Những Kẻ Lang Thang

Lượt đọc: 10 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần I - Một
Một

❊ ❊ ❊

Ngày Hai mươi mốt tháng Ba năm 1979, ông giáo Cố thức giấc từ trước lúc rạng đông và thấy vợ nức nở khóc thầm trong chăn. Một ngày như mọi ngày, hoặc như nhiều lần ông giáo Cố suy ngẫm về ngày tháng, về tiết xuân phân và một ý nghĩ lại đến với ông: hôm nay, cuộc sống của con gái họ sẽ chấm dứt, không còn mặt trời hoặc bóng đêm ngự trị. Một ngày sau, mặt trời sẽ đến gần hơn với cô và những người khác ở thế giới bên kia, có thể con mắt của người trần mắt thịt không nhận thấy ngay, nhưng chim muông, cỏ cây và sông nước sẽ cảm nhận được từng thay đổi trong không khí, và chúng thể hiện những thứ đó thành các mùa. Dòng sông tan chảy bao nhiêu dặm, bao nhiêu cây bừng hoa hé nụ để tiếp nhận một mùa được gọi là xuân? Cách gọi tên như thế chắc là ít ý nghĩa với dòng sông và hoa cỏ, khi chúng cứ lặp đi lặp lại nhịp điệu trung thành và thờ ơ của chúng. Ngày tháng con gái ông phải chết cũng độc đoán như việc tòa án quy cho cô tội phản cách mạng không chịu sửa đổi; chỉ những kẻ ngu xuẩn mới tìm kiếm ý nghĩa của một ngày tháng ngẫu nhiên. Ông giáo quyết nằm im và mong vợ sớm nhận ra ông đã thức.

Bà giáo vẫn khóc. Một lát sau, ông vùng dậy và bật ngọn đèn duy nhất trong phòng ngủ, một bóng đèn 10W cũ kỹ. Sợi dây nhựa đỏ để phơi quần áo chăng từ đầu này đến đầu kia phòng; quần áo vợ ông giặt và phơi từ đêm hôm trước, ẩm và lạnh, dây phơi trĩu xuống vì nặng. Ngọn lửa trong bếp lò nhỏ ở góc phòng đã tắt. Ông giáo nghĩ đến việc cho thêm than vào lò, rồi lại thôi. Vào những ngày khác, vợ ông là người nhóm lại lửa. Ông để mặc cái lò cho vợ chăm sóc.

Ông rút cái khăn mùi soa trắng, in chữ Tàu đỏ - một khẩu hiệu yêu cầu các công dân Trung Quốc trung thành tuyệt đối với Đảng Cộng sản - và để lên gối cho bà.

- Ai rồi cũng chết, - ông nói.

Bà Cố ép cái khăn lên mắt. Ngay lập tức những vệt ướt loang rộng, biến khẩu hiệu thành một màu đỏ sẫm.

- Cứ cho hôm nay là ngày chúng ta trả nợ, - ông giáo Cố nói. - Trả hết nợ nần.

- Nợ gì? Chúng ta nợ gì? - Vợ ông hỏi và ông nhăn mặt vì âm sắc the thé lạ lẫm trong giọng nói của bà. - Chúng ta nợ gì, hở?

Ông không có ý định tranh cãi với bà và cũng không trả lời câu hỏi của bà. Ông lẳng lặng mặc áo và ra phòng đằng trước, để cửa phòng ngủ khép hờ. Phòng trước vừa làm bếp vừa là phòng ăn, và cũng là nơi ngủ của San, con gái ông bà trước khi cô bị bắt, chỉ rộng bằng nửa phòng ngủ và chất đống những đồ đạc tích lại từ nhiều thập niên. Vài cái hũ, trước kia hàng năm dùng muối món dưa ưa thích của San, nằm trống rỗng và phủ đầy bụi, cái nọ chồng lên cái kia. Cạnh đó là một cái hộp cáctông, ông bà giáo Cố nuôi hai con gà mái và cũng là chỗ để mấy quả trứng. Nghe tiếng chân ông giáo Cố, mấy ả gà mái cựa quậy nhưng ông phớt lờ chúng. Ông mặc chiếc áo khoác da cừu cũ kỹ, và trước khi ra khỏi nhà, ông xé tờ lịch ngày hôm trước, một thói quen ông vẫn giữ từ hàng chục năm nay. Trong căn phòng không đèn đóm, ngày 21 tháng Ba 1979 và những chữ nhỏ bên dưới Xuân phân vẫn lồ lộ. Ông xé vụn nốt tờ thứ hai và nắm chặt hai cục giấy mỏng vuông vắn thành một quả cầu giấy. Lúc này chính ông phá vỡ trình tự, nhưng không thể giả vờ coi ngày hôm nay cũng như mọi ngày khác.

Ông giáo Cố đi đến nhà xí công cộng ở cuối ngõ. Thường ngày, vợ ông lê bước sau ông. Họ là một cặp vợ chồng bị thói quen chi phối, những thủ tục buổi sáng của họ không thay đổi suốt mười năm qua. Tắt chuông báo thức lúc sáu giờ và vùng dậy ngay lập tức. Khi từ nhà xí về, họ thay nhau lần lượt rửa ráy ở bồn, bà bơm nước cho cả hai người, không nói năng gì.

Mới ra khỏi nhà vài bước, ông giáo Cố phát hiện ra một tờ giấy trắng đóng dấu vuông to tướng màu đỏ dán trên tường dãy nhà, và ông biết nó loan tin cái chết của con gái ông. Ngoài ngọn đèn đường lẻ loi ở tận cuối ngõ và vài ngôi sao sớm lờ mờ, cảnh vật tối đen. Ông giáo Cố đến gần hơn và thấy bản thông cáo viết theo lối thư pháp cổ phong cách đời Lý, nét bút mạnh mẽ, dường như người viết đã quen với nhiệm vụ đó, công bố cái chết sắp xảy ra với vẻ tao nhã, thong thả. Ông giáo Cố hình dung cái tên ấy là của một người lạ, không có tội về trí tuệ mà về thể xác. Theo thói quen của một người trí thức, ông có thể bỏ qua sự tàn bạo của tội ác - một vụ hiếp dâm, giết người, cướp bóc hoặc bất kỳ hành động xấu xa nào chống lại người vô tội - và thưởng thức vẻ đẹp của thư pháp, nhưng cái tên lại không phải ai khác ngoài Cố San, con gái ông.

Đã từ lâu, ông giáo Cố không còn hiểu con người mang cái tên đó nữa. Ông và vợ ông là những công dân nhút nhát, suốt đời răm rắp tuân theo pháp luật. Từ khi mười bốn tuổi, San đã có những cảm xúc cuồng nhiệt mà ông không thể hiểu nổi, ban đầu cô là người cuồng tín, tuyệt đối tin tưởng Mao Chủ tịch và Cách mạng Văn hóa, rồi sau này lại vô cùng hoài nghi và chỉ trích gay gắt nhiệt tình cách mạng của thế hệ cô. Trong các truyện cổ tích, có lẽ cô là một trong những sinh vật siêu phàm mượn dạ con của mẹ để bước vào cái thế giới ghê gớm và làm nên tên tuổi, hoặc trở thành anh hùng hoặc là kẻ tàn nhẫn, tùy thuộc vào ý đồ của các sức mạnh siêu nhiên. Vợ chồng ông giáo Cố chỉ là cha mẹ của con chừng nào cô còn cần họ nuôi dưỡng. Nhưng ngay trong các câu chuyện cổ, cha mẹ là những người bị tước đoạt khi con cái bỏ họ để theo tiếng gọi của số phận, kết cục là làm cho những người ruột thịt như ông bà đau lòng xé ruột, vì không thể hình dung ra một cuộc sống rộng lớn hơn cuộc sống của họ.

Nghe thấy tiếng một cánh cổng ra ngõ kêu cót két, ông giáo Cố vội vã bỏ đi trước khi bị người khác bắt gặp khóc trước tờ thông báo. Con gái ông là một kẻ phản cách mạng, thật hiểm họa cho bất cứ ai - kể cả cha mẹ cô khi bị nhìn thấy rơi nước mắt vì cái chết sắp đến của cô.

Về đến nhà, ông giáo Cố thấy bà vợ đang lục lọi trong cái rương cũ. Trên cái giường chưa dọn, trải vài bộ quần áo của cô gái, những thứ bà không đành lòng bán cho cửa hàng đồ cũ khi San quá lớn. Bà nhanh chóng thêm vào những áo, quần, vài đôi tất nilông, những thứ của San trước khi bị bắt giam, còn lại phần lớn là của bà.

- Mười năm nay, chúng ta không mua cho nó cái quần áo mới nào, - bà vợ giải thích cho ông bằng giọng bình tĩnh và gấp cái áo khoác kiểu lãnh tụ cùng chiếc quần hợp bộ mà bà Cố chỉ vận trong ngày lễ hoặc những dịp đặc biệt. - Chúng ta sẽ phải làm việc đó với bộ quần áo của tôi vậy.

