Sáng Thanh minh, ông giáo Cố vờ ngủ lúc vợ ông lặng lẽ ra, vào phòng ngủ. Ông phớt lờ những tiếng động nho nhỏ và cố tập trung suy nghĩ vào một buổi sáng khác, một ngày xa vời trong tuần trăng mật của họ, vợ ông trườn khỏi chiếc giường cưới và pha trà cho ông. Ông đã cố tình không nghe thấy tiếng ấm chén lách cách, nhưng lúc ông mở mắt, giả vờ ngạc nhiên vì bữa trà, bà đã mỉm cười trách yêu ông đóng kịch. Bà nói ông không biết riềm mi của ông động đậy đã phản ông ra sao, và ông đáp ông không biết, vì trước kia ông chưa giả vờ ngủ với ai bao giờ.
- Tôi ra ngoài khoảng vài giờ, - bà Cố đứng bên giường, nói với ông. - Bữa sáng của mình đây, trong phích ấy. Tôi sẽ về sớm.
Ông giáo Cố không trả lời. Ông mong bà biến đi để ông có thể trở lại với một buổi sáng khác.
- Nếu mình cần dùng bô, tôi để ở đây, sau cái ghế.
Ông giáo Cố nghĩ tới những việc ông chưa biết trong buổi sáng mới cưới, về những sự riêng tư không bao giờ muốn chia sẻ với bất cứ ai ngoài bản thân, về một người ốm yếu buộc phải bước vào tuổi già. Ông cũng nghĩ đến những bí mật về việc ngủ cùng giường với một phụ nữ và mơ đến người khác, về người vợ đang che giấu hoạt động xã hội với người chồng ốm yếu, dở chết ở bệnh viện. Những mưu mẹo ấy chắc phải diễn ra dưới từng mái nhà, nhiều người còn làm cho người khác đau đớn hơn nhiều. Người vợ đầu của ông chắc phải thường xuyên nghĩ đến nhiều người đàn ông khác trong tuần trăng mật của họ, những ý nghĩ chẳng có tí khao khát lãng mạn nào nhưng dù sao những người xa lạ vô danh cũng chiếm lĩnh tâm trí bà. Bà đã bố trí tuần trăng mật tại một nhà nghỉ đặc biệt ở bãi biển với người chồng phục vụ cho Quốc dân Đại hội như một cái vỏ bọc, có lẽ bà là người đưa tin bí mật cho Đảng cộng sản hoạt động ngầm. Bà đã giấu ông chuyện này suốt cuộc hôn nhân của họ, và chỉ lộ ra sau khi họ đã ký vào giấy tờ ly dị. Ông không hề ngờ vực tình yêu của bà, ngay cả khi bà chìa đơn ly hôn ra với ông, nhưng nay, sau ba chục năm và cái chết của con gái, ông tự hỏi có phải vì quá ngây thơ nên ông không nhìn ra sự thật. Có lẽ ngay từ ban đầu, cuộc hôn nhân đầu tiên của ông dựa trên công lao ông phục vụ chính quyền mà bà và các đồng chí của bà đấu tranh để lật đổ. Ông tạo vỏ bọc cho bà, mang về nhà những giấy tờ của chính quyền, không định để bà đọc; bà có từng coi ông là phương án rút lui phòng khi phe bà thất bại không?
Ông giáo Cố trăn trở trên giường. Bà Cố vào phòng ngủ, bà đã ăn vận chỉnh tề để dấn thân vào buổi sớm tháng Tư, cánh tay đeo băng tang đen.
- Mình có cần gì không? - Bà nói và đến giúp ông đi giày. - Tôi không nghe thấy mình nói gì.
- Tôi không nói gì, - ông nói. - Mình đang bị ảo giác.
- Mình có ổn không? Mình có cần người ngồi với mình trong lúc tôi đi vắng không?
- Ngồi với một người chết dở thì hay ho cái nỗi gì?
- Chúng ta đừng tranh cãi nữa.
- Nghe này, thưa bà, tôi không tranh cãi với bà hoặc với bất kỳ ai. Bà có việc của bà và tôi có việc của tôi. - Ông gạt tay bà ra và tập tễnh vào phòng đằng trước. Ông thấy ảnh San phóng to bằng cỡ tấm áp phích, đóng khung giấy đen và thắt băng lụa trắng để cạnh cửa. - Tôi thấy bà và các đồng chí của bà đã biến nó thành một con bù nhìn. - Ông giáo Cố nói. Vợ ông chưa kịp trả lời, ông đã lê tới cái bàn cũ kỹ trong bếp và ngồi xuống. Ông gạt hai cái cốc và đĩa thức ăn chưa động đến.
- Nó là kẻ tử vì đạo, - bà Cố nói.
- Một kẻ tử vì đạo phục vụ cho chính nghĩa cũng như một con rối phục vụ cho buổi diễn. Giá bà nhìn lại lịch sử, vì không còn ai ở đất nước này làm thế nữa, một kẻ tử vì đạo luôn luôn phụng sự cho mục tiêu lừa gạt ở phạm vi rộng lớn, đã trở thành tôn giáo hoặc một ý thức hệ. - Ông giáo Cố nói, chính ông cũng ngạc nhiên vì giọng hùng biện và kiên nhẫn của mình. Trong mấy ngày vừa qua, ông đã tiến hành cuộc đối thoại này với người vợ đầu theo nhiều cách khác nhau trong cuộc trò chuyện tưởng tượng. Bà Cố nói gì đó, nhưng ông giáo Cố không nắm bắt được lời bà. Tâm trí ông đang trôi giạt đến người đàn bà khác, người đã cố tình lừa dối ông trong suốt ba năm trời, - hay là không nhỉ, nếu như ông vẫn còn chút may mắn trong cuộc đời không may. Ông muốn viết cho bà ta bức thư, yêu cầu nói rõ sự thật.
Bà Cố mang bức chân dung ra đi, không một lời chào biệt. Ông giáo Cố ngẫm nghĩ một lúc và nhớ ra ông đang tìm cây bút. Ông thử rút hai ngăn kéo bàn, và kinh hoàng nhận ra đủ thứ linh tinh, như thể ông quên bẵng chúng đã ở đó nhiều năm nay. Sau khi lục lọi, ông đoán chắc vợ ông đã cất cái bút Parker dùng nhiều thập kỷ của ông vào nơi nào đó cho an toàn, sau khi ông đổ bệnh. Liệu bà có mong ông chết để bà đốt cây bút cùng ông không? Hay bà đã bán cho cửa hàng đồ cũ để mua mấy con gà? Nỗi sợ mới mẻ này khiến ông giáo Cố toát mồ hôi lạnh. Cây bút là quà tặng của một giáo sư đại học, hồi ông thành lập trường nam sinh đầu tiên ở một trong những tỉnh ít học vấn nhất của đất nước, đầu ngòi bút bằng vàng đã mòn và thay hai lần, nhưng thân bút - mịn màng, màu xanh sẫm và bóng láng qua nhiều năm giữ gìn cẩn thận - vẫn giữ được vẻ quý phái. Ngay cả San, trong những năm là một nhà cách mạng trẻ hăng hái nhất, lên án mọi đồ dùng của phương Tây là chủ nghĩa tư bản, cũng tảng lờ cây bút của ông giáo Cố bằng cách giả vờ không biết nơi giấu, còn vợ ông đã khâu nó vào giữa một tấm chăn.
Ông giáo Cố dựa vào bàn và đẩy người đứng dậy. Trong nhà không nhiều chỗ giấu an toàn, và ông tìm thấy cây bút trong một cái hộp gỗ ở phòng ngủ, nơi vợ ông giấu được qua thời Cách mạng Văn hóa vài món nữ trang cùng tấm ảnh chụp ba người từ khi San mới lẫm chẫm biết đi. Ông giáo Cố liếc nhìn tấm ảnh do một người bạn đến thăm chụp vào mùa xuân 1954; San nhìn chằm chằm vào máy ảnh trong lúc cha mẹ mải ngắm con. Hồi đó máy ảnh còn là thứ mới mẻ ở Nê Giang, một tốp trẻ con và vài người lớn tụ tập quan sát cái hộp màu đen treo lủng lẳng ở cổ người bạn. Ông ta đã hào phóng chụp nhiều bức ảnh gia đình ông giáo Cố và bọn trẻ đứng xem, nhưng đây là bức ảnh duy nhất người bạn gửi đến qua bưu điện. Ông giáo Cố không biết các bức khác ra sao; ông cần viết thêm một bức thư, ông nghĩ, rồi chợt nhớ ra bạn ông đã bị xử tử năm 1957 như một phần tử trí thức chống cộng sản.
Ông giáo Cố lê trở lại phòng đằng trước. Ông rút cây bút trong hộp nhung ra, cẩn thận xoay nắp và lau chỗ mực khô ở đầu ngòi bằng vàng bằng một mảnh lụa nhỏ ông vẫn để trong hộp.
Kính gửi đồng chí Thành, ông bắt đầu viết, rồi thấy mở đầu như thế thật lố bịch, đầy vẻ thù địch gay gắt, dù trong các bức thư ông gửi bà trong suốt ba chục năm qua, mỗi năm một hoặc hai lần, ông vẫn giữ đúng nghi thức này. Ông xé tờ giấy khỏi cuốn sổ và bắt đầu lại. Người một thời là bạn thân thiết nhất, đồng sự và người vợ yêu quý của tôi, ông viết, rất cố gắng. “Người một thời là bạn thân thiết nhất, đồng sự và người vợ yêu quý của tôi”, ông đọc to và cho rằng câu đó mới phù hợp với tâm tính ông.
