Những Kẻ Lang Thang

Lượt đọc: 10 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Sáu
Sáu

❊ ❊ ❊

Bà Cố không đáp khi ông giáo Cố bảo bữa trưa đã xong. Từ cuộc gặp lão Keng về, ông thấy bà đã ngồi trên ghế, và từ đó cứ im lìm như một pho tượng. Ông cố gây ít tiếng động nhất khi làm mọi việc vặt trong nhà. Lúc đã xong mọi thứ, ông ngồi xuống và đành chợp mắt một lát. Ông giật mình vì đám dân chúng từ cuộc phê đấu trở về, đàn ông nói chuyện và khóa xe đạp, đàn bà gọi con cái về ăn cơm. Ông đứng dậy và bắt đầu thái, luộc, rán mọi thứ làm bữa. Ông cố không nghĩ tới những việc xảy ra bên ngoài nhà ông - gần suốt thời trưởng thành, ông hiểu rằng cách duy nhất để sống là tập trung vào những việc nhỏ trên đời, ngay trước mắt.

Ông giáo Cố bưng bát cơm đầy ngồi xuống bên bàn và nhắc vợ ít ra cũng ăn chút ít. Bà đáp bà không thấy ngon miệng.

- Người ta phải có trách nhiệm với thân thể của mình, - ông giáo Cố nói. Ông luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ăn uống điều độ và những bữa ăn bổ dưỡng cho cơ thể và trí tuệ khỏe mạnh. Nếu có một việc ông tự hào về bản thân, là ông không bao giờ nhượng bộ những khó khăn, nhất là lơi lỏng nhiệm vụ với cơ thể. Ông dạy vợ và con gái rằng: Cuộc sống vốn không ổn định, ăn và ngủ nằm trong số việc ít ỏi con người có thể dựa vào đó để có thể đánh lừa cuộc sống và những thất thường của nó. Ông giáo Cố nhai và nuốt từ tốn. Có lẽ ông đã cho nước chưa đủ, nên những hạt cơm khô và khó ăn. Những sợi bắp cải làm hàm răng đã lung lay của ông đau, nhưng ông vẫn nhai, cố làm gương cho vợ như ông vẫn làm.

Ăn xong bữa, ông đến chỗ bà. Bà không nhúc nhích và sau một lát do dự, ông đặt tay lên vai bà. Bà chùn lại và ông rút tay về. Có thể sự việc còn xấu hơn, ông nói, họ nên nhìn vào mặt tích cực.

- Xấu hơn cái gì? - Bà hỏi.

Ông không trả lời. Lát sau, ông nói:

- Ông bà Hoa không thể làm việc đó. Tôi đã nhờ một người ở nhà máy điện làm hộ.

- Nó sẽ được chôn ở đâu? - Bà Cố hỏi.

- Ông ta sẽ tìm một nơi. Tôi đã bảo ông ta không đánh dấu chỗ đó.

Bà Cố đứng dậy:

- Tôi phải đi và tìm nó, - bà nói.

- Tôi tưởng chúng ta đã nhất trí, - ông giáo Cố nói. Họ đã quyết định, ông gợi ý và bà bằng lòng, rằng họ sẽ không tự chôn cất con gái. Họ đã quá già để làm việc đó, và trái tim họ dễ dàng tan nát.

Bà đã thay đổi quyết định, bà Cố nói và tìm áo khoác; bà không thể để người lạ tiễn đưa con gái mình.

- Muộn quá rồi, - ông giáo Cố nói. - Bây giờ công việc đã xong.

- Tôi muốn nhìn thấy nó lần cuối.

Ông giáo Cố lặng thinh. Suốt mười năm qua, ông chỉ đến thăm San hai lần, lúc mới bị kết án và ngay trước khi xử lại. Lần đầu tiên ông đi cùng vợ, cả hai đầy hy vọng dù San chịu án mười năm. Hồi đó San mười tám tuổi, vẫn còn là một đứa trẻ. Mười năm trôi qua không đến nỗi khó khăn gì, chỉ là một phần nhỏ trong cuộc đời dài dặc, ông bảo vợ và con gái thế. Sự việc có thể còn xấu hơn, ông nói với họ.

Suốt lúc ông nói, San chỉ cười nhạo. Sau đó cô nói:

- Bố ạ, bố không mệt khi nói về những điều bản thân bố không tin sao?

- Bố tin vào sự nhẫn nại, - ông giáo Cố đáp. Ông chẳng lấy làm lạ khi con gái đối xử như thế này với ông. Cuộc bắt giữ đã làm ông bà giáo bàng hoàng. Họ vẫn nghĩ con gái họ là một thanh niên cách mạng. Mãi sau này, họ mới biết San đã viết cho bạn trai một bức thư thổ lộ những nghi ngờ về Mao Chủ tịch và cuộc Cách mạng Văn hóa của Người. Ông bà Cố không biết cô có bạn trai. Ông đã từng cảnh báo San về đàn ông. Ông bảo, - thỉnh thoảng thôi, dẫu cô không lắng nghe, - sự phản bội thường đến từ những người gần gũi và yêu thương nhất đời. Ông yêu cầu cô đưa bạn trai đến gặp họ. Nhưng họ có thể làm gì khác? Cậu bạn trai đã chuyển bức thư đó cho Ủy ban Cách mạng thành phố. San bị kết án mười năm, còn cậu bạn trai được phần thưởng là ưu tiên gia nhập quân đội, dù cậu ta xuất thân trong một gia đình tư sản và phản cách mạng, không đủ tiêu chuẩn vào lính.

Con người là những động vật nguy hiểm nhất trên đời, ông giáo Cố định nói với con gái trong chuyến thăm mười năm trước, ông nghĩ sẽ khuyên cô hãy làm người bình thường và không quan trọng như một hạt cát, nhưng ông chưa có dịp nói, con gái ông đã từ chối ở lại phòng và ra hiệu cho người gác đưa cô đi.

Sau đó ông giáo Cố không đến thăm con gái nữa. Vợ ông đi, nhưng mỗi năm chỉ một hoặc hai lần. Bà lo thăm viếng quá nhiều sẽ làm hại lý lịch của San và tăng thêm thời gian tù đày của cô. Họ hiếm khi trò chuyện về con gái, mỗi người âm thầm hy vọng mười năm sẽ qua không xảy ra chuyện gì. Tuy vậy, đến cuối hạn, San nhận được thông báo sẽ xử lại, trong tù cô là thành phần ngoan cố và hết năm này đến năm khác đã viết nhiều thư kháng cáo và ghi vào nhật ký những lời xấu xa nhất, phỉ báng chủ nghĩa cộng sản.

Trong buổi họp hàng tuần ở trường, bí thư Đảng ủy đã hỏi ông giáo Cố có góp ý cho con gái trong phiên xử lại không? Ông giáo Cố trả lời ông đã không nói gì, và tất cả các đảng viên đều lắc đầu thất vọng. Bí thư Đảng ủy nói:

- Vì ông không nói gì, hãy để tôi nói cho ông biết tôi nghĩ gì. Lần cuối cùng con gái ông bị kết án mười năm vì tội phỉ báng sự nghiệp Cộng sản của chúng ta. Hồi ấy cô ta còn trẻ và có thể giáo dục, và người ta đã cho cô ta cơ hội sửa chữa những quan điểm sai lầm. Nhưng rồi đã xảy ra chuyện gì? Cô ta không tiếp nhận cơ hội. Cô ta không chỉ từ chối phục hồi tình yêu và lòng tin với Đảng và sự nghiệp Cộng sản của chúng ta, mà còn chống lại chúng ta bằng những quan điểm phản động nhất. Vì thế, sẽ không bao giờ được khoan dung, - bí thư nói, ngón tay trỏ và ngón tay giữa chỉ vào ông giáo Cố.

Ông giáo Cố không kể với vợ về cuộc họp. Những cuộc họp như thế ắt phải diễn ra ở nơi làm việc của bà, cùng truyền tải một thông điệp tương tự. Thỉnh thoảng ông nghe thấy bà khóc thầm trong đêm. Khi ông thử an ủi, bà tỏ ra vui vẻ và nói họ không nên lo lắng quá nhiều. San vẫn còn trẻ, bà nói, và nó sẵn sàng qua mười năm tù; quan tòa sẽ khoan dung và vụ xử lại sẽ chỉ là một hình thức cảnh cáo.

Ông giáo Cố không nói gì để khích lệ lòng tin mù quáng của vợ. Vài ngày sau, ông đến nhà tù thăm con. Những người gác rất thô bạo với ông, nhưng bao năm qua ông đã quen bị người khác hắt hủi, và nghĩ thái độ của họ không có gì đặc biệt. Song tình trạng của San khiến ông sửng sốt. Cô không còn là cô gái ngang ngạnh, đáng yêu của mười năm trước. Bộ quần áo tù của cô màu xám và tả tơi, bốc mùi hôi thối. Tóc cô cắt ngắn, cũng bẩn thỉu, thưa thớt, giữa hộp sọ là một vệt cạo trọc rất lớn; da cô xanh xao và gần như trong suốt, mắt cô mở to và mờ mịt. Cô nhận ra ông ngay lập tức, nhưng hình như những việc xảy ra mười năm trước đã hoàn toàn biến khỏi trí nhớ của cô. Cô bắt đầu nói ngay khi ngồi xuống. Cô kể với ông cô đã viết nhiều thư gửi Mao Chủ tịch và Người đã trả lời, xin lỗi vì quyết định sai lầm và hứa sẽ phóng thích. Mao Chủ tịch đã qua đời hơn hai năm, nhưng ông giáo Cố ngồi đó, toát mồ hôi lạnh và không nói cho San biết. Cô nói nhanh về những việc cô dự định làm sau khi được thả. Trong ý nghĩ của cô, vị hôn phu sẽ đợi cô bên ngoài bức tường nhà tù, và việc đầu tiên họ làm là đến tòa thị chính thành phố đăng ký kết hôn. Ông giáo Cố không phản đối khi cuối cuộc thăm viếng, hai người lính gác vồ lấy cánh tay San và lôi tuột cô ra khỏi phòng. Cô vẫn đang nói nhưng ông không nghe cô nữa. Ông nhìn trừng trừng vào cái quần tù của cô, dây đầy những vết máu hành kinh đen sẫm. Cái chết còn xa so với những điều tệ hại nhất xảy ra với một con người. Một cái gì đó lớn hơn nỗi sợ lan khắp người ông; ông ước mình có thể chấm dứt cuộc đời cho con gái.

