Sân vận động Đông Phong xây dựng lúc cao trào của Cách mạng Văn hóa năm 1968, theo mô hình của sân vận động Bắc Kinh tuy sức chứa ít hơn nhiều, là sân khấu quen thuộc của Khai. Mỗi năm vài lần cô điều khiển các buổi lễ, kỷ niệm mồng Một tháng Năm, ngày thành lập Đảng cộng sản Trung Quốc, Quốc khánh, những loại thành tựu mà chính quyền thành phố quyết định tôn vinh trong các cuộc hội họp quần chúng. Từ chỗ đứng, Khai không thể nhìn thấy phần lớn đám khán giả, song cô biết cách thu hút sự chú ý của mười lăm ngàn người bằng giọng nói được khuếch đại của cô, một giọng nói dường như tác động đến từng thay đổi nhỏ nhất trong không khí. Đôi khi tiếng cô vang lại, ngân lên với sức sống mạnh mẽ lạ lùng, và Khai biết cô được ngắm nhìn, ngưỡng mộ và có lẽ cả thèm khát nữa, thế chỗ mau lẹ biết chừng nào cho một người tình, một người vợ hoặc một người con trong trái tim những người xa lạ. Nhưng năm ngoái, những khoảnh khắc ấy diễn ra ngày càng thưa dần, hiện giờ cô thường cảm thấy mình như một kẻ ăn mày, giọng cô chìm nghỉm trong trạng thái hỗn độn và đập vào những bức tường lạnh lẽo, thờ ơ.
- Em căng thẳng à? - Hán hỏi lúc họ đứng lại bên cổng phụ. Anh ta nhìn quanh rồi đưa mu bàn tay chạm vào mặt vợ. - Mọi việc sẽ ổn thôi, - Hán nói. Cô lắc đầu không đáp. Mùa thu năm ngoái, sau thời gian nghỉ đẻ trở về làm việc, cô đã mất tự chủ trên sân khấu tại lễ kỷ niệm Quốc khánh. Giọng cô nghẹn tắc và trong vòng một phút, những giọt nước mắt không kìm được giàn giụa. Tuy ngỡ ngàng vì thái độ của cô, song khán giả đã không phản ứng lại theo bất cứ cách gì bất lợi cho sự kiện. Nhưng các quan chức và các vị thượng khách ngồi gần sân khấu nhất hẳn đã nhận thấy những giọt nước mắt và nhắc nhở. Chắc là tại hoóc môn, phu nhân thị trưởng đã bình luận với Khai trong bữa tiệc sau đó, còn mẹ Hán tính tình không mấy rộng lượng và khoan dung đã cảnh cáo Khai trước mặt quan khách, không được để những tình cảm tầm thường của đàn bà xen vào nhiệm vụ chính trị.
- Nhân dân sẽ chú ý đến người phụ nữ sắp bị hành hình, - Hán nói. Khai ngước nhìn chồng, sửng sốt vì thực tế đơn giản và tàn nhẫn mà cô không ngờ anh ta có thể nói ra lời. Những ngày sau cơn bệnh hôm Quốc khánh, Hán hỏi cô đã xảy ra chuyện gì, Khai nói dối cô lo lắng khán giả quên cô, vì biết rằng không bao giờ có thể giải thích nổi cảm giác lẻ loi bao trùm cô trên sân khấu, với Hán hoặc với bất kỳ người nào khác.
Hán an ủi cô lần nữa, rằng hôm nay cô sẽ không bị mất khán giả, còn Khai gật đầu và nói cô phải đến sân vận động. Anh ta bảo sẽ gặp lại cô ở bữa tiệc, còn cô nhìn nét uốn cong trên khuôn miệng được luyện tập kỹ càng của anh ta. Giống một thiếu niên rất ý thức được vẻ điển trai của mình, Hán tập mọi loại biểu hiện trên mặt trước gương, cười mỉm, cười to, cau mày, nhìn chăm chú... và cảm nhận một khoảnh khắc ngọt ngào. Nếu Hán sinh ra có cha mẹ địa vị thấp hơn, có lẽ sự ngây thơ như trẻ con sẽ khiến anh ta thành một người chồng tốt, một người cha tốt, một con người tốt, rồi có thể cuộc sống khắc nghiệt sẽ đè bẹp sự ngây thơ ấy từ lâu. Sáng hôm ấy, lần đầu tiên Khai nhìn vào mắt chồng và chúc anh ta một ngày may mắn.
- May mắn lúc nào chẳng ở bên anh, - Hán đáp.
Khai để anh ta ở lại bên cổng phụ của sân vận động. Hán ngắm vợ cho đến lúc cô biến khỏi tầm nhìn, còn cô phải dằn lòng mới không quay lại và xin anh ta tha thứ. Sớm hôm ấy, cô đã hôn Minh Minh thắm thiết đến mức người trông trẻ sửng sốt. Cô gái đã kín đáo lùi vào một góc phòng trẻ và đợi, mắt nhìn xuống, bộ mặt chịu đựng, tiếp tục thân phận chăm sóc đứa trẻ. Minh Minh đưa những ngón tay mũm mĩm và mềm mại sờ khắp mặt Khai, không ý thức được tình yêu cũng như quyết định của mẹ sắp rời bỏ cái thế giới bị che chắn bằng chính tình yêu đó.