Bà có nhớ cái ô cha tôi mượn của mẹ tôi ở một góc phố Paris đã khởi đầu cho mối tình dài suốt đời của họ không? Đó là mùa thu năm 1916, nếu bà vẫn còn nhớ. Lần đầu tiên tôi kể chuyện ấy với bà, bà đã nói thật là lãng mạn, còn tôi đang viết để bà biết rằng biểu tượng của mối tình thắm thiết ấy không còn nữa. Cái ô không sống dài hơn cái chết của con gái tôi, vì mẹ nó, người vợ hiện tại của tôi cho rằng con gái cần một cái ô trên thiên đường. Tôi tự hỏi ở nơi thiên đường đó, liệu cha mẹ tôi có tranh giành quyền sở hữu cái ô với con gái tôi không. Lúc còn sống, ông bà nội đã không gặp cháu; tôi hy vọng khi chết họ không mất nhiều thời gian bầu bạn với cháu. Bà còn nhớ không, cha mẹ tôi là những người trí thức tao nhã và thông minh ở thế hệ của họ; còn con gái tôi là sản phẩm của thời đại cách mạng hiện tại hơn là dòng máu Mãn Châu quý tộc của ông bà nội nó. Nó chết vì một chủ thuyết độc hại mà chính nó đã giúp bày đặt ra. Bất chấp nghệ thuật, triết học, bộ môn toán học yêu thích của bà và lòng trung thành của tôi vào sự khai sáng, rốt cuộc, thứ ghi dấu thời đại chúng ta là tiếng rên rỉ của xương cốt chúng ta bị đè bẹp dưới sức nặng của những từ ngữ sáo rỗng - theo tất cả những gì chúng ta đã biết, liệu chúng ta có thể tùy tiện tin rằng, thời đại này có thể kéo dài một trăm năm nữa không? Cái sự đè nén này chẳng có gì là đẹp đẽ, và than ôi, chúng ta không trốn thoát được, bây giờ và mãi mãi.
Ông giáo Cố ngừng viết và đọc lại bức thư. Nét chữ là của một ông già run rẩy, và thật hổ thẹn là ông mất hết khả năng của một nhà thư pháp. Ông gấp bức thư theo cách đặc biệt mà các cặp tình nhân trẻ gấp thư tình của bốn chục năm trước và cho vào phong bì. Đến lúc đó, ông mới nhận ra đã quên hỏi một câu. Ông đã uổng phí thời gian và không gian trong một bức thư rầu rĩ vô ích. Ông mở cuốn sổ.
Kính gửi đồng chí Thành,
Với tất cả sự chân thành, xin hãy vui lòng cho tôi biết, có phải lãnh đạo Đảng của đồng chí đã phân công đồng chí kết hôn với tôi vì sự nghiệp cộng sản của đồng chí không? Mỗi ngày tôi càng gần đến cái chết và tôi không muốn rời bỏ thế giới này như một người đàn ông bị lừa dối.
Ông giáo Cố ký tên cẩn thận và dán cùng với bức thư đầu, không hề đọc lại. Ông đút phong bì vào túi, lê qua phòng và sụp vào cái ghế bành. Viết lách làm ông kiệt sức; ông nhắm mắt và trở lại cuộc tranh luận với người vợ đầu về chủ nghĩa Marx có phải là một dạng thuốc phiện thần thánh, như Marx đã miêu tả các tôn giáo khác.
- Các công dân Nê Giang thân mến, - tiếng loa vang vang, ngắt dòng lý lẽ hùng biện của ông giáo Cố. Ông nhận ra giọng nói là của phát thanh viên ngôi sao, và tưởng người phụ nữ này đọc một cách trang trọng giả dối cho ngày lễ của các vong hồn. - Xin chào toàn thể các đồng chí. Đây là buổi phát thanh đặc biệt về các sự kiện hiện tại ở Nê Giang. Có thể các đồng chí chưa biết, một sự thay đổi lớn lao trong lịch sử đang diễn ra tại thủ đô nước ta, nơi có một bức tường kéo dài, gọi là bức tường dân chủ, là chỗ để nhân dân bày tỏ suy nghĩ của họ về việc đất nước ta sẽ đi tới đâu. Đây là thời điểm quan trọng cho đất nước chúng ta, song tin tức về bức tường dân chủ chưa đến với chúng ta. Nhiều năm nay, chúng ta đã được dạy rằng chúng ta là chủ nhân của đất nước cộng sản và của số phận riêng mình. Nhưng đây có phải là sự thật không? Cách đây chưa lâu, Cố San, người con gái của Nê Giang đã bị kết án tử hình sai. Cô không phải là một kẻ tội phạm; cô là một phụ nữ cảm nhận sâu sắc trách nhiệm với tương lai của đất nước, đã can đảm và sáng suốt lên tiếng chống lại thể chế mục nát, nhưng hành động đi trước thời đại của người nữ anh hùng này đã trở thành cái gì?
Bàn tay ông giáo Cố run bắn lúc ông gắng gượng đứng khỏi ghế. Người phụ nữ vẫn nói, nhưng ông không còn nghe thấy nữa. Ông gắng mở cuốn sổ, bàn tay ông run đến mức xé rách vài trang trước khi tìm thấy một trang còn nguyên. “Bây giờ, tôi chỉ xin bà một việc này thôi”, ông giáo Cố viết cho người vợ đầu.
Liệu tôi có thể giao phó bản thân tôi cho bà, khi không còn tin cậy người vợ chung sống với tôi ba chục năm trời được nữa? Chỉ trong nền văn hóa của chúng ta mới có thể đào xác khỏi mộ và đem phô bày vì những tham vọng chính trị của người khác. Bà có vui lòng trông nom việc hỏa táng cho tôi không? Vấn đề là, đừng để lại vết tích nào của tôi cho người vợ hiện tại, hoặc cho bất cứ ai.
- Hỡi những người bạn có lương tâm! - Người phụ nữ tiếp tục nói trên loa. - Xin hãy đến quảng trường thành phố và cất tiếng chống lại thể chế thối nát của chúng ta. Xin hãy đến gặp và ủng hộ một người mẹ anh hùng đang kéo dài mãi mãi huyền thoại về con gái của bà.
Những mụ đàn bà ngu ngốc, ông giáo Cố nói to. Ông khoác áo choàng ra ngoài bộ quần áo ở nhà và sẵn sàng ra bưu điện gửi thư.
Mảnh sân vắng lặng một cách kỳ quái lúc Đồng thức giấc trước rạng đông. Nó mở cánh cổng, hy vọng nhìn thấy con Nhĩ Nhĩ háo hức đợi ở bên ngoài, nhưng ngoài mấy người đàn ông dậy sớm đang chất những cái hộp bằng tre đựng đồ cúng lên xe đạp cho cuộc đi chơi, cái ngõ vắng hoe. Đồng hỏi họ về con Nhĩ Nhĩ, nhưng không người nào nhìn thấy con chó.
Đồng ra khỏi ngõ, và ở ngã tư của hai phố chính, nó bắt gặp cảnh tượng đầu tiên của những người đi tới quảng trường thành phố. Họ lặng lẽ, đàn ông kéo mũ sụp tận lông mày, đàn bà khăn che nửa mặt. Đồng đứng bên lề đường và quan sát những người đi qua, thỉnh thoảng mới có tốp hai người, còn phần lớn là đi một mình, người này giữ khoảng cách với người đi trước. Đồng nhận ra một bác trong đơn vị làm việc với bố nó và chào, nhưng ông ta chỉ khẽ gật đầu và đi nhanh hơn, như thể muốn xua Đồng đi. Hôm nay, các cửa hàng trên phố chính đều đóng, và chỉ có một sự kiện chung kéo dân chúng tới trung tâm thành phố. Có lẽ Nhĩ Nhĩ, một con chó thích đàn đúm, luôn hưởng ứng các sự kiện huyên náo sẽ có ở đó. Đồng đợi một khoảng trống để nhập vào đoàn người đang tuần tự tiến bước.
Bầu trời đằng Đông sáng dần, một ngày xuân nữa không gợn mây. Phố chính im lìm dù số người từ các phố ngang và ngõ hẻm đổ ra đông dần. Không ai trò chuyện, những con quạ và chim ác là kêu qua qua to hơn ngày thường trong ánh sáng nhợt nhạt. Người ta gật đầu khi nhìn thấy người quen, nhưng hầu hết tập trung vào con đường trải dài phía trước. Vài người đàn ông lảng vảng trước các cửa hàng ở cả hai bên phố chính, mặt họ bị mũ hoặc cổ áo kéo cao che kín.
- Mày vẫn đi tìm chó của mày à? - Một người vỗ vai Đồng và hỏi. Nó ngước nhìn và thấy cậu thanh niên hôm trước đang cười toe toét để lộ những cái răng vàng khè.
- Sao anh biết? - Đồng hỏi.
- Vì nếu không, nó đã ở đây với mày rồi, - Bát Thập nói. - Nghe này, tao là một thám tử, vì thế chẳng có gì lọt khỏi mắt tao.
- Anh có nhìn thấy con chó của em không?