Ông giáo Cố không biết con gái ông đã điên như thế bao lâu rồi, ông cũng không biết vợ ông có hay sự thực này không. Có khi bà đã giấu ông nhiều năm qua. Đến lượt ông nói dối về bức thư nhà tù gửi ra, thông báo với họ tước bỏ quyền đến thăm San vì cô không phục tùng. Vợ ông thở dài nhưng không hỏi thêm khiến ông băn khoăn hay bà tự nguyện nhận chỉ thị ấy vì ích lợi của ông. Án tử hình đến với ông như một sự giải thoát; có lẽ với vợ ông cũng thế, nhưng ông không làm sao biết được. Khi đơn kháng án bị bác, bà Cố bắt đầu nói về việc gặp San lần cuối, nhưng lời thỉnh cầu của bà bị từ chối, không cho biết lý do.

Bà Cố mặc xong áo khoác. Đàn bà y như trẻ con, cứ bám lấy những thứ không mấy ý nghĩa. Lúc ông nài bà ở lại, bà cao giọng hỏi vì sao ông không cho bà gặp con gái.

“Vì chẳng khác gì một kẻ mù lòa”, ông giáo Cố trích dẫn một câu thơ cổ.

- Chúng ta đã mù suốt đời rồi, - bà Cố nói. - Sao ông không chịu mở mắt ra mà nhìn sự thật?

Ông nhìn thấy trong mắt bà đúng vẻ ngang ngạnh ông đã thấy trong mắt San.

- Chết là hết. Hãy quên mọi chuyện đó đi, - ông nói.

- Sao ông dễ quên thế?

- Vì cần thiết, - ông nói. - Sự cần thiết không bao giờ dễ dàng, nhưng chúng ta phải chấp nhận.

- Lúc nào ông cũng muốn chúng ta chấp nhận mọi thứ không được căn vặn, - vợ ông nói. - Vì sao chúng ta phải sống không hề có nghị lực?

Ông giáo Cố ngoảnh đi. Ông không trả lời vợ, và ông ước bà để cho mọi chuyện qua đi, đừng kéo dài nỗi khổ này cho cả hai. Ông chưa kịp nói gì, bỗng cảm thấy bên trái người ông liệt đi và phải quỳ xuống. Ông ngước nhìn vợ cầu cứu nhưng mắt ông không nhìn thấy gì nữa. Bà chạy ào đến đỡ ông nhưng ông nặng quá sức bà, bà đành đỡ ông nằm xuống từ từ, ông cảm thấy hơi lạnh của sàn xi măng thấm qua quần áo làm toàn thân ông tê cóng.

- Đừng đi, - ông van nài, thèm một ngọn lửa, thèm tấm thân ấm áp và mềm mại của bà. Trong giây lát ông lẫn lộn và tưởng như nhìn thấy bộ mặt người vợ đầu, vẫn trẻ trung và xinh đẹp như ba chục năm trước. - Đừng bỏ tôi, - ông nói. - Đừng để tôi mất em lần nữa.

Xác người phụ nữ nằm úp mặt xuống tuyết đã kết tinh, cánh tay cô bị vặn và trói quặt sau lưng theo một cách khó hiểu. Đầu cô không như Bát Thập hình dung vẫn nguyên vẹn. Gã dừng lại cách vài bước và nhìn những vết máu trên bộ quần áo tù.

- Mụ ta chết rồi chứ? - Gã hỏi.

- Sao vậy, giờ mày sợ à? - Lão Keng hỏi và cúi xuống xem xét cái xác. - Tao không trả công mày đi theo đâu.

- Sợ? Không, không. Chỉ chắc là mụ không có cơ hội nữa thôi.

- Không có cơ hội nào hết, - lão Keng nói, đá vào một chân rồi chân kia của cái xác. Lão ngồi xổm cạnh cái xác và chỉ vào lưng người đàn bà. - Nhìn này. Họ trói cánh tay cô ta theo kiểu này để ngón giữa bàn tay trái chỉ thẳng vào trái tim cô ta.

- Sao lại tim?

- Để người hành quyết biết chĩa súng ngắm vào đâu.

Lúc đi qua dòng sông băng giá sang hòn đảo, Bát Thập đã bịa ra một câu chuyện sinh động về cái đầu bay mất, bộ óc đầy máu nở bung trên tuyết như thuốc màu bị trào. Gã đã hình dung lúc kể câu chuyện ấy, những người dân thành phố đứng vây quanh gã, miệng há hốc. Lúc này gã đến gần hơn và ngồi xổm cạnh lão Keng. Vệt máu trên lưng cô ta to bằng cái bát, và Bát Thập sửng sốt thấy một vết thương nhỏ như thế có thể chấm dứt một mạng sống. Bộ mặt người phụ nữ vùi một nửa trong tuyết, không cho ai nhận ra đường nét. Bát Thập sờ lên sọ cô, nó lạnh buốt, nhưng mái tóc mềm và mỏng vẫn sống động lạ lùng.

- Ta làm việc thôi, - lão Keng nói. Lão dùng dao cắt sợi dây trói, nhưng cánh tay cô gái vẫn ở nguyên sau lưng. Lão nhún vai. Lão rút trong túi áo khoác ra một cái khăn mặt dùng rồi, quấn quanh đầu cô ta hai vòng và thắt nút ở sau gáy.

- Để làm gì? - Bát Thập hỏi.

- Để chúng ta không phải nhìn vào mắt cô ta.

- Vì sao?

- Đấy là nơi vong hồn cô ta nhìn ra và thấy người chịu trách nhiệm về cái chết của cô ta. Khi vong hồn nhìn thấy ngươi, cô ta sẽ không bao giờ buông tha - lão Keng nói. - Nhất là hồn ma của một cô gái trẻ. Nó sẽ đến và hút cạn máu ngươi.

- Mê tín, - Bát Thập nói. - Tôi hút cạn máu người khác thì có.

Lão Keng phì cười:

- Tao đã ăn muối còn nhiều hơn mày ăn cơm. Mày có tin hay không thì tùy, nhưng đừng có gào lên cầu cứu khi mày cần tao đấy.

- Ông sợ cái gì? Chúng ta chỉ giúp cô ta thôi, - Bát Thập nói. Nó chỉ vào phần giữa người cô gái. - Kia là cái gì? Cô ta bị bắn phát nữa ở kia sao?

Hai người đàn ông đến gần hơn kiểm tra phần dưới lưng, chỗ bộ áo tù ướt đẫm máu đã khô và nâu sẫm. Không thể gỡ quần áo theo từng lớp, lão Keng khó nhọc xé vải và cố giật quần áo khỏi cái xác.

- Cẩn thận đấy, - Bát Thập nói.

- Cái gì? Bây giờ cô ta không cảm thấy gì đâu.

Bát Thập không đáp. Lúc lão Keng rứt quần áo khỏi xác, cả hai nhìn vào phần giữa người đàn bà lồ lộ, máu và da thịt hở hoác như một cái miệng đang cười kỳ quái. Bát Thập cảm thấy một chất lỏng âm ấm trào lên trong cổ họng và gã nôn thốc cạnh bụi cây. Gã vồ một nắm tuyết và lau mặt, tuyết lạnh làm gã tỉnh lại.

- Khó chịu, hử? - Lão Keng lẩm bẩm. Lão đặt cái xác vào hai bao bố, dùng dây buộc hai cái bao lại với nhau.

- Người ta đã làm gì cô ấy? - Bát Thập nói.

- Chắc người ta đã lấy thứ gì đó trước khi bắn cô ta.

- Cái gì?

- Các phủ tạng. Có lẽ là thận. Hoặc các bộ phận khác. Chuyện cũ ấy mà.

- Họ lấy làm gì?

- Mày chưa nghe việc cấy ghép à? - Lão Keng hỏi.

- Chưa.

- Tao tưởng mày được học chứ, - lão Keng nói. - Ai biết được bây giờ người nào có phủ tạng của cô ấy? Có khi không dùng để cấy ghép, mà các bác sĩ còn để luyện tay nghề cho tinh.

- Sao ông biết?

- Nếu mày sống đến tuổi tao, chẳng có gì mày không biết, - lão Keng nói.

- Ông bao nhiêu tuổi?

- Năm mươi sáu.

- Nhưng tôi đánh cược có một thứ ông chưa biết, - Bát Thập nói. Cái xác đã bọc kỹ trong bao, nó cảm thấy an toàn và lại thích đùa.

- Thứ gì?

Bát Thập đến gần và thì thào vào tai lão:

- Đàn bà.

- Sao mày nghĩ tao chưa biết đàn bà? - Lão Keng nói và nhìn Bát Thập, nhếch mép cười.