Đằng sau sân khấu, mọi người bận rộn chuẩn bị nhiều việc vào phút chót. Một đồng nghiệp tập dượt với Khai, rồi mời Khai nghỉ trong một phòng nhỏ, chén trà thơm phức đang đợi cô. Lát sau, thư ký của Sở Tuyên truyền vào nói có người tìm cô ở cổng phụ. Có phải Hán không, cô hỏi và người phụ nữ kia nói không phải chồng Khai mà là một người lạ. Chắc là một người hâm mộ bí ẩn, cô thư ký cười nói, và Khai gạt ngay câu đùa, nói lúc này cô không cần người hâm mộ nào trên đời. Cô thư ký nói cô ta sẽ ra bảo người đó Khai là một người vợ và người mẹ hạnh phúc, nếu Khai muốn thế. Khai cảm ơn và nói cô sẽ tự nói. Lúc đó cô thư ký bị gọi vì việc khác, tiếng cười của cô ta theo Khai ra tận hành lang. Thiên hạ có thể cả tin và mù tịt mọi sự, y như người chồng không chút nghi ngờ của cô.
Bên kia đường đối diện với sân vận động, Gia Lâm đứng dưới một cái cây, áo khoác màu xám lẫn với bức tường phía sau. Cái mũ vải kiểu Xô viết cũ kéo sụp xuống tận lông mày, hai mảnh che tai buông xuống buộc dưới cằm; cái khẩu trang to bằng vải bông trắng che gần hết mặt, loại cả nam lẫn nữ ở Nê Giang đeo trong mùa đông dài dằng dặc. Nếu không có cặp kính của anh, gọng bị gẫy và sửa bằng nhiều lớp băng dính, Gia Lâm trông không khác gì một công nhân đi làm ca đêm về nhà hoặc một ông chủ trên đường đến cửa hiệu chật chội. Tuy nhiên, đến gặp cô ở nơi công cộng trong một ngày như thế này không giống với tính anh chút nào.
- Tôi có thể giúp gì anh? - Khai nói. Trong cái thế giới bên ngoài thư viện, nơi thỉnh thoảng họ gặp nhau, anh và cô chỉ có thể cư xử như những người xa lạ.
Anh nói anh đến để biết chắc mọi việc ổn thỏa, và bị một cơn ho rũ rượi cắt ngang, anh ngoảnh mặt đi. Cô không hiểu anh muốn nói gì, Khai đáp khi cơn ho qua, và cô tự hỏi liệu anh có hiểu sự giả dối trong giọng cô không.
- Tôi đã lo nhầm sao? - Gia Lâm nói. - Tôi muốn biết chắc em không có kế hoạch bí mật nào và tiến hành một mình.
- Sao vậy?
- Bất cứ hành động hấp tấp nào cũng ngang với tự tử.
- Ý tôi là vì sao anh lại nghĩ tôi sẽ làm việc gì đó mà không nói với anh.
Gia Lâm nhìn kỹ Khai, và cô không tránh cái nhìn chăm chú của anh. Cô nghe thấy tiếng huýt sáo đằng sau, những người bảo vệ quát ai đó đi qua. Cô phải nhanh chóng kết thúc câu chuyện với anh, nhanh chóng lên sân khấu và anh, luôn nghĩ quá nửa số người đã chết vì cái thế giới này sẽ không có mặt trong đám khán giả.
- Trong lần cuối cùng gặp em, em đã nói gì đó, - Gia Lâm nói rồi lắc đầu. - Tôi mong rằng mình nhầm.
Hai tuần trước, khi được thông báo ngày hành hình Cố San, cô đã nói cách mạng đòi hỏi một xung lực nào đó. Cô đã bất ngờ đến túp lều của anh. Cô bảo đã đến lúc họ hành động, hy vọng cứu sống Cố San đã biến cô thành một diễn giả nhiệt tình hơn nhiều kể từ sau khi cô rời đoàn kịch. Phải kích thích quần chúng, thu hút sự chú ý vào vụ này. Nếu hành động đúng, dù không đảo ngược được bản án, ít nhất họ cũng có thể chặn được vụ hành hình. Suốt lúc cô nói, Gia Lâm cau mày lắng nghe. Sau đó anh bảo, đây là một đề xuất hấp tấp và dại dột, và lần đầu tiên họ cãi nhau.
- Tôi muốn hành động cũng như em vậy, - lúc này Gia Lâm nói.
