm lẫn và về sự giả dối. Tôi không biết bàn tay nào đã đưa đẩy tôi đến với bà. Tôi tin rằng đó là bàn tay của người kể chuyện của bà, ông ta chắc chắn là một kẻ buôn lậu, một kẻ buôn bán chủ nghĩa. Ðể giúp bà, tôi sẽ nói cho bà biết tôi từ đâu tới, tôi sẽ trả lại cho bà đoạn văn cuối cùng của câu chuyện mà tôi đã chứng kiến, để từ đó, chúng ta sẽ có thể giải đáp được những ẩn ngữ đã kết nối bà:

“Vào một buổi sáng hừng đông không một cánh chim, người phù thủy như thấy trên mấy bức tường một đám cháy đồng tâm đang loang ra. Ông ta thoáng nghĩ là phải nhảy vào trong thùng nước, nhưng bỗng hiểu ra rằng cái chết đang đến sẽ tôn vinh tuổi già và xí xóa tội mọi tội lỗi mà ông ta đã phạm phải khi hành nghề. Thế là ông ta bước đi trên vầng lửa. Ngọn lửa không đốt cháy da thịt ông mà nó như ve vuốt và trùm kín người ông nhưng không thấy tỏa ra hơi nóng và không có khả năng thiêu cháy. Giũa những tình cảm an ủi, nhục nhã và cả khiếp sợ, ông ta hiểu ra rằng ông ta cũng chỉ là một hiện tượng bề ngoài, rằng một người khác đang mơ về nó.”

Con người khác đó chính là tôi, người đã đi qua một đất nước trên một cây cầu nối liền hai giấc mơ. Đó là một đất nước, một dòng sông hay là một sa mạc? Làm sao tôi có thể biết được? Trong cái ngày tháng Tư năm 1957 ấy, chúng tôi ở Marrakech, trong một tiệm cà phê có căn phòng trong cùng được dùng làm kho chứa những túi ô liu tươi. Chúng tôi ở gần một nhà ga đường bộ cho nên mùi xăng bốc lên sặc sụa. Người ăn mày đủ mọi lứa tuổi vây quanh chúng tôi. Tôi cảm thấy ngày hôm nay còn chua chát hơn cả ngày hôm qua. Lời thông báo đến giờ hành lễ phát ra từ một nhà thờ cách đó khoảng năm chục mét về phía bên phải đã không làm cho họ nhúc nhích. Tại sao họ lại phải vội vã lao về phía nhà thờ để làm gì kia chứ? Tôi hiểu họ nhưng tôi không có gì cho họ cả.

Trong suốt một thời gian dài, tôi hối hận là chỉ đi du lịch đến những nước nghèo. Kết cục là tôi đã nhàm chán và không còn cảm giác gì nữa. Chúng tôi ở Marrakech, giữa trung tâm Buenos Aires mà những đường phố ở đây, tôi đã kể một lần rồi, “như tình cảm của tâm hồn tôi vậy”, những con phố đó luôn nhớ về tôi.

Tôi đã đến đem theo một thông điệp. Một phụ nữ, có thể là người Ả Rập, nhưng chắc chắn là bà ta vẫn mang đậm nhất văn hóa Islam, một hôm đến gặp tôi do một người bạn của tôi từ lâu bặt tin phó thác nhờ cậy. Khi đó tôi chưa bị mù lòa; nhưng thị lực thì đã suy giảm đáng kể, mọi thứ đối với tôi đều lờ mờ và nhập nhằng. Cho nên, tôi không thể mô tả được gương mặt của người đàn bà đó. Nhưng tôi biết thân hình bà ấy rất mảnh mai, mặc một bộ váy dài. Và điều mà tôi vẫn nhớ rõ và gây cho tôi nhiều ấn tượng nhất, đó là giọng nói của bà ta. Tôi hiếm khi nghe thấy một giọng nói vừa trầm đục lại vừa thanh đến như vậy. Một giọng đàn ông hình như do bị mổ dây thanh quản thì phải? Mà nếu là giọng đàn bà thì chắc chắn đó là một người đã phải chịu quá nhiều đau thương trong cuộc đời? Hay là giọng nói của một người bị thiến, già trước tuổi chăng? Hình như tôi đã nghe giọng nói ấy trong một quyển sách mà tôi đã đọc. Tôi nghĩ giọng nói ấy từng hiển hiện trong một câu chuyện của Nghìn lẻ một đêm, câu chuyện về người hầu gái tên là Tawaddud. Ðể cứu chủ nhân của mình thoát khỏi một cuộc tháo chạy toán loạn, cô ta đã đề nghị ông chủ cho phép cô đến gặp vua[1] Hârun al-Rachid, và xin trả lời những câu hỏi khó nhất của các nhà thông thái - cô gái có một trí thông minh thật tuyệt vời với những hiểu biết rất rộng, và việc này tạo điều kiệu cho ông chủ của cô ta, sau cuộc gặp gỡ thành công đó, đã bán người hầu của mình cho vị vua lấy mười ngàn đi-na. Tất nhiên, cô gái đã chiến thắng rực rỡ, vượt qua cuộc thử thách. Hârun al-Rachid chấp nhận giữ Tawaddud và ông chủ của cô ở lại trong triều đình của mình và cấp cho họ rất nhiều tiền bạc.

