Những Kẻ Lang Thang

Lượt đọc: 10 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần Iii - Mười
Mười

❊ ❊ ❊

Khai đi một mình đến quảng trường thành phố, nỗi buồn quá quen thuộc tràn ngập lòng cô. Trong ánh chiều chạng vạng, đường phố xám xịt và vắng vẻ. Lúc này phần lớn mọi người đã về nhà sau cuộc đi chơi núi; giống như mọi ngày lễ khác, lễ Thanh minh sắp hết, có phần hơi quá sớm.

Một nhân viên tòa án trong phiên trực ban đợi họ lúc trưa, khi họ mang đến bản sao tờ kiến nghị có những chữ ký chép lại, yêu cầu mở cuộc điều tra về phiên tòa xử lại Cố San và khôi phục thanh danh cho cô sau khi chết. Viên chức đó, một người quen của Khai, đã giả vờ không nhận ra cô và không bình luận gì thêm, ký vào tờ biên nhận bản kiến nghị.

Bức ảnh Cố San phóng to vẫn còn nguyên trên bệ tượng đài Mao Chủ tịch, những dải băng tang đen quanh khung bong ra trong gió chiều. Những bông hoa giấy thu thập lúc sớm đã kết lại thành ba vòng hoa tang, và trong ánh sáng lờ mờ chúng bừng nở như những bông cúc nhợt nhạt khổng lồ. Dưới những vòng hoa tang là tấm vải trắng mang hơn ba ngàn chữ ký, bốn góc đè bằng những tảng đá. Những bông hoa dại và những cành thông non do những người Khai gặp hoặc không trong cuộc tập hợp lần trước mang từ trên núi về, để lại thành nhiều bó hoa trên tấm vải. Khai đã chuẩn bị một bài tưởng niệm ứng tác cho Cố San. Chính quyền không có lệnh thu dọn, hình như càng khẳng định thêm thành tích của họ.

Đầu giờ chiều, Khai dừng lại cạnh lều của Gia Lâm. Tất cả các bạn anh đều ở đấy, hoan hỉ vì thành công. Một phụ nữ mà Gia Lâm giới thiệu là bác sĩ Phạm cảm ơn Khai vì bài diễn thuyết tuyệt hay; một phụ nữ đứng tuổi gật đầu tán thành. Thủ thư của thành phố hóa ra là một người thân thiện dù vẻ ngoài lặng lẽ, chị rót trà mời Khai từ trong phích chị mang đến căn lều. Ngoài Gia Lâm và Khai còn bốn nam, bốn nữ khác; bà Cố là người duy nhất vắng mặt trong buổi ăn mừng, bà đã về nhà chăm sóc chồng. Cả nhóm nói đến cuộc tập hợp và muốn biết phản ứng sắp tới của chính quyền thành phố. Phải kiên nhẫn, Gia Lâm nhắc họ, nhưng mắt anh vẫn lộ ra vẻ phấn khởi không nén được. Anh nói, các đài Anh và Mỹ, kể cả đài phát thanh Hồng Kông đều dự đoán có sự thay đổi mạnh mẽ trong chính quyền trung ương. Khai xác nhận tin đó và tiết lộ rằng cuộc hành hình Cố San đang bị điều tra ở tỉnh. Rất hồ hởi, một phụ nữ ôm lấy Khai và cảm ơn cô đã là người của họ. Khai nghĩ có lẽ chị là một trong những người trước đây nghi ngờ Khai, nhưng giờ đây họ đã tiếp nhận Khai là bạn và đồng chí của họ, và đấy mới là điều quan trọng.

Gia Lâm bật cái radio sóng ngắn của anh và tìm được một đài có dàn phong cầm chơi một bản vanxơ. Tiếng nhạc tràn ngập căn lều cùng tâm trạng hội hè, một kỹ sư gần lục tuần bước ra giữa lều mời ai đó ra nhảy. Ba trong bốn phụ nữ - một kế toán, một giáo viên và bác sĩ Phạm vừa cười vừa phản đối. Khiêu vũ đẹp có gì sai đâu? Người kỹ sư nói, dường như cảm thấy bị xúc phạm. Khai đã định tình nguyện nhảy nhưng chưa kịp đứng dậy, Gia Lâm đã khẽ lắc đầu với cô. Khai quay lại và thấy chị thủ thư tiến vào giữa lều, đặt tay vào trong tay người kỹ sư đang đỏ mặt. Người đàn ông nháy Gia Lâm và khiêu vũ trong không gian hạn hẹp của căn lều. Khai quan sát mặt chị thủ thư ửng đỏ như một cô gái trẻ trung yêu lần đầu.

Chiều hôm ấy, Khai không thể nói chuyện riêng với Gia Lâm. Cô tự hỏi liệu anh có khoan khoái như cô vì sự cuồng nhiệt mà cuộc tập hợp đã mang lại. Liệu họ có những quyết định khác về một tương lai họ mong đợi không? Suốt buổi chiều, anh cố che giấu sự kiệt sức. Khai không biết bệnh tình của anh có làm các bạn anh buồn như cô không.

Lúc này, một phụ nữ đến gần quảng trường, bụng chị ta nhô ra dưới chiếc áo khoác cũ kỹ. Khai gật đầu, nhưng người phụ nữ đọc những chữ ký trên tấm vải trắng mà không hề chú ý. Đã quá muộn để ký, Khai nghĩ, và tự hỏi chị ta giống như bao người khác, không thoát khỏi vòng kiềm tỏa của chồng để đến cuộc tập hợp sáng nay. Chị ta quay sang Khai, mắt đầy thù hận.

- Ước gì từng đứa các người chết thật khủng khiếp, - chị ta nói, không giấu sự căm ghét trong lời lẽ.

Khai nhìn người đàn bà nhổ vào tượng đài rồi lạch bạch bước đi. Phải có đủ loài mới tạo ra thế giới này, rồng phượng cùng với rắn và chuột, cô nhớ lại lời cha, nhưng sau một buổi chiều với Gia Lâm và các bạn anh, làm sao có thể dễ quên rằng cuộc đời này vẫn cùng chỗ cho sự nhẫn tâm và sự thù oán, ngọn lửa nhỏ của tình bạn chỉ có thể làm con người ấm áp và hy vọng nhiều đến thế mà thôi. Cô nghĩ đến bố mẹ chồng, chắc hiện giờ đã nổi trận lôi đình. Mẹ cô, người mà suốt mấy giờ vừa qua Khai tránh nghĩ đến, ắt phải trốn biệt trong nhà, cố cưỡng lại cơn thịnh nộ của thông gia. Thậm chí, Khai không dám nghĩ đến Hán.

Căn hộ tối tăm khi Khai vào. Theo thói quen, cô gọi tên Minh Minh và cô trông trẻ lặng lẽ ra khỏi phòng trẻ cũng tối om om. Khai bật đèn và cô trông trẻ chớp chớp mắt, mắt mọng nước. Minh Minh đâu? Khai hỏi. Cô gái không trả lời nhưng nhìn về phía buồng tắm, vẻ lo lắng. Lát sau, cánh cửa bật mở và mẹ Khai đi ra, mặt bà sưng húp và ướt nhoèn. Khai ra hiệu cho cô trông trẻ để họ lại, và lúc cô ta đóng cửa sang phòng trẻ, mẹ Khai hỏi:

- Con đã ở đâu?

- Minh Minh đâu ạ?

- Bố mẹ chồng con mang nó về nhà họ. Họ nhắn sáng mai cho cô trông trẻ về.

- Họ ra lệnh ấy cho ai?

Mẹ Khai nhìn cô một lúc lâu, môi bà run run:

- Họ ra lệnh ấy cho ai à? Cho chính mẹ mày đây. Mẹ mày phải đứng đây và van xin bố mẹ chồng mày tha thứ vì mày đã mất cả trí khôn. Hãy cho mẹ biết, Khai, tại sao con làm thế với mẹ? Mẹ là một bà già góa bụa và không đáng được một lúc yên ổn hay sao?

Khai nhìn mẹ khóc. Cô nhận ra rằng từ khi cha mất, cô chưa bao giờ nhìn vào mắt mẹ. Với những dòng nước mắt trên mặt, trông bà còn hơn cả một người xa lạ.

- Tao chỉ mừng là bố mày mất đã lâu, không bị sỉ nhục, bị gọi bằng đủ thứ tên ngay trong nhà con gái mình, trước mặt cháu ngoại và người trông nó - mẹ Khai nói giữa những tiếng nức nở.

- Họ còn nói gì nữa?

- Có phải lúc nhắc lại những lời của họ với mày không? Nói thế thà chôn tao đi còn hơn.