Đây là một phong tục trong vùng, khi một đứa con chết, cha mẹ đốt quần áo, giày dép cho đứa con ấm áp và thoải mái trên đường sang thế giới bên kia. Ông giáo Cố cảm thông với các bậc cha mẹ vừa đốt những bao, túi ở ngã tư vừa réo gọi tên con, nhưng ông không thể hình dung vợ ông hoặc ông làm việc này. San không còn là một đứa trẻ nữa, từ nay trở đi, cô mãi mãi hai mươi tám tuổi, ba tháng, mười một ngày. Không người nào trong hai ông bà có thể đến một ngã tư và réo gọi vong hồn phản cách mạng của cô.

- Lẽ ra tôi phải nhớ mua cho nó bộ quần áo và đôi giày mới, - vợ ông nói. Bà xếp đôi giày da cũ của San cạnh đôi xăng đan của bà lên trên cùng. - Nó thích giày da lắm.

Ông giáo Cố quan sát bà vợ gói ghém quần áo và giày vào một cái túi vải. Ông thường nghĩ cái kiểu coi cõi âm là sự liên tiếp của cuộc sống, và con người phải mang gánh nặng cuộc đời không chỉ cho họ mà cho cả người chết là một lề thói đau lòng, bất công nhất. Hãy tỉnh táo để không bị nhiễm cái truyền thống ngây ngô và vô ích của những người nhà quê thất học, ông nghĩ đến việc nhắc nhở vợ, nhưng lúc mở miệng, ông không thể tìm ra lời nào đủ hòa nhã để nói. Ông đột ngột để mặc bà, và ra phòng trước.

Cái bếp lò nhỏ vẫn chưa nhóm. Hai con gà mái trong hộp cáctông kêu lục cục vì đói. Vào một ngày bình thường, vợ ông đã nhóm lò và nấu cháo bằng chỗ cơm thừa trong lúc ông cho lũ gà mái một vốc hạt kê. Ông giáo Cố đổ đầy hộp thức ăn. Lũ gà mổ lóc cóc, cắm cúi y như vợ ông đang gói ghém. Ông ấn cái hót rác vào dưới bụng lò và ồn ào mở vỉ. Tàn tro hôm qua rơi xuống cái hót rác không một tiếng động.

- Bây giờ chúng ta gửi quần áo cho nó chứ? - Bà vợ hỏi. Bà đứng bên cửa, ôm cái túi căng phồng. - Tôi sẽ nhóm lò khi chúng ta trở về, - bà nói lúc ông không đáp lại.

- Chúng ta không thể ra ngoài và đốt cái túi này, - ông giáo Cố thì thào.

Vợ ông nhìn ông trừng trừng, vẻ dò hỏi.

- Đây không phải là việc đúng, - ông nói. Ông bực mình vì phải giải thích cho vợ những việc này. - Nó là trò mê tín, phản động, sai trái.

- Thế phải làm gì mới là đúng? Vỗ tay hoan nghênh những đứa giết con gái mình ư? - Âm sắc the thé lạ lẫm trở lại giọng bà, mặt bà đầy vẻ gay gắt.

- Ai rồi cũng chết, - ông nói.

- San bị giết. Nó vô tội.

- Chúng ta làm sao quyết định được việc đó, - ông nói. Trong giây lát, ông suýt nói buột ra là con gái họ không vô tội như vợ ông nghĩ. Chẳng có gì lạ khi bao giờ mẹ cũng là người đầu tiên tha thứ và quên hẳn hành động phạm pháp của con mình.

- Tôi không nói đến việc chúng ta quyết định hay không, - bà cao giọng. - Tôi đang hỏi lương tâm mình kia. Mình có thực lòng tin con mình nên chết vì những điều nó đã viết ra không?

Lương tâm không phải là thứ con người cần để sống, ông giáo Cố nghĩ, nhưng ông chưa kịp cất lời, đã có người gõ vào bức tường mỏng ngăn nhà họ với nhà hàng xóm, như một cách phản đối, hay đúng hơn là một lời cảnh cáo vì họ làm ồn vào lúc sớm sủa như thế. Hàng xóm sát vách họ là một cặp vợ chồng trẻ mới dọn đến một năm trước; cô vợ lãnh đạo một trong các chi của Đoàn Thanh niên cộng sản quận, đã hai lần đến chất vấn về thái độ của họ với cô con gái trong tù.

- Đảng và nhân dân đặt bàn tay tin cậy lên vai ông bà, ông bà có nhiệm vụ giúp cô ấy sửa chữa lỗi lầm. - Cả hai lần, người phụ nữ ấy vừa nói vừa quan sát phản ứng của họ bằng cặp mắt sắc như diều hâu. Đó là trước phiên xử lại San; họ đã hy vọng cô sớm được thả sau mười năm thụ án tù của phiên xử đầu tiên. Họ không ngờ cô bị xử lại vì những thứ cô viết trong tù hoặc những lời cô nói với báo chí, đủ làm bằng chứng cho án tử hình của cô.

Ông giáo Cố tắt đèn, nhưng tiếng gõ vẫn tiếp tục. Trong bóng tối, ông có thể nhìn thấy ánh sáng trong mắt vợ ông, sợ hãi hơn là giận dữ. Họ không khác gì những con chim kinh hãi tiếng bật của dây cung. Ông giáo Cố khẽ giục:

- Đưa tôi cái túi.

Bà lưỡng lự rồi trao cái túi cho ông, ông giấu nó sau cái hộp nuôi gà, tiếng động nho nhỏ so với tiếng sột soạt và tiếng ồn của họ trong khoảng không. Thỉnh thoảng có tiếng cót két của cánh cổng mở ra cái ngõ tối tăm, vài con quạ nhảy nhót trên mái một ngôi nhà gần đó, tiếng qua qua của chúng mang âm sắc trò chuyện kỳ dị. Ông giáo Cố và vợ đợi, và khi không còn tiếng gõ lên tường, ông bảo bà nghỉ ngơi một chút trước lúc rạng đông.

Thành phố Nê Giang đặt theo tên con sông chảy về hướng Đông trên ranh giới phía Nam thành phố. Nê Giang xuôi dòng, nhập với nhiều con sông khác tạo thành Hoàng Hà, dòng sông lớn nhất ở vùng đồng bằng Đông Bắc, dù Hoàng Hà không chứa chút vàng nào, ngoài rác rưởi và ô nhiễm nặng vì nhiều thành phố công nghiệp ở cả hai bờ. Cái tên Nê Giang (Dòng sông ngầu bùn) chẳng đúng chút nào, vì Nê Giang bắt nguồn từ tuyết tan trên ngọn Bạch Sơn. Mùa hè, bọn con trai bơi ở sông có thể ngước nhìn ánh nắng từ dưới mặt nước, qua thân những con cá tuế trong suốt, tung tăng, trong lúc chị em chúng giặt giũ trên những tảng đá mòn ven bờ, thỉnh thoảng đồng thanh hát những bài ca cách mạng, giọng trong trẻo và vui tươi như dòng nước.

Xây dựng trên dẻo đất nằm giữa quả núi về phía Bắc và con sông ở phía Nam, thành phố có hình dạng như một con thoi. Thành phố hạn chế mở rộng về phía núi và sông, nhưng từ trung tâm, thành phố trải rộng mãi về hai phía Đông, Tây cho đến khi hẹp dần vào vùng hoang vu chưa khai khẩn. Đi bộ từ Bắc Sơn đến bờ sông phía Nam mất ba mươi phút, và mất hai giờ mới hết khoảng cách giữa hai đầu con thoi. Với một thành phố kích thước như thế, Nê Giang chủ yếu là đưa dân đến ở và tự cung tự cấp khá lớn. Thành phố mới hai mươi mốt tuổi, có kế hoạch phát triển công nghiệp hóa vùng nông thôn, dựa vào nhiều nhà máy nhỏ đem lại công ăn việc làm và hàng hóa cho dân cư. Vấn đề nhà ở cũng được đề ra, ngoài vài tòa nhà bốn hoặc năm tầng bao quanh quảng trường thành phố, một đường phố chính có cửa hàng bách hóa, một rạp chiếu bóng, hai khu chợ và nhiều cửa hàng nhỏ, phần còn lại của thành phố chia thành hai chục khối nhà lớn, mỗi khối lại chia thành chín khu nhà nhỏ hơn, mỗi khu gồm bốn dãy tám nhà một tầng nối nhau. Mỗi nhà là một hình vuông, mỗi chiều bốn mét rưỡi, gồm một phòng ngủ và một phòng đằng trước, một mảnh sân nhỏ bao quanh bằng hàng rào gỗ, hoặc các gia đình khá giả hơn thì xây một bức tường gạch cao hơn đầu người. Ngõ hẻm đằng trước giữa các mảnh sân chỉ rộng xấp xỉ một mét, ngõ đằng sau hẹp, chỉ một người lách qua được. Để tránh nhìn vào giường người khác, cửa sổ duy nhất trong phòng ngủ là một ô vuông nhỏ, cao tít ở tường hậu. Trong những tháng ấm áp, không hiếm cảnh một đứa trẻ gọi mẹ, người mẹ khác ở trong nhà khác trả lời; còn trong mùa lạnh lẽo nhất, người ta vẫn nghe thấy tiếng họ, thỉnh thoảng cả tiếng ngáy của hàng xóm qua các cửa sổ đóng chặt.