Khai nhìn vào mắt anh sau cặp kính. Hình như chúng bối rối, như thể anh không tìm ra lời. Chiều hôm đó, hai tuần trước, giận dữ vì lập luận không thể cãi lại của anh, cô gọi anh là đồ hèn. Lúc đó Gia Lâm đáp lại rằng, anh đã gần nấm mồ hơn bất cứ ai trên đời này, anh không quan tâm đến mạng sống cũng như cái chết của anh nhưng phải chọn thời điểm thích hợp. Lời tuyên bố ấy thốt ra với vẻ giận dữ lạnh lùng đến mức cô không biết rằng ẩn sau đó là sự dịu dàng bình tĩnh của anh, và cô rời túp lều không một lời xin lỗi. Sáu tháng trước, anh đã thông báo với cô tình hình của anh ngay từ khi họ gặp nhau lần đầu, nhưng sau đó họ không nhắc đến bệnh lao lần nào nữa. Gia Lâm hơn Khai bốn tuổi, nhưng bệnh tật khiến anh như không có tuổi, một thực tế mà Khai ý thức được khi cô quyết định kết bạn với anh. Cô tưởng tượng chắc anh cũng nghĩ thế, - một người sắp chết được miễn trừ khỏi phép tắc xã hội -, khi lần đầu tiên anh viết thư cho cô nói đến dân chủ và chuyên chính, bức thư có thể đưa anh vào tù. Cô bối rối vì sự tin cậy của anh vào một người xa lạ, người phụ nữ có giọng nói đại diện cho chính quyền ở Nê Giang, dẫu cô chưa bao giờ hỏi vì sao anh quyết định giao phó không những lý tưởng mà cả tính mạng của anh cho cô. Dù kết bạn chóng vánh, họ ít có dịp trò chuyện trực tiếp. Trong các bức thư trao đổi, họ chỉ tập trung vào các đề tài chính trị và những thay đổi của xã hội, hiếm khi chia sẻ về cuộc sống của họ.
- Tại sao anh lại nghĩ tôi hành động một mình? - Khai hỏi.
Anh mong là mình nhầm, Gia Lâm nói, nhưng đây là một linh cảm mà nếu sáng nay anh không tới nói chuyện với cô, có thể sau này anh sẽ ân hận. Trực giác của anh không nhầm, Khai định nói với anh: từ khi họ chia tay lần cuối, cô đã quyết thực hiện kế hoạch của riêng mình và giấu anh. Cô hy vọng khi cô đề xướng một cuộc làm reo công khai, anh và các bạn anh sẽ quyết định hành động. Giống một đứa trẻ buộc phải xua mẹ ra khỏi thế giới của nó trước khi bà quay lưng lại, Khai nghĩ cô phải chuẩn bị cho mình một ngày, một trận chiến, một cuộc sống không có Gia Lâm. Anh đã cảm thấy quyết định của cô và đến ngăn cô lại, khiến cô vừa cảm động vừa hoảng sợ.
Gia Lâm chăm chú nhìn cô:
- Em đã bắt đầu một việc gì đó mà không nói với tôi?
- Không.
- Em nghĩ đến khởi xướng một cuộc phản đối mà không nói với tôi? - Anh nói. - Tôi có quyền lo lắng chứ?
Trên phố có vài người đi qua, cả Gia Lâm và Khai buộc phải im lặng giây lát. Có tiếng chuông xe đạp kính coong nôn nóng, tiếp theo là tiếng đổ sầm, loảng xoảng. Không người nào quay nhìn tai nạn.
Cô đã nhìn thấy mặt anh chỉ một lần, khi cô tìm địa chỉ của anh trong bức thư đầu giờ chiều. Cô bắt gặp bức thư ghi tên cô nhét vào thùng bưu điện bên ngoài Cục Tuyên truyền giữa những bức thư của người hâm mộ, ca ngợi cách thể hiện của cô ở nhiều sự kiện khác nhau hoặc những bài tường thuật, tác giả các thư này hy vọng được cô chọn và đọc to trong chương trình. Lối viết trên phong bì khiến cô liên tưởng là một người đàn ông nhiều tuổi thuộc thế hệ cha cô, suốt đời tận tụy tập viết thư pháp, vì tò mò cô để riêng nó ra trước khi đưa những thư khác cho người thư ký trong Cục.
Một buổi chiều sáu tháng trước, anh trả lời tiếng gõ cổng của cô bằng lời chào quen thuộc làm cô đoán ra cô không phải là người duy nhất đến thăm anh. Cô đẩy cổng và lọt vào mảnh sân nhỏ, lát sau anh ra khỏi túp lều thấp và ngạc nhiên thấy cô không phải người anh đang đợi. Anh cao ráo, trẻ hơn cô hình dung nhiều, bộ mặt anh xanh xao và gầy guộc. Lúc nói, thỉnh thoảng anh bị một cơn ho ngắt quãng, và mặt anh nhuốm một màu đỏ bệnh hoạn. Lần đầu tiên ấy, anh không mời cô vào trong lều. Lần sau xin mời đeo khẩu trang và đi găng, anh bảo cô thế. Khi đã quen biết hơn, anh gợi ý họ nên gặp nhau trong phòng đọc của thư viện công cộng duy nhất trong thành phố.
- Tôi biết là không thể giữ em ở đây lâu, - Gia Lâm nói khi không còn ai trong tầm nghe. - Nhưng ít nhất, em cũng hứa với tôi không làm bất cứ việc gì trước khi chúng ta nói chuyện chứ?
Giọng điệu năn nỉ ấy xa lạ với Khai; giữa hai người với nhau, anh luôn luôn là người tự tin. Thỉnh thoảng, Khai phải viết đi viết lại nhiều lần một bức thư vì cô ngại sẽ làm anh khó chịu.