Mặc dù mẹ Khai lúc nào cũng thống trị cả nhà, rõ ràng bà dễ bị cấp trên dọa dẫm. Có lần bố Khai đã giải thích với cô, thái độ của mẹ cô là người lúc nào cũng không muốn bị đàn áp, bà cần trút giận và lúc này Khai sửng sốt nhận ra rằng cha cô đã là chỗ chứa những chua xót, gay gắt của bà, chắc hẳn những thứ đó đã giết chết ông.

- Can đảm lên, mẹ, - Khai nói. - Cứ kệ bố mẹ chồng con đi.

- Sao mày nói dễ nghe thế? Họ nói rằng mày và tao sẽ không được phép gặp Minh Minh nữa. Hãy cho tao biết, làm sao mày có thể phớt lờ điều ấy được?

Khai quay đi, không nhìn mẹ. Cô nhìn thấy cái gì đó xanh xanh dưới giá để tivi mới làm xong. Cô cúi xuống và nhặt lên. Cái lúc lắc ưa thích của Minh Minh, hình con cá voi. Không biết cô trông trẻ có biết thằng bé để quên, hay nó đã để đấy trong lúc chơi trò trốn tìm. Dạo trước, có lần cô tìm thấy một quả bóng cao su nhỏ trong bốt của cô, rồi ba ngày sau, cô thấy nhiều đồ chơi khác ở đó, và cô hiểu ắt là một hành động có mục đích của thằng bé. Cô tự hỏi liệu nó có coi giày của ông bà nội là trò chơi của nó không.

- Tại sao mày làm việc đó? Có cái gì mày muốn mà không có đâu?

Trước kia chưa bao giờ Khai đặt câu hỏi này cho mình. Cô lắc đầu. Cô nói thứ cô muốn chẳng ý nghĩa gì.

- Bây giờ chúng ta làm gì đây? - Mẹ Khai nói. - Chúng ta biết làm sao với bao thứ rắc rối này?

Khai sửng sốt vì mẹ cô gộp cả bà vào số phận cô. Cô đã nghĩ đến việc an ủi bà, nhưng cô sẽ không nghe lời bà.

- Con luôn là đứa con ngoan, - mẹ cô kể lể. - Lúc nào con cũng nghe lời bố mẹ và thầy giáo, chưa bao giờ phạm lỗi.

Một lần nữa, Khai bảo mẹ đừng lo, tuy biết lời cô quá mơ hồ, chẳng tích sự gì. Có đứa con đáng tin cậy như thế, - mẹ Khai nhắc lại như thể không tin lắm - ai cũng bảo bà may mắn có con gái không dẫm lên sai lầm của dòng dõi và là người giúp cho anh em ruột thịt khá giả.

Khai để mẹ lại và vào phòng trẻ. Lúc cô đẩy cửa, cô trông trẻ đang nghe trộm sau cánh cửa lùi lại, sợ hãi và xấu hổ ra mặt. Khai giả vờ không để ý; cô hỏi cô gái có đồng ý nhận thêm ít tiền và sáng mai về quê không.

Cô gái nhìn Khai trân trân như không hiểu câu hỏi. Khai thở dài, giảng giải rằng về nhà bố mẹ là cách tốt nhất cho cô ta, ít nhất là hiện nay.

- Cô có sợ bố mẹ cô giận cô không? Tôi có thể viết thư nói với họ là cô không làm gì sai trái hết, - Khai nói.

- Bố mẹ em không biết đọc.

- Cô có thể giải thích cho họ không? Nói với họ là chúng tôi sẽ cho người đến đón cô trở lại ngay khi mọi việc ở đây yên ổn, - Khai nói. Cô tự hỏi làm sao cô gái này hiểu được tình hình, liệu lời nói dối này có đủ đem lại cho cô ta và bố mẹ cô ta sự thoải mái và hy vọng nào đó.

- Ai sẽ trông nom Minh Minh ạ? - Cô gái hỏi.

- Hiện giờ cháu ở với ông bà nội.

- Nhưng phải có người trông nom nó chứ, - cô gái nói. - Họ có biết Minh Minh muốn gì lúc nó khóc không?

- Nó sẽ ổn thôi.

- Nhưng họ chưa bao giờ trông nom nó. Họ không hiểu nó, - cô gái nói. - Họ bắt nó uống sữa khi nó vừa tè dầm.

Vòi nước trong buồng tắm bắt đầu chảy sau cánh cửa khép hờ, nhưng Khai vẫn nghe thấy tiếng mẹ cô khóc.

- Minh Minh sẽ không sao đâu, - Khai nói. - Cô không phải lo cho nó.

Cô gái nhìn xuống đôi bàn tay, không trả lời. Hẳn Khai đã làm tổn thương đến tình cảm của cô gái này, cô nghĩ, nhưng cô quá mệt không nghĩ ra đã nói điều gì sai. Cô đếm thêm tiền một tháng lương và đưa cho cô gái.

Cô gái không nhận tiền. Cô cởi khuy áo trên cùng và kéo cái mặt dây chuyền nhỏ bằng ngọc:

- Chị có thể đưa cho Minh Minh cái này không? - Cô ta nói. - Em không có gì nữa để lại cho cháu.

- Đây là một thứ đặc biệt phải không? - Khai nói. - Em đừng cho một đứa bé dễ dàng như thế.

Cô gái nắm chặt cái mặt ngọc và một mực nói rằng Minh Minh sẽ không chịu ngủ nếu không sờ vào cái này.

- Cháu nó sẽ ngủ không cần thứ này, - Khai nói. Cô nhét tiền vào túi áo cô gái, cảm ơn rồi xin lỗi cô vì sự dở dang này. Cô gái lại năn nỉ để lại cái mặt dây chuyền cho đứa bé, để nó có thứ nhớ đến cô.

Khai đành nhận, cô gái cúi đầu chào Khai rồi lau nước mắt. Minh Minh là đứa trẻ đầu tiên cô ta chăm sóc, ngoài các em ruột. Khai băn khoăn: trong những năm tới sẽ có nhiều đứa trẻ khác và những cuộc chia tay sẽ trở nên dễ dàng hơn, khi đã thành một phần bình thường trong đời cô gái.

- Xin chị nói với ông bà rằng Minh Minh thích có người sờ vào sau tai, nó mới ngủ được, - cô gái nói.

Khai nhìn xuống mặt dây chuyền, một miếng ngọc bích khảm hình con cá. Thứ này không đắt, nét khảm thô và nghiệp dư, loại các gia đình nông dân có thể mua cho con gái. Cha mẹ Hán sẽ không cho phép một món đồ như thế ở gần Minh Minh, nhưng Khai cảm ơn cô gái và nói cô sẽ mua sợi dây bằng bạc để Minh Minh có thể đeo mặt ngọc này quanh cổ tay. Khai bảo cô gái sẽ được đón mừng khi trở lại thăm họ, và hứa khi nào mọi sự yên ổn, sẽ thuê lại cô gái. Lời nói dối của cô được bên kia tin tưởng nhận; lát sau, Khai không còn gì nhiều để nói ngoài lời chúc cô gái may mắn trong đời riêng.

Hán trở về Nê Giang đêm Thanh minh, sau khi gọi điện cho thị trưởng báo tin thắng lợi họ đang mong. Ở Bắc Kinh, tình hình trong Chính phủ trung ương thay đổi mạnh mẽ sau cuộc họp đêm qua, hiện giờ đã xác định bức tường dân chủ là một phong trào chống cộng sản; Người đàn ông họ cung cấp thận đang tiến hành thanh trừng những kẻ ủng hộ và cảm tình với bức tường dân chủ trong chính quyền cấp tỉnh. Có nhiều tin đồn ông ta hoặc sẽ thành người lãnh đạo tỉnh, hoặc được đề bạt và chuyển về chính phủ trung ương ở Bắc Kinh. Thị trưởng có vẻ hờ hững khi khen ngợi công việc của Hán, chỉ đến lúc cha mẹ anh ta vớ lấy điện thoại, Hán mới hiểu thái độ lãnh đạm của thị trưởng. Anh có biết chuyện gì xảy ra với vợ anh không? Mẹ Hán quát ầm ầm trên điện thoại và không đợi trả lời, bà ta ra lệnh cho Hán phải về nhà ngay lập tức.