Đó là một câu chuyện nói về sự thông thái và hàm chứa đầy kỉ niệm. Tôi rất thích câu chuyện này, bởi vì, chính tôi cũng bị trí thông minh trác tuyệt của người hầu gài làm cho mê hoặc và phát ghen lên vì sự tinh tế và tính chính xác, chặt chẽ trong câu chuyện cô ta kể. Và bây giờ, tôi gần như tin chắc rằng: người đàn bà tới thăm tôi có giọng nói giống hệt Tawaddud. Nhưng, nhiều thế kỉ đã qua rồi! Người hầu gái đó chỉ mới mười bốn tuổi, còn người đàn bà kia thì nhiều tuổi hơn. Nhưng toàn bộ điều này chỉ là một sự trùng hợp và ngẫu nhiên mà thôi. Tôi đã quên những điều bà ta nói với tôi. Sự thật thì tôi không chú ý tới những điều bà ta nói mà chỉ nghe thấy giọng nói mà thôi. Khi nhận ra là tôi không chú tới những điều bà ta nói, bà ta lục tìm trong túi lấy ra một đồng xu trao cho tôi. Cử chỉ này làm tôi bối rối. Như thể là bà ta biết rõ niềm đam mê thu thập những đồng tiền cổ của tôi. Tôi nâng niu đồng xu. Đó là một đồng năm mươi xu, một loại tiền rất hiếm đã lưu hành một thời gian ở Ai Cập vào khoảng những năm 1852. Đồng xu tôi đang cầm trong tay đã quá cũ. Tôi dùng ngón tay khôi phục lại những hình chạm khắc ở cả hai mặt của đồng xu. Ngày phát hành đồng tiền, năm 1851, là một con số Ấn Độ. Tôi không bao giờ hiểu được tại sao người Ả Rập lại chối từ không sử dụng cách viết những con số của chính họ, nó bị loại bỏ trên khắp thế giới, mà lại áp dụng loại chữ tượng hình Ấn Ðộ làm cho con số 2 lại là con số 6 lật ngược, con số 8 lại là con số 7 bị đảo chiều, số 5 là số 0 và số 0 lại là một dấu chấm tầm thường! Ở mặt phải đồng xu là một khuôn mặt đàn ông có bộ râu thưa, mái tóc dài và đôi mắt khá to. Bên mặt trái cũng có hình vẽ tương tự ngoại trừ người đàn ông đó không có râu và ngoại hình của ông ta có vẻ phụ nữ. Sau này, tôi biết rằng đồng tiền đó do người cha của hai anh em sinh đôi, một trai, một gái làm ra và vì chúng ông ta đã gửi gắm toàn bộ niềm đam mê phi thường vào các chạm khắc. Ông ta là một người có thể lực, một lãnh chúa phong kiến, một chủ đất, và là một chính khách. Trên thực tế, đồng tiền này không được phát hành chính thức. Nó được làm ra theo sở thích, và chỉ được lưu hành trong lãnh địa của ông ta mà thôi.

Năm 1929, tại Buénos Aires, chúng tôi tìm được một đồng hai mươi xu thuộc loại thông dụng có tên là Zahir. Bà có biết nghĩa của từ này không: cái bề ngoài, cái có thể nhìn thấy được. Nó trái ngược với đồng xu nói ở trên, nghĩa là cái bên trong, cái không nhìn thấy được. Phải chăng đây không phải là một thứ gì đó thật bí ẩn? Nhưng điều thú vị nhất, chính là đống xu có hai gương mặt giống nhau, nó đã hé ra một phần ẩn giấu phía sau cái bí mật đó. Khi ghi lại chuyện này vào trong cuốn sổ, tôi biết rằng Zahir là phần đáy của một cái giếng ở Tétouan[2], mà theo Zotenberg, thì hình như đó là một vân đá cẩm thạch của một trong một nghìn hai trăm cột đá của nhà thờ Cordue[3]. Đồng xu đó chỉ có ý nghĩa khi được trao cho tôi nhờ một bàn tay xa lạ. Ðó là một thứ ngôn ngữ tồn tại giữa các thành viên trong cùng một giáo phái. Nhưng tôi không thuộc về một giáo phái nào cả, vì thế cho nên không thể hiểu cử chỉ này có ý nghĩa gì.

Tôi lấy một chiếc kính lúp, cố gắng tìm kiếm một vài dấu vết đặc biệt mà có thể người ta đã khắc lên mặt đồng xu. Có một dấu chữ thập, nhưng chắc đó chỉ là một vết xước ngẫu nhiên và do thời gian bào mòn mà thôi.

Người đàn bà im lặng nhìn tôi. Tôi mời bà ta ngồi xuống một chiếc ghế bọc da cũ. Dáng người bà ấy nhỏ nhắn. Bà ta ngồi thu lu vào một góc ghế, đưa mắt nhìn khắp căn phòng chất đầy sách, chứ không để ý gì tới hai bàn tay tôi đang mân mê đồng xu. Hình như bà ta đang đếm sách để trên giá. Và tôi để ý thấy đầu bà ta cũng cử động theo ánh mắt. Một lúc sau bà ta đứng dậy thong thả đi lại quầy sách đặt tận trong góc phòng, lấy ra quyển kinh Coran mà một vị thượng thư người Cốp dưới triều vua Farouk[4] đã tặng cho tôi trong một chuyến viếng thăm tại trường đại học Al Ahar ở Ai Cập.

Tôi nhìn dáng đi có cái gì đó vừa mong manh, vừa chênh vênh, vụng về vừa duyên dáng của bà ta. Bà ta quay lại nói với tôi hình như bằng tiếng Tây Ban Nha: Ông làm gì với cuốn sách bằng chữ Ả Rập này? Tôi trả lời rằng tôi rất thích viết chữ Ả Rập. Tôi còn kể cho bà ta biết là ít nhất mỗi năm một lần, tôi hành hương về nhà thờ Cordue vì nỗi nhớ vùng quê Andaluosie[5] trù phú. Tôi cũng nói với bà ấy rằng trong số tất cả các bản dịch kinh Coran mà tôi đã đọc thì tôi thấy bản bằng tiếng Ả Rập là trong sáng nhất. Bà ta gật đầu tán thành và cất tiếng đọc thì thầm một vài đoạn kinh. Tiếng đọc như thầm thì như than vãn. Tôi cứ để mặc bà ta đắm chìm trong những lời Kinh cầu nguyện. Tôi thực sự thanh thản và hạnh phúc, rất vui sướng được làm một con người vừa dò tìm ra được điều mà bấy lâu nay anh ta hằng tìm kiếm.