Trong các khu nhà đã đánh số này có tám mươi ngàn dân sinh sống, cha mẹ ở cùng con cái, giường xây bằng gạch có bếp lò đun củi bên dưới để sưởi ấm. Đôi khi, một người ông hoặc bà ngủ ở đó. Hiếm khi thấy cả hai ông bà trong một ngôi nhà, vì thành phố này mới và dân cư từ các làng mạc xa, gần chuyển đến, cha mẹ họ chỉ đến sống chung khi đã ở góa và không còn tự nuôi được mình nữa.

Ngoài những ông già bà cả lẻ loi này, cuối năm 1978 và đầu năm 1979 có nhiều dấu hiệu tốt đẹp cho Nê Giang cũng như cho đất nước. Hai năm trước, Mao Chủ tịch qua đời và chỉ trong một tháng, phu nhân Chủ tịch cùng phe phái của bà ta trong Chính phủ trung ương bị bắt giữ, tất thảy bọn họ bị quy tội mười năm Cách mạng Văn hóa đã làm đất nước bị trật đường ray. Tại các thành phố cũng như ở nông thôn, loa phóng thanh trên nóc nhà truyền đi các bản tin về các chính sách phát triển kỹ thuật và kinh tế của nhà nước, nếu một người đi từ thành phố này sang thành phố kế bên, sẽ thấy mình chẳng khác một kẻ ăn mày mù lần theo phần này của tỉnh gần Nê Giang bằng đôi chân già lão và lỏng lẻo, bị đánh thức lúc mặt trời mọc và ru ngủ khi mặt trời lặn bằng những bản tin giống nhau do các phát thanh viên khác nhau đọc; những giọng véo von ấy đều nói mùa xuân đã đến sau mùa đông dài đằng đẵng mười năm, dự báo một thời đại cộng sản mới đầy tình yêu thương và tiến bộ.

Trong một khu nhà phía Tây, nơi khu vực dân cư dần dần thay thế bằng khu công nghiệp, người ta ngủ trong các dãy nhà giống như nhà ông giáo Cố, chìm trong những giấc mơ cuối cùng trước lúc rạng đông, quên hẳn những người cha mẹ mất con gái vào ngày hôm nay. Trong một ngôi nhà như thế, cậu bé Đồng thức giấc, đang cười. Lúc mở mắt, nó không thể nhớ ra giấc mơ nhưng tiếng cười vẫn còn đó, giống như dư vị món thịt hầm khoai tây, món ăn yêu thích của nó. Bên cạnh Đồng, trên chiếc giường gạch, bố mẹ nó vẫn ngủ, tóc mẹ cuộn xoắn quanh ngón tay bố. Đồng rón rén bước qua chân bố mẹ, với lấy quần áo mẹ nó thường để trên lò cho ấm. Đồng là người mới đến, nó thấy cái giường bằng gạch này với cả hệ thống ống bí ẩn và phức tạp của cái bếp lò bên dưới vẫn còn lạ lẫm.

Đồng lớn lên trong làng ông bà ngoại ở tỉnh Hà Bắc và mới chuyển đến ở với bố mẹ sáu tháng trước, vì đã đến lúc phải học tiểu học. Đồng không phải là con một, nhưng là đứa con hiện giờ sống dưới mái nhà bố mẹ. Hai anh nó đã xa nhà lên tỉnh sau khi học xong trường dành cho trẻ từ chín đến mười ba tuổi, vì bố mẹ chúng bỏ làng quê đến Nê Giang từ hai chục năm trước. Các anh nó đang học việc trong nhà máy, và tương lai của họ là kết hôn với một nữ công nhân phù hợp, con cái sinh ra được cư trú hợp pháp ở thành phố, đầy những tòa nhà theo phong cách Xô viết uy nghi - đấy là theo lời bố mẹ Đồng trong lúc trò chuyện. Chị gái của Đồng, theo tính toán mộc mạc của bố mẹ, phải cố mà lấy được tấm chồng để vào được thành phố lớn hơn, xuôi theo dòng sông khoảng mười lăm dặm.

Đồng không biết rõ các anh chị ruột, cũng không biết rằng nó ra đời vì bao cao su bị rách. Sự nhẫn nại của bố nó đã mòn mỏi vì làm việc nhiều giờ đằng đẵng bên máy tiện nuôi ba đứa con thơ, và chẳng vui vẻ gì khi có thêm đứa nữa, một đứa con trai mà ở các nhà khác chắc phải ăn mừng. Ông khăng khăng đòi gửi Đồng về nhà ông bà ngoại, và sau mấy ngày khóc lóc, mẹ Đồng khởi hành một chuyến đi dũng cảm suốt hai mươi tám giờ liền với đứa con một tháng tuổi trên toa tàu hỏa chật ních. Đồng không nhớ những con lợn ủn ỉn và những người nông dân hút thuốc ngay cạnh nó, nhưng những tiếng khóc the thé của nó làm lòng mẹ nó chai điếng. Về đến làng quê, mẹ nó chẳng cảm thấy gì ngoài cảm giác nhẹ cả người, trao nó cho ông bà ngoại. Trong sáu năm đầu đời, Đồng chỉ gặp bố mẹ hai lần và vẫn chưa nếm mùi bị tước đoạt cho đến khi họ giật nó ra khỏi làng và đưa tới một ngôi nhà xa lạ.

Lúc này, Đồng rón rén đi ra phòng trước. Không bật đèn, nó tìm thấy bàn chải có chút kem đánh răng bóp sẵn lên đó và cái chậu đầy nước cạnh giá rửa mặt - mẹ Đồng không bao giờ quên chuẩn bị sẵn cho nó từ tối hôm trước, những việc nho nhỏ đó khiến nó hiểu được tình yêu thương của mẹ, dù nó thấy mẹ giống người lạ nhiều hơn. Nó súc miệng òng ọc thật nhanh và bôi kem đánh răng ra ngoài cốc để trình với mẹ, một ngón tay nó xoa ít nước lên trán và hai má, đó là kiểu rửa ráy của nó.

Đồng chưa quen cách sống của bố mẹ. Ở làng ông bà ngoại, nông dân không tốn tiền mua kem đánh răng có vị khác lạ hoặc xà phòng thơm.

- Sao lại cứ tưởng rửa mặt là nom đẹp hơn? - Ông ngoại Đồng hay nói vậy mỗi khi kể chuyện cổ tích. - Sống ba chục năm trong gió, bụi bặm, mưa và tuyết mà không rửa mặt, cháu sẽ thành một người đàn ông đích thực. - Bố mẹ Đồng cười giễu những câu chuyện như thế. Hình như mẹ Đồng thấy cần làm cho nó có dáng vẻ và phong thái của một cậu bé thành phố, nhưng dù bà ra sức bắt nó tắm rửa thường xuyên và mặc những quần áo đẹp nhất trong khả năng của họ, ngay những đứa bé nhất bên hàng xóm cũng có thể nhận ra giọng nói quê mùa của nó. Đồng không oán trách bố mẹ, cũng không kể cho họ nghe những rắc rối khi ở trường, nó bị coi như một thằng hề. Bọn trẻ con gọi nó là Đầu Củ cải, thỉnh thoảng còn gọi là Mồm Củ tỏi hoặc Thỏ làng.

Đồng mặc chiếc áo khoác thừa của chị gái. Mẹ nó đã kỳ công sửa lại những cái khóa, song nom vẫn giống áo con gái hơn con trai. Lúc nó mở cửa ra mảnh sân nhỏ, Nhĩ Nhĩ, con chó của Đồng nhảy vọt khỏi chiếc hộp các tông nhốt nó và lao thẳng tới Đồng. Nhĩ Nhĩ hai tuổi, nó đã theo Đồng suốt từ làng quê đến Nê Giang, nhưng với cha mẹ Đồng, nó chỉ là một con chó lai, họ chẳng mấy thích thú bộ lông màu vàng sáng và cặp mắt đen hình quả hạnh của nó.

Con chó đặt hai chân trước lên vai Đồng và phát ra một tiếng kêu nho nhỏ. Đồng đặt một ngón tay lên môi và suỵt. Bố mẹ nó chưa thức giấc và Đồng yên lòng. Trong quãng đời trước kia ở làng, Nhĩ Nhĩ không được huấn luyện giữ im lặng hoặc kín đáo. Nếu không vì bố mẹ và hàng xóm dọa bán Nhĩ Nhĩ cho nhà hàng, Đồng chẳng bao giờ nỡ đánh chó. Thành phố là nơi khắc nghiệt, hoặc ít ra với Đồng là như thế, chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể thành sự tấn công nghiêm trọng.

Cả hai chạy ra cổng, con chó lao lên trước. Trên phố, thời khắc ban đêm cuối cùng còn nấn ná quanh những ngọn đèn đường vàng vọt, lờ mờ và những cửa sổ phòng ngủ tối tăm. Vòng qua góc phố, Đồng trông thấy già Hoa, người thu gom đồ phế thải đang cúi lom khom, dùng cái cặp to tướng nhặt những mẩu giấy đã dùng bé xíu và cho vào cái bao. Sáng nào, già Hoa cũng đi khắp các đống rác trong thành phố trước khi đội ngũ nam nữ công nhân vệ sinh thành phố đến và chở đi.