Trên đường về, Hán đã tập dượt để tự vệ, nói rằng anh ta ở xa và không biết những việc Khai làm trong mấy tuần qua. Trong cuộc nói chuyện tưởng tượng, Hán van nài cha mẹ anh ta và thị trưởng giúp Khai thoát khỏi tình huống khó khăn, và lúc về đến cửa nhà, anh ta tin vào hình dung của mình. Tuy cha mẹ bắt anh ta phải báo cáo với họ trước, Hán vẫn về thẳng nhà. Lúc đó đã nửa đêm, không thấy vợ trên giường, anh ta đánh thức cô trông trẻ dậy. Đêm hôm đó, bà Ngô - mẹ Khai - đến và bắt Khai về nhà bà, cô trông trẻ nói, sợ hãi vì bị Hán xiết chặt cánh tay; còn cha mẹ Hán đã mang đứa bé về nhà họ. Hán khắc nghiệt nhìn cô trông trẻ như thể cô ta nói dối, khi thấy cô gái run bần bật trong bộ đồ ngủ và sắp khóc, anh ta bảo tốt nhất là cô ta đi ngủ, sáng mai anh ta sẽ đưa Minh Minh về. Cô gái lẩm bẩm sáng mai sẽ về quê, vì cha mẹ anh ta đã đuổi việc cô. Nhảm nhí, Hán bảo cô ta; sáng mai anh ta và Khai sẽ cùng Minh Minh về nhà.

Hán nghĩ đến việc gõ cửa nhà mẹ vợ, nhưng rốt cuộc anh ta đến nhà cha mẹ đẻ. Cha mẹ anh ta, cả hai đang hút thuốc trong phòng khách, không có dấu hiệu nào đã ngủ.

- Con vợ con, - bố Hán nói khi nhìn thấy anh ta. - Nó đã làm hỏng thắng lợi của chúng ta.

Hán nhìn bộ mặt vô cảm của cha mẹ. Mặc dù đã diễn tập lời cãi, Hán bắt đầu ấp úng rằng anh ta là người phải chịu trách nhiệm vì không phát hiện đủ sớm những việc Khai làm. Bây giờ mọi sự đã xảy ra rồi, họ có thể nghĩ ra cách nào che chở cho cô trước khi quá muộn không?

- Che chở cho nó? Chúng ta phải nghĩ cách bảo vệ chính mình, - mẹ Hán nói. - Việc duy nhất chúng ta có thể làm lúc này là vạch ra một giới hạn với nó và cầu nguyện.

- Nhưng cô ấy là vợ con, - Hán nói.

- Sau ngày mai, sẽ không còn thế nữa, - mẹ Hán nói. Bà ta ra hiệu cho bố Hán nói tiếp. Trước bình minh, Hán phải thảo xong đơn ly hôn, đến sáng sẽ nộp.

- Bắt đầu bằng đơn ly hôn, - bố Hán nói. - Viết rằng con và nó bất đồng hầu hết những vấn đề cơ bản về lý tưởng. Bây giờ con phải động não để dựng nên chuyện này, và nói khi biết vai trò của vợ trong hoạt động chống chính quyền con rất sửng sốt. Hãy giải thích “sửng sốt” có nghĩa là trước kia con không hề hay biết gì, cho đến khi có người nói với con, tất nhiên không phải là chúng ta, mà là một người nào đó không liên quan, một người không quan trọng, rồi cô ta là người đứng đầu cuộc tập hợp, và khi con biết thì đã quá muộn không thể sửa chữa việc làm sai lầm của nó nữa. Phải viết lời tự phê bình cho chân thành vào. Ý ta là chân thành như thịt - với - xương, như máu - với - tủy. Hãy đào và đào sâu thực sự, công khai thể hiện con rất tiếc vì sự thiếu nhạy cảm chính trị. Con hãy xin bị trừng phạt - hiện nay, đây là một thủ đoạn -, xin trừng phạt về mặt nào đó thực ra có nghĩa là con không có lỗi gì ngoài việc kết hôn nhầm người, sau đó hãy xin có cơ hội sửa chữa. Con có hiểu như thế nghĩa là gì không? Hãy nói con mong muốn đặt tính mạng của con vào bàn tay của Đảng để có thể chứng tỏ đời con là xứng đáng.

- Còn Khai sẽ ra sao?

- Nó ra sao không còn liên quan đến chúng ta nữa, - mẹ Hán nói. - Con không nghe cha con nói gì ư? Bây giờ là lúc để con hành động. Nếu con bỏ lỡ cơ hội này, tất cả chúng ta sẽ bị kéo tuột xuống vì sự ngu ngốc của nó.

Ít ra họ có thể xem xét lại chiến lược của họ không? Hán năn nỉ cha mẹ lần nữa; ông bà có muốn đứa cháu nội trở thành trẻ mồ côi, mất mẹ không? Nói nửa chừng, Hán bắt đầu khóc.

Không nói một lời, mẹ Hán mang cho anh ta cái khăn mặt. Hán vùi mặt vào cái khăn ấm, ẩm và nức nở. Cha mẹ Hán theo dõi, kiên nhẫn đợi anh ta trấn tĩnh. Rồi lúc đó, bà mẹ nhắc nhở anh ta phải nghĩ đến sự nghiệp của cha mẹ và tương lai chính trị của mình, giọng bà ta nhẹ nhàng và thông cảm khác thường, khiến Hán trong thoáng chốc không thể làm gì được ngoài nghĩ đến việc bỏ vợ để giành được sự âu yếm của mẹ đẻ. Cũng phải cân nhắc đến tương lai của Minh Minh, bà ta nói, và hỏi Hán có muốn con trai mình mất hết mọi đặc quyền vì sự ngu xuẩn của mẹ nó không. Mẹ Hán bảo, Khai không phải là người phụ nữ duy nhất trên đời, và khi cuộc khủng hoảng này qua đi, họ sẽ tìm cho anh ta một người vợ tốt hơn, xinh đẹp và biết vâng lời hơn, để làm một người mẹ kế ân cần. Cứ như thế được một lúc, Hán lại khóc và nói anh ta không thể để chuyện này xảy ra với Khai, ông bố anh ta thở dài và bảo bà mẹ đừng phí lời nữa. Ông ta rút từ trong ngăn kéo bàn ra lá đơn ly hôn họ đã viết sẵn cho Hán. Chỉ cần ký vào đây, bà mẹ bảo, giọng bà ta vẫn nhẹ nhàng và xa lạ.

Hán ký tên, tinh thần suy sụp, trái tim đau đớn và buồn rầu đến mức anh ta không biết có thể sống tiếp trên đời này không. Bà mẹ rót một chén trà và để cạnh Hán, rồi cùng ông bố rút vào phòng riêng để ngủ trước lúc rạng đông. Hán chìm vào cái sofa của ông bố; chiếc tivi mới đặt trên giá rất đẹp, nhìn anh ta như một con mắt đen ngòm, không chớp. Hán đã tưởng tượng những năm tháng hạnh phúc với ba đứa con, đứa bé nhất là con gái xinh đẹp như Khai và được các anh trai nuông chiều. Nhắm mắt lại, anh ta có thể nhìn thấy chúng trong mười năm nữa, một gia đình hạnh phúc ngồi bên bàn ăn đêm Giao thừa, khói nghi ngút từ các món cá, gà và thịt lợn khiến chúng chảy nước bọt vì thèm; lúc pháo hoa bắt đầu bắn ngoài cửa sổ, báo tin sắp nửa đêm, anh ta sẽ đi bộ cùng vợ và các con - tất cả quấn kín trong những chiếc áo khoác mới tinh - đến quảng trường thành phố, nơi các cậu con trai sẽ đốt pháo hoa, ra vẻ hiên ngang rất trẻ con, còn cô con gái sẽ reo lên vui thích, mặt ngửa lên trong đôi bàn tay mẹ.

Cô muốn cái quái gì, hả? Sau đó, Hán hỏi Khai trong nhà mẹ cô. Cha mẹ Hán cấm anh ta đến thăm vợ, nhưng anh ta dọa sẽ rút đơn ly hôn, nên rốt cuộc họ phải đồng ý cho anh ta nói chuyện với Khai một lần. Lúc bình minh, khi mẹ Khai mở cửa cho Hán, anh ta thấy bà cũng mất ngủ cả đêm, mắt bà đỏ hoe và sưng húp.

- Mẹ xin con hãy cứu lấy nó, - mẹ Khai nói trước khi dẫn vào phòng Khai. - Khai là người mạnh mẽ. Nếu có chuyện gì xảy ra với nó, con là người duy nhất nó có thể dựa dẫm.

Hán không dám nhìn vào mắt bà ta.

- Con phải giúp nó, - bà ta nói. - Xin hãy nói với ông bà bên nhà rằng mẹ sẽ bò đến cửa nhà ta, van xin họ rủ lòng thương nếu họ muốn mẹ làm thế.

Hán cố an ủi mẹ Khai, nhưng mới được nửa câu, anh ta đã nghẹn lời vì những giọt nước mắt của chính mình. Bà già đưa cho anh ta chiếc khăn tay, rồi quay đi lau mắt. Họ đã thân thiết từ sáu năm trước, khi Hán đến nhờ bà dạy nấu những món Khai thích. Họ cùng giấu cha mẹ Hán điều bí mật này.