Hoàn cảnh thật kì lạ! Hình như tôi đang nhập thân vào trong một quyển vở, hóa thân vào trong một trong những nhân vật đẹp như tranh tái hiện giữa câu chuyện làm cho độc giả lo lắng; có thể tôi ở trong một quyển vở nằm giữa hàng ngàn cuốn ken nhau trên giá sách của thư viện mà tôi thường đến làm việc chưa được bao lâu. Rồi một quyển sách giống như cuốn mà tôi đã thấy, là một mê cung được một âm mưu nào đó tạo ra nhằm làm cho con người nhầm lẫn. Đó là một dụng ý làm cho con người lầm lạc để rồi lại đưa họ trở về với những chiều kích chật hẹp trong những tham vọng của họ.

Một buổi chiều tháng Sáu năm 1961, tôi trong tình trạng bị giam hãm trong thư viện với một người đàn bà bí ẩn, mân mê trên tay một đồng tiền cổ chưa bao giờ được sử dụng. Hoàng hôn buông xuống, màu trời chuyển sang mà hoa cà điểm tô thêm màu vàng, trắng. Tôi có cảm giác những sắc màu đó như màu da mặt của một người được chết trong hạnh phúc. Tôi không sợ. Tôi đã biết rằng cái chết và sự ám ảnh của nó làm cho con người quý giá hơn và thống thiết hơn. Tôi đã biết đến cái chết trong những quyển sách và những giấc mơ. Tôi khép mắt lại và kia, tôi nhìn thấy, vút nhanh như một tia chớp, khuôn mặt một người đàn ông từng trải, nhuốm màu sóng gió. Trong suy nghĩ của tôi, đó chỉ có thể là ông bố của người đàn bà đang ngồi đọc kinh Coran trong nhà tôi mà thôi... Từ sự nhìn nhận này, tôi không còn là tôi nữa, tôi vừa đặt toàn bộ thân thể tôi vào một khớp răng cưa. Mục đích không phải là để làm cho tôi khó chịu, mà có lẽ tôi muốn được tự chủ thực sự trong khi thực hiện các công việc. Tôi đã hành động, và trí tưởng tượng của tôi chỉ có việc đi theo mà không cần can thiệp gì cả. Tôi tự nhủ rằng càng chơi trò học giả thơ ngây bao nhiêu, thì tôi cố công sáng tạo ra những câu chuyện với những người sống mà họ chỉ là những người đã chết, ném họ vào trong những lối mòn rẽ ra nhiều ngả hoặc là vào trong những ngôi nhà trống trơn, đầy cát bụi, và tôi càng bị giam hãm trong căn phòng này lâu bấy nhiêu với một nhân vật hay đúng ra là một ẩn ngữ, hai gương mặt của cùng một sinh linh hoàn toàn bị sa lầy vào trong một câu chuyện không có hồi kết thúc, một câu chuyện nhập nhằng và trốn chạy!

Tôi vẫn ngồi đó mân mê đồng xu. Một giọng nói nội tâm âm vang đầy chất khôi hài: “Mặt trời buổi sáng rực rỡ trên đầu mũi kiếm đồng, mũi kiếm đó đã không còn những vết máu nữa. Ông có tin điều đó không? Ông già đó đã tự vệ”

Tôi là cái ông già kia đấy, tù nhân của một nhân vật mà lẽ ra tôi có thể khuôn theo nếu tôi đã lưu lại Marốc hay Ai Cập lâu hơn một chút. Cho nên, tôi cần phải nghe lại câu nói ấy. Người đàn bà khép cuốn kinh Coran lại, đặt lên mặt bàn ngăn cách giữa hai chúng tôi. Cuốn Kinh Thánh được đặt ở giữa hai chúng tôi chắc là sẽ ngăn ngừa được những lời dối trá. Dù sao đi nữa, thì nó không ở đó một cách ngẫu nhiên. Người đàn bà chìa tay về phía tôi lấy lại đồng tiền. Bà ta xem xét, đặt đồng xu lên cuốn kinh Coran, rồi bằng một giọng lừng chừng, bà ta nói với tôi:

“Tại mỗi điểm và mỗi nơi tôi đến, tôi đều dừng lại một lúc, tôi bị vặt trụi mọi thứ hào nhoáng bề ngoài, tôi bóc dần từng mảng một toàn bộ làn da của tôi, như một củ hành, tôi tự bóc vỏ trước mặt ông cho tới khi chỉ còn lại phần tinh chất trong cùng để lộ ra lỗi lầm, sai trái và sự xấu hổ. ”

Sau một hồi im lặng kéo dài, bà ta vẫn nhìn chằm chặp lên cuốn kinh Coran, nói tiếp: “Nếu như tôi đã quyết định nói ra trong ngày hôm nay, thì đó chính là vì cuối cùng tôi đã tìm thấy ông. Chỉ có ông là người duy nhất có khả năng hiểu tại sao tôi lại ở đây trong lúc này. Tôi không phải là một trong những nhân vật của ông, mà lẽ ra tôi có thể là như vậy; nhưng không phải là với tư cách một bóng hình chứa đầy cát và từ ngữ như tôi đang hiện diện trước mặt ông đây. Từ vài năm trở lại đây, tôi chỉ là một kẻ lang thang phi lý. Tôi là một cơ thể đang trốn chạy. Thậm chí tôi còn tin rằng mình đang bị truy tìm khắp mọi nơi trong nước vì tội giết người, một cuộc chiếm đoạt căn cước, một sự lạm dụng lòng tin và là một kẻ ăn cắp của thừa kế. Cái mà tôi tìm, đó không phải là sự thật. Tôi không có khả năng nhìn nhận ra nó. Đấy cũng không phải là công lí. Nó là điều không thể... Trong cuốn kinh Thánh này nó có cái quy luật của nó; nó không bao giờ thừa nhận lí lẽ của người phụ nữ cả. Cái mà tôi tìm, đó không phải là một lời xin lỗi, bởi lẽ những ai có thể mang lại điều này cho tôi thì lại không ở đây. Tuy nhiên, tôi cần công lí, sự thật, và lời xin lỗi. Tôi đi từ nước này sang nước khác mang theo niềm khát khao được chết trong quên lãng và tái sinh ra trong tấm vải liệm của một số mệnh đã được gột rửa hết mọi nghi ngờ. Cuối cùng tôi đã được giác ngộ bởi suy nghĩ về một cái chết hạnh phúc, nó có khả năng cho phép tôi vượt qua tất cả những cái gì đè nặng lên tôi như là thứ tội đồ vĩnh cửu. Tôi học cách tách cuộc sống của tôi ra khỏi những địa điểm này và những đồ vật bị phân rã ra ngay khi người ta đụng chạm vào nó. Tôi ra đi, bị xua đuổi ra khỏi quê hương. Tôi đã tìm thấy sự lãng quên và yên bình và cuối cùng, tôi xứng đáng được một lời an ủi. Tôi đã từ biệt tất cả: ngôi nhà cũ, quyền lực mà tôi bị áp đặt để điều hành cả gia đình, những quyển sách, những lời dối trá và nỗi cô đơn mênh mông được áp đặt lên tôi. Tôi không thể giả vờ sống một cuộc đời mà nó đang làm cho tôi xấu hổ. ”