- Trông tao có giống một người nhìn thấy mà không bảo mày không, hả? Nhưng tao khuyên mày thế này. Mày đến nhầm chỗ rồi. Chẳng ai ở đây và ở kia - Bát Thập chỉ về hướng quảng trường thành phố - quan tâm đến con chó lạc của mày đâu.
Đồng biết anh ta nói đúng. Làm sao nó có thể hỏi mọi người về một con cún trong khi họ còn bao việc quan trọng hơn phải nghĩ? Dù sao nó cũng cảm ơn Bát Thập và đến thẳng quảng trường thành phố, mong anh ta không đi theo nó.
- Tao biết mày không nghe tao, - Bát Thập gắt. Gã kéo Đồng ra khỏi đoàn người. - Mày không nên đến đấy một mình.
- Tại sao?
- Làm sao mày vào được quảng trường thành phố? Mày có vé vào không? Người ta sẽ không cho mày vào nếu không có vé.
Đồng cho là Bát Thập nói dối và quay người bỏ đi, nhưng Bát Thập chộp lấy vai nó:
- Mày không tin tao? - Gã nói và rút cái gì đó từ trong tay áo. - Nhìn này, đây là vé tao nói đấy. Mày có một cái không?
Đồng thấy một bông hoa bằng giấy trắng, giấu một nửa trong tay áo Bát Thập.
- Nhìn những người kia xem. Ai cũng có một bông hoa trắng trong tay áo hoặc dưới áo khoác. Nếu mày không có, họ sẽ không cho mày vào, vì người ta phải biết chắc mày không là do thám cho kẻ địch. Mày có nhìn thấy những người trước cửa hàng kia không? Nhìn đằng kia nữa. Tại sao họ không đến quảng trường? - Bát Thập ngừng và thưởng thức vẻ mặt dò hỏi của Đồng. - Để tao nói cho mà nghe: tao thấy trông họ như cảnh sát chìm. Làm sao mày có thể chứng minh mày không làm việc cho cảnh sát? Tất nhiên là mày có thể nói mày còn quá trẻ để làm việc đó, nhưng mày cũng quá trẻ để đến một cuộc tập hợp. Trừ khi mày đi với người lớn hơn.
Đồng suy nghĩ những lời của Bát Thập. Chúng không hẳn có ý nghĩa nhưng Đồng thấy khó mà cãi lại.
- Anh có đến đấy không? - Đồng hỏi.
- Thấy chưa, đấy mới là câu mà một cậu bé thông minh nên hỏi. Có, và không. Tao đến đấy vì một lý do khác hẳn những người kia, nhưng nếu mày muốn có người cho đi theo, thì mày tìm đúng người rồi đấy. Nhưng có một việc mày phải hứa với tao: mày phải nghe lời tao. Tao không muốn mày bị lạc hoặc bị đám đông giẫm nát.
Đúng lúc đó tiếng nữ phát thanh viên vọng ra từ các loa. Cả Đồng lẫn Bát Thập đứng lại lắng nghe. Khi cô ta nói xong, Bát Thập nói:
- Tao không muốn Đậu Ngọt là nguyên nhân của chuyện này. Vì thế lúc này chắc là chính quyền tổ chức cuộc tập hợp này. Toàn tin xấu, hử?
- Tin gì xấu?
- Không có gì. Nào, mày có muốn đi cùng tao không?
Đồng suy nghĩ và đồng ý.
- Tao đủ lớn để làm chú mày đấy, - Bát Thập nói. - Nhưng lần này tao trừ hao cho mày, mày có thể gọi tao là Đại ca.
Đồng không đáp nhưng vẫn đi cùng Bát Thập. Lúc bọn chúng tới quảng trường, Đồng nhận ra Bát Thập nói dối - ở đó chẳng có ai đòi bông hoa trắng làm bằng chứng vào cửa, cũng chẳng có xô đẩy lộn xộn gì hết. Hàng người chạy dài từ trung tâm đến góc tây nam quảng trường rồi rẽ sang phía đông cho đến góc đông nam là nơi mọi người tập hợp. Đồng đi sau người cuối cùng, nhưng Bát Thập kéo giật nó lại và thì thào rằng ở chỗ khác có nhiều thứ để xem hơn. Đồng lưỡng lự nhưng vẫn theo Bát Thập vì tò mò. Bát Thập khen Đồng khôn và nhạy cảm lúc họ đến phía đông, cạnh pho tượng Mao Chủ tịch, ở đó đỡ đông hơn. Vài vòng hoa trắng đã đặt dọc chân bệ, trước các vòng hoa là một tấm ảnh phóng to dựng vào cái giá dựng tạm bằng các cây gậy tre; trong ảnh là một thiếu nữ đầu hơi ngả về sau, nụ cười rộng mở, dường như người chụp vừa pha trò.
Bát Thập chắc lưỡi:
- Có phải mụ ta không?
- Ai kia?
- Tên phản cách mạng.
Đồng nhìn bức ảnh. Dù có cố đến mấy, nó cũng không thể liên hệ cô gái trẻ trung, tự tin, xinh đẹp kia với người phụ nữ nó đã nhìn thấy trong ngày hành quyết, mặt xám như tro, cổ quấn kín băng đầy những vết máu.
- Hê hê, mày bị hớp hồn vì bộ mặt xinh đẹp rồi hả? - Bát Thập nói với Đồng - Nhìn đằng kia kìa.
Đồng thở khó nhọc và nhón chân lên. Nhiều vòng hoa cao bằng tầm người tạo thành một vòng tròn, hàng người đi vào rồi ra qua một khe hở ở bên kia vòng tròn, cản tầm nhìn của nó.
Bát Thập nhìn một lúc lâu.
- Hay thật. Chà chà, đúng là cô ta. Ông ta cũng ở đằng kia.
Đồng không muốn nhận là nó quá thấp không trông thấy gì. Bát Thập nhìn nó và thở dài:
- Khỉ thật, tao đưa mày đến đây rồi lại phải chịu trách nhiệm giải trí cho mày nữa sao? - Gã ngồi xổm xuống và bảo Đồng nhảy lên vai gã. Đồng do dự, nhưng khi Bát Thập bảo nó đừng có õng ẹo, nó bèn trèo lên. - Giữ lấy đầu tao, - Bát Thập nói và đứng dậy. - Úi. Trông mày như cái bắp cải mà nặng như tượng Phật bằng đá. - Bát Thập phàn nàn, nhưng Đồng không trả lời, nó chăm chú nhìn vào bên trong vòng tròn.
Ở giữa, một phụ nữ cẩn thận để bông hoa trắng vào cái giỏ to, đường kính hơn hai sải tay. Cạnh giỏ hoa là một cái bàn, bên trên để một tấm vải trắng. Một người đàn ông đứng sau bàn chỉ vào tấm vải trắng và nói gì đó với người đàn bà, bà ta lắc đầu vẻ xin lỗi rồi bỏ đi, không nhìn ông ta. Đồng nhận ra người đàn ông ấy là một giáo viên trường nó.
- Mày có nhìn thấy thứ tao nhìn không? - Bát Thập nói và đến gần hàng rào kết bằng những vòng hoa. Đồng lắc lư và ôm lấy cổ Bát Thập. - Này, đừng làm tao nghẹt thở.
Đồng thả tay ra.
- Cô kia là phát thanh viên thời sự, - nó nói hơi quá to.
Khai ngước nhìn về phía tiếng cậu bé, nhưng vội quay sang người phụ nữ sắp rời vòng tròn:
- Cảm ơn đồng chí, - cô nói, - Đây là mẹ của Cố San.
- Cảm ơn bà đã ủng hộ, - bà Cố nói.
Người phụ nữ không nhận ra Khai hoặc bà Cố lúc họ chắp tay cảm ơn. Cô ta nhanh chóng rời đi, nghĩ đến chồng và hai đứa con, chắc lúc này họ đang băn khoăn vì sao cô xin nghỉ chốc lát ở nơi làm việc mà lâu đến thế; Cô đã nói dối cần chỉnh lại vành đai trong máy và chạy thử ở nhà máy chế biến thực phẩm.
Dòng người di chuyển lặng lẽ. Người nọ tiếp người kia thả bông hoa trắng vào giỏ; Một số người ký tên lên tấm vải trắng, nhưng nhiều người khác xin lỗi khi được mời. Khai chào từng người trong hàng và nói với họ về tầm quan trọng của bản kiến nghị vì sự phồn vinh của đất nước. Tiếng cô mềm mại và trong trẻo làm yên lòng người; nghĩ cho cùng, cô chẳng là phát thanh viên bản tin chính thức đó sao? Một số người sau khi nói chuyện với Khai đã đổi ý và ký vào lá đơn.
- Này, mày điếc đấy à? - Bát Thập nói với Đồng. - Tao đang hỏi mày đấy.
- Anh nói gì?
- Hàng người dài chừng nào? Tao không thể ngẩng đầu lên vì mày.
- Vẫn dài lắm.
- Mày thấy bao nhiêu người?
Đồng thử đếm.
- Sáu chục, có khi tám chục. Khó đếm quá. Họ đi rồi đến.
- Mày có nhìn thấy người nào mày biết không?
- Cô đứng cạnh giỏ hoa, - Đồng nói. - Cô ấy là phát thanh viên, anh biết không? Cô ấy vừa cười với em.
- Ai chả biết cô ta. Còn ai nữa?
- Một thầy giáo ở trường em.
- Ai nữa?