- Ông chẳng phải một ông già độc thân sao?

- Có nhiều cách để biết đàn bà, con ạ, - lão Keng nói, - Cưới một người là cách dở nhất.

- Vì sao?

- Vì mày chỉ biết có một người đàn bà.

- Thế ông đã biết nhiều người?

- Về một cách thì đúng.

- Cách gì?

Lão Keng mỉm cười:

- Tao nghe nhiều người dân trong thành phố nói mày là một thằng ngu. Mày quá tò mò nhưng vẫn ngu.

- Ông định nói gì?

- Mày là một thằng đàn ông có óc, phải động não đi chứ.

Bát Thập bối rối. Nó chưa bao giờ gần gũi với người đàn bà nào ngoài bà nội nó.

- Ông có thể bảo tôi cách ấy không? - Nó hỏi.

- Tao có thể bảo mày cánh cửa ở đâu, nhưng mày phải vào trong và tự tìm ra cách, - lão Keng nói và châm điếu thuốc. - Tao kể cho mày nghe chuyện này. Tao đã nghe những người già cả kể khi tao bằng tuổi mày. Ngày xửa ngày xưa, một người đàn bà có chồng thích ngủ với những người đàn bà khác. Lẽ tất nhiên người vợ tức lắm. Cô ta hỏi: “Cái gì khiến ông bỏ tôi và tìm những người đàn bà khác?”. Người chồng nói: “Nhìn cái mặt cô xem, cô chẳng xinh đẹp gì”. Người vợ soi gương và nghĩ ra một kế. Tối nào, cô ta cũng nấu nhiều món rau và bày biện trông rất đẹp mắt: củ cải đỏ tỉa thành bông mẫu đơn, hạt đậu xâu thành những dây chuyền và vòng đeo tay như thể chúng làm bằng ngọc trai, măng cắt thành hình những người phụ nữ có thân hình hấp dẫn.

Bát Thập nuốt đánh ực mà không nhận thấy.

- Ban đầu, người chồng rất khoái. “Mình đúng là một đầu bếp khéo”, anh ta nói với vợ. Nhưng ăn xong bữa tối, anh ta vẫn đi ngủ với những người đàn bà khác. Sau nhiều ngày ăn rau, anh chồng hỏi: “Những miếng thịt lợn, thịt bò cô nấu rất ngon đâu cả rồi? Sao bây giờ cô không nấu chúng nữa?”. Người vợ mỉm cười và đáp: “Nhưng thưa ông chủ, nom chúng không đẹp chút nào”. Anh chồng cười phá và nói: “Giờ thì tôi hiểu ý cô rồi”. Từ đó trở đi, anh ta không bao giờ đi với những người đàn bà khác nữa.

Bát Thập nhìn lão Keng trân trân lúc lão ngừng kể.

- Hết chuyện rồi, - lão Keng nói.

- Rồi sao nữa?

- Tao chỉ kể chuyện cho mày nghe, và câu chuyện hết rồi.

- Người đàn ông thì sao? Tại sao anh ta lại không đến với những người đàn bà khác nữa?

- Vì chị vợ đã dậy cho anh ta một bài học.

- Bài học gì?

- Mày nghĩ đi. Phải động não đi chứ.

- Tôi thấy khó hiểu. Ông phải kể toàn bộ câu chuyện, - Bát Thập nói.

- Tại sao tao phải kể? - Lão Keng cười hỏi.

- Tôi xin ông, - Bát Thập nói. - Ông muốn có bao thuốc nữa không? Một chai rượu nữa?

- Nếu mày hứa với tao một điều, tao sẽ kể nốt.

- Tôi hứa.

- Mày không muốn biết là hứa gì à?

- Miễn là ông không bắt tôi giết người.

- Sao tao lại muốn mày giết người? - Lão Keng hỏi. - Nếu muốn, tao làm việc đó gọn hơn mày nhiều.

Bát Thập rùng mình lúc lão Keng nhìn gã và cười lớn:

- Đừng lo, - lão nói. - Việc gì tao lại muốn mày giết người? Thế này này: bố mẹ cô ta cho tao tiền mua một cỗ áo quan để chôn cất cô ta. Nhưng tao nghĩ một cỗ quan tài chẳng làm sự việc khác đi cho bất cứ ai: cho cô ta, hoặc cha mẹ cô ta, cho cả mày hoặc tao, mà tao thì đã có thừa những chuyện rắc rối rồi.

- Cái ấy thì có thể hiểu được.

- Nhưng mày phải hứa không nói cho ai biết. Tao không muốn ai biết việc này.

- Lẽ tất nhiên là không.

Lão Keng nhìn gã:

- Nếu tao nghe thấy gì, tao sẽ vặn cổ mày, hiểu chưa?

- Hầy, ông đừng dọa tôi. Tôi không thích những câu đùa ác đâu.

Lão Keng nhặt một cành cây to bằng bắp tay người và bẻ làm đôi.

- Tao không đùa với mày, - lão nói và nhìn Bát Thập dữ dội.

- Tôi thề, nếu tôi nói bí mật của ông Keng với bất kỳ ai, tôi sẽ chết tươi, - Bát Thập nói. - Giờ ông nói cho tôi biết bài học ấy đi?

Lão Keng nhìn Bát Thập một lúc lâu và nói:

- Bài học là thế này: Với một người đàn ông đích thực, cái mặt đẹp chẳng là gì, quan trọng là cái miếng thịt kia kìa, và cái ấy thì người đàn bà nào cũng như nhau.

- Cái ấy là cái gì?

Lão Keng lắc đầu:

- Tao tưởng mày khôn hơn chứ.

- Thì ông nói đi, - Bát Thập nói, hơi cáu.

- Tao đã nói hết với mày rồi. Còn lại thì mày phải tự tưởng tượng ra chứ, - lão Keng nói và trở lại với mấy cái bao. Lúc đã buộc chắc vào nhau, lão nắm lấy cái xác và thử nặng, nhẹ.

- Nếu ông không giải thích, tôi sẽ không giúp ông chôn cái xác nữa.

- Càng hay cho tao.

- Ông không nói thì tôi chết mất.

- Chẳng ai chết vì tò mò, - lão Keng vừa nói vừa cười.

- Tôi sẽ không làm bạn ông nữa.

- Tao chẳng nghĩ chúng ta là bạn, - lão Keng nói. - Bây giờ, sao mày không đi đường mày đi? Tao sẽ đi đường tao.

Bát Thập thở dài, không muốn rời lão Keng:

- Tôi chỉ là một đứa trẻ, - Bát Thập nói và khi lão Keng nắm lấy một đầu cái xác, Bát Thập nắm đầu kia, cả hai nhấc lên vai. Nó nặng hơn Bát Thập nghĩ, và đi được mấy bước gã đã thở hổn hển và phải đặt xuống. Lão Keng buông nốt đầu phía lão và cái xác rơi bịch xuống đất.

- Mày đúng là người rơm, - lão Keng nói. - Nếu mày có một ả thì làm ăn được gì?

Bát Thập thở nặng nhọc và cúi xuống, hất cái xác lên vai. Lão Keng chưa kịp cản, gã đã bước nhanh rồi vấp phải một gốc cây và ngã, bị cái xác đè lên trên.

Lão Keng cười hô hố. Bát Thập vất vả đẩy cái xác ra.

- Tôi tưởng cô ta bé nhỏ, - gã nói và xoa xoa ngực, rồi đá mạnh vào cái xác. - Nhưng cô ta nặng hàng tấn.

- Mày không biết rằng khi chết, xác nặng gấp một trăm lần sao?

- Sao lại thế? - Bát Thập hỏi.

Lão Keng nhún vai:

- Tao cho là mánh của người chết.

Phòng tiệc trên tầng hai nhà hàng Tam Hỷ nổi tiếng là nơi số phận của nhiều người ở Nê Giang được định đoạt, nhưng với phần lớn dân trong thành phố thì đây là một căn phòng có cửa kép lúc nào cũng đóng chặt, những thứ ở sau cánh cửa nặng chịch đó nằm ngoài trí tưởng tượng và đồng lương còm của họ. Tầng trệt có mười bàn gỗ sơn đỏ thẫm và ghế dài cùng màu, không hơn gì một quán ăn rẻ tiền, dơ dáy. Món ăn được gọi và trả tiền qua một ô cửa nhỏ, một phụ nữ rầu rĩ thu tiền và ném ra một cái que tre nhờn dầu, một mặt khắc con số rất khó đọc. Sau đó con số này được gọi ở một ô cửa hẹp tương tự, các thực khách phải cầm ngay đĩa nếu không muốn bị mắng vì chậm trễ. Các món ăn đều béo ngậy, nêm nhiều gia vị và giá đắt, vì được coi là món ăn ở nhà hàng. Ngoài những người buôn bán cần giao dịch, bữa ăn của họ sẽ được bồi hoàn, trong thành phố chỉ những người cần phô trương - một tiệc cưới muốn gây ấn tượng cho dân thành phố hoặc một bữa ăn lóa mắt họ hàng nhà quê - mới đến ăn ở Tam Hỷ.