Tôi thừa nhận với các vị rằng cho tới bây giờ, tôi vẫn không hiểu bà ta đi đến đâu. Tôi kiên nhẫn và tò mò nghe bà ta nói bởi vì bà ta biết cách gợi trí tò mò của tôi. Bà ta biết cách làm nảy sinh ra trong ngôi nhà của tôi sự quan tâm để nó ghim chặt tôi lại trong chiếc ghế bành, làm cho tôi quên hết cả thời gian. Trước khi tiếp đón người đàn bà này, tôi cảm thấy mình quá rỗi rãi. Tôi cứ đi lòng vòng trong thư viện. Tôi đã lớn tuổi và phần lớn bạn bè của tôi đều đã khuất núi. Thị lực của tôi ngày một giảm sút, không thể khôi phục lại được. Thầy thuốc đã nói với tôi như vậy. Tôi chuẩn bị tinh thần để đón nhận nỗi cô đơn nặng nề này, khi ấy con người chúng ta sẽ trở thành một kẻ phụ thuộc. Cuộc viếng thăm của người đàn bà được báo trước bằng rất nhiều lá thư, và lại càng làm cho tôi quan tâm hơn khi bà ta lai được Stéphen Albert, một ông bạn già đã quá cố từ lâu của tôi nhờ cậy. Ông ta nguyên là giáo sĩ truyền giáo ở Tientsin[6]. Tôi thấy cuộc vận động này khá vui vẻ. Bà ấy không biết rằng Stéphen Albert đã chết, cũng như không biết ông ta thực sự là ai. Cho nên, tôi thường nhận được những lá thư kí tên của một trong những nhân vật của tôi. Tóm lại là tôi không bịa ra cái gì cả... Tôi đọc những cuốn sách và những cuốn từ điển bách khoa, tôi lục tìm trong những cuốn từ điển, tôi thuật lại những câu chuyến khá giống nhau vì sự thích thú của mình và cũng vì để coi thường nỗi lo lắng của thời gian mà mỗi ngày lại đào sâu thêm chiếc hố chung của chúng ta. Suốt cả cuộc đời, tôi thường xuyên phải chống chọi với quyền lực của ngôn từ - những kí hiệu của các ngôn ngữ phương Đông được viết nắn nót để nhằm thu hút người ta thêm nữa - trước sức mạnh của thế giới hiện tại và trí tưởng tượng nhìn thấy được và bị che giấu. Phải thú nhận rằng tôi rất thích thú với những cuộc phiêu lưu vào trong giấc mơ và vào trong cái không thể nhìn thấy được nhưng cái biểu hiện trong tôi thật mãnh liệt lại là một thực thể và có giới hạn.