Đồng nhìn những người đang đợi và nhận ra vài bộ mặt, một thầy giáo khác trong trường, dạy lớp trên, và một người phụ bán hàng ở hiệu thuốc hay cho bọn trẻ con ô mai, anh bưu điện mỗi ngày hai lần phát thư ở khu nhà Đồng, hay huýt sáo lúc cưỡi trên cái xe đạp màu xanh, già Hoa và vợ đứng cách hàng độ một sải tay, không ngước nhìn những người xung quanh. Đồng kể cho Bát Thập những gì nó thấy, và Bát Thập bảo nó làm tốt lắm.
- Mày có thể là người học việc cừ đấy, - Bát Thập nói. Gã chào hỏi từng người đi qua, cứ như gã quen biết họ lắm, dù rất ít người chào lại. Vài người liếc nhìn Đồng nhưng phần lớn lờ cả nó và người đi cùng. Đồng nghĩ trong mắt họ, nó chỉ là một thằng nhãi đến xem một trò vui không thích hợp, nó đâm buồn vì không thể chứng tỏ mình khác hẳn. Nó tự hỏi liệu người đi cùng chỉ đến cho vui, nhưng hình như đã quá muộn để đối đầu với cậu ta.
Ba chục phút trôi qua, có lẽ còn lâu hơn; cái giỏ đã đầy ắp, được để sang một bên và thay bằng cái mới. Lúc này mặt trời đã lên, hắt bóng Mao Chủ tịch lên chỗ Đồng và Bát Thập đứng. Bát Thập ra khỏi cái bóng, vẫn công kênh Đồng trên vai. Lát sau, lúc Đồng bảo hàng người đã ngắn hơn, Bát Thập bảo Đồng tụt xuống.
- Sớm muộn gì mày cũng làm gãy lưng tao thôi, - Bát Thập nói và đưa cả hai tay lên xoa gáy.
- Anh có để bông hoa trắng của anh không? - Đồng hỏi. Chân nó tê dại và nó phải dậm dậm mạnh cho đỡ tê.
- Không, - Bát Thập nói. - Sao tao phải để?
- Em tưởng anh đến đây vì việc ấy.
- Tao đã bảo là tao đến đây vì lý do khác, - Bát Thập nói.
Thất vọng, Đồng khập khiễng tránh ra.
- Mày không muốn biết con Nhĩ Nhĩ ở đâu à?
Đồng quay lại:
- Anh đã trông thấy nó?
- Cũng lâu lâu rồi, - Bát Thập nói. - Nhưng hãy nhớ tao là một thám tử, và tao có thể tìm ra mọi thứ cho mày.
Đồng lắc đầu và nói:
- Tự em sẽ tìm ra nó.
- Mày có muốn tao cho mày vay bông hoa này không?
Đồng suy nghĩ và gật. Nó ước giá mẹ nó đừng xé bông hoa, để nó không phải xin của một người nó không ưa. Bát Thập rút bông hoa trong tay áo và đưa cho Đồng.
- Bây giờ nó là của mày, - gã nói. - Với điều kiện mày không được rời tao.
- Tại sao?
- Vì chúng ta đến đây cùng nhau, nhớ chưa? - Bát Thập nói và nháy mắt, còn Đồng miễn cưỡng đồng ý. Bát Thập đi cùng nó tới cuối hàng. Khi đến lượt Đồng, nó chào cô phát thanh viên và nói mẹ nó cử nó đến. Bát Thập chỉ cười và chẳng nói gì.
- Tất cả chúng tôi cảm ơn mẹ cháu, - cô ta nói. Bà già đứng cạnh cô cúi đầu và cảm ơn Đồng như nó là một người lớn. Nhìn gần, Đồng nhận ra bà ta là người đốt quần áo ở ngã tư trong ngày hành hình.
- Bà Cố ư? - Bát Thập nói và bắt tay bà ta. - Cháu là Lộ Bát Thập. Cháu mong lễ Thanh minh đầu tiên của con gái bà thật tuyệt. Bà biết là phải chờ đợi mùa xuân ra sao rồi. Nếu bà hỏi cháu, thì đó không phải là thời gian tốt nhất để chết. Ông bà đã chôn cất con gái chưa?
Khai vỗ vào cánh tay Bát Thập:
- Thôi thôi, chúng tôi không có thời giờ nói chuyện với cậu.
- Nhưng tôi ở đây để chuyện phiếm mà, - Bát Thập nói và túm chặt bàn tay Khai. - Tôi là Lộ Bát Thập. Này bà chị, tôi rất thích chương trình của bà chị. Chị có biết nhân dân đặt cho chị biệt hiệu gì không? Là Đậu Ngọt. Tươi tắn và ngon lành. Vâng, vâng, tôi biết, tôi đi đây. Không sao, tôi biết chị bận. Nhưng tôi ở đây không làm hại gì. Cha mẹ nó nhờ tôi đưa nó đến đây, - Bát Thập nói và chỉ Đồng. - Nó bé quá không đi một mình được.
Đồng cắn môi. Nó không muốn bị thấy đi cùng với gã này, nhưng Bát Thập đã cho nó bông hoa trắng và không nói gì khi nó nói dối mẹ nó cử đến. Đồng bối rối đợi trong lúc Bát Thập ba hoa mãi, hỏi Khai nghĩ gì về những người đến cuộc tập hợp này, cô có kế hoạch gì tiếp theo. Cô cố tỏ ra lịch sự nhưng Đồng có thể thấy cô không thích thú gì trò chuyện với Bát Thập.
- Tôi biết bà chị bận, nhưng tôi có thể nói riêng với chị vài lời không? - Bát Thập hỏi.
Khai đáp cô quá bận. Bát Thập tặc lưỡi. Tệ quá, gã nói; vậy thì gã sẽ phải nói chuyện với bà Cố về những quả thận của con gái bà thôi.
Gã nói khẽ, nhưng trông Khai hoảng hốt. Cô liếc nhìn bà Cố và ra hiệu Bát Thập bước sang một bên. Đồng đi theo họ; cả Khai lẫn Bát Thập hầu như không chú ý gì đến nó.
- Cậu nghe thấy gì về những quả thận? - Khai hỏi.
- Đây không phải chuyện bí mật, - Bát Thập nói. - Hay là có?
Đồng quan sát cô phát thanh viên cau mày:
- Cậu có thể không nói trước mặt bà Cố được không?
- Tôi sẽ làm bất cứ điều gì chị bảo, - Bát Thập nói, và hạ giọng nhỏ hơn, gã giải thích rằng còn nhiều thứ với cái xác hơn cả quả thận, gã chỉ muốn Khai biết là gã biết những việc đó. Mọi việc trong những bàn tay tử tế, Bát Thập nói, và gã bảo đảm với Khai rằng gã sẽ sớm cho cô biết gã giải quyết vụ này ra sao. Đồng thấy cô phát thanh viên không hiểu Bát Thập nói gì và cố tỏ ra kiên nhẫn. Một người đàn ông mặc áo khoác dày, nặng đến gần họ, khẩu trang bằng vải bông che gần hết mặt.
- Có chuyện gì trục trặc sao? - Anh ta hỏi, cái nhìn của anh ta sau cặp kính đầy lo lắng.
Bát Thập đáp mọi sự ổn cả. Người đàn ông nhìn Khai, cô chậm rãi lắc đầu và nín lặng. Người đó không tháo găng, bắt tay Bát Thập và cảm ơn gã đã tới, ủng hộ cuộc tập hợp. Bát Thập trả lời rằng đấu tranh chống cái ác là sự nghiệp của mọi người, và khi thấy anh ta không để gã ở lại với Khai, gã ra hiệu cho Đồng theo gã đến bàn.
- Anh không phiền nếu tôi ngó một cái chứ? - Bát Thập hỏi và nhoài tới tấm vải trắng.
Người đứng sau bàn là một thầy giáo mới ở trường Đồng - dù anh ta không nhận ra Đồng - đáp cái này không để đọc lướt được.
- Nhưng chúng ta cũng đến đây để ký mà, em nhỉ? - Bát Thập nói với Đồng. - Bố mẹ em chẳng bảo em thay mặt họ là gì? Với lại, - gã nói với người đàn ông, - thằng bé này là học sinh của anh.
Người đó quay sang Đồng:
- Em học ở Sao Đỏ?
Đồng gật đầu.
- Em chẳng năn nỉ xin anh đưa em đến và ký vào bản kiến nghị là gì? - Bát Thập nói và quay sang người đàn ông. - Tính nó nhát lắm, nhất là có thầy giáo ngồi đây.
Anh ta nhìn Đồng và nói nó quá trẻ không ký được.
- Quá trẻ? Vô lý. Cam Lạc đã trở thành người đứng đầu đất nước khi mới mười một tuổi, - Bát Thập nói. - Chẳng có việc như thế vì còn quá trẻ. Anh có nghe người ta nói rằng anh hùng sinh ra từ những người trẻ tuổi không? Đây là một anh hùng trẻ cho các vị. Vả lại, các vị cần có càng nhiều tên càng tốt đấy thôi?
Người đàn ông do dự rồi nhúng cái bút lông vào lọ mực:
- Em có chắc là hiểu bản kiến nghị này không? - Anh ta hỏi Đồng.
- Tất nhiên rồi. Tôi vừa nói nó là một anh hùng trẻ tuổi mà, - Bát Thập nói và thì thào với Đồng - Thấy chưa, cả thầy giáo và cô phát thanh của mày đều ủng hộ cuộc tập hợp này. Họ sẽ vui nếu mày ký tên lên đó. Mày có biết viết tên mày không?