- Chào già Hoa, - Đồng nói.

- Chào cháu, - già Hoa đáp. Già đứng dậy và lau mắt, cặp mắt trụi cả lông mi, đỏ và ướt nhoèn. Đồng biết không nên nhìn chằm chằm vào cặp mắt đau của già Hoa. Ban đầu nom chúng thật đáng sợ, nhưng khi quen biết ông già hơn, nó quên bẵng. Già Hoa đối xử với Đồng như với một nhân vật quan trọng, mỗi khi nói chuyện với nó, già ngừng làm việc, như thể sợ bỏ lỡ những điều hay ho nhất mà cậu bé nói. Cũng vì thế mà Đồng nhìn lảng đi để tỏ lòng kính trọng khi nói chuyện với già. Song le, bọn trẻ con thành phố chạy sau già Hoa và gọi già là Lạc đà mắt đỏ, khiến Đồng buồn lòng thấy hình như già chẳng bao giờ bận tâm.

Già Hoa lấy ra một xếp nhỏ giấy trong túi - vài trang xé từ báo và vài trang giấy mới dùng một mặt, tất cả được ép phẳng phiu và đưa cho Đồng. Sáng nào già Hoa cũng giữ những tờ giấy sạch cho Đồng, để nó đọc và có thể viết vào những chỗ chưa dùng. Đồng cảm ơn già và đút giấy vào trong túi áo khoác. Nó nhìn quanh và không thấy bà Hoa, lẽ ra lúc này bà vừa vung cái chổi tre to vừa ho trong đám bụi. Bà Hoa là người quét dọn phố xá, được chính quyền thành phố thuê.

- Bà Hoa đâu ạ? Hôm nay bà ốm à?

- Sáng ra bà ấy đã đi dán thông báo rồi. Về vụ xử tử.

- Hôm nay trường cháu cũng đi xem, - Đồng nói. - Một khẩu súng dí vào đầu kẻ xấu. Pằng.

Già Hoa lắc đầu và không trả lời. Thái độ này khác hẳn với ở trường, nơi các cậu bé nói đến chuyến đi dã ngoại như một sự kiện ly kỳ và các giáo viên không phản đối sự háo hức của chúng.

- Ông có biết kẻ xấu trong thông báo không? - Đồng hỏi già Hoa.

- Đi mà xem, - già Hoa nói và chỉ xuống phố. - Rồi trở lại kể cho ta biết cháu nghĩ gì.

Ở cuối phố, Đồng nhìn thấy một thông báo mới dán, hai góc bên dưới đã bong trong gió. Nó tìm được một cái ghế lung lay ở trước sân, kéo ghế đến và trèo lên, nhưng nó vẫn không đủ cao để với tới góc dưới dù đã kiễng chân. Nó đành để mặc cho các góc tờ giấy đập phần phật.

Ánh sáng của ngọn đèn đường yếu ớt, nhưng bầu trời đằng Đông đã có màu trắng xanh giống như bụng cá lật ngửa. Đồng đọc to thông báo, bỏ cách những chữ không biết nhưng đoán ra ý nghĩa không khó khăn gì:

Tên phản cách mạng Cố San, nữ, hai mươi tám tuổi, bị kết án tử hình và tước bỏ mọi quyền lợi chính trị. Việc hành quyết sẽ tiến hành vào ngày Hai mươi mốt tháng Ba, năm 1979. Nhằm mục đích giáo dục, bắt buộc các trường học và các đơn vị công tác phải tham gia buổi phê đấu trước khi hành hình.

Cuối thông báo là một chữ ký, hai phần ba chữ Đồng không đọc được. Một con dấu vuông to tướng bằng mực đỏ phủ kín bản thông báo.

- Cháu hiểu cả bản thông báo chứ? - Già Hoa hỏi lúc Đồng tìm ra già ở thùng rác khác.

- Vâng ạ.

- Nói về một phụ nữ hả?

- Vâng.

- Cô ấy còn trẻ phải không?

Đồng không hình dung hai mươi tám tuổi là trẻ. Ở trường, nó được dạy về các anh hùng trẻ tuổi. Một cậu bé chăn cừu bảy tuổi rưỡi, không lớn hơn Đồng nhiều lắm, đã dẫn bọn xâm lược Nhật Bản vào bãi mìn khi chúng hỏi đường, và cậu bé hy sinh cùng kẻ thù. Một cậu bé khác, mười ba tuổi, đã bảo vệ tài sản của công xã nhân dân và bị tên trộm giết chết. Lưu Hồ Lan mười lăm tuổi rưỡi, bị Bạch quân hành hình vì là đảng viên cộng sản trẻ nhất tỉnh, và trước khi bị chém đầu, cô nhếch mép cười khinh bỉ làm những kẻ hành hình phải nói: “Cô ấy phục vụ Chủ nghĩa cộng sản và không hề sợ chết”. Người anh hùng lớn tuổi nhất mà cậu biết là một cô gái Xô viết tên là Zoya, bị phát-xít Đức treo cổ năm mười chín tuổi, nhưng mười chín năm là đủ dài với một nữ anh hùng.

- Phụ nữ hai mươi tám tuổi mà phải chết là quá sớm, - già Hoa nói.

- Lưu Hồ Lan hy sinh cho sự nghiệp cộng sản lúc mới mười lăm, - Đồng đáp.

- Bọn trẻ nên nghĩ đến cuộc sống, đừng nghĩ đến hy sinh, - già Hoa nói. - Chỉ đám người già chúng ta mới nên suy ngẫm về cái chết thôi.

Đồng không đồng ý với ông già, nhưng không muốn nói ra. Nó mỉm cười ngập ngừng và mừng vì con Nhĩ Nhĩ lon ton chạy lại, háo hức tiếp tục cuộc thám thính buổi sáng.

Tiếng động dù nhỏ nhất cũng đánh thức một con người đói khát và rét mướt: tiếng sủa yếu ớt của một con chó, tiếng ho khẽ từ phòng ngủ nhà hàng xóm, tiếng bước chân trong ngõ cũng biến thành tiếng sấm trong những giấc mơ của Nhược Nhược trong lúc tiếng ngáy của bố nó không hề bị những thứ kia quấy rầy. Dùng bàn tay lành lặn, Nhược Nhược quấn chăn quanh người nhưng rất khó, lúc nào một phần người nó cũng lộ ra ngoài không khí lạnh giá. Số than cung cấp cho gia đình rất hạn chế, đêm nào lửa trong lò dưới cái giường gạch cũng tắt và muốn ngủ xa lò nhất nên Nhược Nhược cảm thấy hơi lạnh thấm vào người qua tấm nệm bông mỏng dính và những lớp quần áo cũ, không thể cởi ra lúc đi nằm. Bố mẹ nó ngủ tận góc đằng kia, nơi bếp lò ngay dưới chỗ họ nên giữ được hơi ấm lâu hơn. Ở giữa là bốn đứa em gái của Nhược Nhược, lên mười, tám, năm và ba tuổi, rúc vào nhau thành hai cặp cho ấm. Người duy nhất thức lúc này là đứa bé nhất cũng như Nhược Nhược, không có ai để rúc vào ban đêm và lúc này nó đang lần mò ti mẹ.

Nhược Nhược ra khỏi giường, chui vào chiếc áo vải bông quá khổ, nó có thể dễ dàng giấu bàn tay méo mó vào trong. Đứa trẻ nhìn theo cử động của Nhược Nhược bằng đôi mắt sáng, không biểu cảm, rồi cáu kỉnh vì cố gắng vô ích, nó cắn bằng những chiếc răng mới nhú. Mẹ nó hét lên, phát nó một cái mà vẫn không mở mắt.

- Đồ của nợ. Chỉ biết ăn. Ăn. Ăn mãi. Tất cả chúng mày chỉ biết ăn. Kiếp trước chúng mày chết đói chắc?

Đứa trẻ gào lên. Nhược Nhược nhăn mặt. Với những con người đói khát như đứa bé này và bản thân Nhược Nhược, buổi sáng luôn đến quá sớm. Thỉnh thoảng nó rúc vào với đứa bé khi cả hai đã thức, đứa trẻ lầm tưởng là mẹ, nó rúc cái đầu nặng chịch vào ngực Nhược Nhược, động tác đó làm Nhược Nhược cảm thấy khác thường, và không hiểu sao nó thấy gần gũi và có trách nhiệm với những gì một đứa trẻ có thể nhận được từ người mẹ.

Nhược Nhược tập tễnh đến chỗ đứa trẻ. Nó bế em lên và suỵt suỵt ru, rồi đút ngón tay vào miệng đứa trẻ, nó cảm thấy những cái răng mới nhú của đứa em gái. Ngoài đứa em gái đầu và thứ hai của Nhược Nhược nay đã đến trường tiểu học, những đứa con gái khác giống như Nhược Nhược, không có tên chính thức. Bố mẹ chúng chẳng buồn đặt biệt hiệu cho những đứa con gái bé hơn như họ đã làm với Nhược Nhược; họ chỉ gọi chúng là “Con Tư”, “Con Năm” và đứa mới sinh là “Con Sáu”.