Khai ở trong phòng em gái, nơi luôn có thêm một cái giường dành cho Khai, dù cô đã lấy Hán khi anh ta thu xếp cho gia đình cô chuyển đến một căn hộ mới. Tối hôm đó, lúc Khai và mẹ về nhà, họ thấy một bức thư của Lâm, em gái Khai để lại. Trong thư, Lâm viết cô ta sẽ ở nhà người bạn thân nhất vài ngày, và hiện giờ Khai là người cuối cùng cô ta muốn gặp. Lâm hai mốt tuổi, vừa bắt đầu được các chàng trai có giá nhất thành phố tán tỉnh. Cô đã tiêm nhiễm từ mẹ nỗi xấu hổ phải sống trong ngõ nhỏ, coi nó là nguồn gốc bất hạnh của đoạn đầu đời. Lúc Khai lấy Hán, Lâm mười sáu tuổi và là lúc Khai nhìn ra nước cờ này khiến Lâm chan chứa tin tưởng và vui sướng.

Hình như Khai không ngạc nhiên khi Hán vào. Cô hỏi anh ta có gặp Minh Minh ở nhà ông bà nội không.

- Minh Minh ổn, - Hán nói. Anh ta chuyển chiếc ghế duy nhất trong phòng đến cạnh chỗ Khai ngồi, họ cách nhau một sải tay. - Nó lớn nhiều từ khi anh gặp nó lần cuối.

- Trẻ con là thế mà, - Khai nói, - Cứ lớn lên thôi. Đúng không nào?

- Nó là một đứa trẻ ngoan, - Hán nói, và chưa kịp nhận ra, nước mắt đã rơi xuống lòng anh ta làm sẫm chiếc quần màu xám.

Hán kể cho Khai nghe sự đàn áp thẳng tay ở Bắc Kinh, khiến cô thất vọng hơn sửng sốt; Khai không biết liệu Gia Lâm đã nghe được những bản tin tương tự qua cái đài bán dẫn của anh chưa. Cô ước giá họ ở bên nhau tối nay. Cô mỉm cười khi Hán hỏi cô muốn gì mà họ không có? Khai nói, cô đã làm theo lương tâm đòi hỏi.

- Còn Minh Minh thì sao? - Hán hỏi. - Nó có là lương tâm của em không?

- Không phải mọi người phụ nữ đều là những người mẹ tốt, Khai nói và lần đầu tiên trong ngày, cô xin lỗi.

Lúc Hán nức nở, anh ta lại như một đứa bé. Trước mọi thứ, anh ta là con trai của mẹ; dù thiếu sự dịu dàng của phụ nữ, mẹ Hán luôn coi anh ta là trung tâm của đời bà và không bao giờ quên để Hán biết rằng mọi thứ bà đạt được trong sự nghiệp là vì anh ta. Hán không ngờ một người mẹ lại có thể bỏ con dễ dàng đến thế; sự nhẫn tâm ấy quá tầm hiểu biết của Hán, nghiền nát vũ trụ của anh ta. Anh ta muốn van xin Khai hãy vì lợi ích của con trai và của bản thân anh ta, nhưng chưa kịp mở miệng, qua cặp mắt rưng rưng lệ, Hán đã thấy Khai nhìn anh ta với vẻ thương hại và chán ghét, rồi đứng dậy và bỏ đi. Anh ta khóc mãi, vì con trai và vì bản thân, cho đến khi đầu gục xuống vì mệt lử. Trong giấc mơ nửa vời, Hán nhớ lại một ngày mùa xuân cách đây không lâu, anh ta là người đầu tiên ở Nê Giang có máy ảnh nhập khẩu từ Đức. Hồi đó Hán mới hẹn hò Khai được hai tháng, anh ta nhớ đã nhìn cô qua kính ngắm rồi bấm máy.

Lát sau, mẹ Khai vào, hoảng hốt và tuyệt vọng, còn Hán vội lau khóe miệng, đầu vẫn nhức. Cảnh sát vừa đến và giải Khai đi, bà ta kể với Hán. Xin hãy cứu giúp Khai, vì lúc này anh ta là người duy nhất có thể cứu được cô.

Buổi sáng sau ngày Thanh minh, nhiều lời đồn đoán nảy sinh từ sự thiếu hụt thông tin và trí tưởng tượng phong phú lan tràn khắp Nê Giang. Dân chúng bắt đầu biết khi bản tin bảy giờ không phải do Khai đọc mà là một đồng nghiệp nam của cô. Hai kỹ sư đã nghỉ hưu đi dạo buổi sáng cùng nhau, suy tính về việc xảy ra. Họ bảo có khi sẽ thành một cuộc chấn động chính trị. “Được làm vua”, họ trích dẫn một châm ngôn cổ, nhưng không ai dám liều đoán ai sẽ thắng. Cả hai người đều bình yên vô sự, thoát khỏi nhiều cuộc cách mạng khác nhau trong đời. Họ quen nhau đã ba năm, từ khi gặp nhau tại nhà xác của bệnh viện, hai người mới góa vợ trong đoạn đời xế chiều đã tìm thấy nhau như những người bạn không thể thay thế. Suốt hai tuần qua, họ thảo luận tình hình trong những cuộc đi dạo hàng ngày, người nọ tin người kia là duy nhất để có thể bày tỏ những vấn đề nhạy cảm. Không người nào hy vọng gì, cũng chẳng mong chiếm một vị trí. Ở tuổi họ, vai trò duy nhất còn lại là làm khán giả xem hát, họ chiếm chỗ và thờ ơ ngắm nhìn từ xa. Hai người đàn ông khôn ngoan này dự tính, mỗi kẻ khốn khổ bị kéo xuống vì sự kiện này, sẽ có kẻ khác ngoi lên vì được đề bạt. Một sự cân bằng trong sinh hoạt xã hội, một người nói, còn người kia gật gù và thêm rằng, thực ra ở đất nước này, muốn leo lên phải sử dụng người khác như một nấc thang bằng đá. Chẳng ai muốn nhắc đến quá khứ của mình, vì cả hai đều hiểu muốn an toàn và lành lặn ở tuổi họ, họ đã góp phần là những cái xác dưới chân họ, giữ cho họ đứng vững. Nay nói ra những chuyện đó không còn thích hợp nữa, tuổi già đã miễn cho sự ngượng ngùng và cảm giác tội lỗi của họ.

Ở một nơi khác, một phụ nữ bình luận với chồng trong bữa sáng rằng cô phát thanh viên gặp rắc rối rồi. Đừng đoán mò, có khi chỉ là đổi ca trong đài, người chồng cãi, nhưng người vợ khăng khăng nói rằng bà ta là người biết nhìn xa trông rộng, nếu không thì chồng bà đã bị cách nói của cô ả kéo đến quảng trường thành phố như một tên ngốc. Người chồng ăn cho xong bữa, nhưng cử chỉ này vẫn chưa đủ xoa dịu vợ; bà ta đã cùng mấy bà bạn thân dè bỉu giọng nói uyển chuyển của nữ phát thanh viên, khiến lúc ở nhà các đức ông chồng của họ phải giả điếc khi bị vợ mè nheo.

- Tôi đã bảo ông rồi, - bà ta nói, tiếng bà ta át cả tiếng phát thanh viên thời sự về thu nhập cao kỷ lục của Nê Giang trong quý một. - Tôi đã bảo rồi, cô ả đó là cơn ác mộng cho bất kỳ người đàn ông nào.

Trong phòng cấp cứu của bệnh viện thành phố, nơi không có ai hấp hối hoặc bị đẩy vào để chết, một cậu nằm trong phòng hồi sức, còn mẹ cậu ngủ gà gật cạnh giường. Cậu ta tham gia nhóm đánh nhau đêm hôm trước, bị gạch đập nứt sọ. Bác sĩ đã khâu hai nhăm mũi và lúc này vừa hết ca trực, các đồng nghiệp của bà là hai phụ nữ có mặt trong cuộc tập hợp hôm trước, đang đứng bên cửa sổ phòng hồi sức, không nói năng gì. Người đã ký vào bản kiến nghị tự nhủ, nếu có cuộc đàn áp thẳng tay, cô sẽ ly dị để việc thăng tiến của chồng lên chức chủ nhiệm khoa huyết học không bị ảnh hưởng, còn người kia lạc quan hơn nhờ bản tính và cũng do đã quyết không ký, tin rằng sẽ không xảy ra chuyện gì nghiêm trọng vì luật pháp chẳng bao giờ trừng trị quần chúng lầm đường lạc lối. Hai người đồng nghiệp không hề bàn luận, và lúc tách ra theo ca trực sáng, người nọ vỗ vai người kia an ủi, và cả hai đều hiểu.