Đồng lúng túng và ngán Bát Thập. Nó cầm cái bút lông và tìm chỗ để viết tên mình. Người giáo viên nói gì đó, và Bát Thập bảo nó đừng quá căng thẳng; Bát Thập nói thằng bé biết việc đang làm, chỉ như một con nhạn biết tìm ra tổ thôi mà. Đồng hít thở thận trọng và viết lên tấm vải trắng, cố từng nét thật vững vàng. Nó định viết tên mình, nhưng đến lúc cuối cùng nó đổi ý và ghi tên bố nó; rốt cuộc, nó quá trẻ và biết đâu tên nó sẽ không được tính.
Nhược Nhược khóa cửa lúc chiếc xích lô gia đình nó thuê đã khuất ở chỗ rẽ. Nó còn phải giặt giũ, cọ rửa xoong chảo, quét dọn và lau nhà, nhưng những việc này cùng với hồi ức về tiếng cười rúc rích cố nén lại của các em gái khi bố mẹ ra lệnh nó phải làm xong trước khi họ về, đã làm nó mất vui. Nó nghe bố nói với mẹ rằng trên đường lên núi, người phu xe sẽ không thể đạp nổi và ông sẽ phải đẩy giúp. Họ nên tận dụng thời gian ở trên đó cho xứng với tiền công trả cho ông xích lô, mẹ Nhược Nhược đáp. Sẽ là một ngày dài trước khi gia đình Nhược Nhược về đến nhà, và dù nó không làm xong việc thì đã sao? Ban ngày cũng là ngày lễ cho cả nó nữa chứ, một ngày đặc biệt ở với Bát Thập. Nhược Nhược bế bé Sáu bằng cánh tay lành và bảo hai chị em sẽ đi chơi thật thoải mái. Bé Sáu nhìn nó bằng cặp mắt trong trẻo và tin cậy; Lúc Nhược Nhược cù vào dưới cái cằm mềm mại của bé và hỏi đã sẵn sàng chưa, con bé cười toét, để lộ những cái răng sữa nhỏ xíu.
Mặt trời đã lên, bầu trời xanh biếc không một gợn mây, một ngày Thanh minh tuyệt đẹp. Dân chúng từ các ngõ, phố đi qua cầu bắc ngang sông, đàn bà và trẻ con đi bộ, đàn ông đẩy xe đạp chất đầy đồ cúng và các giỏ đựng đồ. Nhược Nhược đi lên phía Bắc, ngược với dòng người và thỉnh thoảng phải dừng lại để mọi người đi qua, một số người đi thẳng về phía nó không chậm bước, cứ như nó không tồn tại. Bé Sáu mút bàn tay và chỉ một ngón tay ướt vào những người đi qua. Meo, meo, nó bi bô, không ý thức lắm.
Nửa đường đến nhà Bát Thập, Nhược Nhược rẽ vào ngõ nhà ông bà Cố. Nó không mong họ thết đãi. Dù họ có năn nỉ mời nó vào nhà vài phút, nó sẽ lạnh lùng đáp lại rằng nó bận và không có thời giờ để lãng phí. Hoặc có khi nó rộng rãi hơn và trao đổi vài lời nhã nhặn với họ, nói nó có nghe tin ông giáo Cố ốm và hỏi thăm ông hiện giờ ra sao, ông có cần thức ăn đặc biệt nào ở chợ, lần sau nó sẽ mang đến. Nó tưởng tượng họ đứng trước mặt nó, không thốt nên lời, lặng người vì vẻ duyên dáng và thoải mái như một thiếu nữ của nó. Nó sẽ mỉm cười và nói nếu họ không có đề nghị gì quan trọng, nó sẽ trở lại thăm họ khi nào rảnh rỗi hơn. Họ sẽ cố mà không tìm ra lời để đáp lại, khổ sở vì thầm mong giữ nó ở gần họ thêm lúc nữa, nhưng đằng nào nó cũng ra đi như kiểu con gái đi lấy chồng giàu chào từ biệt bố mẹ nghèo, vận may của nó là điểm sáng duy nhất trong đời họ.
Ngoài mấy con chim sẻ nhảy nhót giữa đám gà mái, ngõ nhà ông bà Cố vắng lặng. Nhược Nhược gõ cánh cổng, lúc đầu còn rụt rè, sau mạnh hơn. Một lúc lâu sau, nó nghe thấy nhiều tiếng động nhỏ trong sân. Mất một lát, tim nó đập rộn, chân nó sẵn sàng bỏ chạy trước khi người ta nhìn thấy nó. Nhưng nó là gì ngoài một đứa trẻ vô dụng? Nó kiên trì gõ cánh cổng, lần này thật to.
Cổng mở. Ông giáo Cố dựa vào cây gậy, nhìn Nhược Nhược trừng trừng
- Cháu làm gì ở đây? - Ông nói. - Cháu không biết người ta có bao nhiêu việc quan trọng để làm hơn là đợi bị quấy rầy à?
Bé Sáu chỉ vào cây gậy của ông giáo Cố và cười khúc khích vì những lý do chỉ mình nó biết. Nhược Nhược nhìn ông, mất hết can đảm. Nó đã hình dung ông giáo Cố yếu ớt và buồn rầu vì đau ốm, cần được an ủi, nó không thể ngờ ông già trước mặt nó lúc này là một người xa lạ mang hình hài của ông giáo Cố, giống như mọi ông già khác đi lại trong chợ hoặc ngồi bên lề đường, chẳng thích thú gì ngoài sự cục cằn với cõi đời mà họ cho là ngược đãi họ. Nó thở khó khăn.
- Cháu nghe nói ông bị ốm, - Nhược Nhược nói, cố tìm ra cách giãi bày mới. - Cháu đến xem ông có đỡ hơn hay cần gì không.
- Cháu quan tâm làm gì? - Ông giáo Cố nói. - Đừng mong ta tiếp đãi bất cứ ai có quá nhiều thiện chí không cần thiết. - Nhược Nhược chưa kịp trả lời, ông đã đóng sập cánh cổng vào mặt nó.
Bé Sáu giật mình, bắt đầu khóc rồi nấc. Nhược Nhược nhìn cái cổng. Nó định nhổ và nguyền rủa, cái cách nó vẫn làm mỗi khi bị sỉ nhục trong đời, song nó biết những hành động ấy cũng chẳng đem lại cho nó sự đền đáp trước kia của họ. Ông giáo Cố, người trước kia nó yêu quý, ngưỡng mộ và muốn tôn làm cha, nay đã thành một người tệ hại hơn cả nó.
Bát Thập có vẻ nóng lòng khi Nhược Nhược và bé Sáu tới. Một bàn thức ăn gọi từ hiệu Tam Hỷ, nhà hàng đắt nhất trong thành phố, đợi sẵn. Gã đòi bế đứa bé, và khi bé Sáu không chịu, đập đập bàn tay, gã nhăn mặt trêu và méo mồm hát một bài về con ốc sên dọa đứa trẻ và làm nó khóc. Nhược Nhược suỵt cả hai và vào thẳng phòng ngủ. Giường Bát Thập mới dọn, chăn, nệm và vỏ gối đồng bộ, có hoa văn một đôi chim nhạn rúc vào nhau trên cây liễu mùa xuân.
- Ngày lễ dành cho người chết, - Nhược Nhược nói, nó chưa hoàn hồn sau cuộc chạm trán ông giáo Cố. - Anh tưởng là dành cho anh chắc?
Bát Thập mỉm cười bí ẩn.
- Đừng cười ngớ ngẩn thế, - Nhược Nhược nói. Nó bế đứa trẻ sang chiếc giường đã lột sạch từ sau khi bà lão chết. Nhược Nhược lấy trong túi ra sợi dây. Cái giường nhỏ hơn giường gạch ở nhà nhiều, nên nó phải gập đôi rồi lại gập đôi lần nữa sợi dây trước khi quấn quanh eo đứa bé rồi buộc vào cọc bên trong giường. Hình như Bát Thập băn khoăn, nhưng Nhược Nhược an ủi gã: bé Sáu đã quen sợi dây; nếu nó có thể tự làm nó nghẹt thở hoặc nới lỏng nút và ngã đập đầu xuống đất là chuyện lạ.
Bát Thập quan sát bé Sáu thám thính lãnh thổ mới của nó.
- Con bé kháu quá, - gã nói. Gã quỳ xuống cạnh giường để mắt gã ngang tầm mắt nó. Gã kêu chít chít và nhăn mặt làm hề nhưng bé Sáu không thích, và lúc nó lại khóc, gã đành đứng dậy chịu thua.
- Hay nó bực bội cái gì? - Gã hỏi.
- Sao phải bực? - Nhược Nhược nói. - Ngày nào nó chả như thế.
Nghe chẳng thuyết phục tí nào, Bát Thập vào bếp và kiếm gói bánh quy. Gã xếp một chồng bánh quy ở góc giường. Gã lục trong kho, tìm được đôi giầy lụa cũ của bà nội gã, to hơn bàn tay đứa trẻ. Đôi giầy hấp dẫn hơn bánh quy, bé Sáu vồ ngay lấy và gặm những bông hoa thêu.