Đứa trẻ cần mẫn mút ngón tay Nhược Nhược nhưng lát sau, không thỏa mãn, nó nhả ra và bắt đầu khóc. Mẹ nó mở mắt:

- Hai đứa không im được một lúc, hử?

Nhược Nhược lê bước đưa bé Sáu trở lại giường và lẩn đi trước khi bố nó thức giấc. Trong phòng đằng trước, Nhược Nhược vớ lấy cái giỏ tre để nhặt than và dò dẫm tìm đôi ủng. Đi vào ngõ được mấy bước, nó vẫn nghe thấy tiếng đứa em khóc. Có ai đó đập vào cửa sổ phản đối. Nhược Nhược cố bước nhanh hơn, cái chân trái què quặt làm thành những vòng tròn to hơn thường lệ, cái giỏ đeo lên vai bằng một sợi dây, đập loạn xạ vào hông nó.

Đến cuối ngõ, Nhược Nhược nhìn thấy một bản thông báo trên tường. Nó đến gần hơn và nhìn vào con dấu đỏ chóe, to tướng. Nó không biết một chữ nào trên đó - đã từ lâu, bố mẹ nó nói rõ rành rành rằng một đứa tàn tật như nó đi học chỉ tổ tốn tiền - nhưng khi ngửi mùi hồ dán tờ thông báo vào tường, nó biết là khuấy bằng bột mì. Dạ dày nó sôi sùng sục. Nó nhìn quanh tìm cái ghế thấp hoặc vài viên gạch; chẳng thấy thứ gì, nó đặt úp cái giỏ xuống đất và trèo lên trên. Đáy giỏ võng xuống nhưng không bị gãy dưới sức nặng của nó. Nó đặt bàn tay lành với lên góc bản thông báo và bóc ra khỏi bức tường. Lớp hồ vẫn chưa khô hoặc đóng băng, Nhược Nhược cạo hồ khỏi tờ giấy và tọng cả năm ngón tay vào miệng. Hồ dán lạnh nhưng ngọt. Nó cạo thêm ít nữa. Nó đang mút các ngón tay thì một con mèo hoang nhảy từ bức tường xuống và dừng lại cách nó vài bước chân, ngắm nghía nó với vẻ đe dọa lặng lẽ. Nó vội tụt xuống, suýt ngã lên cái chân què và xua con mèo chạy đi.

Ở góc phố tiếp theo, Nhược Nhược bắt gặp bà Hoa đang phết hồ lên bốn góc bản thông báo.

- Chào cháu, - bà già nói.

Nhược Nhược nhìn cái chậu nhỏ đựng hồ dán, không trả lời. Thỉnh thoảng nó ngoan ngoãn chào bà Hoa, nhưng lúc bực bội - mà việc này thường xảy ra -, nó hay mút chặt bên trong miệng khiến chẳng ai hiểu nó nói gì. Hôm nay là một trong những ngày như thế, bé Sáu lại gây chuyện rắc rối. Trong tất cả mọi người trên đời, Nhược Nhược yêu bé Sáu nhất, đôi khi Nhược Nhược cảm thấy tình yêu này như một cái nút nặng trĩu trong bụng, không thể làm nó dịu cơn đói.

- Cháu ngủ ngon không?

Nhược Nhược không đáp. Sao bà Hoa lại mong nó ngủ ngon, trong khi lúc nào nó cũng đói? Mấy miếng hồ dán đã tan biến, vị ngòn ngọt trong miệng khiến nó càng đói thêm.

Bà già rút trong túi ra một cái bánh bao nhỏ để dành, sáng sáng bà hay mang sẵn phòng khi gặp Nhược Nhược, tuy cô bé chẳng bao giờ biết điều này. Nhược Nhược khiến bà Hoa nhớ tới các cô con gái bà đã có, những đứa con gái bị cha mẹ vứt bỏ. Kiếp khác, bà sẽ nhận nuôi Nhược Nhược, cho nó ăn no, mặc lành, bà Hoa ngẫm nghĩ. Dường như quãng đời cách đây không quá lâu là một cái đập chắn vững chắc cho vợ chồng bà, với từng bé gái họ nhặt trong kiếp lang thang, họ phát hiện ra rằng ngay cả với những người ăn mày, cuộc đời không đến nỗi keo kiệt những khoảnh khắc vui vẻ. Nhưng cái đập đã nứt và nước lũ tràn ngập, hạnh phúc của họ bị cuốn phăng đi như vùng đất thấp vô vọng. Bà Hoa ngắm Nhược Nhược cắn một miếng bánh to, rồi miếng nữa. Được vài miếng, cô bé bắt đầu nấc.

- Cháu ăn nhanh quá, - bà Hoa nói. - Nhớ nhai cho kỹ.

Ăn hết nửa cái bánh, Nhược Nhược mới chậm lại. Bà Hoa trở lại với bản thông báo. Nhiều năm quét dọn đường phố và trước đó, lang thang từ thành phố này sang thành phố khác bới rác khiến lưng bà già còng hẳn, nhưng bà vẫn là người cao khác thường, cao hơn hầu hết đàn ông và những người đàn bà khác. Có lẽ chính vì thế bà lão mới được giao việc này, Nhược Nhược nghĩ, dán thông báo vượt quá tầm với của mọi người để không ai ăn trộm được hồ.

Bà Hoa vỗ nhẹ bản thông báo lên tường.

- Bà sang phố sau đây, - bà nói.

Nhược Nhược không nhúc nhích, cứ nhìn mãi chậu hồ dán trong tay bà Hoa. Bà già dõi theo ánh mắt Nhược Nhược và lắc đầu. Không thấy ai trên phố, bà rút một tờ giấy trong tập thông báo và cuộn thành hình nón.

- Cầm lấy, - bà nói và đặt hình nón ấy vào bàn tay lành của Nhược Nhược.

Nhược Nhược quan sát bà Hoa vục ít hồ dán vào cái nón giấy. Khi thấy có vẻ không được thêm nữa, Nhược Nhược liếm bàn tay bà cho sạch những giọt chảy. Bà Hoa ngắm cô bé, buồn không tả xiết. Bà định nói gì đó, nhưng Nhược Nhược bắt đầu đi.

- Nhược Nhược, ăn xong ném cái cốc giấy đi nhé, - bà già nói khẽ. - Đừng để người ta nhìn thấy cháu dùng bản thông báo.

Nhược Nhược gật đầu, không nhìn lại. Nó vẫn mút chặt bên trong miệng lại để chắc chắn không nói lời nào thừa giữa hai tiếng nấc. Nó không hiểu lòng tốt của bà Hoa với nó. Nó chấp nhận sự nhân từ cũng như tàn nhẫn của cuộc đời, chỉ vì từ khi sinh ra, nó đã là người méo mó. Nhược Nhược hiểu loài người qua các chuyện nghe lỏm được. Bố mẹ nó trong lúc vui vẻ thường đi vòng quanh nó như thể nó là một thứ đồ đạc, còn những người khác dường như phớt lờ sự có mặt của nó. Nhờ vậy, Nhược Nhược có thể biết nhiều chuyện mà những đứa trẻ khác không được phép nghe. Ở chợ, các bà nội trợ hay kháo nhau chuyện phòng the và cười khúc khích thật to, họ kể nhiều chuyện vui đầy ẩn ý về những anh chàng bán hàng rong từ các làng miền núi xuống, vốn còn bỡ ngỡ trong việc mua bán nên phải cố không để ý đến những lời chọc ghẹo của các bà nạ dòng, song vẫn ngượng đỏ mặt. Những người hàng xóm, sau một ngày làm lụng và trước bữa tối, thường tụ tập trong ngõ từng nhóm hai, ba người chuyện gẫu. Nhược Nhược có mặt gần đó chẳng làm họ vội thay đổi đề tài như khi một đứa trẻ khác đi qua. Nó nghe đủ loại chuyện - một nàng dâu băm cỏ trộn nhân bánh bao cho mẹ chồng ăn, một vú em tát đứa trẻ làm nó bị điếc đặc, một cặp vợ chồng gây quá nhiều tiếng ồn khi làm chuyện ấy, đến mức người hàng xóm là một thợ máy làm việc ở mỏ đá đã lắp một quả bom nhỏ hẹn giờ, giật cho cu anh chàng nọ mềm nhũn như bông - những câu chuyện như thế mua vui cho Nhược Nhược, niềm vui mà những đứa trẻ khác có được từ đồ chơi hoặc các trò chơi với bạn bè, mặc dù nó biết phải giữ vẻ mặt thản nhiên. Sự suồng sã và niềm vui ngắn ngủi từ các câu chuyện nghe lỏm được là những trải nghiệm kín đáo nhất của tuổi thơ bị hắt hủi, của sự mất mát mà nó không nhận thức được.

Sáu giờ rưỡi, đoàn tàu chở hàng hú còi. Sáng nào Nhược Nhược cũng đến sân ga nhặt than. Cây cầu duy nhất bắc qua sông nối thành phố với bờ bên kia Nê Giang có bốn làn xe, nhưng vào lúc sáng sớm thế này, hãy còn ít xe tải và xe đạp. Những khách bộ hành hiếm hoi khác là phụ nữ và trẻ em từ trên núi xuống, mang trứng gà mới đẻ bọc trong khăn, những hộp nhỏ đựng sữa dê và sữa bò mới vắt, miến và bánh đa nhà làm. Đi bộ ngược chiều với những người nông dân, Nhược Nhược thấy họ ngờ vực ngoảnh nhìn nó, không buồn che giấu sự khiếp sợ khi thấy bộ mặt biến dạng của nó.