- Sớm hay muộn, chúng ta phải từ bỏ điều mà chúng ta tin tưởng, đúng không? - Khai hỏi.
- Chúng ta không hy sinh bản thân cho bất cứ ước mơ phi lý nào.
- Thế nên chúng ta cứ để Cố San hy sinh vì chúng ta? - Khai nói. Cô phân vân: Gia Lâm có thấy sự hăng hái của cô là ngu xuẩn và trẻ con như anh đã vạch ra hai tuần trước không? Nhưng đây không phải là sự bất đồng về nguyên tắc với anh, mà đúng hơn là cảm giác sai sót khiến cô phải hỏi anh. Lúc này cô nói, họ đã chẳng làm gì để cứu mạng Cố San, vậy lẽ nào họ để cô ta chết vì bất công mà không thức tỉnh quần chúng? Anh không nhầm về việc cô đang dự định hành động một mình, cô có micrô trong tay và có giọng nói hết sức truyền cảm.
Có người gọi cô, Khai quay lại thấy cô thư ký vẫy cô rồi chỉ vào Khai và Gia Lâm cho những người bảo vệ. Cô phải đi rồi, Khai nói. Gia Lâm đề nghị ít ra cô cũng nên suy nghĩ kỹ lời anh trước khi làm bất cứ việc gì, nhưng Khai có quá ít thời gian để trả lời, cô bỏ anh lại mà không hứa hẹn như anh mong. Những người bảo vệ nhìn cô ân cần lúc cô băng qua đường. Lúc cô thư ký nói một trong những người dân khăng khăng đòi thảo luận các vấn đề chính trị với cô, Khai từ chối và bảo những người lính gác là họ có thể để mặc người đó.
Rồi sẽ đến ngày bà mất người con trai cả, mẹ Gia Lâm nghĩ khi để bữa sáng trên cái gốc cây dùng làm bàn. Ngoài gốc cây, một cái ghế và cái võng hẹp, trong lều không còn đồ đạc gì khác. Một thùng sưởi làm bằng bình gas, cứ mỗi ngày ba lần, mẹ Gia Lâm đổ đầy nước nóng giữ cho lều ấm hơn bên ngoài, và hơi ẩm bám vào chăn đệm quanh năm. Một phía lều có nhiều chồng sách để trên các hộp các tông đập bẹp, dưới lót tấm nhựa. Một cái hộp toàn dây rợ, đèn chân không và nút bấm - Gia Lâm gọi cái vật lắp ráp sơ sài ấy là radio của anh - đặt trên võng, cạnh đó là bộ tai nghe, một khung dây và hai vòng tròn kim loại.
Gia Lâm không ở trong lều, bà băn khoăn sáng nay anh có thể ở đâu. Thông thường, anh không ra khỏi nhà, và bà gần như vui vì có khoảnh khắc được một mình trong lều. Mỗi lần gặp mẹ anh rất lễ phép, anh cảm ơn bà vì đã mang đồ ăn, nước nóng và quần áo giặt sạch sẽ, nhưng anh không mời bà ngồi. Gia Lâm là thế, là người bà không bao giờ hiểu, là một thực tế bà đã chấp nhận từ lâu. Nhưng giống mọi bà mẹ có con trưởng thành và cứ xa cách dần, bà cảm thấy muốn ở lại trong lều chừng nào có thể, bám lấy mọi thứ để khi anh đã biến khỏi đời bà, có thể tái tạo hình ảnh đứa con trai trong trí nhớ. Bà cầm cuốn sách và giở hú họa một trang, có ai đó gạch dưới một đoạn bằng nét đỏ đậm và nhiều câu màu xanh - có lẽ là Gia Lâm hoặc chủ nhân trước của cuốn sách, nhưng bà không thích nghĩ nó có cả một tiểu sử, bà chỉ muốn cuốn sách đó hoàn toàn thuộc con trai bà. Bà nhìn chữ mà không thể đọc được, bà mù chữ và Gia Lâm tin rằng chính vì thế nên bà được phân công trông giữ kho sách cấm trong nhà máy sản xuất các sản phẩm giấy. Anh đã nài mẹ lấy cho anh vài quyển. Hồi đó anh đã nhiễm lao một năm, và đứa con trai bị tách biệt khỏi cuộc đời đủ biến người mẹ thành kẻ ăn cắp vặt. Mỗi ngày bà thủ một hoặc hai quyển trong đống sách sắp nghiền và giấu vào trong quần áo. Những cuốn sách về đến nhà còn ấm hơi bà. Mặt anh bừng sáng khi nhìn thấy các cuốn sách, và vì niềm vui hiếm hoi đó, một người đàn bà thật thà chưa bao giờ lừa gạt ai trên đời đã không ngần ngại vi phạm.
Trong nhà có người gọi to, phàn nàn bữa sáng đã muộn, bà vội vã vào bếp mang bữa ăn đã sẵn sàng cho những người còn lại: ba đứa con trai trẻ hơn, mười chín, mười sáu và mười bốn tuổi, chúng không làm gì hơn là cầm đũa để sẵn cạnh tay, còn chồng bà lại khen mấy cậu con trai cư xử đúng kiểu đàn ông.