Sau một hôi im lặng, người đàn bà chờ đợi một lời nói động viên. Tôi nói với bà ấy, như trong một cuộc chơi, rằng có cái gì đó rất khủng khiếp, một trong những câu hiếm hoi mà tôi còn nhớ rồi viết lại và năm 1941: “Ai dám dấn thân vào một cuộc đam mê quyến rũ ghê gớm thì phải nghĩ rằng mình đã thực hiện được rồi đấy, cho nên cần phải áp đặt một tương lai không thể thay đổi được như trong quá khứ”. Tôi không biết là lời nói đó lại làm cho bà ta đau khổ. Tôi đã chỉ trích bà ta vì lại tiếp tục một cuộc sống giằng dai như vậy trong con người thực thể của bà. Nhưng tôi đã nhầm. Tôi có quyền hạn gì mà lại phát biểu một câu long trọng như vậy? Tôi, tôi đã nghỉ hưu, cái chết đã thấp thoáng đâu đó rồi, tôi đã ở trước ngõ của sự mù lòa, bao phủ quanh tôi sẽ là một màn tối mênh mông đang dần dần, từng bước, từng bước tước bỏ ánh sáng ban ngày và mặt trời của tôi. Tại sao tôi lại lấy làm thích thú khi đùa cợt với số mệnh của người đàn bà này? Cần phải nói rõ một điều gì đó, không được im lặng ghẻ lạnh. Thật là thú vị, nhưng người đàn bà này đã ở bên bờ một vụ đắm tàu, nó gợi lên trong tôi một kỉ niêm từng ước ao, và đôi khi là kỉ niệm về một tình cảm xúc động còn quyết liệt hơn, mạnh mẽ hơn cả thực tế. Làm sao tôi nói với bà chuyện này được, ngày hôm nay, tôi trở lại đây trong cảnh mù lòa, cuốn kinh Coran mở rộng trên bàn và một đồng tiền cổ trong tay? Đối với tôi, sự hiện diện của bà ta trong nhà của tôi có nhiều điều nhập nhằng hơn là trong câu chuyện kể về cuộc đời của bà ta. Tôi hồ nghi bà ta vẫn con đeo mặt nạ. Vâng, sự ham muốn ấy đã đưa tôi trở về thời của ba mươi năm về trước hoặc là của ba mươi năm sau. Trong mọi trường hợp, tôi đều cảm thấy bị đẩy vào trong thời gian, và bởi lẽ tôi không muốn đánh dấu sự vận hành của thời gian bằng những cột mốc, cho nên, đôi khi tôi ở vào trong những hoan cảnh lầm lạc. Đó chính là thứ mê đạo cá nhân mà tôi thích gọi là “Ngôi nhà của nỗi Hiu Quanh Trong Trẻo”. Tôi khôi phục lại những giai đoạn của sự ham muốn mà tôi đã có với một người phụ nữ đến mượn sách tôi bày trong thư viện. Hình dáng bà ấy mảnh mai, nom hơi cao, tinh tế và duyên dáng. Bà ta nói rất ít nhưng lại đọc rất nhiều. Tôi cố đoán biết cá tính bà ta, sự nhút nhát và những ham muốn kín đáo, qua những quyển sách mà bà ta rút ra từ trên quầy sách. Tôi nhớ lại rằng bà ta đã đọc tất cả những bản dịch hiện có của cuốn Ngàn lẻ một đêm. Bà ta cũng đã đọc Shakespeare bằng nguyên bản. Tôi nghĩ rằng bà ta chuẩn bị cho một công việc có tính nghệ thuật. Tôi không biết gì về bà ta cả. Một hôm, chúng tôi ở trên cùng lối đi hẹp giữa hai quầy sách. Chúng tôi quay lưng lại nhau, mỗi người đang tìm một tác phẩm cho mình. Rồi đến một lúc, bà ta quay lại phía tôi và một sư trùng lặp kì lạ và sung sướng, hai bàn tay chúng tôi cùng đặt lên cuốn sách Don Quichotte. Tôi bí mật tìm kiếm cuốn đó cho bà ta, không phải để cho bà ấy đọc lần đầu tiên mà là muốn yêu cầu bà ta đọc lại. Hai cơ thể chúng tôi quá gần nhau, gần đến nỗi tôi cảm thấy trong tôi đang trào dâng một cơn cuồng nhiệt mà những kẻ nhút nhát có thể tự nhận biết được. Làn tóc của bà ta vương lên mặt tôi. Điều đó chỉ thoảng qua chốc lát, nhưng đủ để làm mất sự vô tư thanh thản của tôi. Bà ấy cầm cuốn sách và tôi không bao giờ gặp lại bà ta nữa. Đôi khi tôi vẫn nghĩ về bà ta và nhất là sống lại với khoảnh khắc xao động đó. Trong cuộc đời của bà chắc cũng có những mối xúc động. Và rồi từ đó, tôi đã cất công tìm kiếm khuôn mặt, hình dáng ấy, cái vẻ bề ngoài thoáng qua ấy. Bây giờ, tôi đã mất toàn bộ hi vọng tìm lại cho được người đó. Nhưng ngay cả khi điều đó thực hiện được, thì tôi vẫn luôn là một kẻ bất hạnh.

Hình bóng của người đàn bà ấy vẫn thường đến thăm tôi trong những giấc mơ và những giấc mơ ấy đã biến thành những cơn ác mộng. Cái hình bóng đó chậm rãi đi lại gần tôi, mái tóc của bà ta phất phơ bay trước gió chạm vào tôi từ mọi phía, làm cho tôi cười vui sướng, và rồi lại bỏ đi. Tôi chạy đuổi theo bà ta và cuối cùng tôi ở trong một ngôi nhà to ở miền Andalousie, ngôi nhà có những căn phòng thông nhau, rồi sau đó, lúc tôi đi ra khỏi nhà thì đúng là lúc mà những phiền nhiễu bắt đầu, bà ta dừng lại, để mặc cho tôi đi đến bên cạnh, khi tôi chuẩn bị túm được bà ấy thì tôi nhận thấy rằng đó là một con người khác, một người đàn ông giả trang hay là một người lính say. Rồi khi muốn rời bỏ cái căn nhà như một mê cung ấy, tôi lại ở trong một thung lũng, rồi lại ở trong một đầm lầy, rồi lại ở trong một cánh đồng xung quanh là những tấm gương bao bọc, và cứ như thế kéo dài mãi đến vô cùng.

Từ khi mắt tôi mù lòa, tôi toàn mơ thấy những cơn ác mộng. Tôi bị những cuốn sách của mình truy đuổi. Chính vì thế mà tôi thích gọi cơn ác mộng là “chuyện hoang đường của ban đêm” hoặc là “ngựa ô của câu chuyện” hoặc là “cái cười thô tục của ban ngày”...

Mới đây, tôi lại có một giấc mơ như vậy và tôi tin rằng tôi đang chạy sau người đàn bà của nước Marốc, bà ta đến nói chuyện với tôi. Cũng trong ngôi nhà lớn ở Cordue, và, khi tôi đi ra, tôi không ở trong vùng Andalousie, mà là ở Tétouan. Người đàn bà kéo tôi lại. Bà ta nắm tay tôi kéo nhưng tôi cưỡng lại. Tôi không muốn đi trên những đường phố Tétouan. Sau đó bà ta buông tôi ra, tôi ở lai một mình giữa quảng trường lớn có tên là “Plaza Cervantes” - bây giờ nó đã đổi tên rồi, hình như là quảng trường “Chiến Thắng”, chiến thắng ai và chiến thắng cái gì? Tôi không biết được, giấc mơ này đến với tôi rất nhiều lần. Tôi đến Tétouan vào năm 1936. Ở đó có rất nhiều người Tây Ban Nha, có rất nhiều người nhỏ bé bị những ham muốn thực dân thúc đẩy, và không ít những người thuộc tổ chức Phalangiste[7] nham hiểm. Tôi nhớ về một thành phố nhỏ bé yên bình mà một phần phong trào dân tộc Marốc khởi đầu ở đây.