Gia Lâm dựa vào cái gối. Lúc mẹ anh mang bữa sáng muộn vào lều, anh không động đậy. Bà quên rót nước sôi rót vào lò sưởi, nhưng anh không nhắc. Đêm hôm trước, ba em trai anh về nhà, tay và áo dính máu. Họ đã đánh nhau và đập vỡ đầu một gã, và lần đầu tiên trong đời, họ nếm mùi sợ hãi. Họ không ngủ suốt đêm, ngong ngóng nhìn ra cổng sợ kẻ thù xông đến với gậy gộc, gạch đá, hoặc tệ hơn, cảnh sát mang còng tay tới. Trước lúc rạng đông, em trai út của Gia Lâm, thường ngày chẳng hay trò chuyện với anh, đã đến căn lều nhờ Gia Lâm trông nom cha mẹ nếu cả ba phải bỏ trốn vài năm.

Gia Lâm nghĩ đến thái độ tức cười, rất kịch của cậu em nhưng không nói gì. Trước khi cậu em vào, Gia Lâm vặn đài Hồng Kông nghe tin tức, ở Bắc Kinh cảnh sát chìm đã bắt đầu tiến hành nhiều cuộc bắt bớ.

- Ở ngoài chợ, mẹ nghe người ta nói đến việc hôm qua, - mẹ Gia Lâm nói và đặt đồ ăn lên cái bàn dựng tạm bằng gốc cổ thụ.

- Người ta nói gì ạ?

- Họ bảo chính quyền sẽ không để ai thoát dễ dàng.

Gia Lâm không nhúc nhích.

- Họ còn nói gì nữa?

- Họ nói cô phát thanh viên ấy lấy một nhân vật quan trọng nên chẳng cần phải lo, - mẹ Gia Lâm nói và liếc nhìn anh. - Con ở trong bọn họ phải không?

Gia Lâm thường nói với gia đình rằng các bạn đến đọc sách cùng anh, nhưng anh biết mẹ anh dễ dàng đoán ra mối liên hệ.

- Còn những việc khác? Người ta còn nói gì không ạ?

- Họ bảo chắc cô ta dùng cuộc tập hợp để trở thành nổi tiếng, - mẹ Gia Lâm nói. - Nhưng mẹ không hiểu. Cô ấy đã nổi tiếng rồi. Tại sao còn cần nổi tiếng thêm?

- Mẹ đừng nghe đồn đại, - Gia Lâm nói. - Người ta ai cũng tưởng mình biết nhiều hơn.

- Con là người trong bọn họ?

- Vâng.

Bà mẹ không nói gì; Một lát sau, anh nhìn mẹ và thấy bà lặng lẽ lau nước mắt.

- Mẹ ơi, mẹ đừng lo, - anh nói. - Không xảy ra chuyện gì đâu, dân chúng chỉ tha hồ tưởng tượng thôi.

- Chắc là Trời chẳng có mắt, - mẹ Gia Lâm nói và kéo vạt áo chấm mắt. - Nếu không thì tại sao Trời cho con thông minh lại ốm yếu, còn các em con lành lặn và khỏe khoắn thì đầu óc lại rỗng tuếch?

- Chúng nó sẽ được bài học thôi.

- Còn con thì sao? Mẹ không thể mất con, - mẹ Gia Lâm nói và nước mắt đã ướt cả vạt áo trước.

Gia Lâm mỉm cười. Anh chết sớm chẳng còn là điều bí mật. Với anh, rời bỏ thế giới này như thế nào mới là điều quan trọng. Mẹ muốn anh nhắm mắt trong tay bà, bà muốn anh thuộc về bà, và chỉ của bà mà thôi.

- Con nghĩ liệu có chuyện gì không? Người ta mỗi người nói một phách, mẹ chẳng biết tin ai.

- Mẹ đừng nghe gì và đừng tin ai hết, - Gia Lâm nói.

- Liệu con có bị sao không?

Gia Lâm lắc đầu. Có lẽ vấn đề chỉ còn là ngày hoặc giờ, trước khi có người đến làm lòng mẹ anh tan nát, nhưng anh không muốn bà biết.

- Mẹ nghĩ mà xem, con không định sống mãi.

Mẹ Gia Lâm ngoảnh đi.

- Chẳng có gì buồn đâu, mẹ ạ, - Gia Lâm nói. - Ba chục năm nữa, không, hy vọng là không lâu đến thế. Mười năm hoặc năm năm nữa thôi, người ta sẽ đến cửa nhà này và nói với mẹ con trai Gia Lâm của mẹ là một anh hùng, một người đi tiên phong, một người nhìn xa trông rộng và can đảm.

- Mẹ thà thấy con là người không hoài bão như các em con còn hơn.

- Chúng nó sống một cuộc đời ngu dốt, nhưng con thì không. Con đọc sách làm gì nếu không sống theo những nguyên tắc đáng để đấu tranh?

- Mẹ thà thấy con không sờ đến một cuốn sách trong đời. Giá mẹ không lấy trộm sách cho con.

- Mẹ đừng nghĩ quẩn thế, mẹ, - Gia Lâm nói, sửng sốt vì sự mãnh liệt của mẹ. Sau một cơn ho, anh nhẹ nhàng nói, - Con còn có thể để lại gì nữa cho mẹ? Con không thể cho mẹ một đứa cháu trai.

Mẹ Gia Lâm rời căn lều, không trả lời; trên đường ra, bà đâm sầm vào khung cửa. Anh nghe thấy những tiếng nức nở tuyệt vọng của mẹ biến vào chiều sâu ngôi nhà và anh buộc mình phải cứng rắn, không mủi lòng vì những giọt nước mắt của mẹ.

Hôm thứ Hai sau tiết Thanh minh, trong lòng cô giáo thấp thỏm không yên. Cô đã cho cả lớp tập viết và ngồi một lúc sau bàn, rồi cô ra ngoài hành lang nói chuyện với một cô giáo khác. Đám trẻ con vẫn còn náo nức, không thể giữ yên lặng. Bọn con trai kể cho nhau nghe về những bóng ma và những con thú hoang chúng phát hiện ra trên núi, bọn con gái khoe những thứ lấy được của thiên nhiên - những cái đánh dấu sách làm bằng lá ép, những bông hoa dại ép giữa các trang sách, những sợi lông chim màu sắc sặc sỡ, những cái vòng xâu bằng quả khô. Chỉ đến khi lớp học quá ồn, cô giáo mới vào và đập cái thước lên bảng đen. Cô tuyên bố các em phải chép từng bài trong sách ba lần thay vì một lần, và không được phép về nhà ăn trưa nếu không làm xong.

Bọn trẻ con hãi phải ở lại sau giờ nghỉ trưa, thôi ngó ngoáy trên ghế và bắt đầu viết, ngọn bút chì gãi sột soạt trên giấy như những con tằm ăn rỗi. Đồng đếm vài trang giấy trắng trong vở bài tập, nó không đủ giấy để chép, nhưng dù có đủ chỗ để chép mọi chữ trên đời, hôm nay đầu óc nó vẫn để đâu đâu. Lại một đêm nữa Nhĩ Nhĩ không về nhà, hy vọng của nó ngày càng ảm đạm.

Lúc nào lũ chó cũng bị bắt và làm thịt, đêm qua bố nó bảo, và chẳng có lý gì phải khóc vì việc ấy, thế giới này sẽ thành một nơi quá ư đông đúc nếu chó hoặc trẻ con không biến mất. Mẹ Đồng nắm tay nó trong lúc bố nó lè nhè triết lý về bọn trẻ con bị bắt cóc và lũ chó bị làm thịt. Tuy vậy, lúc bố Đồng say đến ngẩn ngơ, mẹ nó nhắc lại y như thế. Bà bảo, khi mùa động hớn bắt đầu, bà có thể tìm cho nó một con cún mới, bà gợi ý sẽ đặt tên con cún mới là Nhĩ Nhĩ, nếu nó thích thế.

Ý tưởng thay thế khiến Đồng hoang mang và thất vọng, nhưng hình như người lớn nghĩ đấy là việc tự nhiên. Ngay cả già Hoa cũng nói tương tự, dường như không ngừng có những thứ giống hệt hoặc những vật thay thế cho mọi thứ, một cái áo, một con chó, hoặc một đứa con.

Mắt Đồng cay xè. Khóc trong lớp thì xấu hổ quá, nó xì mũi và cố kìm nước mắt. Lát sau, ngực nó đau tức. Đêm qua nó đã khóc thầm một lúc lâu, rồi sau đó thấy ngượng. Nó tự hỏi dân làng ông bà nó sẽ nghĩ gì khi biết nó yếu đuối đến thế. Có lẽ việc mất Nhĩ Nhĩ cũng như lão Keng thuần hóa con mực và người dự báo thời tiết nói ra những bí mật của thiên nhiên, là một thử nghiệm mới cho nó chứng tỏ bản thân, nhưng ý nghĩ này cũng không làm ngực nó nhẹ nhõm đi chút nào.