Gia Lâm là đứa con trong cuộc hôn nhân trước, kết thúc vì một tai nạn. Chồng đầu tiên của bà là một người khỏe mạnh và lớn lên gần biển. Ba tháng trước khi sinh Gia Lâm, ông nhảy lao đầu xuống dòng Nê Giang và bị gãy cổ. Một đứa con trai sẽ thừa hưởng cuộc đời của cha nó, người ta nói thế khi đến cầu hôn bà và khuyên bà cho nó làm con nuôi. Bà không muốn nghe những điều nhảm nhí ấy và đợi mười năm sau mới tái hôn, nhưng đôi khi bà vẫn tự hỏi liệu bà có sai lầm không. Nếu Gia Lâm được một cặp vợ chồng khác nuôi dưỡng, biết đâu nó sẽ có cuộc sống khác hẳn, thoát khỏi bệnh tật và bất hạnh, những thứ mà bà không hiểu nổi. Gia Lâm đã ba mươi hai, quá già để lấy vợ, quá trẻ để chết. Bà sẽ không bao giờ được chứng kiến anh cưới vợ, nhưng bà sẽ phải sống để nhìn thấy anh chết. Bà hít một hơi thật sâu nhưng nước mắt không còn trong mắt bà. Bà không biết anh nhiễm lao từ đâu, cũng như không biết sự ham mê đọc sách của anh bắt nguồn từ đâu, bố Gia Lâm cũng như người chồng hiện nay của bà học hành chẳng được là bao. Ba người con trai khác của bà đều cường tráng hung hãn và thô lỗ, tất cả đều là bản sao trẻ hơn của bố chúng làm phu khuân vác ở ga. Gia Lâm khác hẳn, dường như anh thuộc dòng dõi khác, không phải là con người chồng đầu của bà mà là của một người một người đàn ông tử tế, phong nhã và có học. Đôi khi, ý nghĩ đó chợt đến, quá ư lạ lùng ngay cả với bản thân bà.
Mẹ Gia Lâm đã từng nghĩ đến người đàn ông khác, khi bà đã kết hôn và học lớp xóa mù chữ của ông giáo Cố. Lúc đó, bà lấy chồng chưa đầy năm. Chồng bà đã gây cho bà mọi nỗi đau đớn mà một người đàn ông có thể bắt vợ phải chịu. Ông giáo Cố là người đàn ông hòa nhã nhất bà được gặp, mắt ông buồn ẩn sau cặp kính gọng đen, sơmi và quần sạch sẽ tinh tươm. Lúc ông dạy bà cách cầm bút chì, bà nhận thấy móng tay ông cắt ngắn gọn gàng, và sau đó, hình ảnh ấy khiến bà thẹn thùng khi thức giấc cạnh người chồng đang ngáy khò khò. Bà thất vọng khi nghe tin ông giáo sắp lấy một trong các bạn học cùng lớp bà, là nàng hầu của một địa chủ, một phụ nữ “đồ thừa” có bộ mặt hình trái tim nhỏ nhắn, bà cảm thấy như bị làm nhục và nại cớ có thai, bà không đi học nữa. Hơn một năm sau, bà bắt gặp ông giáo trong thành phố, bà nhớ ông rất lặng lẽ và u sầu. Ông không nhận ra bà, thực ra bà nhìn thấy ông từ xa và thấy dễ chịu lạ lùng. Bà hình dung ông đau đớn biết chừng nào khi mất đứa con gái vì bị xử bắn, cả vợ ông giáo Cố nữa, - đối tượng ghen tuông thầm kín của bà - giờ đây cũng được bỏ qua vì nghĩ cho cùng, con trai là thứ ông giáo Cố cần nhưng bà ta chỉ sinh cho ông một đứa con gái phản cách mạng. Giá ông có một đứa con trai như Gia Lâm với nước da xanh xao và đôi má đỏ bừng bệnh hoạn, một người đàn ông buồn như ông giáo Cố trong trí nhớ của bà. Họ sẽ hiểu nhau, bà ngẫm nghĩ một lúc lâu và lắc đầu. Bà mang thức ăn vào bàn và ngồi xuống cạnh chồng. Gia Lâm sẽ là một thanh niên chết trẻ, nếu anh là con ông giáo Cố liệu có phần nào an ủi hơn không? Người ta đã giữ Gia Lâm trong viện điều dưỡng một thời gian nhưng anh ít có hy vọng hồi phục. Không thể phí phạm tiền nong cho anh trong khi ba đứa con trai khác lớn nhanh như thổi, bà không cần chồng nhắc nhở mới thuận tình đưa Gia Lâm về nhà. Chồng bà dựng một túp lều trong sân cho Gia Lâm, và tuy không nói ra, mong rằng Gia Lâm sẽ sống những ngày còn lại của anh ở đó.
Ăn sáng xong, ông giáo Cố ra khỏi nhà, tránh cái nhìn của những người hàng xóm đi bộ hoặc đạp xe đến chỗ làm. Vài học sinh trong trường chào ông. Ông gật đầu, không thể nói liệu thái độ của chúng với ông có khác gì không. Cha mẹ chúng sẽ nói gì về con gái ông? Ông tự hỏi liệu ngày mai, bọn trẻ sẽ nghĩ gì khi ông trở lại bục giảng, dạy chúng đúng những bài đứa con gái lạc loài của ông đã học.