Quá mười hai giờ một chút, Khai đến nhà hàng. Tầng trệt vắng vẻ, chỉ có hai người đàn ông, vali du lịch để trên sàn cạnh họ. Hai người này ngước nhìn cô bước vào qua khói thuốc lá, một người gật đầu như nhận ra Khai. Cô nhìn họ chăm chú, và chỉ khi họ nhìn nhau, cô mới nhận ra mình đã nhìn họ quá lâu. Cô quay người, tiến đến cầu thang và lên phòng tiệc. Khai tự hỏi những người đàn ông này khi về nhà có giải trí cho vợ bằng câu chuyện vụ tử hình hay quên bẵng vì bao hồi ức vô nghĩa khác chồng chất trong chuyến đi, sự việc này sẽ chỉ là câu chuyện để răn đe khi cần thiết với đứa con không vâng lời? Với người xa lạ, cái chết được dùng cho mọi loại mục đích. Thời gian và không gian sẽ được cộng, trừ cho đến khi cái chết đã biến thành thứ gì khác. Có lần Khai đã hát trên sân khấu, máu của kẻ tử vì đạo sẽ tưới bón cho những cây đỗ quyên nở hoa vào mùa xuân, cánh hoa đỏ thắm như màu cách mạng; nhiều bài thơ và âm nhạc tràn ngập tim cô với xúc cảm mênh mông khiến cõi trần nơi cô ở dường như nhỏ bé và tạm thời, nhưng đó là cô gái mới mười bốn tuổi nhìn nhận cái chết như bề ngoài viển vông của một vẻ đẹp huy hoàng? Khai đã hình dung một cảnh tượng khác tại buổi lễ, cuộc gặp cuối cùng của cô với San: bài diễn văn của Khai sẽ chỉ là khúc dạo đầu cho San nói; những lời của họ sẽ thức tỉnh khán giả và thay đổi những sự kiện trong ngày. Nhưng những thứ còn lại của San sau khi tinh thần suy sụp và trước khi thân xác bị hành hình là bộ quần áo tù dơ dáy và dây thanh đới bị cắt, cái miệng há nửa chừng và cặp mắt trống rỗng, một thân xác không trọng lượng trong bàn tay nắm chặt của cảnh sát khiến Khai buồn nôn. Bài nói soạn sẵn với những lời rỗng tuếch đã bị các khẩu hiệu tràn ngập sân vận động át đi dễ dàng.

Một thanh niên đeo băng tay bảo vệ đẩy cửa cho Khai lúc cô đến gần phòng tiệc. Không khí ấm thơm mùi món ăn xào rán, rượu mạnh và khói thuốc ùa vào mặt Khai. Vợ thị trưởng và vợ một quan chức khác chúc mừng Khai đã thể hiện tuyệt vời trong cuộc phê đấu, còn Khai khiêm tốn như trong mọi hoàn cảnh đòi hỏi, nói lại rằng cô chưa đủ năng lực để thực hiện xuất sắc nhiệm vụ như cô hy vọng. Câu chuyện nhanh chóng chuyển sang các đề tài khác. Vợ thị trưởng có con dâu sắp đi làm, hỏi Khai tên loại thuốc giúp cô ta cầm sữa. Cha mẹ Hán như mọi người ở địa vị của họ, tin rằng nuôi con bằng sữa mẹ là lạc hậu, còn Khai không ý thức được sự dàn xếp này, đã nhận mũi tiêm khiến sau này cô gục vào tã lót của Minh Minh mà khóc. Lúc này Khai đáp cô thấy việc chữa trị này chẳng có gì khó chịu.

- Phụ nữ thế hệ các cô sung sướng thật, - một bà sồn sồn góp chuyện. - Thời chúng tôi chẳng bao giờ nghe thấy có loại thuốc làm cạn sữa.

- Cũng chẳng có sữa bò tươi, - mẹ Hán nói. - Tôi khẳng định với các vị là con lợn sữa Hán làm tôi quyết không có thêm đứa con nào sau nó nữa.

Các bà cười, và một người trong bọn chúc mừng Khai lấy được con trai duy nhất của cha mẹ Hán trước khi các cô gái khác có dịp. Khai lắng nghe với nụ cười nhà nghề, cô gật đầu và đáp lại rất đúng lúc. Ở đầu kia phòng, Hán cười với cô rồi nghển cổ cung kính với ngài thị trưởng đang nói và ra hiệu cho một nhóm nhỏ đàn ông cạnh ông ta. Phu nhân thị trưởng tiếp tục thảo luận về việc sinh nở, còn mẹ Hán nhắc Khai đến thăm con dâu của thị trưởng.

- Không phải Khai biết nhiều về việc sinh nở hơn bà và tôi, nhưng nó cùng lứa tuổi Tố Tố nên chúng dễ trò chuyện với nhau, - mẹ Hán nói. Bà nhìn Khai giây lát rồi quay sang phu nhân thị trưởng. - Vả lại, có lúc bọn trẻ này chắc không cần đến hiểu biết của người già chúng ta.

Cố San có thể dễ dàng thành con dâu của những người đàn bà này, Khai nghĩ, và cố hết sức nán lại chuyện trò. Có lẽ quyết định thản nhiên của một số người xa lạ đã góp phần vào việc xếp sai chỗ của Khai trong đời cũng như quyết định làm dâu nhà Hán của cô. Nếu các giám khảo chọn Cố San thay vì chọn Khai là người thắng trong cuộc thi hát múa lớp hai, San có thể được gửi đến trường sân khấu trên tỉnh. Lúc đó sự việc sẽ khác hẳn, San sẽ thành nữ nghệ sĩ hàng đầu trong khi Khai chỉ là một cô gái bình thường ở Nê Giang. Liệu cô có gặp Gia Lâm trước, trước khi anh nhiễm bệnh? Ý nghĩ đó khiến Khai choáng váng và cô cố giữ giọng bình tĩnh lúc nói với phu nhân thị trưởng về món gà mà mẹ Hán đã dạy cô. Đây là món ưa thích của Hán, mẹ Hán nói với vợ thị trưởng và Khai nói thêm cô đã tự làm nhưng còn lâu mới thành công, lời nhận xét của cô giành được nhiều nụ cười tán thưởng của các bà trong giới.

Trước ngày đó, Khai không gặp Cố San đã nhiều năm. Họ là bạn học hồi lớp một, nhưng Khai không nhớ ở tuổi ấy trông San ra sao, thay vì rất nhớ cha mẹ San hồi đó - ông giáo Cố là thầy giáo của họ, còn bà Cố, Khai chỉ nhìn thấy mỗi một lần ở cuộc liên hoan trường, bà Cố đứng giữa các bà mẹ khác. Dù chỉ là học sinh lớp một, Khai vẫn nhớ cô đã ghen tị với San biết chừng nào vì bố San là giáo viên dạy chúng, còn mẹ San rất đẹp. Trong ngày hội trường năm đó, bà vận áo lụa bên trong áo khoác kiểu lãnh tụ màu xám giản dị, cổ tay áo và đường viền màu đỏ rực. Cái cặp tóc nhựa cùng màu tôn thêm vẻ óng ả của mái tóc đen, dài hơn kiểu của phụ nữ có chồng vài centimét. Ở tuổi mười bốn, Khai đã cố bắt chước dáng điệu của bà Cố khi đóng vai người mẹ trẻ bỏ đứa con mới sinh của mình để cứu con một đồng chí lãnh đạo của Đảng Cộng sản: đứng thẳng lưng, cô ôm con búp bê nhựa vào ngực, trong lúc ném con búp bê khác quấn vải hoa xanh vào dòng sông trên sân khấu. Bản balat tiếp theo là bài ca ưa thích trong sự nghiệp diễn xuất của Khai, bài hát của người mẹ ru đứa con sẽ không bao giờ còn thức dậy vào mọi lúc bình minh trên cõi trần.

Mùa thu năm 1966 là lần cuối cùng Khai và San gặp nhau. San cầm đầu đội Hồng vệ binh ở địa phương, còn Khai từ trên tỉnh về Nê Giang lưu diễn cùng đoàn kịch Hồng vệ binh của cô. Hai đội mặt đối mặt trong cuộc thi hát múa tay đôi ở quảng trường thành phố. Cuộc đua tranh trở thành những môn đệ trung thành nhất của Mao Chủ tịch, và sự thù oán bắt nguồn từ cuộc ganh đua ấy dường như lúc này là vô nghĩa, nhưng Khai nhớ mùa thu năm ấy bắt đầu tuổi dậy thì của cô và thỉnh thoảng cô hình dung San cùng chung những hồi ức y như thế về mặt trời tháng Chín chiếu vào mắt họ trên sân khấu dựng tạm, do các công nhân ở đội làm đường dùng xẻng đắp nên cùng với nhịp bài hát của họ, người già và trẻ nhỏ thích thú tụ tập xem, còn một gã trai gày và cao lêu nghêu trông không lớn tuổi hơn San hoặc Khai, đứng tách riêng ra và nhếch mép cười, dường như chỉ mình gã chẳng ấn tượng gì về cuộc biểu diễn của cả hai đội.

Cậu trai ấy có ông nội và hai bác phục vụ trong Quân đội Dân tộc chống lại cộng sản trong nội chiến, là người bị các phe phái Hồng vệ binh trong thành phố gạt bỏ. Hai năm sau, có tin từ Nê Giang là San bị bỏ tù vì can tội chống lại Cách mạng Văn hóa. Hồi đó, cậu trai gày nhẳng kia là bạn trai của San, đã nộp những bức thư của San lên chính quyền để đổi lấy cơ hội gia nhập quân ngũ. Lúc này Khai nghĩ: nếu ở lại Nê Giang, liệu cô có xiêu lòng vì nụ cười lừa dối kia không?