Ga tàu hỏa gần cầu là nơi dành riêng cho vận tải. Than, gỗ xẻ, quặng nhôm từ trên núi chất đống ở đây và chở đến các thành phố lớn. Các chuyến tàu khách đỗ ở ga khác, tận nơi cực Tây của thành phố, và thỉnh thoảng đứng trên cầu, Nhược Nhược nhìn thấy chúng ầm ầm chạy qua, những bộ mặt hành khách nhìn thấy rõ trong nhiều ô cửa sổ. Nhược Nhược thường băn khoăn không biết cảm giác đi từ nơi này đến nơi khác chỉ trong chớp mắt ra sao. Nó thích tốc độ - những đoàn tàu dài kêu loảng xoảng, bánh xe tóe lửa trên đường ray; những chiếc jeep gắn biển số chính quyền phóng nhanh ngay cả trên các phố đông nhất, khuấy bụi mù mịt vào mùa khô hoặc bắn bùn tung tóe lúc trời mưa; băng trôi xuôi dòng Nê Giang vào mùa xuân, các cậu thiếu niên liều lĩnh phóng xe đạp vù vù, pêđan quay tít trong lúc bỏ cả hai tay khỏi tay lái.

Nhược Nhược bước gấp hơn. Nếu nó không đến ga thật nhanh, công nhân sẽ chuyển than từ các toa xuống xe tải. Sáng sáng, những người công nhân cố ý lơ đễnh, đánh rơi một số than xuống đất, rồi sau đó chia nhau. Việc buổi sáng của Nhược Nhược là đứng gần đó, nhìn chằm chằm và đợi cho đến khi có người nhận ra sự có mặt của nó và cho nó một phần than nhỏ. Ai cũng phải làm để kiếm miếng ăn, mẹ Nhược Nhược nói thế nhiều lần, và Nhược Nhược chỉ muốn đến ga đúng giờ, để không bị mất bữa sáng.

Bát Thập đang đi qua cầu trong đám nông dân đối diện với Nhược Nhược, gã mải nghĩ và không nhìn thấy cô bé, cũng không nghe hai người đàn bà nông dân bình phẩm về bộ mặt biến dạng của Nhược Nhược. Gã còn đang bận tưởng tượng cái thứ mà bọn con gái có ở dưới chỗ ấy, giữa hai chân gã. Bát Thập mười chín tuổi, và chưa bao giờ nhìn thấy các phần kín của con gái, nên không thể hình dung nom chúng ra sao. Với Bát Thập, con trai của một anh hùng cộng sản, hạt giống đỏ nhất trong các hạt giống đỏ, đây là một sự thiếu hụt khó chịu.

Cha Bát Thập là một trong những phi công đầu tiên của đất nước tham gia chiến tranh Triều Tiên, là một anh hùng thời chiến được tặng nhiều danh hiệu. Bom Mỹ không giết được ông, mà do một sơ suất nhỏ của con người, ông mất lúc cắt amiđan, năm ấy Bát Thập mới lên hai. Bác sĩ đã tiêm nhầm thuốc mê và sau này bị kết án tử hình vì tội phá hoại nhà nước và mưu sát một trong các phi công giỏi nhất nước. Song, vị bác sĩ đó sống hay chết chẳng mấy ý nghĩa với Bát Thập. Mẹ gã để gã lại cho bà nội nuôi và đi lấy chồng ở tỉnh khác, từ đó đến nay gã được Nhà nước trợ cấp. Khoản tiền bồi thường thật hậu hĩnh so với thu nhập của những người dân khác, khiến hai bà cháu gã sống khá dễ chịu. Bà nội mong Bát Thập học hành giỏi giang và sống khấm khá nhờ trí thông minh, nhưng việc đó không xảy ra vì gã rất ít khi chịu động não. Bà nội lo lắng và cằn nhằn nhưng gã bỏ qua cho bà, vì bà là người duy nhất yêu thương gã và gã yêu thương lại. Đến ngày nào đó bà nội sẽ chết - hai năm gần đây, bà yếu đi nhiều, và lúc này đầu óc gã bấn loạn giữa thực tế và tưởng tượng. Bát Thập không mong gì ngày bà nội rời bỏ gã sang thế giới bên kia, gã hiểu rằng dù căn nhà này thuộc sở hữu của Nhà nước, song gã vẫn được ở chừng nào gã còn sống, tiền tiết kiệm của bà đủ cho gã ăn, mặc và trả tiền than mà không cần động một ngón tay. Gã còn đòi hỏi gì ở cuộc sống nữa? Chắc là một người vợ, liệu cô ta ăn có tốn kém lắm không? Theo Bát Thập hiểu, gã có thể sống thoải mái với một người phụ nữ và cả hai sẽ chẳng phải cố gắng làm việc gì.

Vấn đề là làm thế nào tìm ra người phụ nữ đó. Ngoài bà nội, Bát Thập ít có cơ may với những người phụ nữ khác. Người già trạc tuổi bà hoặc mẹ gã thường dùng gã để răn con cháu họ. Họ quá xấu hổ khi gặp tổ tiên sau khi qua đời vì có một đứa con hoặc đứa cháu như Bát Thập, họ thường nói những lời đó đủ to cho Bát Thập nghe thấy và chỉ gã cho những đứa con cháu cần răn đe. Các cô gái ở lứa tuổi vừa vặn để cưới thì tránh Bát Thập như nàng công chúa thiên nga trong truyện cổ tích tránh con cóc ghẻ. Bát Thập tin cần phải hiểu biết về thân thể phụ nữ nhiều hơn rồi mới tiếp cận được trái tim họ, nhưng ai trong số những người phụ nữ nhìn gã khinh khỉnh kia chịu hé mở bí mật của mình?

Hiện giờ, hy vọng của Bát Thập nhằm vào các cô gái trẻ hơn. Gã đã có vài ý định, mời nhiều cô bé hàng xóm khác nhau ăn kẹo, nhưng chẳng bé nào bằng lòng đi cùng gã vào trong đám cỏ cao ven sông. Tệ hơn, một cô bé còn mách bố mẹ, họ dần cho gã một trận nhừ tử và tung tin khắp nơi đến nỗi lúc này đi đến đâu, gã cũng cảm thấy mọi người cùng các cô con gái nhìn gã bằng con mắt đề phòng. Các cô bé còn đặt một bài hát giễu gã, gọi gã là chó sói, là chồn hôi và con lươn săn gái. Gã chẳng lấy thế làm khó chịu; có phần còn khoái bước vào giữa đám các cô bé giữa cuộc chơi đùa, gã cười nhăn nhở lúc chúng hát vào mặt gã. Gã tưởng tượng sẽ đưa từng cô bé vào bụi rậm bí mật và nghiên cứu những thứ gã cần biết, gã sẽ cười, hài lòng hơn vì chẳng cô bé nào đoán ra việc xảy ra vào lúc đó, những cô bé non nớt này đang hát cho gã nghe bằng giọng hát trong trẻo, đáng yêu của chúng.

Bát Thập cũng có nhiều kế hoạch khác. Ví dụ, trốn trong nhà xí công cộng sau nửa đêm hoặc vào lúc sáng sớm, khi cánh nữ giới hãy còn ngái ngủ vội vã tới và ngồi xổm xuống, còn gã không bị cái bóng đèn duy nhất chiếu tới. Nhưng ý nghĩ ngồi chồm hỗm lâu như thế, rét, mệt và thối hoắc khiến Bát Thập bỏ ngay dự định này. Hay là mặc quần áo của bà nội, lấy khăn quàng trùm kín đầu đến một nhà tắm công cộng. Gã có thể nói chuyện bằng giọng kim và mua một vé vào ngăn nữ giới, vào một phòng thay quần áo và no nê con mắt ngắm những người phụ nữ trần truồng. Gã có thể ở lại đấy một lát rồi giả vờ phải về nhà có việc bận, chẳng hạn để quên con gà đang hầm trên bếp hoặc quên phơi quần áo đã giặt lên dây.