Từ nhà ông đến phía Tây thành phố mất độ nửa giờ cuốc bộ. Khi quay lại phố chính, ông giáo Cố tay đút trong túi áo khoác, không cầm khẩu hiệu, đôi chân mệt mỏi của ông không theo kịp người khác. Ông quyết định đi theo các phố và ngõ nhỏ hơn, là nơi sau khi mọi người kéo đến cuộc phê đấu, chỉ có gà, mèo và chó cũng như các ông già bà cả góa bụa chiếm chỗ giữa các dãy nhà. Một ông già ngồi trên cái ghế thấp ngước nhìn ông giáo Cố và lẩm bẩm gì đó trong cái miệng móm; Ông giáo Cố gật đầu, không hiểu ông lão nói gì, còn người đàn bà trẻ hơn nhưng cũng đã già, cúi xuống dùng khăn mùi soa ghim ở áo ông già lau cằm đầy nước dãi cho ông ta, rồi về chỗ ngồi, vững vàng trên cái ghế gãy một chân và đan bằng thứ sợi cũ, màu nâu đỏ nhạt.
Lúc ông giáo Cố đi qua ga, chuyến tàu lên tỉnh tạm nghỉ. Ông giáo Cố vẫn nhớ, ban ngày người gác ngồi trong bốt và ban đêm ngủ trong ngăn kế bên, ông ta đang ngáp cạnh đường ray. Một cô bé chừng bảy, tám tuổi bán trứng luộc cho hành khách qua cửa sổ toa tàu, ngón tay cô bé tê cóng và sưng phồng như những củ cà rốt non. Ông giáo Cố đi chậm lại và nhìn cô bé. Trái với thói quen, ông nghĩ đến việc tìm ra cô bé sống ở đâu, có đi học không, nhưng ông gạt ý nghĩ đó đi. Suốt ba chục năm, ông đã giúp con em các gia đình nghèo khổ, phần lớn là các bé gái được đi học, trả học phí và lệ phí cho chúng khi bố mẹ chúng không thể dành dụm nổi. Ông đã thấy niềm vui khi biết đọc trong mắt vợ ông và trong mắt từng thế hệ mới của các bé gái; Ông đã hy vọng đóng góp phần của mình dẫu chỉ là nhỏ bé, làm cho nơi này ngày càng tốt đẹp hơn. Nhưng giờ đây, ông thấy những lời phán truyền của những người đàn ông và đàn bà trong các cuốn sách đó đầy rẫy thèm khát, lừa dối và dụ dỗ, chỉ dẫn dắt các cô bé đi lạc đường. Ngay hai học sinh giỏi nhất của ông - vợ ông và con gái ông - đã làm ông thất bại. San sẽ không bao giờ trở thành một Hồng vệ binh điên cuồng nếu không đọc được những lời kêu gọi của Cách mạng Văn hóa trên báo chí; hoặc sẽ không thành tù nhân vì đã phát biểu rõ ràng những nghi ngờ của mình. Ông chưa bao giờ dạy con nghĩ cho mình hơn là theo lập luận của đám đông vô hình. Vợ ông sẽ chỉ chịu đựng việc mất San trong nỗi đau âm thầm như những người đàn bà dốt nát chịu đựng sự mất con, dâng con cái cho vị thần số mệnh không thể cưỡng lại và đặt niềm tin duy nhất vào kiếp sau của chúng.
Người gác già rung một hồi chuông. Ông giáo Cố đứng lại ngắm luồng hơi trắng xóa trong không khí ban mai giá lạnh, các hành khách đều ở cách xa ông, một ông nhét quả trứng vào miệng, một bà gặm cái lạp xường nhà làm lấy. Đoàn tàu sớm tăng tốc, và ông không còn nhận ra các bộ mặt. Đây là nơi vợ chồng ông đã sống cả đời, là nơi một ngày không thể phân biệt được với ngày tiếp theo, họ chẳng nên lo về một khoảnh khắc hoặc một ngày trở nên quá dài hoặc quá khổ sở. Ít ra đó là điều ông bảo vợ khi từ nơi đốt quần áo trở về, họ chờ đợi và hiểu rằng từ nay trở đi, nỗi đau sẽ không chỉ buốt nhói trong một hoặc hai năm.
- Ai rồi cũng chết, - ông bảo. - Chúng ta không phải là cha mẹ đầu tiên và cuối cùng mất con gái.
Đây cũng không phải là lần đầu tiên họ mất con; ông không nói ra nhưng hy vọng vợ nhớ điều đó.
Đoàn tàu chạy qua, người trưởng tàu đứng cuối đoàn tàu vẫy ông giáo Cố. Vài giây sau, ông giáo Cố thu hết sức lực vẫy trả, nhưng người đó chỉ còn là một cái chấm nhỏ, quá xa nên không thể nhìn thấy cử chỉ của ông.