Lúc này thị trưởng mời các vị khách ngồi vào hai bàn, những bát súp và đĩa thức ăn nóng hổi đang đợi. Một cuộc trình diễn sự khiêm tốn và sùng kính khi những người này nhẹ nhàng đùn đẩy nhau quanh bàn ăn, từ chối những chỗ ngồi ưu tiên nhất gần thị trưởng và phu nhân; tiết mục này chỉ kết thúc khi thị trưởng tuyên bố ông hủy bỏ những chỗ ngồi chỉ định sẵn vì dạ dày của mọi người đang gầm réo. Khách khứa ngồi xuống và bắt đầu thưởng thức bữa tiệc trưa.

Sau khi đến chợ vào buổi trưa, Nhược Nhược không về nhà. Thay vào đó, nó khập khiễng đi qua thành phố, cái giỏ trên vai đầy một nửa những lá rau héo úa, cho đến lúc ra tới bờ sông. Mặt trời đã rời bỏ những đám mây nặng nề nhất lại đằng sau và lúc này đang ở giữa đường về phía Tây, một cái đĩa nhợt nhạt và lạnh lẽo. Trên đường từ sân vận động về, nó không thấy Bát Thập, cả ở chợ cũng thế, nó nhớ thỉnh thoảng nhìn thấy gã ở đó. Nó không biết gã còn đợi nó bên cây liễu không - hình như Bát Thập thuộc loại người sẽ đứng đó và đợi - và nó quyết định đến đó tìm gã. Khi nó về nhà chắc các em gái nó đã dậy, nhưng nó đã móc khóa từ bên ngoài. Cửa sổ duy nhất bịt kín hai lần. Chúng có thể khóc bao nhiêu tùy ý, nó không bận tâm vì không nghe thấy.

Đi ngược dòng sông, Nhược Nhược nghĩ đến tương lai. Mẹ nó coi các con gái như những người thu nợ. Bà thường nói không thể đợi gả chồng cho từng đứa. Tốt hơn hết là chúng phải học cách cư xử sao cho khi về nhà chồng, mẹ chồng chúng không quất bắn linh hồn bất lương ra khỏi thân xác chúng. Mẹ nó nói rõ rằng nếu con gái xúc phạm nhà chồng, tốt hơn hết là cắn răng chịu trừng phạt và đừng hòng mong cha mẹ đẻ giúp. Nhưng những lời dọa dẫm ấy chẳng bao giờ có ý nghĩa với Nhược Nhược. Nó thừa nhận rằng Nhược Nhược, kẻ thu nợ tang thương nhất trong sáu cô con gái, sẽ còn là gánh nặng cho bố mẹ, sẽ chẳng có ai đến dạm hỏi Nhược Nhược về làm vợ. Mẹ Nhược Nhược nói, giá họ có một đứa con trai và con dâu đưa tiễn họ sang thế giới bên kia, khiến Nhược Nhược hiểu rằng mẹ nó muốn có một con dâu hơn là sáu đứa con gái. Không có con trai, thì Nhược Nhược, đứa con gái khó lấy chồng sẽ phải ở với bố mẹ chừng nào họ còn sống.

Cho đến sáng hôm ấy, Nhược Nhược vẫn ước được làm con gái của ông bà giáo Cố. Nó rất mến ông bà giáo Cố, giọng họ dịu dàng khi gọi tên nó, ngôi nhà lặng lẽ của họ có những bữa ăn nóng. Mong muốn đó đã thành giấc mơ đôi khi kéo dài nhiều giờ trong ngày, trong đó Nhược Nhược hình dung nó sống với ông bà Cố. Nhiều sự bất hòa xảy ra giữa nó và cha mẹ mới - cái bát sứ tuột khỏi bàn tay què của nó vỡ tan, cái ví để sai chỗ làm ông giáo Cố không tìm ra hoặc bữa tối nấu quá lâu mà Nhược Nhược quên không chú ý. Nhưng họ sẽ không bao giờ nói những lời thô lỗ hoặc lườm nguýt, nghi ngờ nó, họ biết nó vô tội, họ biết nó luôn cố gắng hết sức, chỉ nghĩ làm ông bà giáo Cố thất vọng là Nhược Nhược đã chảy nước mắt. Nó sẽ cấu, véo hoặc cắn vào những bộ phận vô dụng trên người, và như thế chỉ khiến trái tim họ tan nát hơn là người nó bị đau. Bà Cố sẽ năn nỉ Nhược Nhược đừng làm thế nữa. Ông giáo Cố sẽ thở dài và xoa xoa hai bàn tay, vô vọng. Nhược Nhược sẽ gạt họ ra rồi lại cắn, cấu mạnh hơn vì nó không xứng đáng với tình yêu của họ. Họ không biết nó đáng ghét đến thế thì thà nó chết còn hơn, nó sẽ gào lên với họ, rồi lại tự hành hạ mình hơn nữa, nó đáng bị trừng phạt vì đã quát tháo với hai người thân yêu nhất đời nó.

Rồi sẽ đến lúc bằng nhiều lời nhẹ nhàng song cương quyết, ông bà Cố cấm nó tự làm đau mình. Họ sẽ bảo nó không xấu xí tí nào, rồi ôm lấy nó khi nó không cưỡng lại. Họ sẽ bảo họ yêu quý nó, và trong mắt họ nó quý giá như một của báu. Nó không tin lời họ, nhưng họ cứ nói đi nói lại cho đến lúc nó dịu đi và khóc. Mỗi lần, Nhược Nhược lại kéo cho câu chuyện dài thêm, cho đến khi nó không chờ nổi cho đến lúc cuối cùng, khi nó được hai người yêu nó như con đẻ làm dịu đi sự cô đơn và khao khát. Lúc khoảnh khắc ấy đến - nó có thể đến vào bất cứ lúc nào, trên đường đi chợ hoặc đến ga, hay lúc nó ru em ngủ hoặc nấu bữa tối - Nhược Nhược nín thở đến gần ngạt. Rồi tim nó đập mạnh, chân tay nó yếu hẳn, tê dại đến dễ chịu.

Lúc đó, chắc một lính gác đeo băng đỏ quát vào mặt nó, mẹ nó đập vào vai hoặc một câu rủa của đứa em gái làm Nhược Nhược chợt tỉnh giấc mơ. Có lúc Nhược Nhược mơ những giấc mơ khác, tha thiết yêu cầu những người khác biến nó thành con gái của ông bà Cố. Có khi thì cha mẹ nó chết, nó sắp bị gửi đi trại mồ côi thì ông bà Cố chạy đến cứu nó. Lần khác, nó mơ cha mẹ tống cổ nó ra khỏi nhà, còn ông bà Cố nghe tiếng gõ cửa sẽ kéo nó từ đường phố tối tăm và lạnh lẽo vào trong ngôi nhà ấm áp của họ, họ bảo họ đã đợi lúc này từ lâu lắm, và bây giờ mọi sự sẽ tốt đẹp. Trong một giấc mơ, mẹ Nhược Nhược đánh nó bất tỉnh và khi tỉnh dậy, nó thấy mình trong tay bà Cố, mắt bà đầy những giọt nước biết ơn vì nó không chết.

Nó sống để làm gì khi bây giờ nó biết bà Cố và ông giáo Cố không bao giờ là bậc cha mẹ yêu thương như nó mơ? Trong các giấc mơ, họ chưa bao giờ quay lưng lại với nó.

- Này, này! Sao trông mày buồn thế? Đang nhớ tao ư?

Nhược Nhược ngước nhìn và thấy Bát Thập đang xoay tít cái mũ da cừu trong tay như làm trò ảo thuật, trán gã lấp lánh mồ hôi. Nó hít một hơi thật sâu và nhìn quanh. Nó đã đi được nửa đường đến rừng bạch dương, lớp tuyết nom bẩn thỉu trên dòng sông đóng băng. Nó liếm bên trong miệng và nếm vị máu vì đã cắn mạnh.

- Sao anh lại ở đây? - Nó hỏi, sụt sịt.

- Tao đợi mày, nhớ chưa? Từ sáng nay. - Bát Thập làm một cử chỉ phóng đại, chỉ hai lần vào cổ tay tuy gã không có đồng hồ. - Nhưng mày không đến.

- Mẹ em bảo em đến cuộc phê đấu.

- Mày có nhìn thấy mụ ta không?

- Không.

- Tất nhiên là không, vì mày chẳng thuộc đơn vị nào, - Bát Thập nói. Gã đến gần hơn và đặt cái mũ lên đầu Nhược Nhược. Cái mũ quá rộng với nó. Gã sửa lại nhưng mũ vẫn sụp xuống tận lông mày. - Trông mày như cô lính trong phim ấy, - Bát Thập nói.

- Phim gì?

- Tao không biết. Bộ phim chỉ toàn lính nữ. Những người du kích, Truyền thuyết về Trái tim đỏ, Những người tiên phong. Mày đã xem chưa?

Nhược Nhược lắc đầu.

Bát Thập tắc lưỡi và thốt một âm thanh ngạc nhiên:

- Rồi có ngày tao dẫn mày đi xem phim.

Nhược Nhược chưa bao giờ đến rạp. Thỉnh thoảng, cha mẹ nó đi xem cùng đơn vị làm việc; hai em gái nó cũng đi với trường. Mùa hè, màn ảnh trắng xóa căng ở cái sân rộng cạnh Nê Giang, mỗi tuần chiếu một phim nhưng Nhược Nhược thường phải ở nhà trông đứa em mới sinh. Họ nấn ná ở sân lâu hết mức có thể, lắng nghe tiếng nhạc yếu ớt từ dòng sông cho đến lúc từng đàn muỗi bay tới, vo ve quanh họ.

Bát Thập nhìn kỹ Nhược Nhược:

- Sao mày không muốn đi xem phim với tao?