Rồi còn bao nhiêu khả năng khác gã ấp ủ thường xuyên hơn, như tìm được một cô bé trên bờ sông, lúc này Bát Thập đang cố nghĩ thế. Gã sục sạo ven sông dọc theo đường sắt, gã đi chậm rãi bên bờ sông phía thành phố và săm soi sau từng tảng đá, gốc cây. Chẳng có ai lại để một bé gái mới sinh ở đây trong mùa lạnh này, nhưng cứ thử kiểm tra cũng chẳng hại gì. Hai năm trước, một sáng tháng Hai, Bát Thập tìm thấy một bé gái dưới gầm cầu. Đứa trẻ đã đông cứng, hoặc vì đêm giá lạnh hoặc đã chết từ trước. Nó ngắm nghía kỹ càng bộ mặt xám ngoét; không hiểu vì sao ý nghĩ mở tấm chăn và nhìn vào bên dưới những mảnh giẻ rách khiến gã ớn lạnh, gã bỏ nó lại chỗ cũ. Chắc là một đứa bé gái, người ta bảo thế, một đứa bé khỏe mạnh nhưng đáng tiếc sinh ra không phải là con trai. Chỉ cần vài lớp giấy bản ướt là không sống quá dăm phút, người ta bàn tán chi tiết một cách sinh động như thể bọn họ đã bóp nghẹt một bé gái ít nhất một lần trong đời. Bát Thập thử gợi ý đứa trẻ chết vì lạnh, nhưng hình như chẳng ai nghe gã. Họ cứ bàn tán mãi, cho đến khi già Hoa và vợ đến, đặt bó giẻ rách vào cái bao bì. Bát Thập là người duy nhất theo già Hoa đến nơi chôn cất những đứa trẻ bị bỏ rơi. Chỗ đó ở cuối dòng sông tận cực Tây thành phố, nơi có những cây hoa màu trắng không tên nở suốt mùa hè dài dặc, bọn trẻ con trong thành phố gọi là hoa bé-chết. Ngày hôm đó đất quá cứng không thể đào nổi dù một cái hố nhỏ; hai ông bà già tìm được một hốc tránh gió sau tảng đá và phủ đứa trẻ bằng lá khô, cỏ chết rồi đánh dấu chỗ. Họ bảo Bát Thập sau này họ sẽ trở lại chôn đứa trẻ, gã đáp gã không ngờ vực họ sẽ hành động đúng đắn, vì họ vốn là người thiện tâm nên sẽ không bỏ rơi một linh hồn.

Bát Thập tin rằng nếu chờ đủ lâu, một ngày nào đó gã sẽ tìm thấy một đứa trẻ còn sống ở bờ sông. Gã không hiểu vì sao người ta không quan tâm đến các bé gái. Chắc chắn gã không phản đối việc mang một bé về nhà, cho nó ăn, tắm rửa cho nó và nuôi nó lớn, nhưng gã phải giữ kín kế hoạch đó với dân thành phố, kẻo họ coi gã là một thằng ngu. Ngu hình như là một trong những hành động vô đạo đức hiếm hoi dành cho những kẻ trừng phạt bao nhiêu cũng không đủ. Một tên cướp hoặc tên trộm lĩnh án một năm hoặc nhiều hơn vì phạm tội, nhưng đeo thẻ ngu cũng như phản cách mạng là tội chống lại con người, và vì lý do đó Bát Thập không ưa các bạn bè thành thị của gã. Dạo này, gã hay nghe nói, ngay một kẻ phản cách mạng đôi khi cũng không bị tẩy chay. Trên đài truyền đi nhiều câu chuyện về những người bị xử sai trong Cách mạng Văn hóa và được nhận lại vào gia đình cộng sản rộng lớn, sự chuộc lỗi ấy dường như ở ngoài tầm hiểu biết của Bát Thập. Người ta hiếm khi chú ý đến gã khi gã bắt chuyện ở một ngã tư hoặc chơi cờ trên lề đường vào những tối mùa hè, và lúc gã làm thế, trên mặt họ là vẻ ngờ vực và những nụ cười điếng người, dường như gã khiến họ nhận ra mình thông minh biết chừng nào. Bát Thập đã quyết không bao giờ trò chuyện với những người này nữa, nhưng lần sau nhìn thấy những đám tụ tập, gã lại hy vọng. Dù bị hắt hủi, gã vẫn yêu con người và thích trò chuyện với họ. Gã mơ đến ngày đám dân thành thị kia sẽ hiểu tầm quan trọng của gã; có khi họ sẽ vồ lấy tay và vai gã rồi xin lỗi vì sự nhầm lẫn của mình.

Một con chó lóc cóc chạy đến bờ sông, bộ lông màu vàng lung linh trong nắng sớm. Mõm nó ngậm một hình nón gấp bằng giấy. Bát Thập huýt sáo gọi nó:

- Nhĩ Nhĩ, lại đây, mày tìm được của quý gì thế?

Con chó nhìn Bát Thập và lùi lại. Nó là của một người mới đến thành phố, Bát Thập đã nghiên cứu kỹ cả con chó lẫn chủ nó. Gã thấy Nhĩ Nhĩ là cái tên lạ lùng cho một con chó, và tin rằng cậu bé đặt cái tên ấy chắc cũng có gì đó bất bình thường như gã. Cả hai thuộc cùng một loại, lớn lên ở nông thôn và không sáng dạ lắm. Bát Thập thọc tay vào túi và nói nhẹ nhàng:

- Cho mày này, Nhĩ Nhĩ.

Con chó ngập ngừng và không đến chỗ Bát Thập. Gã vẫn đề phòng con chó và nhích đến gần hơn, gọi to lần nữa bằng giọng ngọt ngào, rồi không hề báo trước, gã nhặt một hòn đá và ném thẳng vào con chó, làm nó kêu ẳng một tiếng và chạy mất, nhả cái nón giấy xuống đất. Bát Thập ném tiếp nhiều hòn đá về phía con chó đang khuất dạng. Giá là trước kia, gã đã nhử con chó đến gần hơn để có thể đá vào bụng nó.

Bát Thập nhặt cái hình nón bằng giấy và trải ra trên đất. Mực bị nhòe, nhưng thông điệp vẫn rõ.

- Đừng đùa với bọn phản cách mạng, - Bát Thập nói to. Cái tên trong thông báo nghe không quen, và Bát Thập nghĩ ả này có phải là người thành phố không. Ả là con gái ai nhỉ? Ý nghĩ về cô con gái của người nào đó sắp bị hành quyết khiến gã bứt rứt; không phải vì tội ác cô gái đã phạm dẫn đến kết cục rùng rợn này, mà là liệu cô ta có còn trinh không? Bát Thập đọc lại thông báo lần nữa; thông tin về Cố San thật ít ỏi. Có khi cô ta đã lấy chồng, hai mươi tám tuổi đừng hòng còn là con gái, trừ khi là... “một bà cô”? Bát Thập nói to để chấm dứt suy nghĩ. Gã tự hỏi người phụ nữ ấy đã làm gì mà bị gán cho cái nhãn phản cách mạng. Người duy nhất gã biết cũng bị gán cho tội ấy là vị bác sĩ đã giết chết bố gã. Bát Thập đọc lại thông báo. Tên cô gái nghe thật dễ thương, có khi cô ta chỉ là một người như gã, chẳng ai hiểu và chẳng ai buồn hiểu. Thương thay cô ta phải chết trong cái ngày gã phát hiện ra cô.

Đồng gọi to Nhĩ Nhĩ vài lần, nó mới xuất hiện.

- Mày lại quấy con mực đấy à? - Đồng hỏi Nhĩ Nhĩ đang chạy về phía nó, vẻ sợ hãi. Con chó mực là của lão Keng, người gác nhà máy điện. Không như những người khác sống trong các khu nhà, lão ngụ trong một cái lều nhỏ, xiêu vẹo trên ranh giới khu dân cư và khu công nghiệp. Lão Keng và con chó của lão ở trong số những điều ít ỏi mà bố Đồng đã kể cho nó nghe về thành phố, khi Đồng mới đến. Suốt đời, con mực bị xích vào trước lều và chỉ được phép di chuyển trong vòng bán kính chưa đầy mét rưỡi. Người ta bảo con chó ấy là tên lính gác khốn khổ nhất và cừ khôi nhất thành phố, sẵn sàng lao ra cắn rách toang cổ bất cứ kẻ nào dám mon men đến gần lều chủ nó. Phải tránh xa người nuôi một con chó như thế, bố Đồng đã đe cậu bé vậy, nhưng khi Đồng hỏi lý do, ông không chịu giải thích.

Quá tò mò và quá thân thiện, Nhĩ Nhĩ đã vài lần đến gần con mực, lần nào con mực cũng sủa ầm ĩ và nhảy dựng lên, kéo căng dây xích, mỗi lần như thế Đồng phải mất nhiều thời gian mới dỗ được con Nhĩ Nhĩ dịu lại.

- Mày phải để các con chó khác yên chứ, - Đồng bảo, nhưng Nhĩ Nhĩ chỉ rên rỉ. Có khi mình phạt sai con chó, Đồng nghĩ khi nhận thấy nó không nghe thấy con mực sủa. - Ờ, có khi không phải con mực mà là ai đó. Mày phải biết để người khác yên chứ. Không phải tất cả đều yêu mày như mày tưởng đâu, - Đồng bảo nó.

Cả hai đang đi trên bờ sông. Trên trời, mây nặng trĩu. Gió đưa mùi nhàn nhạt của lớp tuyết cũ chưa tan. Đồng tước lớp vỏ cứng, nhợt nhạt của cây bạch dương, và ngồi xuống cùng mẩu bút chì. Nó viết lên vỏ cây những chữ nhớ được trong bản thông báo: Nữ giới. Phản cách mạng. Trường học.