Ông giáo Cố băng qua đường ray. Ở chỗ đó, phố xá bắt đầu là con đường đất không lát đá chạy thẳng đến vùng nông thôn trên núi, ông giáo Cố tìm ra túp lều của ông bà Hoa. Già Hoa đang ngồi xổm trước túp lều, lựa chai thủy tinh. Bà Hoa đang khuấy nồi cháo trên ngọn lửa của cái bếp gas nhỏ. Ông giáo Cố ngắm họ và chỉ đến khi bà Hoa ngước lên nhìn, ông mới chào họ.
Ông bà Hoa đứng dậy và chào ông giáo Cố.
- Ông đã ăn sáng chưa? Nếu chưa thì mời ông ăn cùng vợ chồng tôi, - bà Hoa nói.
- Tôi ăn rồi, - ông giáo Cố nói. - Tôi xin lỗi đã quấy quả ông bà trong bữa sáng.
- Ông đừng xin lỗi, - bà Hoa nói và đặt thêm một bát cháo lên cái bàn gỗ bên trong cửa lều. - Mời ông ăn với chúng tôi. Chúng tôi không biết mời chào nhiều.
Ông giáo Cố xoa xoa hai bàn tay và nói:
- Bà thật tử tế quá, bà Hoa ạ.
Bà Hoa lắc đầu. Bà đặt cái nồi móp méo lên ngọn lửa và rỏ vài giọt dầu ăn trong cái lọ nhỏ, trước kia dùng đựng mật ong:
- Ông xơi trứng rán nhé, ông giáo?
Ông cố ngăn bà, nhưng vài phút sau, bà đã đặt quả trứng rán lên cái đĩa nhỏ mời ông. Già Hoa ngừng chọn chai lọ và mời ông giáo Cố ngồi xuống, ăn thêm một miếng. Không thể bắt đầu câu chuyện mà không nhận lòng hiếu khách của họ, ông giáo Cố nhận cái ghế của già Hoa, còn già xếp hai cái rổ làm chỗ ngồi tạm cho mình.
- Năm nay mùa xuân đến muộn quá, - già Hoa nói. - Thật khác thường, phải không ạ?
- Đúng thế, - ông giáo Cố nói.
- Ông giáo vẫn khỏe chứ ạ? - Già Hoa hỏi.
- Vâng, vâng.
- Còn bà giáo có khỏe không? - Bà Hoa hỏi.
- Nhà tôi không được khỏe vì thời tiết, nhưng cũng không đến nỗi tệ lắm.
- Tôi mong bà nhà chóng khỏe lại, - bà Hoa nói và đẩy đĩa trứng về phía ông giáo Cố. - Mời ông tự nhiên.
- Thế này thì nhiều quá, - ông giáo Cố nói và chuyển cái đĩa cho già Hoa. - Tôi khá no rồi.
Sau một phút đẩy tới đẩy lui, già Hoa nhận thấy ông giáo Cố không động đến đĩa trứng, bèn lấy đũa xắn làm đôi và sẻ một nửa cho vợ. Ông giáo Cố lặng lẽ đợi cho đến lúc vợ chồng ông Hoa ăn xong bữa.
- Tôi đến để xin ông bà một ân huệ, - ông giáo Cố nói. Hai vợ chồng ngồi yên, nhìn xuống cái bát rỗng không.
Ông giáo rút ra một cái gói và đẩy về phía già Hoa:
- Thực ra là một ân huệ lớn, và tôi hy vọng cái này đủ đền bù cho những phiền toái ông bà phải chịu.
Già Hoa trao đổi một cái nhìn với vợ:
- Ông đang cố tìm người chăm sóc cho con gái ông hôm nay?
- Phải, - ông giáo Cố nói. - Chúng tôi thật hổ thẹn đã không dạy dỗ nó chu đáo để thành người có ích...
Bà Hoa ngắt lời, gần như gay gắt, bà nói với vị thế của họ, vợ chồng bà không có ích mấy cho việc này. Ông giáo Cố lại xin lỗi và trong giây lát, ông không thể nói nên lời.
- Chúng tôi xin lỗi ông và bà Cố, - bà Hoa nói bằng giọng dịu lại.
Già Hoa gật đầu tán thành.
- Ông bà rất tử tế, - ông giáo Cố nói.
- Nhưng xin ông tha cho chúng tôi, - bà Hoa nói và đẩy gói tiền qua bàn. - Chúng tôi không thể giúp ông.
Ông giáo Cố thấy đau nhói trong lồng ngực và không tìm ra lời đáp lại. Già Hoa ho, lúng túng và nhìn lảng đi:
- Chúng tôi xin lỗi, - già nói, lặp lại lời của vợ.
Ông giáo Cố gật đầu và đứng dậy:
- Không, tôi mới là người phải xin lỗi đã đến và làm phiền ông bà vì đã nhờ vả không phải lẽ. Giờ xin ông bà tha lỗi, tôi phải đi thôi.
Bà Hoa nhặt gói tiền và đưa cho ông Hoa. Ông Hoa đặt cái gói vào bàn tay ông giáo Cố và nói:
- Chúng tôi nghĩ ông đi được rồi, để tôi hỏi xem có ai quanh đây sẵn lòng giúp không. Ông có biết lão Keng không?