- Nhưng đưa em đi xem phim rồi, anh vẫn cho em than chứ? - Nhược Nhược hỏi.

- Than? Ừ, lúc nào cũng có, - Bát Thập nói và vòng một cánh tay quanh vai Nhược Nhược. Giật mình, nó hơi cưỡng lại và Bát Thập buông nó ra, cười như nắc nẻ. - Sao chúng mình không tìm một khúc gỗ và ngồi xuống, - Bát Thập nói và hướng Nhược Nhược đi ngược dòng. Nó cố đuổi kịp gã, và khi nhận ra, gã đi chậm lại.

- Mày có biết hôm nay tao nhìn thấy ai không? - Gã hỏi.

- Không.

- Mày muốn biết không?

Nhược Nhược ngập ngừng rồi nói có.

- Tao đã thấy kẻ phản cách mạng.

Nhược Nhược dừng lại:

- Cô ta ở đâu?

- Giờ thì chết rồi.

- Anh nhìn thấy cô ta còn sống chứ?

- Giá mà thế. Không, lúc cô ta đã chết, - Bát Thập nói và vặn nhẹ cánh tay Nhược Nhược quặt ra sau lưng. - Người ta trói cô ta như thế này, để ngón tay giữa chỉ thẳng vào tim. Rồi pằng, - gã nói và ấn ngón tay trỏ vào lưng Nhược Nhược.

Nhược Nhược rùng mình. Nó rút cánh tay lại và giấu bàn tay tàn tật vào trong tay áo.

- Bây giờ cô ấy ở đâu? - Nó hỏi.

- Để làm gì?

- Em muốn nhìn thấy cô ấy.

- Ai cũng muốn nhìn thấy. Nhưng hãy tin tao đi, chẳng có gì mà xem đâu. Cô ta chết như một khúc gỗ. Thực ra nặng hơn một khúc gỗ. Mày có biết vì sao tạo lại biết thế không?

- Không.

- Vì tao giúp người đàn ông đó mang xác cô ta ra khỏi đảo. Chà, cô ta nặng lắm, tin tao đi.

- Cô ta với người đàn ông?

- Ông ta đào huyệt chôn cô ta.

- Họ ở đâu?

- Ở phía bên kia rừng. Giờ chắc đào xong rồi. Người ta không hành hình trong mùa lạnh như thế này. Mùa hè sẽ dễ dàng hơn. Tào bảo ông ta đừng lãng phí thời gian. Già Hoa và bà vợ sẽ không bao giờ đào hố trong mùa đông. Nhưng ông ta bảo sẽ làm cẩn thận và bảo tao về nhà trước. Tất nhiên tao không muốn ở lại với con người khốn khổ và ngắm công việc của ông ta. Có khi sáng mai chúng ta tới đó xem lão có khoét được một cái lỗ to bằng cái bát không.

- Chúng ta đi bây giờ được không?

- Tại sao?

- Em muốn nhìn thấy cô ấy.

- Nhưng chẳng có gì mà xem đâu. Bây giờ cô ta ở trong hai cái bao rồi.

Nhược Nhược nhìn ngược dòng. Lúc nó về chắc lửa trong lò đã tắt. Nó nhóm lại lò mất mười lăm phút, và bữa ăn sẽ muộn. Mẹ nó sẽ cốc mạnh vào đầu nó. Bát Thập có thể thay đổi ý kiến và không cho nó than nữa. Nó gạt bàn tay Bát Thập và bắt đầu tiến vào rừng.

- Này, mày đi đâu đấy?

- Em muốn xem cái xác.

- Đừng để tao ở đây. Tao sẽ đi với mày, - Bát Thập nói và áp mu bàn tay lên vai Nhược Nhược. - Người đàn ông chôn cô ta không dễ bắt chuyện đâu, nhưng ông ta là bạn tao. Tao sẽ nói với ông ta và ông ta sẽ cho phép mày.

- Sao lại thế?

- Ngốc ạ, vì mày cũng là bạn tao.

Sau lúc mặt trời lặn, gió nổi và Bát Thập nhận ra gã để quên mũ trên đầu Nhược Nhược. Gã cười khúc khích khi nghĩ đến bộ mặt bé nhỏ, nghiêm trang của nó. Nó rất hiếm khi cười, nhưng mắt nó, dù có một bên bị sụp xuống, vẫn to hơn khi chăm chú nghe gã nói chuyện. Gã không biết Nhược Nhược hiểu bao nhiêu về những quy định giữa con trai và con gái, và nó nghe được những gì về tai tiếng của gã, nhưng nó không nói gì khi gã đặt bàn tay lên vai nó.

Trước khi chia tay, Bát Thập hẹn Nhược Nhược hôm sau lại ra ngoài, nhưng nó không đồng ý cũng không từ chối. Lão Keng khốn kiếp chắc phải dọa con bé sợ vãi linh hồn, Bát Thập nghĩ. Nó nhặt một hòn đá trên mặt đất. Lúc này là giờ ăn tối, đường phố vắng vẻ, chỉ còn phần thừa của những bản thông báo, bị cuốn và quay tròn trong gió. Bát Thập nhìn quanh và khi không thấy ai, gã ném hòn đá vào cột đèn gần nhất. Mất ba lần, gã mới ném vỡ bóng đèn.

Lão Keng không cư xử như bạn bè tí nào lúc Bát Thập và Nhược Nhược tìm ra lão. Chờ mất một lúc và chỉ khi gã nhìn thấy vết kéo xác trên lá khô, Bát Thập nhận ra rằng lão Keng đã chuyển nó đi xa hơn, vào một mảnh đất nhỏ trong rừng. Lão Keng nửa lăn nửa kéo một bọc to đến chỗ cái xác đã lấp một phần bằng những hòn đá kích cỡ khác nhau. Thật không tưởng cho các bậc cha mẹ mong lão chôn cô ta vào lòng đất trong thời tiết như thế này, lão nói khi bọn chúng tới gần.

- Hình như tôi chưa nói với ông, - Bát Thập nhận xét.

- Mày có thể câm cái mồm một lần được không? - Lão Keng nói.

Chẳng phải cách nói với bạn bè, nhất là trước mặt người đồng hành mới của gã, nhưng Bát Thập cố không phản đối.

- Nếu ông sợ lũ chó hoang, ông có thể phủ cái xác bằng những cành cây nặng. Già Hoa làm thế, - Bát Thập nói. - Ông không cần phải chuyển những hòn đá này.

- Tao tưởng mày khôn ngoan, và không can thiệp vào việc của người khác chứ.

- Chỉ là một gợi ý hữu hảo thôi, - Bát Thập nói.

Lão Keng nhìn Bát Thập, gay gắt:

- Tôi sẽ biết ơn nếu cậu để mặc tôi.

- Ông đừng lo. Tôi vẫn giữ nguyên bí mật của ông, - Bát Thập nói và đưa những ngón tay dọc miệng, thốt ra tiếng như kéo khóa. Gã đến gần Keng hơn. - Nhưng cô bạn tôi muốn được nhìn xác chết một cái.

- Tại sao?

- Ai chẳng muốn nhìn?

Lão Keng lắc đầu và nói không thể được.

- Nào, - Bát Thập nói và vỗ vai lão Keng như nó thấy những người đàn ông làm thế với nhau. - Cô bé chỉ muốn nhìn một cái thôi mà. Chẳng hại gì cho ai. Tôi sẽ khuân đá và xếp lại. Ông có thể đứng đây và giám sát chúng tôi. Chỉ không quá một phút thôi.

Lão Keng gạt bàn tay Bát Thập. Bát Thập nhăn mặt với Nhược Nhược, mong nó hiểu rằng sự thô lỗ là bình thường giữa cánh đàn ông. Lão không muốn giúp bạn để gây ấn tượng với cô gái của gã sao? Bát Thập hạ giọng, cô bé là người chẳng ai chú ý, tại sao không làm cho cô ta vui được một ngày, Bát Thập thì thào. Lão Keng lắc đầu, và khi Bát Thập nài ép và một mực nói chính gã sẽ mở bao cho cô bé ngó, lão Keng nhìn gã, lạnh lùng:

- Tốt hơn hết là mày xéo đi trước khi tao hết kiên nhẫn.

- Thì ông có sao đâu? - Bát Thập nói. - Đấy chỉ là xác một tên phản cách mạng, chứ có phải mẹ ông đâu.

Lão Keng rủa Bát Thập, bảo nó câm ngay cái mõm lại. Bát Thập ngớ ra; gã tưởng lão Keng ưa gã, mới một giờ trước Keng còn kể chuyện cho gã nghe. Nhược Nhược chằm chằm nhìn họ, và Bát Thập thấy bị xúc phạm khi thấy cặp mắt nó nhìn xoáy vào mặt gã, không chớp, bộ mặt lúc này nóng và chắc là đỏ như củ cải đường.

- Đ...mẹ mày, - Bát Thập nói với Keng. - Đ. mẹ cả chị mày, em gái mày, mẹ mày, cô dì mày, bà mày và tất cả lũ đàn bà con gái tổ tiên đã chết trong mồ nhà mày.

Bát Thập chưa có thời gian phản ứng, lão Keng đã dí con dao dài vào cổ gã, lưỡi dao sắc ấn vào da. Giọng lạnh lùng, lão Keng bảo Bát Thập quỳ xuống.

Trong năm phút sau đó, Bát Thập làm mọi thứ lão Keng ra lệnh. Gã tự gọi mình bằng đủ loại tên, tát vào mặt mình và van xin tha thứ. Lão Keng nhìn xuống gã và cười to.

- Mày là đồ vô dụng, mày có biết thế không, hả?

