Những Kẻ Lang Thang

Lượt đọc: 10 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ba
Ba

❊ ❊ ❊

Bà Hoa không nhìn thấy cảnh sát đưa bà giáo Cố ra khỏi hiện trường, cũng không nhận thấy bà đã chứng kiến cảnh người đàn bà nửa bị kéo lê, nửa bị khiêng ra xe jeep là bà giáo Cố.

Cũng như bà Hoa, bà giáo Cố chẳng bao giờ được làm bà ngoại. Bà Hoa sáu mươi sáu tuổi, lứa tuổi mà một hoặc hai đứa cháu sẽ là lý do chính đáng hơn để chồng bà bới rác, còn bà quét dọn đường phố kiếm sống. Trong khi mơ ước về những đứa cháu không thành, bà thấy mình được sống là may mắn lắm rồi, cả bà lẫn chồng bà thường tự nhắc mình phải biết ơn vì việc đó. Đôi khi, sự ham muốn được bế bồng một đứa trẻ mạnh đến mức bà phải ngừng việc đang làm và dường như nín thở, bà hình dung sức nặng của tấm thân bé bỏng, ấm và mềm trong tay. Nó khiến bà có dáng vẻ của một bà già điên. Thỉnh thoảng, ông chủ của bà là Thiệu Khang, một người đàn ông trạc ngoài năm mươi chưa bao giờ lấy vợ, dọa sa thải bà, cứ như thể ông ta cáu vì bà phản ứng chậm, nhưng bà biết ông ta nói thế chỉ vì lợi ích của các công nhân vệ sinh khác, vì ông ta vốn là người “khẩu xà tâm Phật”. Mười ba năm trước, khi nhìn thấy hai vợ chồng bà Hoa trên phố, bà đang bị sốt cao còn chồng bà xin một bát nước ở cửa hàng, Thiệu Khang là người đầu tiên gọi bà đến làm ở đơn vị của ông. Việc đó xảy ra ngay sau khi ông bà Hoa bị buộc phải đưa bốn cô con gái bé hơn đến các trại mồ côi của bốn hạt khác, một thông lệ được coi là tốt cho các cô gái làm lại cuộc đời. Bà Hoa và chồng đã đi bộ suốt ba tháng ròng qua bốn tỉnh, hy vọng đường xa sẽ làm lành vết thương còn tươi mới của họ. Họ không muốn định cư ở Nê Giang, nhưng Thiệu Khang nghiêm khắc bảo rằng mùa đông sắp tới chắc chắn sẽ giết chết cả hai ông bà nếu họ không nhận lời, rốt cuộc, họ quyết định chấm dứt cuộc hành trình.

- Tại ngã tư Giải phóng và Hoàng Hà, - Thiệu Khang nói khi bà Hoa bước vào cơ quan, một căn phòng kích thước bằng một nhà kho, có một cái bàn trong góc làm khu vực văn phòng. Bà đến cái giá rửa mặt và cọ cái chậu. Chỉ còn lại chút ít hồ dán; Thiệu Khang đã cho bà bột mì nhiều hơn mức cần thiết, nhưng bà biết ông ta sẽ không hỏi chỗ bột còn thừa.

Bà Hoa vào phòng kho, thấy hầu hết số chổi của tốp quét đường chưa về. Khi tất cả có mặt, những cái chổi to tướng bó bằng nan tre và những cái chổi lúa nhỏ hơn bện bằng rơm xếp thành một hàng như một trung đội lính, cái nào cũng mang một con số bằng lối chữ viết tay ngay ngắn của Thiệu Khang, chia cho từng người quét dọn. Thỉnh thoảng, bà Hoa tự hỏi liệu Thiệu Khang có ghi các loại chổi đã qua Đội vệ sinh trong các cuốn sổ dày cộp của ông không: Chúng đã trải qua bao nhiêu thời gian trên phố và bao nhiêu thời gian nằm trong phòng kho, mỗi cái chổi dùng được bao lâu trước khi mòn trơ. Các công nhân quét dọn trẻ hơn trong đội nói đùa sau lưng Thiệu Khang rằng ông yêu chổi như yêu con, bà Hoa thấy như thế chẳng có gì sai và biết bọn trẻ đùa thế vì họ còn hiểu quá ít về tấm lòng cha mẹ.

Bà Hoa cầm những cái chổi của bà và kể với Thiệu Khang, đêm qua bà mơ thấy những quả trứng sơn đỏ mừng sinh nhật đứa cháu. Bà Hoa chỉ nói chuyện với Thiệu Khang khi không có ai xung quanh. Đôi khi, họ không có dịp trò chuyện trong nhiều ngày hoặc nhiều tuần, nhưng họ chẳng lấy thế làm điều, câu chuyện của họ thường ngắn gọn vài lời.