Nghỉ giải lao, Đồng ra hành lang ngồi thu lu một góc. Nó không cảm thấy dễ chịu hơn khi những giọt nước mắt kìm nén quá lâu rơi xuống sàn xi măng. Một cô giáo lớp trên phát hiện ra Đồng và hỏi nó làm sao, người nó run lên vì cố không rên rỉ. Chắc là đau bụng đây, cô giáo nói to; cô hỏi Đồng có thể về nhà một mình hay cần xe đưa nó đến bệnh viện? Đồng gật rồi lại lắc khiến cô giáo bối rối, cô quyết định tìm ông gác trường đang gà gật sau đống củi ở tầng hầm. Ông ta có vẻ ngượng khi bị đánh thức, và lúc theo cô giáo đến hành lang thì cậu bé ốm đã biến mất, để lại một vũng nhỏ nước mắt trên sàn. Ông gác càu nhàu và dùng đế giày lau chỗ nước mắt, loại trừ bằng chứng duy nhất là cô giáo không nói dối, đã làm phiền ông ta trong lúc tranh thủ chợp mắt.

Đồng lang thang khắp thành phố. Nó lùng sục mọi phố, ngõ một lần nữa song vẫn vô hiệu, lúc đó nó hiểu kết luận của bố mẹ nó và già Hoa là nếu đến bây giờ Nhĩ Nhĩ vẫn chưa về nhà, rất có thể nó đã ở trên bàn ăn của ai đó rồi. Lùi lũi đi dưới bầu trời buổi sáng trong trẻo, xa hẳn lớp học trần thấp và các cửa sổ nhỏ phủ đầy bồ hóng, nó cảm thấy niềm hy vọng nhỏ nhoi lại dâng. Nó đi từ khu nhà này đến khu nhà khác, cố tránh ánh mắt của người lớn, song giống như cô giáo của nó, hình như chẳng ai còn tâm trạng bắt gặp nó chơi trò trốn học. Các bà nội trợ và công nhân làm ca đêm về, từng nhóm hai hoặc ba người trò chuyện trên phố; vài chủ hiệu rời quầy, đứng trước cửa nhà nói chuyện và ngắm từng người đi qua cho có việc.

- Sao lúc này cháu không đi học? - Một ông già quát lúc Đồng rẽ vào một ngõ. Người đó mặc áo khoác da cừu nặng và đội mũ vải nhăn, dù tiết xuân rất đẹp. Ông ta chống một tay lên cây gậy gỗ, còn tay kia cầm chiếc phong bì và dựa vào hàng rào gỗ cho vững thêm. - Ta hỏi cháu đấy. Bây giờ là mười giờ sáng thứ Hai, cháu làm gì trong ngõ?

Đồng lùi lại. Nếu nó chạy, nó dễ dàng bỏ ông già đang làu bàu lại đằng sau, nhưng lớn lên ở nông thôn, nơi người già được kính trọng như vua, nó không có tính phớt lờ câu hỏi của một ông già.

- Cháu học trường nào?

- Sao Đỏ ạ, - Đồng đáp thật thà trước khi nghĩ ra câu nói dối.

- Thế vì sao cháu lại ở trong ngõ nhà ta mà không ở trường?

- Cháu không biết ạ, - Đồng đáp.

- Cháu có trả lời thầy giáo cháu như thế không? Nghe này, ta là thầy giáo đây. Hai tuần trước ta có những học sinh như cháu trong lớp, và ta biết đủ mẹo của chúng. Giờ ta hỏi lần nữa, sao hôm nay cháu lại trốn học?

- Cô giáo cháu bảo chúng cháu phải chép xong cả quyển bài tập trước giờ ăn trưa, - Đồng nói khẽ. - Vở bài tập của cháu không còn đủ trang.

- Giáo viên loại gì thế không biết! - Ông già càu nhàu. - Cháu có thể tránh xa cái nơi vô dụng như thế.

Đồng không biết có nên rời bỏ người tuyên bố mình là thầy giáo mà lại nói năng cục cằn như một ông già thất học.

- Bây giờ cháu muốn chạy xa ta chứ gì? - Ông già nói. - Cháu tưởng ta nói năng nhảm nhí hả? Ta nói cho mà nghe: Cháu có thể học được mọi chữ trong từ điển, viết nên hầu hết những bài hay ho trên đời. Cháu có thể học nhiều hơn Khổng Tử - cháu có biết Khổng Tử là ai không? Ờ, làm sao có thể mong cháu học được thứ gì ở nhà trường hiện nay? Đằng nào thì cháu có thể am hiểu như một học giả song vẫn dốt nát hơn cả một người nông dân mù chữ hoặc một kẻ ăn mày. Cháu có hiểu không?

Đồng lắc đầu.

- Điều ta muốn nói là cái này, - ông già đập cây gậy xuống đất, - cháu không thể có được sự từng trải và hiểu biết thực sự trong các bài tập. Ta có thể nói rằng cháu có thể bỏ phắt cô giáo ngớ ngẩn của cháu, chẳng nhồi được gì vào đầu cháu ngoài mỡ lợn.

Đồng bất giác bật cười.

- Giờ cháu muốn thành người tốt và có ích thì bỏ giúp ta cái thư này vào hòm thư bưu điện.

Đồng nhận bức thư từ tay ông già và ngạc nhiên vì nặng. Nó liếc nhìn phong bì và thấy đã dán mấy con tem.

- Không được nhìn trộm! - Ông già quát rồi đổi ý và bảo Đồng trả lại bức thư.

- Cháu có thể giúp ông. Ở đằng kia có một hòm thư.

- Ta biết rất rõ. Hãy gọi ta là thầy giáo Cố. Ta không phải là ông cháu.

Đồng trả bức thư cho ông giáo Cố, ông vỗ vỗ nó và đút vào túi áo khoác. Đồng đưa cả hai bàn tay đỡ cánh tay còn rảnh của ông già:

- Cháu sẽ giúp ông đi ạ, - nó nói.

- Cảm ơn cháu, nhưng không cần, ta có thể đi được, - ông giáo Cố nói và gạt Đồng sang một bên, rồi chống gậy tiến về phía trước.

Đồng theo sau ông giáo Cố, sợ nhỡ cây gậy thụt vào rãnh nước. Song ông giáo Cố chuệnh choạng tiến lên, không hề chú ý đến Đồng, dường như cậu bé bỗng nhiên không tồn tại với ông. Lúc họ đến gần hòm thư, ông giáo Cố xem xét kỹ lưỡng giờ lấy thư in bằng chữ nhỏ dán ở bên sườn hòm.

- Là mấy giờ? - Ông nói sau một lúc lâu cau có.

Đồng đọc cho ông giáo Cố, ông đang xem đồng hồ.

- Mười giờ hai mươi, - ông càu nhàu thật to. - Chúng ta đợi vậy.

Đồng thấy rõ lạ, có người lại đợi nhân viên bưu điện. Chẳng phải là hòm thư đặt ở chỗ này để mọi người bỏ thư vào, không phải đợi đấy thôi?

- Sao cháu lại đứng ở đây? - Lát sau, ông giáo Cố nói. - Có người sai cháu dò la ta phải không?

Đồng giải thích nó ngỡ ông giáo bảo nó đợi, nhưng ông giáo Cố làm như đã quên lời ông nói. Ông ngắm nghía phố xá rồi gõ một ngón tay vào đồng hồ cho Đồng nhìn:

- Người phụ trách hòm thư này đến muộn, - ông nói. - Đừng có tin vào những gì viết ra.

Hình như trước kia chưa bao giờ giờ nghỉ trưa lại dài đến thế. Ông giáo Cố gõ gõ các ngón tay xuống bàn và đợi vợ ăn xong rồi trở lại cửa thu ngân. Cuối tuần trước, nhà trường ông đã yêu cầu ông nghỉ hưu sớm vì lý do sức khỏe, và thấy được hưởng ba phần tư lương hưu, ông đã ký giấy tờ không hề ngập ngừng hoặc hỏi ý kiến vợ. Hiện có nhiều thanh niên có học từ nông thôn trở về, ông để lại vị trí của mình cho một thanh niên còn mơ về một gia đình sẽ khiến những giờ dài dặc giữa bọn trẻ quấy nhiễu và ồn ào trở nên có thể chịu được, đằng nào ông cũng không làm việc được nữa.

- Mình không phải ngồi đây đợi tôi đâu, - bà Cố nói. - Hay mình cần ăn thêm cơm?

- Tôi đủ rồi.

Bà Cố đã xong bữa. Dọn bàn và rửa bát đĩa xong, bà rót một chén trà và để cạnh bàn tay đang gõ trống của ông.

- Mình muốn chợp mắt một lát không? - Bà hỏi.

- Bây giờ mình đi làm à?

- Vâng.

- Thì đi đi. Tôi có thể tự lo cho mình được.