Trong lớp, Đồng là một trong những học sinh chăm chỉ nhất. Thỉnh thoảng, thầy giáo lại nói với cả lớp rằng Đồng là một tấm gương tốt, “cần cù bù thông minh”. Lời nhận xét đó khiến hồi đầu Đồng buồn nhiều hơn hãnh diện, nhưng sau đó ít lâu, nó biết cách tự động viên mình: Nghĩ cho cùng, lời khen của thầy giáo vẫn là lời khen, cứ tích lũy những lời khen có lợi như thế dần dần nó sẽ là một học sinh quan trọng trong mắt thầy giáo. Đồng ao ước hết lớp một, nó sẽ là một trong những người đầu tiên được kết nạp vào Đội Thiếu niên tiền phong, sẽ được dân thành phố tôn trọng hơn, muốn thực hiện ước mơ đó nó cần phải làm một việc gây ấn tượng với các giáo viên và bạn bè cùng lứa. Nó nghĩ đến việc học thuộc lòng từng nhân vật trong từ điển sơ cấp và trình với thầy giáo kết quả vào cuối học kỳ, nhưng bố mẹ nó đều là công nhân, không đủ giàu có để mua triền miên cho nó những cuốn vở bài tập. Ý tưởng dùng vỏ cây bạch dương chợt đến với Đồng sau khi nó đọc trong sách giáo khoa rằng đồng chí Lenin trong lúc tù đày đã dùng bánh mì đen làm lọ và sữa làm mực, viết những chỉ thị mật cho các đồng chí khác bên lề các trang báo, các chỉ thị này sẽ hiện ra khi hơ vào gần lửa; bất cứ lúc nào lính gác xuất hiện, Lenin lại ăn ngấu nghiến cả lọ lẫn mực. “Nếu các em có tấm lòng ngay thẳng, các em sẽ tìm ra phương pháp đúng đắn”, cô giáo đã nói thế trong giờ đạo đức. Từ lúc đó, Đồng cố giữ cho tấm lòng trong sáng và nhặt nhạnh cả vốc mẩu bút chì mà bọn trẻ khác vứt đi. Nó cũng phát hiện ra vỏ cây bạch dương rất tốt để viết và là nguồn cung cấp đều đặn hơn những mảnh giấy già Hoa dành dụm cho nó.

Nhĩ Nhĩ ngồi lên chân sau và nhìn Đồng trong chốc lát. Rồi nó lao vọt đến dòng sông lạnh giá, để lại những vết chân như những bông hoa trên nền tuyết cũ. Đồng viết cho đến khi ngón tay nó không cử động nổi vì quá rét. Nó thổi những luồng hơi lớn, trắng xóa lên các ngón tay và nhẩm lại từng từ trước khi ném đầu mẩu bút chì đi.

Đồng nhìn lại thành phố. Trên nóc tòa thị chính và tòa án có nhiều lá cờ đỏ. Ở trung tâm quảng trường thành phố, một pho tượng Mao Chủ tịch bằng đá trông lùn tịt so với bệnh viện năm tầng gần đó. Theo các giáo viên, đây là tượng Mao Chủ tịch cao nhất trong tỉnh, là niềm tự hào của Nê Giang, thu hút nhiều người hành hương từ các thành phố và làng mạc khác. Đó là lý do chính khiến Nê Giang được nâng cấp từ thị trấn lên thành phố, hiện cai quản vài thị trấn và các làng mạc xung quanh. Vài tháng trước, sau khi Đồng đến không lâu, một công nhân được chỉ định cứ nửa năm một lần lau rửa pho tượng đã bị tai nạn, rơi thẳng từ vai Mao Chủ tịch xuống và chết tươi. Dân chúng xúm đông xúm đỏ. Đồng là một trong những đứa trẻ lách qua chân người lớn để xem kỹ cái xác, một người đàn ông mặc đồng phục xanh của công nhân quét dọn, nằm ngửa mặt lên trời, cạnh miệng có một vũng máu nhỏ, mắt mở to nom như thủy tinh, chân tay duỗi ra thành các góc kỳ quặc và khó hiểu. Khi các hộ lý từ bệnh viện thành phố đến nhặt, cái xác trượt và lắc lư như không xương làm Đồng nhớ tới một loại sên trong làng ông bà ngoại, thân đầy thịt, nhớp nháp và nếu bỏ một nhúm muối lên, chúng sẽ biến thành một vũng nhỏ trăng trắng, lầy nhầy. Một đứa trẻ đứng cạnh Đồng nôn oẹ và bị cha mẹ nó lôi đi, còn Đồng quyết không tỏ ra mềm yếu. Ngay cả khi vài người lớn ngoảnh đi lúc các hộ lý phải bóc đầu nạn nhân khỏi mặt đất, Đồng buộc mình quan sát mọi thứ, không bỏ sót chi tiết nào. Nó tin nếu nó đủ can đảm, bọn trẻ con và cả người lớn trong thành phố sẽ ca ngợi nó và công nhận nó là một trong những người cừ nhất. Đây không phải lần đầu tiên Đồng nhìn thấy một xác chết, nhưng trước kia chưa bao giờ nó thấy một người chết theo kiểu kỳ quái như thế này. Ở trong làng ông bà ngoại, người ta chết theo các kiểu bình thường, vì ốm hoặc do tuổi già. Chỉ có một phụ nữ đang làm việc trên cánh đồng, đeo bình phun thuốc trừ sâu trên lưng là chết ngay lập tức khi bình thuốc nổ tung. Đồng và nhiều đứa trẻ khác đã tụ tập ở ven cánh đồng xem chồng và hai đứa con trai của người chết tưới vòi nước lên cái xác, cho đến khi lửa tắt và thứ hơi độc chí tử đã hết. Hình như không người nào sửng sốt hoặc thương tiếc, sự lặng lẽ của họ là thứ ở ngoài tầm hiểu biết của Đồng.

Cái chết của một số người nặng hơn Thái Sơn, còn của những người khác lại nhẹ tựa lông hồng. Đồng nghĩ đến bài học thầy giáo đã dạy vài tuần trước. Người đàn bà chết vì vụ nổ thành một câu chuyện mà dân làng hay kể cho khách qua đường, và họ thường kêu lên sợ hãi, nhưng chẳng khiến cho cái chết của bà ta có sức nặng hơn của một bà già chết trong lúc ngủ trên đường làng, cạnh nhà ông bà Đồng? Cái chết của kẻ phản cách mạng ắt phải nhẹ hơn một cái lông, nhưng các biểu ngữ và nghi thức của ngày này dường như nói lên khác hẳn.

Thành phố hồi sinh trong cái nhìn ngơ ngác của cậu bé, một số người sẵn sàng hơn những người khác trong cái ngày trọng đại này. Một nữ sinh lớp bốn kinh hoàng nhận thấy cái khăn quàng lụa đỏ của nó bị đứa em trai làm rách; thằng bé đã buộc khăn quàng quanh chân con mèo và chơi kéo co với mèo. Mẹ nó ra sức an ủi con gái, bảo nó còn cái khăn đỏ thừa bằng vải đấy thôi, và dẫu nó có quàng khăn lụa, chẳng ai chú ý đến vết rách bé xíu kia đâu, nhưng không gì có thể làm cô bé thôi gào khóc. Sao họ lại muốn nó, đội trưởng Đội Thiếu niên tiền phong trong lớp, quàng cái khăn vải giản dị hoặc cái khăn lụa bị rách? Cô bé khóc cho đến khi hiểu rằng nước mắt chỉ làm nó xấu hơn ngày thường, và lần đầu tiên trong đời, nó cảm thấy sự vô giá trị mênh mông khi một cái vuốt nhỏ của con mèo có thể phá hỏng giấc mơ to lớn nhất.

Cách đấy vài khối nhà, một người lái xe tải níu lấy người vợ trẻ khi cô vừa nhỏm khỏi giường. Thêm lần nữa nào, anh ta nài nỉ; cô cưỡng lại, nhưng khi không thể thoát khỏi vòng ôm của chồng, cô nằm, dạng ra cho anh ta. Rốt cuộc, cả hai chợp mắt thêm lúc nữa đúng vào lúc lễ phê đấu, và cô không cần lo cho chuyến đi hôm nay của chồng. Trong bệnh viện thành phố, một y tá đến muộn ca sáng vì con trai cô ngủ quá giấc, và vội vã làm cho xong việc trước khi đến buổi phê đấu, cô cho một đứa trẻ vừa khỏi viêm phổi nhầm liều kháng sinh, nhiều năm sau các bác sĩ mới phát hiện ra đứa trẻ điếc đặc do sự nhầm lẫn này, nhưng vụ đó được giữ kín và cha mẹ nó đổ cho sự bất hạnh của họ là tại số. Bên kia đường trong tòa nhà truyền thông, cô trực tổng đài điện thoại quát một nông dân khi anh ta cố gọi cho ông bác ở tỉnh bên cạnh, anh ta không biết hôm nay là một ngày quan trọng và cô phải chuẩn bị cho sự kiện chính trị này thay vì mất thời giờ với anh ta, cô ta nói thế, lời lẽ cộc cằn của cô chìm lấp trong cuộc chuyển tiếp tồi. Trong lúc cô ta đang mắng mỏ khách, viện quân y từ thủ phủ gọi đến, lần này cô gái quát to vì cô không kịp bắt ngay cuộc gọi.

Dịch nguyên bản từ tiếng Anh The Vargants by Yiyun Li
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 10 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.