Các bạn biết đấy, khi bị mù lòa thì người ta thường sống trong sự nuối tiếc và đối với tôi thì là một thứ sương mù thần tình, là phần chìm khuất trong quá khứ của tôi. Bóng tối thường trực trên đôi mắt của tôi; đó là một buổi hoàng hôn dài dặc. Nếu tôi ngợi ca bóng tối, thì chính là bởi vì đêm trường ấy đã mang lại cho tôi niềm vui khát khao khám phá và lại ve vuốt. Tôi vẫn tiếp tục đi du ngoạn. Tôi trở lại trên những bước chân của những giấc mơ - ác mộng. Tôi đi lại, để kiểm chứng, không phải là những cảnh trí, mà là những hương thơm, tiếng ồn ào, mùi vị của thành phố hay của một đất nước. Tôi viện ra mọi chuyện để được lưu lại ở những nơi khác. Tôi chưa bao giờ đi nhiều như từ ngày tôi bị mù lòa! Tôi vẫn nghĩ rằng mọi vật được nhà văn tạo ra để mà sử dụng: lạc thú cũng như nối đau đớn, kỉ niệm cũng như sự quên lãng. Có thể là tôi sẽ chấm dứt khi biết được tôi là ai. Nhưng đó là một câu chuyện khác.

Trong khi ông già với những bàn tay xoắn vào nhau trên đầu chiếc gậy cất tiếng nói, thì lần lần rất nhiều người, đủ mọi tầng lớp, tụ tập lại xung quanh ông. Quán cà phê trở thành một quảng trường hay đúng hơn là một phòng học trong một ngôi trường. Những người lắng nghe ông kể chuyện ngồi trên những chiếc ghế. Ông như là một vị giáo sư đang lên lớp trước học sinh. Người nghe thật sự say mê cuốn hút bởi gương mặt mà ở đó không toát ra một ánh mắt nào cả, mà chỉ có giọng nói rung lên cuốn hút hấp dẫn vô cùng. Mọi ngươi chăm chú nghe ngươi kể chuyện tới từ một thế kỉ khác, từ một đất nước xa xôi và gần như không ai biết đến.

Trong tiếng va chạm của những chiếc ghế và im lặng bao trùm trong quán cà phê, ông cảm nhận phía trước ông là một đám đông công chúng đã hình thành và đám đông ấy đang lắng nghe ông nói và chăm chú nhìn ông. Một lúc sau, ông dừng lại và hỏi: Các bạn đã đến cả rồi à? Tôi không còn nghe được sự náo động bằng vàng chảy trên núi nữa… Tôi đã đến đất nước này, đem theo nỗi cô đơn và trong tận cùng đêm tối, tôi tìm các bạn, nàng công chúa đã bị tuột ra khỏi câu chuyện; các bạn lắng nghe tôi nói, nếu như các bạn nhìn thấy người đàn bà kia, hãy nói với bà ta rằng người đàn ông được vầng trăng yêu mến đang ở đấy, rằng tôi là điều bí mật và là kẻ nô lệ, là tình yêu và đêm tối.

Đám cử tọa im lặng. Đột nhiên một người đàn ông đứng lên nói:

- Xin nhiệt liệt chào mừng ông đã đến nơi đây... ông hãy nói cho chúng tôi biết về người đàn bà đã trao ông đồng xu cổ... và những điều bà ta đã kể cho ông nghe đi!

Một người khác từ dưới góc phòng hỏi:

- Vâng! Người đàn bà ấy nói với ông những gì?

Ông đưa tay ra hiệu cho đám công chúng kiên nhẫn, uống một ngụm nước chè, rồi tiếp tục câu chuyện:

Người đàn bà lo lắng. Bà ta cố gắng không bộc lộ điều lo lắng đó ra, nhưng những điều này, người ta cảm thấy được cả. Có lẽ bà ta rất sợ hãi, cứ như thể đang bị một cuộc trả thù nào đó, một ý thức tồi tệ hay nói dại là cảnh sát đang truy đuổi. Tôi không biết liệu có phải bà ta đã phạm phải tội ác và muốn thú tội hay không. Tôi biết rằng bà ta đã đi theo một người nước ngoài, một người Mĩ La Tinh gốc Ả Rập. Đó là một nhà lái buôn Ai Cập hay Li Băng gì đó đến mua những tấm thảm và đồ trang sức. Bà ấy ra đi cùng với ông ta, thâm tâm nghĩ rằng có thể quên đi được quá khứ của mình. Với người đàn ông thì đó là một câu chuyện tình. Còn với người đàn ba thì đó là một cơ hội để trốn chạy. Tuy nhiên, bà ta cũng sống với nhà thương gia này một thời gian. Nhưng không có con với ông ta. Người đàn ông ấy là một kẻ bất hạnh. Bà ta vẫn bị một quá khứ ám ảnh theo đuổi và thường xuyên nói một câu đại loại: “Tôi sống để mà quên mình đi”. Người đàn ông là một nhà buôn chứ đâu phải nhà thơ. Ông ấy đã bị sắc đẹp và sự yếu đuối của bà ta làm cho choáng váng. Lúc đầu, bà ấy muốn giúp đỡ chồng mình trong công việc buôn bán, nhưng việc này lại làm cho ông chồng tự ái đôi chút. Thế rồi, suốt ngày bà ta cứ ở lì trong căn nhà lớn nằm trong khu vực phía bắc của Buenos Aires. Bà ấy đã không nói chuyện với tôi, nhưng về sau, tôi được Fernando Torres, tác giả cuốn “Mối quan hệ bất thành”, nói cho biết, là đã có rất nhiều chuyện kì lạ xảy ra trong căn nhà của người buôn Ả Rập kia.