Ông giáo Cố đáp ông không biết lão Keng, và cũng không muốn làm phiền già Hoa nữa. Ông thấy mình thật tắc trách khi tưởng ông bà Hoa sẽ nhận, vì họ từng lau rửa cho những đứa trẻ vô thừa nhận. Ông giáo Cố định nói thêm, nhưng kịp dừng lại.
- Không phiền gì đâu, - già Hoa nói. - Lão ấy hơi hằn học nhưng là một lão già độc thân, có khi lão nhận việc này. Nhận việc gì lão cũng làm đến nơi đến chốn. Nếu ông không ngại, tôi với ông đến nhà lão.
- Phiền ông quá, - ông giáo Cố nhắc lại. Ông cảm thấy chân ông yếu hẳn và phải chống cả hai tay lên bàn.
- Ông có khỏe không ạ? - Bà Hoa hỏi.
Ông giáo Cố gật đầu, trong giây lát ông ước cặp vợ chồng này thay đổi quyết định. Ông hình dung mình vào một nhà khác và đợi một người lạ coi thường ông hoặc tệ hơn, thương hại ông. Sự mệt nhọc choán lấy ông.
- Lão Keng ở cách đây không xa, - già Hoa nói và mặc cái áo khoác da cừu. - Đi bộ độ dăm phút thôi.
Bà Hoa đội cái mũ len cũ lên đầu chồng và phủi bụi:
- Chúng tôi muốn giúp ông, nhưng chúng tôi có những khó khăn riêng, - bà nói.
- Vâng, tôi hiểu.
- Chúng tôi muốn giúp ông, - bà Hoa nhắc lại như sợ ông giáo Cố không tin bà. - Ông đừng nghĩ chúng tôi hận thù gì cô San.
Ông giáo Cố gật đầu. Ông không nói gì bảo vệ con gái - già Hoa và vợ nằm trong số những người San đã quất và đá trong một cuộc họp công khai năm 1966. Tất cả những người bị kết tội hôm ấy là những người già cả, vợ góa của chủ nhân các tài sản cũ, những ông già bà cả có cháu trong đám khán giả kêu thất thanh vì sợ hãi và bị cha mẹ chúng bắt phải im. Ngày hôm đó, chính ông bà giáo Cố cũng bị kết tội trên sân ga, nhưng ít ra con gái họ cũng còn nhân từ để các bạn trừng trị cha mẹ mình. Ông giáo Cố không biết vì sao ông bà Hoa lại ở đấy, cả hai đều xuất thân nghèo khổ, nhưng với những nhà cách mạng trẻ này, là người cũng đủ lý do để làm nhục. Trong ngày hôm ấy, ông giáo đã mất hết mọi hy vọng còn lại về con gái. Cô không phải là kẻ hung hãn duy nhất ở đó. Một trong các đồng chí của cô, một cô gái kém San một tuổi, má phúng phính như trẻ con, đã đánh vào đầu một bà già bằng cây gậy cắm đinh tua tủa. Bà ta ngã uỵch trên sân khấu. Ông giáo Cố nhớ lại lúc nhìn mái tóc bạc phơ của bà già biến dần thành màu đỏ vì lớp máu sẫm, bầy nhầy. Sau đó San bắt đám khán giả hoan hô kỳ công của người đồng chí.
- Chúng tôi biết trong những năm ấy, ông cảm thấy ra sao, - bà Hoa nói.
Ông giáo Cố gật. Cuối Cách mạng Văn hóa, ông bà Hoa nằm trong số ít người tiếp ông bà giáo Cố mang quà đến thăm và xin lỗi những người trước kia đã bị San đánh đập. Nhiều người, kể cả cha mẹ Nhược Nhược, đã quay lưng lại họ ngay bên cửa.
- Đấy không phải lỗi của ông bà. Hồi đó cô ấy còn là một đứa trẻ.
- Hành động sai trái của trò là do sự kém cỏi của thầy, - ông giáo Cố trích lời giáo huấn cổ. - Lỗi của con là lỗi của người cha.
- Ông đừng tự đặt gánh nặng ấy cho mình, - già Hoa nói.
Họ ngày càng già, bà Hoa nói, và họ mong được ở lại Nê Giang cho đến hết đời. Họ không có hộ khẩu hợp pháp, vì thế họ không dễ được gọi là những người có cảm tình, bà Hoa giải thích.
- Nếu chúng tôi trẻ hơn, chúng tôi sẽ giúp ông không ngần ngại gì. Khi đó, chúng tôi sẵn sàng lên đường.
- Vâng.
- Và chúng tôi đỡ sợ hơn.
- Vâng.
- Chúng tôi sẽ giúp ông không cần gì hết.
- Vâng, tôi hiểu.
- Ông cứ trở lại uống chén trà bất cứ khi nào ông muốn, - bà Hoa nói.
Già Hoa đợi vợ trò chuyện xong xuôi, mới nhẹ nhàng kéo tay ông giáo Cố:
- Ông giáo Cố, mời đi lối này.
Ông giáo Cố gật đầu, cố giấu nỗi thất vọng:
- Cảm ơn bà Hoa.
- Ông đưa cả bà Cố đến uống trà khi nào bà ấy muốn nhé, - bà Hoa nói. Bà ngập ngừng rồi nói thêm. - Chúng tôi cũng đã mất nhiều đứa con gái rồi.