- Có, tất nhiên là có, - Bát Thập nói. Đúng lúc đó Bát Thập nhận thấy một vết bẩn đáng ngờ ở đũng quần lão Keng, gần cái ấy của lão, màu xám nhạt trên chiếc quần yếm bằng nhung kẻ đen. Bát Thập dịch đến gần hơn như muốn chạm đầu vào chân lão và liếc trộm cái nữa. Lão Keng có thể giải thích một ngàn câu về vết bẩn, nhưng Bát Thập sẽ không bao giờ tin lão.

Trời đã tối khi Bát Thập và Nhược Nhược trở về thành phố. Trông Nhược Nhược bồn chồn, hốt hoảng và không trả lời khi gã hẹn mai lại gặp. Nó về quá muộn, nó nói và vội rảo bước. Bố mẹ Nhược Nhược chắc không vui, gã nghĩ, nhưng quyết không hỏi về sự trừng phạt nó sẽ bị. Gã đã đủ lo lắng và không tội vạ gì gánh thêm nỗi khổ của nó.

Cách một khối nhà, Bát Thập ném vỡ thêm một bóng đèn. Gã đá nửa cái bóng vào rãnh. “Mày đã hiếp xác chết!”. Có Trời mới biết một thằng người như thế còn làm những gì nữa, Bát Thập nghĩ; dân thành phố cần có người canh phòng cho họ. Gã quyết trở lại và khám phá vì sao lão Keng cứ một mực không cho chúng đến gần cái xác, nhưng trước đó, gã phải biết tìm lão Keng ở đâu đã. Bát Thập giục mình nghĩ như một thám tử cừ khôi. Gã lẳng lặng đến lều của lão Keng, gã đi ngược chiều gió để con chó không đánh hơi được. Cách độ hai chục mét, gã ném mạnh một hòn đá về phía lều. Con mực bắt đầu sủa và lao vào kẻ thù vô hình. Bát Thập rẽ nhanh vào ngõ bên cạnh vì nghe thấy lão Keng quát từ trong lều. Vài phút sau, lão Keng ra khỏi lều và đến nhà máy điện làm ca đêm. Gã tha hồ yên tâm thám thính, Bát Thập nghĩ. Ai ngờ gã, Bát Thập, kẻ vẫn bị mọi người gọi là thằng ngốc lại là người hành động cho sự an toàn của thành phố trong một đêm tối trời như thế này? Gã xát thật mạnh vào tai, và ước gì không quên lấy lại cái mũ trên đầu Nhược Nhược.

Loạng choạng trong bóng tối, Bát Thập khó lần ra dấu vết. Gã ghi nhớ trong đầu những dụng cụ thích hợp để hôm sau mua, một con dao sắc, một đèn pin dài và mảnh gã đã thấy một nhân viên an ninh cầm, một cuốn sổ ghi chép và cái bút hợp màu, một đôi găng, một cặp kính phóng đại và vài thứ khác gã hình dung một thám tử cần. Lúc này đã quá muộn không mua được, nhưng ít nhất ánh trăng trên tuyết và vài ngôi sao yếu ớt khiến cuộc tìm kiếm đỡ khó khăn. Bát Thập lục trong túi và thấy nửa bao diêm. Gã bật một que để biết chắc đang ở đúng chỗ, rồi bắt tay vào việc trong bóng tối. Những tảng đá rất nặng, thỉnh thoảng gã phải nghỉ một lát. Chí ít gã cũng phải thừa nhận lão Keng là người khỏe khoắn bất chấp tuổi tác.

Bát Thập đã gạt hết các tảng đá và cố tháo những sợi dây buộc bao, nhưng những ngón tay gã quá mệt mỏi, không thể làm xong. Gã cúi xuống và cắn đứt dây. Lúc lột cái bao, bàn tay gã chạm phải một thứ cứng và lạnh, không phải là bộ quần áo tù tả tơi gã nhìn thấy lúc trước mà là xác người phụ nữ buốt giá. Bát Thập buột một tiếng kêu sửng sốt rồi tự cười mình. “Từ nay tốt hơn hết là mi dùng cách này”, gã nói, giọng nghẹn lại.

Lúc này cái xác hoàn toàn không che phủ, trong kỳ quái trong ánh sáng lờ mờ. Cái khăn của lão Keng vẫn quấn quanh đầu cô gái và Bát Thập nghĩ cứ để nguyên thì hơn. “Xin lỗi cô gái, tôi không định quấy nhiễu cô hai lần đâu”, gã nói. “Tôi chỉ làm việc của tôi thôi. Cũng là để tốt cho cô”.

Gã bật một que diêm nữa và cúi xuống kiểm tra cái xác, và phải một lúc lâu gã mới hiểu ra những gì gã thấy. Bàn tay gã run bắn và que diêm rơi xuống tuyết, xèo xèo một lát rồi tắt ngấm. Bát Thập ngồi xuống và thở hổn hển, chân gã bủn rủn đến mức không đỡ nổi những gì gã biết. Lát sau, gã bật que diêm khác và xem lại. Gã không nhầm: vú cô gái bị cắt đứt, nửa người trên của cô, có vết thương ban đầu do bị rạch để lấy nội tạng và nhiều vết rạch tàn bạo của lão Keng, là một đống hỗn độn da thịt phơi bày, đỏ sẫm, xám và trắng. Mớ hỗn độn đó kéo dài xuống tận chỗ giữa hai chân cô.

Que diêm xém ngón tay Bát Thập và gã quẳng nó đi. Gã lom khom ngồi xổm cạnh cái xác trong giây lát rồi bắt đầu nôn. Suốt một ngày dài gã chẳng có gì mà nôn ra. Gã vẫn ho và oẹ cho đến lúc mặt gã nhoe nhoét nước mắt và mật xanh mật vàng nhỏ giọt xuống cằm. Một lúc sau, gã trấn tĩnh và chộp mấy nắm tuyết lau mặt. Gã quấn lại cái xác bằng bao tải và cố xếp các tảng đá lại, nhưng cánh tay và chân gã run bắn. Gã trải những cành cây khô và cỏ khô lên trên cái xác, và khi tin chắc cái xác được che đậy đủ kín, gã ngồi xuống và thở hổn hển rồi bật khóc.

Quãng đường về nhà mệt lử. Cách nhà gã vài khối, Bát Thập nhìn thấy con Nhĩ Nhĩ chạy qua. Gã quát nó và thu hết chút sức lực cuối cùng, gã đá nó. Con chó kêu ăng ẳng và chạy mất, nhả cái gì đó xuống lề đường.

Bát Thập nhặt lên. Một chiếc giày nữ, bàn chân bị thủng một lỗ. Bát Thập ném nó vào thùng rác, nhưng trượt. “Cuộc đời này đang thành địa ngục”, - gã nói, chẳng riêng với một ai.

Gió hú suốt đêm, lay động các cửa sổ, rứt những viên ngói lỏng lẻo khỏi mái nhà, quăng qua những mảnh sân và con phố vắng vẻ. Con mực của lão Keng bị buộc một chỗ, rên rỉ và run rẩy, nhưng nỗi khổ của nó so với thế giới thật nhỏ nhoi, huống hồ chủ nó đang chợp ngủ lơ mơ trong căn lều nhỏ xíu của người làm dịch vụ tang lễ, cái chai rỗng lăn lóc cạnh bàn chân.

Bà Hoa nhấp từng ngụm rượu trong cái chén sứt mẻ mà chồng bà rót cho bà lúc trước, làm tê lòng bàn tay đau của bà, và lắng nghe tiếng gió rít qua cánh rừng. Ông bà Hoa đã lựa chai và giấy suốt buổi chiều và tối, đến lúc cuối cùng, bà lơ đễnh đập lòng bàn tay vào nửa cái chai vỡ. Máu chảy không nhiều, tấm thân già nua của bà giờ chẳng còn mấy nỗi. Chồng bà rửa nước muối rồi rót cho bà chén rượu gạo. Thường ngày, họ không động đến rượu chè nhưng luôn có sẵn một chai cùng iốt và giẻ để họ lau rửa vết thương hoặc nhọt. Đây là thứ thuốc tốt nhất họ có, và trước khi già Hoa phải tự cắt bỏ khối hoại tử ở chân, già uống hết nửa chai rồi rót nốt nửa kia lên vết cắt.

Bàn tay bà làm sao? Già Hoa hỏi và ngồi xuống ghế. Trừ những lúc thật cần thiết họ mới thắp ngọn đèn dầu, và bà Hoa đáp trong bóng tối rằng ông đừng lo. Ông lão gật đầu, không nói gì một lát, bà cảm thấy rượu mạnh làm người bà ấm dần. Bà nói, ông có muốn nói chuyện về Minh Quang không? Minh Quang là tên cô con gái đầu của họ; họ đã tìm thấy cô bé vào một buổi sớm mùa hè, khi vẻ huy hoàng buổi sớm, màu hồng xanh lơ, trắng và tía trùm lên nơi vắng vẻ tiêu điều bên ngoài ngôi làng sơn cước mà vợ chồng bà đi ăn mày qua. Sương ướt đẫm mớ giẻ rách gói sinh vật bé bỏng, mặt bé xám xanh, sờ vào lạnh ngắt. Trong giây lát bà Hoa nghĩ, lại một đứa trẻ nữa chết trước khi được hưởng một ngày trong đời, nhưng chồng bà nhận ra cặp môi bé bỏng đang mút.