Nhược Nhược đứng nhìn Bát Thập cố làm cho con bé thoải mái. Đôi khi gã tốt bụng đến lạ lùng, chịu mất thì giờ cho một đứa bé, nó nghĩ. Nó vào phòng khách và ngồi chìm vào chiếc ghế bành to, nệm rất dày. Sự ân cần của Bát Thập khiến nó cảm thấy mình quan trọng; nó có thể dễ dàng trở thành chủ nhà này, biến gã thành người hầu cho nó.
Vài phút sau, Bát Thập đi ra và nói:
- Tao có quà cho mày đây.
Nhược Nhược quay lại và săm soi gã. Khi không có thái độ kỳ quặc, nom gã gần như điển trai.
- Có muốn đoán không?
- Em đoán sao được? Ai mà biết anh đang nghĩ gì? - Nó nói.
Gã cười:
- Mày nói đúng. Phải một ngàn năm mới đoán ra.
Gã vào phòng kho và lát sau trở ra với một cái hộp các tông. Cái hộp không to, nhưng theo kiểu Bát Thập bưng cẩn thận và cân bằng trên hai tay khiến Nhược Nhược nghĩ là một thứ đắt tiền hoặc nặng, hay cả hai. Nó nghĩ nếu đây là một món quà, liệu nó có giấu được bố mẹ và các em gái không.
Bát Thập để hộp lên bàn và mở ra; rồi bước tránh sang một bên, gã cúi đầu trịnh trọng và mời nó tiến đến, dường như nó là một nhà ảo thuật. Nhược Nhược ngồi xổm bên cái hộp và nhìn vào trong. Nó chẳng thấy thứ đồ ăn nào đắt tiền hoặc nữ trang; thay vào đó, cái hộp đầy những báo rách, ở giữa là một quả cầu nhỏ màu xám tua tủa lông nhọn như tên. Nó đẩy ngón tay và quả cầu lăn sang một bên, không để lộ ra thứ gì ngoài tờ báo dưới thân hình nhỏ bé.
- Đấy, - Bát Thập nói. - Em thấy sao?
- Cái gì đây?
- Một con nhím.
Bát Thập ngắm kỹ mặt Nhược Nhược, khiến nó sốt ruột.
- Quà kiểu gì thế này? Anh tưởng em là con chồn hôi cần một con nhím để ăn trưa à? - Nó nói.
Bát Thập cười ha hả như nghe được một câu đùa nhộn nhất trên đời, và dù muốn giữ vẻ nghiêm nghị và giận dỗi, Nhược Nhược cũng bật cười. Nó nhấc con nhím và đặt lên bàn. Con nhím vẫn không cử động, giấu cái mặt nhỏ nhắn và cái bụng mềm với toàn thế giới.
- Nó chết rồi, - Nhược Nhược nói.
- Ngốc thật, - Bát Thập nói. - Trông nó như chết vì đêm qua tao đã cho nó vào phòng kho. - Gã nhặt cái hót rác và xúc con nhím lên. - Để tao cho mày xem trò này nhé, - gã nói và mang con nhím vào bếp. Lửa trong lò đang reo ù ù, căn bếp ấm hơn mọi chỗ khác trong nhà. Bát Thập lấy một cái áo len quấn quanh tay áo. - Giờ thì nhìn đây, - gã nói và để cái hót rác xuống sàn, gần bếp lò. Một lát sau, con nhím bắt đầu động đậy, lúc đầu chầm chậm, sau đó mỗi lúc một dài hơn và nhanh nhẹn hơn, mặt nó lộ ra dưới tấm thân cuộn tròn. Nhược Nhược nhìn cái mũi hồng nhạt, cặp mắt tròn và sáng - con nhím có vẻ bối rối, mũi nó giật giật cầu cứu.
- Nó đói à? - Nhược Nhược hỏi.
- Đợi mà xem, - Bát Thập nói. Gã để cái đĩa nông đựng nước lên sàn gần đó, ngay lập tức con nhím bò đến chỗ nước. Nhược Nhược ngạc nhiên khi con nhím tìm thấy nước, nó uống hết một hơi.
- Sao anh biết nó khát? - Nhược Nhược hỏi.
- Vì tao đã thử trò này trước khi mày tới, - Bát Thập nói. - Mày cứ làm nó lạnh cứng rồi để ấm hơn, nó sẽ tưởng là vừa qua cơn ngủ đông và thấy khát.
- Nó ngu thật, - Nhược Nhược nói.
Bát Thập mỉm cười và bảo gã còn trò nữa cho nó xem. Gã lấy một lọ muối trong chạn và bảo Nhược Nhược chìa tay ra. Nhược Nhược chìa bàn tay lành nắm chặt. Gã vồ lấy và mở các ngón tay, và nó thấy một cảm giác buồn buồn không phải từ bàn tay mà từ đâu đó trên người, trước kia nó chưa biết là có. Bát Thập đổ ít muối vào lòng bàn tay nó.
- Giữ yên nhé, - gã nói và cúi xuống liếm lòng bàn tay Nhược Nhược. Nó rụt phắt tay lại trước khi lưỡi gã chạm đến, muối bắn tung khắp quầy.
- Anh làm gì thế? - Nó nói.
Bát Thập thở dài:
- Tao đang dạy mày trò này, - gã nói. - Mày cần phải giữ nguyên, nếu không con nhím sẽ sợ.
Nhược Nhược nhìn Bát Thập ngờ vực, nhưng hình như gã mải nghĩ đến việc diễn trò. Gã đổ ít muối lên lòng bàn tay mình và bảo Nhược Nhược đừng làm ồn. Gã quỳ cạnh con nhím và chìa bàn tay cho con nhím đang do dự, bàn tay gã phẳng và im lìm. Lát sau, con nhím đến gần và liếm lòng bàn tay Bát Thập, lưỡi nó quá nhỏ nên Nhược Nhược không nhìn thấy, nhưng Bát Thập nháy mắt và cười toe toét như bị cù. Trong chốc lát, dúm muối biến mất. Con nhím lảng ra, chậm rãi và thỏa mãn. Nhược Nhược nhìn Bát Thập, dò hỏi. Gã mỉm cười và ra hiệu hãy đợi, và một phút sau, con nhím bắt đầu ho dữ dội. Nhược Nhược giật mình và liếc nhìn quanh, dù nó biết không ai vào nhà này. Tiếng con nhím ho khẽ và kỳ quái như người, giống một ông già đang hấp hối vì lao phổi. Nhược Nhược chằm chằm nhìn con nhím, rõ ràng con nhím đang ho. Bát Thập nhìn Nhược Nhược và bắt đầu cười ngặt nghẽo. Con nhím ho thêm phút nữa và cuộn tròn lại thành một quả cầu đau đớn. Nhược Nhược chọc chọc con nhím vài lần và khi biết chắc con nhím không ho nữa, nó đứng dậy.
- Anh học ở đâu cái trò tai ác này?
Bát Thập cười:
- Có sao đâu nào. Buồn cười là con nhím không bao giờ biết tránh xa muối.
- Sao lại thế?
Bát Thập ngẫm nghĩ về câu hỏi.
- Có lẽ nó thích bị chơi xỏ.
- Đồ ngốc, - Nhược Nhược nói. Nó nhấc con nhím cuộn tròn lên và đặt vào cái hộp. - Nó còn có thể làm gì ngoài ho?
- Chẳng có gì nhiều.
- Thế anh bắt nó làm gì?
- Để cho mày, - Bát Thập nói. - Đây là quà tặng mày.
Nhược Nhược lắc đầu. Nó không thể nghĩ ra làm gì với con nhím, và đột nhiên sau trận cười đau bụng với Bát Thập, nó cảm thấy trống trải.
- Em cần một con nhím làm gì? - Nó nói.
- Mày có thể có một con thú cưng.
- Sao anh không giữ nó? - Nhược Nhược nói và vào phòng ngủ xem bé Sáu. Con bé đã phát hiện ra chỗ bánh quy. Nhược Nhược ngắm bé Sáu đang gặm một cái. Hôm nay là ngày nó chờ đợi, nhưng lúc này nó thấy bối rối vì nhiều lý do không hiểu nổi.
Bát Thập theo nó vào phòng ngủ và đưa thêm bánh quy cho đứa bé. Nhược Nhược chộp phắt lấy trước khi bé Sáu với được và đứa bé òa khóc.
- Anh định nhồi cho nó chết à? - Nhược Nhược cáu kỉnh.
Bát Thập gãi đầu. Hình như gã lúng túng vì sự thay đổi đột ngột của Nhược Nhược. Lát sau, gã dè dặt gợi ý:
- Tao có một ý này.
- Ý của anh chán bỏ xừ, - Nhược Nhược nói.
- Có khi lần này thì không, - Bát Thập nói. - Chúng ta có thể ăn thịt nhím. Tao nghe nói nhím là một trong những thứ bổ nhất.
- Chúng ta chưa tám chục tuổi và không cần nhân sâm với nhím mới sống được, - Nhược Nhược nói. - Ai muốn ăn cái của xấu xí đầy gai này kia chứ?
Bát Thập cười và bảo Nhược Nhược đi với gã, để gã chỉ cho bí quyết gã đã nghe được. Nhược Nhược chẳng hào hứng, nhưng làm gì cũng còn hơn ở lại phòng ngủ với bé Sáu, sau khi khóc một tí đã bắt đầu mút nắm tay. Nhược Nhược biết chẳng mấy chốc con bé sẽ thiu thiu ngủ. Nó ra ngoài tìm Bát Thập và thấy gã trong sân. Gã đang dùng xẻng đào ít đất mới tan băng, và khi đã được một đống, gã đổ ít nước lên rồi cặm cụi nhào thành bùn, giống như một thợ làm bánh giàu kinh nghiệm.