“Mơ ước cũng hiện thực như hình ảnh phản chiếu trong gương hoặc như bóng trăng tròn đầy trong dòng sông”, Thiệu Khang nói. Ông không rời mắt khỏi cuốn sổ. Bà Hoa thở dài tán thành và đi ra cửa. Sớm hôm đó, bà đã kể cho chồng nghe chính giấc mơ ấy, ông Hoa chỉ trả lời đấy là một giấc mơ tốt, và chỉ thế thôi.

- Hôm nay bà có muốn nghỉ chút ít không? - Thiệu Khang hỏi.

Sao lại là bà, bà Hoa đáp lại. Ông lo buổi phê đấu sẽ làm bà Hoa chán, Thiệu Khang nói và thêm rằng đã có đủ số công nhân đại diện cho đội vệ sinh rồi. Dường như sự buồn chán là thứ mà những người như bà nên quan tâm, bà Hoa nghĩ, nhưng bà có thể dùng thời gian rảnh giúp chồng lựa chai lọ chồng chất trong lều của họ. Quả thực, bà đang cố cưỡng lại cái lạnh đọng trên bàn, trong các cán chổi và bốn bức tường trống không. Thiệu Khang gật đầu và nói sau khi quét sạch chỗ ngã tư, bà không cần có mặt trong buổi phê đấu nữa.

Đống tro ở chỗ ngã tư bị những mũi giày dửng dưng của người lớn cũng như nhiều bàn chân trẻ con đá tung tóe, vải cháy dở và đôi giày cháy sém đem lại một trò tiêu khiển vô tận. Bà Hoa xua mấy đứa trẻ dai dẳng đi và vừa quét sạch phố, bà vừa nghĩ đến giấc mơ đêm trước.

- Chào bà Hoa, - một giọng thì thào vào tai bà, quá gần.

Bà Hoa giật mình và thấy Bát Thập, cái thằng ăn không ngồi rồi vô tích sự đang cười với bà. Bà lầm bầm mong gã có việc gì đó mà làm còn hơn dọa người già trên phố.

- Dọa ư? Cháu có định thế đâu. Cháu chỉ muốn nhắc là ông Hoa có lẽ đang đợi bà ở nhà.

- Nhà? Những người nhặt rác không dám gọi là nhà - bà Hoa nói. - Đấy chỉ là nơi ở tạm thời.

- Nhưng nhà cháu là nhà bà mà, bà Hoa. Cháu đã nói với bà nội nhiều lần rằng ông bà Hoa có thể dọn đến ở với chúng ta bất cứ ngày nào ông bà ấy muốn. Bà biết đấy, bà cháu khá cô đơn và không phiền gì nếu có vài người bạn già ở cùng, - Bát Thập nói và nhìn vào mắt bà Hoa, vẻ chân thành.

Bà Hoa lắc đầu đáp:

- Chẳng ai tin những chuyện ngon ngọt của cậu, trừ bà nội cậu.

- Cháu định thế mà, bà Hoa. Cứ hỏi mọi người trong thành phố xem. Ai cũng biết tính cháu rộng rãi về tiền nong và sẵn sàng giúp đỡ người khác trong lúc thiếu thốn.

- Tiền nong của cậu? Đấy là số tiền bố cậu kiếm được bằng tính mạng của mình.

Bát Thập nhún vai, không buồn bác lại lý lẽ của bà già.

- Này, cậu không lo lắng về tương lai à?

- Sao lại phải lo kia chứ? - Bát Thập nói.

- Vậy cậu có thể làm được gì? - Bà nói. - Tôi thấy lo thay cho cậu.

- Cháu có thể đi nhặt rác với già Hoa, - Bát Thập nói. - Cháu cũng có thể quét đường với bà. Cháu là một công nhân chăm chỉ. Bà nhìn cơ bắp của cháu xem. Đây, và đây nữa. Không đùa đâu, sáng nào cháu cũng cử tạ đấy. - Chẳng cứ chuyện cử tạ hay cơ bắp đáng khoe, mà những chuyện như thế lúc nào Bát Thập cũng có sẵn và nói xưng xưng như thật.