Lần đầu tiên tôi gặp bà ấy, bà ta nói rất ít. Lần thứ hai - mười bảy ngày sau đó, bà ta nói chuyện nhiều hơn một chút, nhưng không tiết lộ một bí mật nào cả. Tôi cảm thấy bà ta như một kẻ đang bị vây dồn, bị tổn thương, ngay bên bờ một rãnh nước, phía trên cao một vách đá dựng đứng. Ba ta nói đến việc biến mất hoặc tan ra trong cát. Bà ấy nói là ngày đêm bị truy đuổi bởi những kẻ mà bà ta đã làm cho đau khổ. Rồi khi không than phiền nữa, bà ta lại thở dài, nói thêm: “Sau mọi chuyện, thậm chí tôi cũng không biết tôi là ai nữa!” Những gì tôi còn nhớ trong những lời xưng tội của bà ta, đó là ít nhất bà ta cũng có khả năng về ba điều sau đây: đã sống cuộc đời của một người khác, đã bỏ mặc một ai đó cho tới chết, nói dối và rồi trốn chạy. Đối với tôi thì điều này chưa đủ để tưởng tượng ra một câu chuyện trinh thám. Trên thực tế, thay vì một câu chuyện gì đó thì tôi lại tạo ra một điều khó hiểu. Tôi bị người đàn bà này làm cho mê mẩn. Sau khi bà ta biến mất một thời gian khá lâu, tôi bỗng cảm thấy, như là một điều khẩn thiết, mong muốn tìm kiếm bà ta, nói chuyện với bà ta và hỏi thăm bà ta một số điều. Người đàn bà ấy là người chăm chút, nuôi dưỡng cái điều bí ẩn này. Có thể bà ta là người duy nhất không nói cho tôi về khu vườn có muôn lối đi, về những tấm gương và những con hổ. Tóm lại, bà ấy là khuôn mặt cuối cùng mà tôi sẽ lưu giữ mãi mãi. Một gương mặt tròn đầy. Như các bạn đã dự đoán, tôi không bao giờ yêu thích những gương mặt dẹt cũng như những bàn tay ẩm ướt.

Vào thời đó, tôi vừa tròn năm mươi lăm tuổi. Một phần cuộc đời tôi đã trải qua như vậy. Sự mù lòa là một sự kết thúc, đồng thời đó cũng là một sự giải phóng, một nỗi cô đơn thuận tiện cho những sáng tạo, một chiếc chìa khóa và là một bài toán chưa có lời giải. Tôi đón nhận màn sương mù này với sự lạc quan. Hiển nhiên, cảnh tu mù, bất biến và bất động là thứ không thể nào chịu nổi. Tôi mang màu tang tóc. Màu đỏ vĩnh viễn biến mất nơi con người tôi. Còn màu tối, nó bị nhầm lẫn với màn đêm không hợp thời. Chỉ có màu vàng được giữ lại trong màn sương ấy. Tôi quyết định thay đổi không phải sự cảm nhận mà là những mối lo lắng, suy tư của mình. Cuộc đời của tôi chủ yếu là dành cho những cuốn sách. Tôi đã viết, đã cho xuất bản, đã hủy hoại, đã đọc và yêu quý chúng…, toàn bộ cuộc đời tôi là với những cuốn sách. Người đàn bà này do một người từ tâm phái tới, đã đến đúng lúc màn đêm bao phủ lấy tôi, cho tôi thêm hình ảnh sau cùng ấy, ban tặng cho kí ức của tôi gương mặt của bà ấy đang hoàn toàn hướng về một quá khứ mà tôi dự đoán. Tôi tự nhủ với lòng mình rằng đó không phải là một điều ngẫu nhiên, mà chắc chắn là của một tấm lòng hảo tâm vô danh: mang theo trong chuyến viễn du dưới lòng đất của tôi hình ảnh của một nhan sắc đầy cảm động. Tôi đi vào giữa đêm tối, bên cạnh là gương mặt ấy, hơn cả những cuốn sách, gương mặt ấy sẽ chiếm giữ cuộc đời tôi, cái hành lang dài dặc của buổi hoàng hôn. Hôm nay tôi muốn nói rằng tôi đã rất khổ sở bởi gương mặt kia vì những đường nét của nó thường xuyên bị biến mất trong kí ức của tôi. Phải chăng đó là hình bóng của một bóng hình, đơn giản nó chỉ là một hình ảnh minh họa, một tấm màn phủ lên một cuộc đời, hay là một ẩn dụ được tạo ra trong một giấc mơ? Tôi biết rằng ích lợi gương mặt mang lại cho tôi và cho sự thâm nhập lén lút này trong sự thân tình đã sơ mòn, đã làm hồi sinh trong tôi sự trẻ trung, lòng dũng cảm làm những chuyến viễn du nhọc công kiếm tìm cái gì đó hay một ai đó.