- Anh định làm bánh bằng bùn nhân thịt nhím à? - Nhược Nhược nói.
- Lại gần đây, - Bát Thập nói. Nó vào phòng và bưng cái hộp ra. Con nhím vẫn là một quả cầu nhỏ sợ hãi. Bát Thập nhấc nó ra khỏi hộp và để nó vào đống bùn. - Mày có biết những kẻ hành khất làm thịt gà ăn trộm được như thế nào không? - Bát Thập nói. - Bọc gà bằng bùn rồi đặt vào tro nóng. Khi nướng xong, chỉ việc bóc lớp bùn và ăn, thịt rất mềm. Tao nghe nói nhím cũng thế. - Bắt Thập xoa bùn lên con nhím cho kín toàn thân. Nó lăn quả cầu trong bùn thêm vài lần và phết xung quanh kín mít.
Lửa trong lò kêu sì sì. Bát Thập ra sức thổi nhưng không tắt; Nhược Nhược bật cười và đóng cửa lò lại. Chẳng mấy chốc lửa đã lụi, chỉ còn âm ỉ. Bát Thập đẩy quả bóng bùn vào đám tro hồng. Chúng cùng đứng quan sát quả cầu bằng bùn trong bụng lò, bên ngoài khô dần thành một lớp vỏ. Sau một lát, Nhược Nhược thở dài và nói:
- Bây giờ chúng ta làm gì?
Bát Thập quay lại, hai bàn tay đầy bùn chìa ra như bộ vuốt.
- Chúng ta có thể chơi trò diều hâu bắt gà con, - gã nói và nhe bộ răng vàng khè. - Ta đến đây.
Nhược Nhược khập khiễng tránh ra và kêu ré lên vui vẻ, còn Bát Thập đi theo, luôn cách hai bước, nghiến răng rít lên ngồ ngộ. Chúng lượn vòng trong phòng khách rồi Nhược Nhược chạy vào phòng ngủ. Nó lăn ra giường của Bát Thập và thở hổn hển.
- Em không thích trò này, - nó nói, vùi mặt vào gối.
Bát Thập không đáp. Nhược Nhược lăn mình và ngạc nhiên thấy Bát Thập đứng cạnh giường, nhìn nó chằm chằm và thoáng cười lạ lùng.
- Đừng đứng như cây gỗ chết thế, - Nhược Nhược nói. - Hãy nghĩ ra việc gì hay hơn mà làm.
- Em có muốn lấy anh không? - Bát Thập hỏi.
Trong giây lát, Nhược Nhược ngỡ gã đùa.
- Không, - nó nói. - Em không muốn lấy anh.
- Sao lại không? - Bát Thập nói. Nom gã bị xúc phạm và thất vọng. - Em nên cân nhắc rồi hẵng quyết định. Anh có tiền. Anh ở chỗ này có một mình. Anh là bạn em. Anh làm em cười. Anh sẽ đối tốt với em, anh luôn tử tế với phụ nữ, em biết chứ?
Nhược Nhược nhìn Bát Thập. Cái nhìn của gã xoáy vào mặt Nhược Nhược với vẻ nghiêm túc trước kia nó chưa thấy bao giờ, khiến nó căng thẳng. Nó không biết mặt mình trông có vặn vẹo ghê gớm không. Nó quay đi và giấu nửa bộ mặt xấu xí khỏi cái nhìn chằm chặp của gã.
- Cứ suy nghĩ đi, - Bát Thập nói. - Không nhiều đàn ông muốn cưới em đâu.
Nhược Nhược không cần gã nhắc điều đó. Ai có mắt cũng thấy nó chưa bao giờ được một lời cầu hôn. Nó đã hy vọng mù quáng rằng Bát Thập không để ý đến bộ mặt biến dạng của nó, nhưng lẽ tất nhiên giống như bao người khác, gã không loại ý nghĩ đó ra khỏi đầu.
- Tại sao anh muốn lấy em? - Nó nói. - Anh chẳng là một người trong bọn họ sao?
Bát Thập ngồi xuống cạnh Nhược Nhược và lùa một ngón tay vào tóc nó. Nó không tránh ra ngay cả lúc nhìn thấy bùn trên bàn tay gã.
- Tất nhiên là anh khác chứ, - Bát Thập nói. - Sao em không nghĩ anh là bạn em?
Nhược Nhược quay nhìn Bát Thập, và gã gật đầu với nó, chân thành. Nó không biết có nên tin gã không. Có lẽ gã đúng như gã nói, một người đàn ông khác hẳn những người khác trên đời; cũng có khi không. Nhưng dù gã nói dối thì cũng có sao đâu? Gã là người bạn duy nhất của nó, dẫu gã thấy nó xấu như quỷ, hình như gã cũng chẳng để tâm. Nó không còn lựa chọn nào khác; dù sao gã cũng không phải là một lựa chọn tồi.
- Anh sẽ lấy em nếu em đồng ý? - Nhược Nhược nói.
- Tất nhiên. Anh cần gì những người đàn bà khác nếu em đồng ý lấy anh?
Không nhiều đàn bà muốn lấy anh ta, Nhược Nhược nghĩ. Nó băn khoăn: hay nó là lựa chọn duy nhất của gã, nhưng với một người đàn ông kỳ quặc như gã thì có sao đâu, trên cái thang đến với hôn nhân nó ở nấc dưới cùng, còn gã ở cao hơn nhiều.
- Chúng ta sẽ làm gì nếu đồng ý lấy nhau? Bao giờ em dọn khỏi nhà bố mẹ em? - Nó nói.
Ngón tay dính bùn của Bát Thập vòng quanh mắt Nhược Nhược, rồi gã lùi lại ngắm hiệu quả.
- Soi gương mà xem, sẽ thấy em ngốc ra sao, - gã nói. - Nếu người ta nghe thấy em nói thế, họ sẽ cười giễu em.
Nhược Nhược cảm thấy da quanh mắt nó căng lên.
- Tại sao họ lại muốn cười giễu em? - Nó hỏi.
- Không cô gái nào nên tỏ ra háo hức lấy một người đàn ông, dẫu em không thể đợi thêm một phút.
- Em không thể đợi thêm phút nào dọn ra khỏi nhà bố mẹ em. Em ghét tất cả mọi người ở đó, - Nhược Nhược nói. Dường như nghi ngờ nó, đứa bé bi bô ở bên kia tấm rèm. Nhược Nhược đứng dậy ngó bé Sáu. Bé đang bò, với nửa cái bánh quy đã quên lúc trước. Bé nún nún môi vẻ thỏa mãn sau khi ăn cái bánh quy rồi bắt đầu chơi với sợi dây. Bé là đứa trẻ ngoan, miễn là không đói, bé có thể chơi một mình rất lâu. Nhược Nhược buông rèm và ngồi xuống cạnh Bát Thập.
- Nếu em lấy anh, em có thể mang bé Sáu đi cùng không? - Nó nói.
- Cả hai một lần ư? Chắc anh phải là người đàn ông vận may ghi ngay trên trán, - Bát Thập nói.
Nếu nó không trông nom bé Sáu, ai có thể thay nó, nhất là mẹ nó sắp sinh một bé trai. Nếu bố mẹ nó không ưng, nó sẽ tìm cách bế trộm con bé ra khỏi nhà, Nhược Nhược nghĩ. Nhưng sao họ lại không vui khi xua được hai đứa con gái mà không phiền toái gì? Càng nghĩ, Nhược Nhược càng tin bé Sáu thuộc về nó hơn là bố mẹ nó. Khi đến lúc, nó có thể kiếm cho em nó một người chồng tốt. Nó quay sang Bát Thập và vỗ vào mặt gã để ngăn cái cười nhăn nhở.
- Em nói thật đấy, - nó nói. - Bao giờ em có thể bỏ bố mẹ em?
- Gượm đã, - Bát Thập nói. - Em bao nhiêu tuổi?
- Mười hai. Mười hai tuổi rưỡi.
- Thật lòng, anh muốn cưới ngay bây giờ, - gã nói. - Nhưng có một vấn đề. Em còn bé quá, không lấy anh được.
- Tại sao?
- Vì có nhiều người không vui vì việc này.
- Ai kia? Phải làm thế nào với họ?
Bát Thập lắc lắc ngón tay với Nhược Nhược và suỵt nó. Gã giơ nắm đấm gõ vào trán và Nhược Nhược ngắm gã. Một mùi thơm tỏa khắp phòng và Nhược Nhược xun mũi, khó nhận ra mùi gì.
- Con nhím, - cuối cùng nó nói. - Chắc chín rồi.
Bát Thập đặt bàn tay lên miệng Nhược Nhược:
- Đừng đánh trống lảng, - gã nói và để lòng bàn tay chạm vào môi Nhược Nhược. Bùn trên tay gã đã khô. Nhược Nhược nghĩ đến con nhím nướng chín trong tro. Với Bát Thập, luôn có những việc bất ngờ làm nó vui. Nhược Nhược nghĩ có lẽ lấy gã là một ý hay.
- Anh hiểu, - lát sau, Bát Thập nói. - Em có nghe về các cô dâu bé không?
- Không.
- Cứ hỏi bà Hoa, bà ấy sẽ kể cho mà nghe. Đôi khi, người ta cho các cô con gái bé đến ở nhà chồng tương lai và lúc cô gái đủ lớn, họ sẽ cưới. Em có thể là cô dâu bé của anh.