- Bây giờ kiếm được việc quét đường cũng khó, - bà Hoa nói. Từ hai năm nay, Cách mạng Văn hóa chấm dứt đã đưa nhiều thanh niên từ nông thôn về, là nơi họ bị đưa đến hơn một thập niên vừa qua. Hiện giờ, quét đường cũng là vị trí nhiều người giành giật. Bà sẽ không ngạc nhiên khi một ngày nào đó có người thay thế bà.

- Nhặt rác thì chẳng cần được phép, - Bát Thập nói. - Việc ấy là dễ làm nhất.

- Sống thế khổ lắm.

- Cháu chẳng cần. Nói thật nhé, cháu thích nhặt rác và nhặt trẻ con với bà, bà Hoa ạ.

Bà Hoa vun gọn chỗ tro ướt trên đất lại, không trả lời. Đã nhiều năm kể từ khi vợ chồng bà bỏ bảy đứa con gái họ tìm thấy trong cuộc sống lang thang để làm nghề nhặt rác, bà không biết cái gì làm thằng ranh này khoái chí, chuyện này đã lộ ra từ lâu vì tính tò mò và hay ngồi lê đôi mách của người đời. Gã hay hỏi về chúng và bà không bao giờ làm gã thỏa mãn ít nhiều.

- Bây giờ nếu ông bà tìm thấy một đứa con gái còn sống, ông bà có nuôi không?

Bà Hoa nhìn lên trời và ngẫm nghĩ. Thường vào những đêm không ngủ được, bà cố gắng mà không sao gợi lại rõ ràng hình ảnh của bảy khuôn mặt. Làm sao bà quên được nét mặt chúng khi bà nhấc chúng từ những mảnh giẻ rách phủ tấm thân bé bỏng bỏ lại bên đường? Nhưng tuổi già làm trí nhớ bà mụ mẫm cũng như làm mắt bà mờ đục.

- Bà nói đi, để mắt tìm một đứa con gái nhé? - Bát Thập năn nỉ.

Bà Hoa lắc đầu:

- Cuộc sống quá khó khăn. Quá khó khăn với tất cả mọi người.

- Nhưng cháu có thể nuôi nó cùng với bà, bà Hoa ạ. Cháu có tiền. Cháu cũng có thể làm việc, cháu còn trẻ.

Bà Hoa ngắm Bát Thập bằng cặp mắt mờ đục. Bát Thập đứng thẳng hơn và sửa lại mũ. Cậu thanh niên đứng trước mặt bà chưa hề phải chịu chút gian khổ nào trong đời, bà nghĩ và nói với Bát Thập.

- Cháu mất cha mẹ từ khi còn bé, - Bát Thập nói. - Cháu mồ côi y như những đứa con gái bà trước khi bà nhặt được chúng.

Quá bất ngờ, bà Hoa không thể nghĩ ra câu gì để nói. Bà không biết Bát Thập nhớ đến cha mẹ. Lát sau, bà nói:

- Lẽ ra để chúng chết thì hơn.

- Bây giờ các con gái bà ở đâu? - Bát Thập hỏi. - Chúng nó bao nhiêu tuổi?

- Ở bất cứ nơi nào số phận đưa chúng tới. Chúng còn ở đâu khác được?

- Thế là ở đâu? - Bát Thập dai dẳng.

- Chúng tôi để ba đứa lại cho những người sẵn lòng nhận chúng làm con dâu. Bốn đứa bé hơn bị Chính phủ tịch thu và gửi đến trại mồ côi vì chúng tôi không phải là cha mẹ hợp pháp. Cậu nghĩ sao nào? - Bà Hoa nói, không nhận thấy mình cao giọng. - Chúng tôi bón cho chúng hết thìa này đến thìa khác, nuôi chúng lớn rồi bị nói là chúng tôi nuôi chúng là bất hợp pháp. Tốt hơn hết là để chúng chết ngay từ lúc đầu.

Bát Thập thở dài:

- Cuộc sống này thật vô nghĩa, nhỉ?

Bà Hoa không đáp. Bát Thập nhắc lại câu đó với mình và để nó lơ lửng trong không khí giữa họ một lúc lâu hơn.

Nhược Nhược đi chậm lại khi đến gần ngõ ông bà giáo Cố ở. Nó đã cố đến sân ga đúng giờ, những người công nhân cho nó than rồi xua nó đi. Hình như không người nào trong số đó thích nó, và nó thường băn khoăn liệu rồi có ngày họ sẽ thấy nó xấu xí khủng khiếp và thay đổi ý định không. Việc đó chưa xảy ra, nhưng nó vẫn lo.