Già Hoa châm tẩu thuốc lá và hít vào. Đầu tẩu màu hổ phách lập lòe là ánh sáng duy nhất trong phòng. Nói về cái gì? Ông hỏi, nhẫn nhục hơn là cự tuyệt. Chiều hôm qua trong lúc họ đang lựa đồ phế thải, bà bảo với chồng đây là lúc họ nên bắt đầu ôn lại chuyện về bảy cô con gái trước khi tuổi già làm họ quên tiệt mọi thứ. Cả ông Hoa lẫn vợ đều không biết đọc biết viết, và bà Hoa rất đỗi thất vọng vì bộ mặt của các cô con gái cứ chồng chéo lên nhau trong giấc mơ của bà.

Họ bắt đầu từ Minh Quang, lúc này bà Hoa nói nhưng bà lúng túng mất một lúc. Họ bắt đầu từ đâu nhỉ? Khi họ nhặt cái bọc trong đám cỏ hay khi cô trốn khỏi làng lúc tảng sáng vì mẹ cô không giúp được gì? Ông bà Hoa không tìm thấy chút gì của cha mẹ bé để lại - một cái tên, ngày sinh hoặc lời nhắn để sau này họ có thể tìm người đọc hộ - nhưng những mảnh giẻ rách quấn đứa bé xé từ những tấm trải giường cũ và áo lót đã sờn đủ nói lên lý do đứa bé bị bỏ rơi.

Nó là đứa xinh nhất, già Hoa nói. Ông thiên vị như một người cha, bà Hoa nghĩ nhưng không nói ra. Minh Quang mười bảy tuổi khi ông bà Hoa bị buộc phải từ bỏ các con. Mười bảy là đủ lớn để làm vợ, họ đã tìm được một gia đình sẵn sàng nhận Minh Quang làm con dâu cho một trong những đứa con trai đã lớn của họ. Ông bà Hoa bắt gia đình phải thề đợi cho đến khi Minh Quang đủ mười tám mới cho chồng nó chung đụng. Bà Hoa nói to nỗi băn khoăn liệu những người cha mẹ ấy có giữ lời hứa không, họ cũng có con gái, và ắt họ phải hiểu.

Già Hoa gật đầu. Ông có thể nói rằng bây giờ chuyện đó chẳng có gì khác, và bà lấy làm mừng vì ông chỉ lặng lẽ hút thuốc và lắng nghe.

- Con bé thích uống giấm, - bà Hoa nói.

Già Hoa lắc đầu như không tin trí nhớ của bà, nhưng bà biết mình không nhầm. Một lần, cô em bé hơn đánh đổ chai giấm, Minh Quang phát khóc; lúc đó nó mới lên bảy hoặc tám tuổi, đủ lớn để rơi nước mắt vì việc này, và sau đó bà Hoa bắt gặp cô bé nhai thân cỏ ba lá lấy vị chua và nghĩ ắt hẳn chỉ cha mẹ đẻ cô bé mới hiểu việc này. Bà Hoa tự hỏi Minh Quang có thèm những thứ kỳ quặc trong lúc mang thai không. Bản thân bà chưa bao giờ mang thai và bà luôn muốn biết về những cái thèm lạ lùng của phụ nữ có thai.

- Minh Quang giờ bao nhiêu tuổi nhỉ? - Bà Hoa chợt hỏi.

Già Hoa ngẫm nghĩ một lát rồi nói chắc phải bốn mốt, bốn hai rồi.

Bà Hoa tính năm, nhưng rượu làm bà khó nhớ được các con số. Bây giờ nó đã trung niên, và có cả đống con cái. Bà Hoa tự hỏi Minh Quang làm mẹ ra sao. Cô rất dịu dàng với những con mèo lạc và những con chim bị thương, bà Hoa nhớ chồng bà có lần nói trong bảy cô con gái, Minh Quang là người có trái tim gần như của Đức Phật. Bà Hoa nhớ lúc đó bà đã trả lời rằng như thế chỉ khiến cô khó sống thôi, nhưng có lẽ một ngôi nhà đầy lũ trẻ con phải nuôi và nhiều người bên chồng hài lòng vì từ lâu, trái tim họ đã rắn lại như đá.

Màn đêm buông, bà Hoa rót cho chồng chén rượu và chén nữa cho mình, Già Hoa nói rượu là thứ thuốc bổ nhất nếu như họ có tiền để trang trải. Nhưng nó không làm lành vết thương để lại khi các con gái của họ bị đưa đi, bà Hoa nghĩ và chưa kịp nhận ra, mặt bà đã đẫm nước mắt. Bà có sao không? Ông Hoa hỏi khi nghe thấy tiếng bà sụt sịt, bà đáp là do rượu và gió hú bên ngoài mà thôi.

Còn nhiều người khác bối rối nữa. Một nữ quản giáo được nghỉ hai ngày sau đó khẳng định cô thấy ớn lạnh, thức giấc vì một cơn mơ và thấy thèm không khí. Chồng cô nửa thức nửa ngủ hỏi cô bị làm sao. Cô trả lời, một giấc mơ lố lăng và biết không nên kể cho chồng nghe sáng hôm trước cô đã ngất xỉu ở nơi làm việc khi cai ngục ra lệnh cắt đứt dây thanh đới của Cố San để cô ta không thể hô khẩu hiệu phản cách mạng trong giây phút cuối cùng. Người phụ nữ ấy ở trong số bốn lính gác được phân công ghìm chặt tù nhân trong suốt quá trình, nhưng sự việc không suôn sẻ như cai ngục và bác sĩ hứa; người tù đã vùng vẫy kịch liệt, không thể tưởng tượng nổi với một thân hình gày gò như thế, và người nữ quản giáo thần kinh thường xuyên căng thẳng vì công việc, đã ngã ngửa, đập mạnh đầu xuống sàn trước khi bác sĩ hoàn tất cuộc giải phẫu.

Trong một ngôi nhà khác, người cần vụ già ở đồn cảnh sát không ngủ được. Để tôi kể mình nghe, ông ta nói với vợ, và bà trả lời không muốn nhắc đến lần nữa về cái xô đầy máu ông đã rửa chiếc xe jeep cảnh sát chở tù nhân. Nhưng đấy là điều bất thường, ông ta nói, một việc khủng khiếp, rửa sạch nhiều máu đến thế. Họ đã làm gì cô ta? Sao họ không đợi đến lúc đưa cô ta ra đảo hãy giết? Ông ta ném hết câu hỏi này đến câu hỏi khác vào vợ, bà không muốn nghe nữa. Mình già thật rồi, ông ta buồn rầu nghĩ, sau khi đợi mãi mà vợ không trả lời. Hồi còn trẻ ông đã từng chiến đấu trong cuộc chiến chống quân Nhật và đã nhìn thấy nhiều xác chết, nhưng lúc này ông không thể ngủ nổi vì cái xô máu của cô gái không còn sống nữa. Chuyện này sẽ làm các bạn cùng trung đội cũ của ông phì cười trong lần gặp tới, ông già nghĩ, và ông nhận ra rằng ông là người cuối cùng chưa trình diện.

Đằng nào cô ta cũng chết, một trong hai bác sĩ đã mổ Cố San tự nhủ thêm lần nữa, vậy thì có gì quan trọng đâu khi cuối cùng, họ phải thay đổi thỏa thuận vì bệnh nhân không tin khi nhận nội tạng của một xác chết và khăng khăng đòi phải giữ cho người tù còn sống khi cắt thận. Với bác sĩ, đây không phải cuộc phẫu thuật gay go nhất nhưng sẽ là động lực đưa ông ta vào ghế chủ nhiệm khoa ngoại và vợ ông vào vị trí y tá trưởng trong bệnh viện nội trú, dẫu bà ta vẫn chưa biết việc đề bạt và sẽ quá ư vui mừng khi hay tin. Nó cũng giúp cho hai đứa con gái sinh đôi mười bốn tuổi rưỡi của họ nảy nở thành một cặp người đẹp, được chính quyền thành phố tiến cử để có thể bước vào một trường trung học đặc quyền trên tỉnh. Người đàn ông nghĩ đến vợ và con gái, còn họ nhanh chóng ngủ thiếp đi trong những giấc mơ vô tội, không bận bịu gì đến người chết và máu me. Gánh nặng đặt lên vai ông ta, người đàn ông của gia đình, và ông ta thấy khó mà không nghĩ đến ngày không còn che chắn cho họ được nữa, nhất là hai cô con gái, khỏi những xấu xa của cái thế giới mà hiện giờ chúng đang yêu thương, những cô gái như nụ hồng hé nở. Rồi sau đó thì sao? Ông ta băn khoăn và đau xót nhận ra hạn chế của mình, là người mắc kẹt giữa tính thực dụng và lương tâm. Rốt cuộc, ông ta bắt mình phải tin là đã chọn điều tốt nhất cho gia đình. Cơn buồn ngủ trùm lên ông ta như đợt thủy triều và cuốn ông ra xa bờ.

Trong quân y viện cách đó một trăm dặm, thuốc chảy nhỏ giọt vào huyết quản một ông già. Nhiều người vây quanh chúc mừng lẫn nhau vì cuộc cấy ghép thành công. Còn ở Nê Giang, trong bệnh viện nhân dân, nhiều bệnh nhân hơn và ít bác sĩ, y tá hơn, bà Cố ngồi gà gà ngủ trong tiếng nhỏ giọt đều đều của dung dịch nước muối vào cánh tay chồng. Thỉnh thoảng bà giật mình và nhìn vào mặt chồng, bộ mặt teo quắt và bà chợt nhận thấy là đã quá già.

Dịch nguyên bản từ tiếng Anh The Vargants by Yiyun Li
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 10 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.