Trước khi ra đi kiếm tìm gương mặt đó, tôi cần phải giũ bỏ một vài điều bí mật. Tôi cảm thấy là không thể giữ chúng mãi thế này được nữa. Tôi đi đến chỗ dòng suối Maidonado chảy qua - hôm nay, dòng suối ấy đất đã lấp đầy, tôi tắm gội kì cọ bằng một hòn đá trơn, cũng là hòn đá thay thế nước của những buổi lễ tắm giặt cho những người Hồi giáo sống trong sa mạc. Trong lúc làm lễ tắm giặt, tôi nghĩ về những người bạn đã trở thành người thiên cổ và tất cả những điều mà họ đã trao gửi cho tôi trước lúc qua đời. Chỉ có điều Bí mật của người đàn bà Ả Rập này là vẫn ở đây, ngay trong lồng ngực của tôi. Đó chính là cái đã trói giữ tôi lại, và tôi không hề biết được một mẩu dù là nhỏ nhất, nó như chỉ là một câu chuyện giả trang được tạo dựng một cách khiên cưỡng. Đồng xu là một kí hiệu để dẫn dắt cuộc tìm kiếm của tôi. Trong lần đi dạo cuối cùng ở khu vườn của Al Hambra, tôi chìm ngập trong thứ mùi thơm của mặt đất tươi mát được những người làm vườn Tây Ban Nha vun xới để trồng xuống đó những khóm hồng, tôi có một thứ linh cảm quyết liệt rằng gương mặt người đàn bà kia là một linh hồn đè nặng những nỗi đau khổ day dứt, rằng tôi cần phải tiếp tục cuộc viễn du tới tận Tétouan, tận Fès và Marrakech. Cuộc viếng thăm này có cái gì đó giống như một cuộc hành hương. Tôi phải hoàn thành cuộc hành hương ấy không được ngưng lại cho tới ngày đem lại được cho linh hồn đó sự yên bình, thánh thiện và sự yên lặng mà bà ta cần có. Đó là một linh hồn bị xiềng xích. Một linh hồn đau khổ. Người đàn bà này có thể đã chết từ lâu. Nhưng mà tôi vẫn tiếp tục nghe được tiếng nói của bà ta, giọng nói không thành tiếng mà là tiếng thì thầm than vãn. Tôi sống trong nỗi đau đớn ấy và chỉ có mặt đất của đất nước này, ánh sáng của nó, mùi vị của nó và cả những nỗi căm giận của nó mới biết trả lại sự bình yên cho bà ta. Hình như bà ấy cũng muốn kể cho tôi nghe câu chuyện mà không phải giảm bớt đi những điều khiến bà ta không chịu được, nhưng bà ta lại cảm thấy thích thú hơn khi để lại cho tôi những dấu hiếu để mà tự giải mã lấy. Phép ẩn dụ đầu tiên là một chiếc nhẫn gồm 7 cái chìa khóa để mở bảy cánh cửa của thanh phố. Mỗi cánh cửa được mở ra có thể làm cho linh hồn của bà ta được thanh thản. Khi đọc cuốn tiểu thuyết Roman d’Al Mo atassim, một cuốn sách khuyết danh được tìm thấy vào thế kỷ XV dưới một phiến đá trong nhà thờ Cordue, thì tôi hiểu ra ý nghĩa của món quà tặng đầu tiên đó. Tôi tin là tôi biết một người kể chuyện vùng cực Nam đã cố vượt qua những cánh cửa này. Số mệnh hay sự bất cẩn đã cản ngăn kẻ bất hạnh ấy hoàn thanh trọn vẹn nhiệm vụ của mình.

Đồ vật thứ hai mà bà ta đưa cho tôi là một chiếc đồng hồ nhỏ không có kim, được sản xuất vào năm 1851, đúng vào năm mà đồng tiền năm mươi được làm ra ở Ai Cập, và rồi nhanh chóng không được lưu hành. Bà ta cũng trao cho tôi một tấm thảm dùng để cầu nguyện và trên tấm thảm đó là câu chuyện Đêm hôn lễ của Chosroes và Hirin nổi tiếng, một bức họa Thổ Nhĩ Kì minh họa cho một cuốn sách của Khamzech, tác phẩm của nhà thơ Nizamy. Điều này là một sự hỗn láo, xấc xược. Không bao giờ một người Hồi giáo đứng đắn lại cầu nguyện trên một bức họa khiêu dâm của thế kỉ XV như vậy cả! Tôi đã cố gắng giải mã thứ trật tự bí hiểm có quan hệ với bảy chiếc chìa khóa, với chiếc đồng hồ và đồng tiền cổ. Tôi không nghĩ là đã tìm ra con đường gỡ nút. Tuy nhiên cái sau cùng bà ta trao cho tôi không phải là một đồ vật mà là câu chuyện của một giấc mơ bắt đầu bằng một bài thơ mà bà ta cho là của nhà thơ Firdousi sống ở thế kỉ thứ X. Tôi đọc lại cho các vị nghe bài thơ như bà ấy đã sao chép lại:

Trong thân hình đóng kín kia, là một cô gái, gương mặt rực sáng hơn cả mặt trời. Toàn thân cô, màu trắng sáng như ngà, đôi má như bầu trời và thân hình như liễu rủ. Trên bờ vai ngọc ngà hai bím tóc đen huyền hai đầu giống như những chiếc vòng của sợi dây xích. Trong thân hình đóng kín kia, là một gương mặt đã lụi tàn, một vết thương, một bóng hình, và là một sự nhiệt thành, một thân hình giấu trong một thân hình khác.

Các bạn cũng có thể nhận ra, bài thơ được thay đổi một cách bịp bợm. Điều này chính là khả năng về nỗi cô quạnh tuyệt vọng của bà ta. Giấc mơ đưa chúng ta về phía những cánh cửa của sa mạc, trong bối cảnh phương Đông được các nhà văn và họa sĩ tưởng tượng ra này.

❀ ❀ ❀

[1] Calife: vua Thổ Nhĩ Kì

[2] Tétouan, hoặc Tetuan, một thành phố của Maroc, nguyên thủ phủ của vùng đất bị Tây Ban Nha chiếm đóng, nằm gần Địa Trung Hải, khoảng 140 000 dân (ND)

[3] Cordue, hoặc Córdoba, thành phố thuộc Tây Ban Nha, khoảng 215 500 dân, từ năm 785 là tên một đền thờ Hồi Giáo, sau đó bị chuyển đổi thành Nhà thờ Thiên Chúa Giáo dưới thời Charles Quint 1500 – 1558 (ND)

[4] Farouk, hoặc Fàrùq, vua Ai Cập, 1920-1965, nối ngôi từ 1936 và thoái vị năm 1952 (ND)

[5] Andalousie, hoặc Andalucía, là một vùng đất nằm phía Nam Tây Ban Nha, khoảng 5 986 000 dân. Từ năm 711 đến 1492, Andalousie bị người Ả Rập chiếm đóng và họ xây dựng nên một nền văn hóa huy hoàng ở đây (ND)

[6] Tientsin, hoặc Tien-tsin, một hải cảng lớn ở Trung Quốc.

[7] Phalangiste: những người theo chính phủ bán quân sự của Tây Ban Nha, có khuynh hướng phát xít do José Antonia de Rivera thành lập năm 1933 (ND)

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.