Nó cũng lo về lòng hiếu khách của bà Cố. Suốt hai năm qua, bà giáo Cố chưa lần nào quên xuất hiện ở đầu ngõ hẻm nhà bà nhập vào đường phố. Đứng cạnh cây mận chết dở chừng, nó đặt bàn tay lên thân cây, đung đưa hết chân này đến chân khác như đang tập một bài thể dục miễn cưỡng, và lúc nhiều người đi qua, nó chẳng chào ai. Nhược Nhược thấy bà Cố gật đầu rất nhẹ và rẽ vào ngõ, Nhược Nhược hiểu là nó sẽ được đón nhận vào hôm khác.

Sáng nay, mọi việc bắt đầu không lâu sau khi cha mẹ Nhược Nhược bắt nó phải đi xin than. Vì nhà ông bà Cố ở khác đường của Nhược Nhược, một sáng kia bà Cố tìm Nhược Nhược và lịch sự hỏi nó có muốn ăn lót dạ vài miếng trước khi về nhà không. Nhược Nhược thấy lời mời có vẻ kỳ quặc và đáng ngờ, nhưng là đứa trẻ suốt đời đói khát, nó thấy khó mà từ chối.

Nhược Nhược không biết vì sao ông bà giáo Cố lại mời nó ăn sáng. Họ ít khi nói chuyện với nhau, chí ít là khi có mặt nó. Họ hỏi thăm nó về gia cảnh trong chốc lát, và khi Nhược Nhược trả lời hết sức vắn tắt, họ không ép nó nói thêm, nên Nhược Nhược hiểu họ không chú ý đến chủ đề này hơn gì nó. Ông giáo Cố ăn nhanh, và trong lúc đợi Nhược Nhược xong bữa, ông gấp tờ giấy xé từ cuốn lịch ra thành một con ếch, để gọn gàng và ngay ngắn trên bàn. Ông giáo Cố đặt con ếch vào bàn tay Nhược Nhược và bảo dành cho bốn em gái nó, tuy nhiên nó chẳng bao giờ đưa cho chúng. Nó nghĩ đến việc giấu những con ếch giấy này đi, nhưng nhà nó chẳng có xó nào để cất. Cuối cùng, nó ném tuốt vào thùng rác, sau này già Hoa nhặt được, mở ra và đem bán cho trạm tái chế.

Nhược Nhược thường lo có ngày ông bà giáo Cố không quan tâm đến nó nữa, bát của nó sẽ không còn trên bàn ăn. Khi không thấy ai đứng cạnh cây mận chết dở, trong giây lát nó tự hỏi hay ông bà giáo Cố ngủ quá giấc; hay họ bị ốm, người già thường dễ ốm, cơ thể họ không còn dễ thích nghi nữa. Song, bản năng mách bảo nó rằng họ không còn muốn nó quanh quẩn ở đây, nó quyết định đến thẳng nhà ông bà giáo, để biết thực hư ra sao.

Mới rẽ vào ngõ được mấy bước, một chiếc xe cảnh sát lao thẳng tới Nhược Nhược, hú còi gắt, nôn nóng, và nó vội tránh chiếc ôtô suýt chẹt vào cái chân què của nó. Khi chiếc ôtô ra khỏi ngõ, Nhược Nhược buột một tiếng chửi học được ở chợ, dù nó ít hiểu nghĩa song hợp với tính khí và nó hay dùng. Nó nấn ná trước cửa nhà ông bà Cố vài phút và ho khẽ, nhưng chẳng ai chạy ào ra cổng xin lỗi vì đến muộn. Nhược Nhược đẩy cánh cổng khép hờ và lọt vào sân. Phòng trước không bật đèn, cửa sổ quay ra sân che nhiều lớp báo cũ dày cho biệt lập. Nhược Nhược nhìn vào trong, nhưng không thấy gì qua lớp báo mờ đục.

- Bà Cố ơi, - nó gọi khẽ rồi cao giọng hơn một chút. - Ông giáo Cố ơi.

Không thấy trả lời, nó cố mở cửa không một tiếng động. Phòng trước tối và lạnh, chỉ có một dải ánh sáng duy nhất màu cam trên sàn, lọt từ phòng ngủ khép dở chừng.

- Bà Cố ơi, - Nhược Nhược nói. - Hôm nay bà có khỏe không?

Cánh cửa mở và bà Cố đứng trong khung cửa, một hình bóng ảm đạm.

- Về nhà đi, Nhược Nhược, - bà nói thẳng thừng. - Chúng ta không nợ nần gì cháu. Đừng bao giờ đến cửa nhà ta nữa.