Ông chán ngán thấy bà Cố ngồi xuống bên bàn.

- Mình có nghĩ chúng ta cần thuê một cô gái miền núi giúp đỡ việc nhà không?

- Chúng mình giàu thế sao?

- Hay nhờ Nhược Nhược? Tôi nghĩ là mình cần có người bầu bạn. Mình cũng cần giúp đỡ nữa, - bà Cố nói. - Nhược Nhược sẽ là người tốt về nhiều mặt.

- Tôi tưởng mình ghét cô bé.

Bà Cố tránh cái nhìn chằm chằm của ông.

- Tôi biết tôi đã không công bằng với con bé, - bà nói.

- Giờ con bé phải học mà sống với những thứ đó thì hơn, - ông giáo Cố nói. - Mình không phải là người cuối cùng đối xử bất công với nó.

- Nhưng chúng ta có thể đền bù cho nó, - bà Cố nói. - Và cho gia đình nó. Tôi đã thấy mẹ nó lại đang có mang. Họ sẽ cần thêm tiền.

Ông giáo Cố thấy những người đồng chí trẻ của vợ đã tẩy não bà biết chừng nào. Sự khao khát làm những việc tốt đẹp và công bằng của bà khiến ông phẫn nộ.

- Chúng ta chưa đủ những cặp mắt rình mò hay sao? - Ông nói. - Không, thà tôi ở một mình còn hơn.

- Nhỡ tôi có chuyện gì thì sao? - Bà Cố nhìn ông rồi lắc đầu. - Giờ tôi đi làm đây.

- Phải. Không hỏi những câu không phải trả lời cũng hay, - ông giáo Cố nói với vợ, và khi bà đóng cửa lại, ông lấy cây bút trong ngăn kéo và tìm tờ giấy trong cuốn sổ có bức thư nữa viết dở cho người vợ đầu. Ông đọc lại, nhưng không thể tiếp tục dòng suy nghĩ bị cắt ngang lúc vợ ông về nhà ăn trưa. Cứ để bà ấy quyết định những thứ bà muốn chọn. Ông bắt đầu viết trên trang mới:

Gần đây, tôi đang ngẫm lại Kinh Phật. Không, chúng không ở trước mắt tôi, các quyển kinh mà ông nội tôi để lại cho tôi, bà có thể hình dung ra, đã không sống sót qua ngọn lửa cách mạng, khởi đầu chẳng ai khác ngoài con gái tôi. Song những bản kinh đã đọc vẫn in sâu trong trí tôi. Tôi chắc rằng với học thuyết cộng sản vô thần của bà, bà sẽ chẳng mấy thích thú, nhưng bà hãy tưởng tượng cùng tôi trong khoảnh khắc, Đức Phật ngồi dưới cây thiêng và thỉnh thoảng nói với các môn đệ của Người. Nghe nói Đức Phật thông thái nhất trong những người thông thái, có tình yêu thương bao la và vô tận với vạn vật, nhưng chẳng qua Người cũng chỉ là một ông già với niềm hy vọng mù quáng, nói không biết mệt với một cõi trần ai chẳng bao giờ hiểu Người? Chúng ta trở thành tù nhân cho đức tin của chính mình, chẳng người nào thoát khỏi vận số ấy, và đây chính là xã hội dân chủ duy nhất mà cõi nhân gian này khao khát, người bạn thân mến nhất của tôi ạ.

Ông giáo Cố ngừng viết lúc nghe thấy có người đi vào trong sân qua cánh cổng không khóa. Nhìn qua cửa sổ, ông thấy những hàng xóm của ông, cô gái cuồng cách mạng và chồng cô ta đang tiến đến cửa nhà ông. Cô vợ cao giọng hỏi có ai ở nhà không. Cửa vào nhà không khóa và trong giây lát, ông giáo Cố phân vân có nên lẳng lặng đi ra cài chốt từ bên trong lại không. Nhưng khoảng cách đến cửa dường như là một quãng đường dài, kiệt sức. Ông nín thở và nhắm mắt lại, ước gì ông giữ được im lặng đủ lâu để họ biến đi.

Cặp đó đợi trả lời rồi người vợ thử đẩy cửa, cánh cửa kêu két một tiếng.

- Ồ, ra ông có nhà, - cô vợ nói với vẻ ngạc nhiên vờ vịt. - Chúng tôi nghe thấy tiếng động lạ và nghĩ nên đến xem sao.

Ông giáo Cố lãnh đạm đáp rằng mọi sự vẫn ổn. Ông kín đáo lấy tờ báo đậy bức thư viết dở của ông.

- Ông chắc chứ? Tôi nghe nói ông bị đột quỵ. Chúng tôi sẽ kiểm tra giúp ông, - người vợ nói và ra hiệu cho chồng đang đứng cạnh cửa, anh ta xoa xoa hai bàn tay vào nhau dường như lúng túng. - Vợ ông có nhà không? - Cô ta hỏi.

- Tại sao tôi phải trả lời cô?

- Tôi chỉ ngạc nhiên thôi. Sẽ chẳng hay ho gì nếu vợ để chồng ở nhà.

- Bà ấy đi làm.

- Tôi biết, nhưng tôi nói chung chung vậy thôi. Hồi ông nằm viện, tôi đã thấy bà ấy đi khỏi nhà sau khi trời tối ít nhất hai lần, - người đàn bà nói và quay sang chồng. - Sao anh không kiểm tra xem tiếng động ấy là gì? Có khi là một đàn chuột.

Người thanh niên miễn cưỡng tiến tới và nhìn quanh, tránh mắt ông giáo Cố. Tuy nhiên, người vợ không che giấu sự thích thú lúc đi rảo khắp phòng và săm soi mọi xó xỉnh. Lúc cô ta mở vung nồi và nhìn vào, ông giáo Cố mất hết nhẫn nại. Ông đập cây gậy xuống sàn:

- Cô tưởng chúng tôi quá già đến mức không biết có chuột trong nồi và cần cô trườn như rắn đến tìm ư?

- Ái chà, nói năng với hàng xóm kiểu này chẳng hay ho tí nào, - người phụ nữ nói và quăng trả cái vung nồi. - Chúng tôi ở đây để giúp ông trước khi mọi việc ra ngoài tầm tay.

- Tôi không cần các người giúp đỡ, - ông giáo Cô nói. Ông chống một tay lên bàn và đứng dậy, chỉ cây gậy ra cửa. - Giờ hãy ra khỏi nhà tôi ngay lập tức. Các người không có giấy khám nhà đấy chứ?

Người phụ nữ phớt lờ lời ông và đến gần bàn hơn. Cô ta nhấc tờ báo, lộ ra nửa bức thư và cười khẩy. Cô ta chưa kịp đọc chữ nào, ông giáo Cố đã quật gậy lên mặt bàn, một tiếng rắc chói tai. Chén trà ông chưa động tới bắn khỏi bàn và đổ lên quần cô ta, cái đĩa lót rơi xuống sàn xi măng nhưng không vỡ.

Người chồng kéo vợ lại trước khi cô ta phản ứng; mặt cô ta vẫn tái mét lúc anh ta cam đoan với ông giáo Cố rằng họ không có ý định xúc phạm ông. Người chồng nói giọng nam trung rất ấm và lịch thiệp khiến ông giáo Cố sửng sốt. Anh ta là công nhân ngành gì đó, vì anh ta vận quần yếm dính đầy dầu mỡ, sơmi mòn xơ. Ông giáo Cố nhận ra trước kia ông chưa bao giờ nghe thấy người đó nói. Nếu nhắm mắt lại, ông có thể hình dung giọng nói đó của một người có học hơn nhiều.

Người vợ, mặt đã lấy lại màu sắc, bước ra từ sau lưng chồng:

- Ông nghĩ xem, ông đang làm gì? Đây là một xã hội văn minh.

Tiếng người phụ nữ rít lên the thé. Ông giáo Cố thấy tiếc cho anh chồng có giọng nói hay như thế, - hẳn phải có cuộc đời riêng của mình - chắc thất vọng, không chỉ vì lời lẽ mà còn vì cái giọng sắc như dao và đáng sợ kia.

- Đừng hòng dọa tôi bằng cái kiểu Hồng vệ binh của con gái ông, nhé, - người vợ nói. - Tôi nói cho mà biết, ở đất nước chúng ta không bắt người khác phải theo bằng bạo lực được đâu.

Ông giáo Cố chỉ cây gậy vào mặt người đàn bà, toàn thân ông run lên.

- Đừng đến và nói năng bậy bạ trong nhà tôi, - ông nói chậm rãi, cố phát âm rõ từng lời.

- Ông giáo gì mà thô tục, - người đàn bà nói. - Ông bị thải hồi sớm là tốt cho thế hệ sau đấy.