- Những người anh nói đến có hạnh phúc không?
- Sao lại không, nếu em là cô dâu bé của anh? Chúng ta có thể nhờ ông bà Hoa giúp nếu bố mẹ em không bằng lòng. Em có thể ở với ông bà Hoa vì họ là bạn tốt của anh. Họ không ngại có em ở cùng. Anh có thể trả tiền họ chi cho em. Làm thế em vui hơn chứ?
Nhược Nhược nghĩ đến cách thu xếp này. Liệu bố mẹ nó có để nó làm một cô dâu tự do, dễ dàng ra đi? Nhưng họ có thể làm gì nếu nó một mực đòi đến ở với chồng? Dân chúng ở chợ hay nói rằng một cô gái muốn lấy chồng có trái tim chẳng khác gì nước bắn tóe khỏi chậu, bố mẹ có cố đến mấy cũng không vớt lại được. Tất nhiên là bố mẹ nó hiểu điều đó. Có khi họ còn ăn mừng vì nó đã kiếm được tấm chồng, có khi họ còn hào phóng cho nó một món hồi môn nho nhỏ.
- Chúng ta đi tìm ông bà Hoa và nói chuyện với họ.
- Em nóng vội quá, - Bát Thập nói. - Lúc này họ đang chôn cất bà anh. Chúng ta sẽ gặp họ sau. Chúng ta còn một việc quan trọng hơn cần làm.
- Con nhím?
Bát Thập mỉm cười:
- Quan trọng hơn kia. Em có nghe đến việc kiểm tra cô dâu không?
- Không.
- Thường thì bà mối kiểm tra thân thể cô dâu để biết chắc cô ta có hình dáng thích hợp làm vợ, - Bát Thập nói. - Trong trường hợp lấy nhau vì tình như chúng ta, người chồng tự làm việc đó.
Nhược Nhược nghĩ đến bộ mặt vặn vẹo, bàn tay co quắp và cái chân què của nó. Có thể gã sẽ từ chối, dù đã hứa sẽ nhận nó làm cô dâu bé của gã?
- Đừng căng thẳng thế, - Bát Thập nói và tiến đến gần hơn. Gã kéo Nhược Nhược lên và để nó đứng trước mặt gã. Rồi đặt bàn tay lên vai nó, hai ngón tay cái luồn vào trong chiếc áo vệ sinh cũ của Nhược Nhược. - Chỉ như thế này thôi, - gã nói và hai ngón tay cái xoa xoa xương đòn. - Có đau không?
Nhược Nhược nhìn mặt gã, vẻ chăm chú thành thật. Nó nín thở và lắc đầu. Gã chuyển hai bàn tay xuống dưới và đôi lòng bàn tay rộng của gã ôm lấy khung xương sườn Nhược Nhược. Bị buồn, nó ngọ nguậy và cười. Gã suỵt nó và nói:
- Cái áo này vướng quá. Em có muốn cởi nó ra không?
Nhược Nhược ngờ vực nhìn gã và gã mỉm cười:
- Em không phải cởi, - gã nói và luồn hai bàn tay vào trong cái áo vệ sinh và áo lót, rồi ôm xiết lấy thân hình phẳng lì như tấm ván giặt của Nhược Nhược, bàn tay gã nóng ấm trên làn da lạnh của nó. Nó rùng mình. Gã lần các ngón tay lên lên xuống xuống như đang đếm các dẻ xương sườn. - Hơi gày, - gã nói. - Nhưng chẳng gì dễ hơn là vỗ béo một con mái.
Nhược Nhược ngước nhìn vào mặt Bát Thập, sát mặt nó. Nhược Nhược biết để một người lạ sờ soạng kiểu này là không đúng, nhưng sau khi chúng nói đến chuyện kết hôn, Bát Thập không còn là người lạ nữa. Nó cảm thấy dễ chịu khi bàn tay gã sờ soạng trên da thịt nó. Lúc này tuy không căng thẳng nữa, song người nó vẫn run như thể nó toại nguyện. Khi bàn tay gã ngọ nguậy xuống dưới, nó không phản đối. Nó để gã sờ quanh eo một lát và nói, giọng khản đặc:
- Anh cũng cần kiểm tra bên dưới nữa.
- Anh có nghĩ lúc chúng mình xong việc, con nhím đã chín quá không? - Nhược Nhược hỏi. Mùi thịt cháy từ bếp mỗi lúc một khét và nó ngạc nhiên thấy Bát Thập không hề để ý.
Bát Thập không đáp. Nó nhấc Nhược Nhược và đặt lên giường. Nó cảm thấy bàn tay gã loay hoay ở cái dải rút của nó, một sợi vải dài và mòn xơ nó xé từ tấm đắp cũ. Nó bảo để nó làm cho, và gạt nhẹ gã sang bên, lần đầu tiên nó cảm thấy ngượng trước mặt gã. Nó cởi nút và gã giúp nó tụt quần và quần lót xuống dưới chỗ đầu gối cong queo. Nó ngước nhìn Bát Thập nhưng hình như gã còn run hơn cả nó. Anh lạnh à? Nó tò mò hỏi. Gã không trả lời và đắp tấm chăn lên tấm thân trần truồng của nó. Gã cần đèn pin để soi xuống dưới đó mà nó không bị rét, gã nói bằng giọng ngột ngạt rồi rời phòng ngủ.
Nhược Nhược đợi. Con nhím sẽ cháy đen khi chúng xong việc, nó nghĩ. Nó không biết Bát Thập sẽ làm gì nó, - cái chuyện giường chiếu như đàn ông đàn bà ở chợ vẫn nói? Dù gì đi nữa, Nhược Nhược tin là việc hay ho, vì những người đàn bà trơ trẽn hay giả vờ không thích thú, nhưng mặt họ đỏ bừng và cười khúc khích khi được nghe một kiểu khác hẳn.
Nhược Nhược không biết Bát Thập đi tìm đèn pin sao lâu thế. Bé Sáu bắt đầu khóc ở bên kia rèm.
- Chị đây, Nhược Nhược nói bằng giọng ngọt ngào và khi đứa trẻ không dịu đi, Nhược Nhược bắt đầu bài hát ru mà bé Sáu thích, bài hát do Nhược Nhược bịa ra và hát cho em gái nó nghe mỗi khi tâm trạng phấn chấn. Bé Sáu nín khóc và bi bô một mình; Nhược Nhược vẫn hát, bài hát do nó sáng tác, nhầm lời lung tung.
Cuối cùng, khi Bát Thập trở lại, hình như gã đỡ bối rối hơn.
- Anh ở đâu đấy? - Nhược Nhược hỏi. - Anh đi lâu thế.
- À, bất chợt anh cần ra nhà xí, - Bát Thập nói. Gã chiếu đèn pin lên mặt nó. Việc hay nhất một thám tử có thể làm, - gã nói và chui vào dưới chăn, chân gã đung đưa cạnh giường. Nhược Nhược cảm thấy gã nhẹ nhàng tách hai chân nó ra. Nó định hỏi gã làm gì dưới ấy, thì một ngón tay gã ngập ngừng sờ vào giữa hai chân nó. Nó thấy mót tiểu nhưng cố nén và đợi. Ngón tay dò dẫm quanh quẩn một lúc, nhẹ đến mức nó gần như không cảm thấy. Một lúc lâu sau, Bát Thập chui từ dưới chăn ra:
- Em tuyệt lắm, - gã nói.
- Anh xong chưa?
- Bây giờ thì xong.
Nhược Nhược thất vọng. Nó đã nghe bố mẹ nó thở hổn hển vào ban đêm một lúc lâu, mãi sau này nó mới biết họ đã làm chuyện giường chiếu.
- Sao anh không làm lâu lâu? - Nó hỏi.
- Làm gì lâu lâu?
Nhược Nhược nhổm dậy khỏi giường và mặc quần áo.
- Em tưởng vợ chồng làm nhiều hơn là nhìn, - nó nói.
Bát Thập nhìn Nhược Nhược một lúc lâu rồi bước tới gần hơn và vòng tay ôm nó:
- Anh không muốn làm em sợ, - gã nói.
- Em sợ gì? - Nhược Nhược nói. - Bây giờ chúng mình là vợ chồng rồi kia mà?
Bát Thập mỉm cười:
- Phải, em hoàn hảo để làm vợ, nhất định một ngày gần đây chúng mình sẽ lấy nhau.
- Sao không ngay bây giờ?
Hình như Bát Thập lúng túng và không thể trả lời câu hỏi ấy.
- Người ta cần một lễ cưới mới thành vợ chồng, - rốt cuộc, gã nói.
Nhược Nhược nhún vai. Nó không quan tâm đến lễ cưới. Gã đã xem xét thân thể nó và bảo mọi thứ đều ổn. Nó chỉ quan tâm đến việc bây giờ nó đã tìm ra một chỗ mà đến. Nó háo hức muốn việc đó sớm xảy ra. Lát sau, nó nói:
- Con nhím sao rồi?
Bát Thập giật mình, dường như chỉ lúc này gã mới nhớ ra con vật đem nướng. Gã chạy vào bếp, và khi Nhược Nhược theo vào, nó không ngạc nhiên thấy lúc Bát Thập gõ gõ vào quả cầu bùn khô nứt, con nhím chỉ còn là một khối tròn tròn bằng than, không sao ăn được nữa.