Người chồng kéo vợ lại rồi len vào giữa cô ta và cây gậy đang run run, xin lỗi vì hiểu nhầm. Cô vợ gạt chồng sang một bên và nói quyết không chịu thua sự thô lỗ của ông già.

- Giờ tôi thách ông đánh tôi đấy. Đánh đi, con cáo phản cách mạng! Đánh tôi đi để chúng tôi đưa ông vào dưới máy chém của công lý.

Ông giáo Cố quan sát người phụ nữ sùi bọt mép vì một nỗi căm hận ông không hiểu nổi; cô ta trạc tuổi con gái ông, có lẽ không được học hành nhiều, và chắc chắn là không có đầu óc. Ông buông cây gậy xuống sàn và nói với người chồng:

- Anh bạn, tôi xin anh - đây là lời đề nghị giữa hai người đàn ông - và tôi chân thành xin anh. Sao anh không bảo vợ anh là hành xử như thế rốt cuộc chỉ làm cô ấy thành người phụ nữ đáng sợ và không ai muốn có?

Người đàn bà châm chọc:

- Một ý nghĩ thối tha. Tại sao tôi phải để chồng dạy dỗ? - Cô ta nói. - Phụ nữ là cột trụ chính cho lâu đài chủ nghĩa cộng sản của chúng ta.

Ông giáo Cố ngồi xuống và gạch những nét đậm lên tờ giấy: CÂM MỒM. XÉO ĐI. Ông giơ tờ giấy cho hai vợ chồng. Ông quyết không phí thêm một lời nào cho người đàn bà.

- Ông là ai mà dám ra lệnh cho chúng tôi? Nói cho mà biết, ông và vợ ông giống những con dế sau cơn sương giá đầu tiên. Các người chẳng mấy nỗi mà ngoẻo.

Người chồng kéo tuột vợ đi, và lúc cô ta cưỡng lại, anh ta khẽ bảo đã đến lúc cô ta im mồm. Cô ta cao giọng chất vấn. Người đàn ông nửa kéo nửa bế cô ta ra khỏi nhà. Qua cánh cửa mở, ông giáo Cố nghe thấy tiếng cô ta la hét và nguyền rủa chồng hèn nhát, ngay cả trước mặt một lão già vô tích sự. Ông giáo Cố thu hết sức lực đi qua phòng và đóng cửa. Lúc trở lại bàn, tay ông vẫn quá run không sao viết nổi. Các vị khách, dù ý định khám phá những điều bí mật rõ ràng là lố bịch, song đã báo hiệu sự nguy hiểm. Tuy nhiên, trong lúc đợi nút thòng lọng thắt chặt quanh cổ, ông còn biết làm gì ngoài việc nhắm mắt và tin rằng khả năng thoát khỏi số phận không nằm trong tay người khác mà ở ý chí của chính mình?

Vào ngày sau Thanh minh, dưới bầu trời đêm tăm tối, mười căn nhà đã bị ập vào lục soát. Đã xảy ra nhiều cuộc bắt bớ, và các nghi phạm không chống cự. Lúc chập tối, thắng lợi đầu tiên bẻ gãy cuộc chống phá phản cách mạng đã báo cáo lên tỉnh bằng điện mật.

Một quan chức Đảng cao cấp bay từ trên tỉnh về, với nhiệm vụ gặp gỡ thị trưởng và nhân viên của ông ta. Hán và cha mẹ anh ta trước kia được coi là những trợ thủ đáng tin nhất của thị trưởng, nay bị đuổi ra ngoài cuộc họp. Một đội an ninh đặc biệt được chở vào thành phố trong mười chiếc xe quân sự bít bùng, thành lập từ cảnh sát và công nhân của thành phố cách đó một trăm dặm, nhằm bảo đảm một cuộc điều tra và thanh trừng ở Nê Giang được công bằng. Trên đường đi, một thanh niên vừa thừa kế vị trí của bố trong sở cảnh sát đã nới lỏng tấm che bằng vải dầu và ngó ra ngoài. Những ngôi sao màu bạc lấp lánh trên bầu trời và quả núi đen ngòm lù lù ở xa khiến cậu ta run như một con cún. Cậu ta vừa tròn hai mươi, chưa bao giờ rời thành phố quê hương. Cậu ta tưởng tượng ra những câu chuyện sẽ kể với cô tiếp tân trẻ măng khi trở về; cô ta sẽ bảo là cậu khoác lác và một mực không tin lời nào, nhưng nụ cười bẽn lẽn của cô lại nói khác, chỉ hai người hiểu với nhau.

Dân chúng Nê Giang dù suy đoán và không biết chắc, vẫn tin vào câu châm ngôn cổ: Luật pháp không trừng trị quần chúng vì những hành vi sai trái của họ. Niềm tin này cho phép họ mải những cuộc chè chén, tranh cãi, làm tình ban đêm - những ước mơ lớn lao và khát khao nho nhỏ, tất cả lại đến, sinh động trong một đêm như đêm nay, khi cây đào dại và những cây mận ven sông trổ hoa, gió đưa mùi thơm phưng phức vào các ngôi nhà qua cửa sổ mở toang.

Ông thợ mộc và cậu học việc đi qua cầu về phía núi, cậu thanh niên đẩy chiếc xe cút kít chất dụng cụ và ngắm đầu điếu thuốc lá đỏ đu đưa trên miệng ông thợ cả. Người thợ mộc đã mua thuốc lá bằng món tiền cuối cùng, trước khi lên thành phố ông ta đã thề là muốn biết vị thuốc lá. Còn nhiều lời hứa khác với vợ ông ta và cha mẹ cậu học việc trước khi họ rời núi, nhưng hy vọng kiếm được nhiều tiền đã tan thành mây khói vì những viên chức thuê họ, trong đó có ba cái giá để tivi mà không trả hơn một khoản đền bù tối thiểu. Ông thợ mộc nói giữa hai hơi thở, dân thành phố là một lũ bị chó sói ăn mất tim, và đe cậu học việc đừng lặp lại sai lầm này, nhưng cậu thanh niên bối rối vì những cái tivi vừa thấy ở nhà các quan chức, thầm hình dung mình ngồi chễm chệ trong cái ghế bành, chỉ cần ấn một cái nút là được thưởng thức vẻ đẹp của những người phụ nữ xuất hiện trên màn hình.

Một người hành khất mù ngồi trước túp lều của ông bà Hoa, xát nhựa côlôphan suốt chiều dài cái vĩ của cây nhị hai dây. Ông ta trên đường từ thành phố này đến thành phố khác thì gặp vợ chồng ông Hoa, họ mời ông ngủ đêm ở nhà họ và thết ông một bữa ngon lành. Trước kia người hành khất chưa gặp họ bao giờ, song ông ta không ngạc nhiên, sau một tuần rượu, họ bắt đầu kể chuyện về cuộc đời đã từng lang thang trên đường của họ. Người ta dễ nhận ra đồng loại dù có che đậy, và thế là cả ba người cùng uống rượu, cười và khóc với nhau. Hai vợ chồng ông Hoa đề nghị người hành khất thôi trôi giạt và ở lại với họ, và ông ta đồng ý rất tự nhiên. Nhưng lúc này, ma lực của rượu đã nhạt, người đàn ông mù biết rằng sáng hôm sau, việc đầu tiên của ông là ra đi. Suốt đời, ông ta chưa bao giờ ở lại với ai, và đã quá muộn để thay đổi số phận. Ông ta thử cưa cái vĩ lên dây, cây nhị thở dài và rên rỉ.

Cửa bật mở, người mù ngừng vĩ và lắng nghe. Người chồng đang ngáy trong lều, còn người vợ khép cửa, nhẹ như lúc mở và ngồi xuống gần người hành khất.

- Tôi đã làm bà thức giấc, - người mù nói.

- Ông chơi nữa đi, - bà Hoa nói.

Ông mù đã định lẻn đi không đánh thức vợ chồng họ dậy, nhưng bây giờ người vợ đang ngồi cạnh ông, ông đành giải thích:

- Tôi không hay thay đổi ý kiến, nhưng tôi nghĩ tôi phải từ chối lòng tốt của ông bà.

- Ông phải trở lại trên đường thôi. Tôi không trách ông đâu.

- Một khi đã là cái số không nhà không cửa, người ta thấy khó mà ở yên một chỗ.

- Tôi biết. Tôi ước giá chúng tôi cũng lại lang thang trên đường, - bà Hoa nói. - Bây giờ ông chơi tiếp đi.

Ông mù gật đầu, biết rằng hai vợ chồng nhà này sẽ không mếch lòng vì ông ra đi. Ông chầm chậm cưa vĩ trên dây và chơi bản nhạc cổ Tống biệt hành, dành tặng tình bạn một ngày của ông.

Dịch nguyên bản từ tiếng Anh The Vargants by Yiyun Li
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 10 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.