Suốt đời, Nhược Nhược đã đợi những khoảnh khắc như thế này. Nó không ngạc nhiên, còn nhẹ cả người. Nó không làm gì có lỗi: người ta lúc nào chẳng thay đổi ý kiến, thường chẳng có lý do gì. Nó mút mạnh bên trong miệng và không nhúc nhích. Nó không nhìn thấy mặt bà giáo Cố trong bóng tối, nhưng bất cứ lúc nào bà già cũng có thể đến gần hơn, chộp lấy cánh tay nó và đẩy nó ra khỏi cửa, tấm thân bé nhỏ của Nhược Nhược căng ra chờ đợi. Nó tự hỏi bàn tay bà giáo Cố tát lên mặt nó có khác tay mẹ nó không.

- Nhược Nhược, - ông giáo Cố xuất hiện đằng sau bà và nói, giọng ông nhẹ nhàng hơn. Ông đi qua bà giáo Cố và tháo sợi dây trên vai Nhược Nhược. Nó gỡ cái giỏ và theo ông đến cái bàn cũ kỹ vừa làm quầy bếp vừa làm bàn ăn. Không có cháo đặc, không có dưa bắp cải. Ông giáo Cố nhìn quanh và chưa kịp nói, một tiếng khóc nghẹn ngào của bà giáo vọng ra từ phòng ngủ. Ông xát xát hai bàn tay vào nhau. - Hôm nay bà giáo không được khỏe, - ông nói. - Ta sẽ trở lại sau, cháu đợi ở đây nhé.

Nhược Nhược gật đầu. Lúc ông giáo Cố khép cánh cửa phòng ngủ lại, nó kiểm tra hai ngăn kéo bàn. Trong ánh sáng lờ mờ lọt qua lớp báo che kín cửa sổ, Nhược Nhược thấy ngăn thứ nhất đầy đũa, dao, hộp diêm, nến, pin cũ và trăm thứ bà rằn khác. Nó khẽ đóng lại và mở ngăn tiếp theo: vài cái bút chì, một cái hộp bọc nhung đen, giấy nháp, một cuốn sổ dày trong dán nhiều hóa đơn, một cái cặp tóc bằng nhựa. Nhược Nhược mở hộp và thấy bên trong đựng một cái bút mực; nó vuốt ve thân bút màu xanh thẫm trơn nhẵn rồi đặt lại vào hộp. Rồi nó nhặt cái cặp tóc đút vào túi áo, bà giáo Cố đáng thế này. Hai con gà mái im lặng và bị Nhược Nhược quên bẵng, cào và kêu cục cục làm Nhược Nhược giật mình, suýt hét lên. Không thấy ai đến, nó giở qua cuốn sổ. Có một hóa đơn bong ra, nó đút nốt vào túi, đúng lúc ông giáo Cố ra khỏi phòng ngủ. Ông bật đèn và Nhược Nhược chớp chớp mắt vì ánh sáng đột ngột. Ông đến giá và lấy hộp bánh quy.

- Nhược Nhược, cầm ít bánh quy này, cho cháu và các em cháu.

Nhược Nhược ngước nhìn ông giáo Cố, mắt ông mệt mỏi và buồn bã, hình như không để ý đến sự có mặt của nó. Nó nghĩ đến cái hóa đơn trong túi, có khi sau này ông sẽ tìm, nếu nó nói vài lời tử tế xin lỗi ông giáo, nó sẽ tìm ra cách nhét lại vào ngăn kéo hoặc đánh rơi bên cửa, Nhược Nhược nghĩ.

Ông giáo Cố không nhận ra sự ngập ngừng của nó. Ông cầm cái giỏ lên:

- Dạo này bà Cố không khỏe, bà ấy không muốn gặp cháu một thời gian, - ông giáo Cố nói và nhẹ nhàng đẩy Nhược Nhược ra cửa. - Cháu đừng đến gặp chúng ta, cho đến khi bà giáo thấy khỏe hơn.

Ra phố, Nhược Nhược mở hộp và cho một cái bánh quy vào miệng. Bánh có vị ngọt và ngai ngái. Ông giáo Cố cũng thay đổi suy nghĩ, cũng xua nó đi bằng hộp bánh quy chắc đã để trên giá từ nhiều năm nay. Nhược Nhược rút tờ hóa đơn trong túi ra và nhìn con dấu đỏ trên đó. Nó không biết đọc, nhưng con dấu đỏ chắc phải có ý nghĩa quan trọng nhất định và làm nó vui vui. Nó vo tờ hóa đơn thành quả bóng nhỏ và ném vào thùng rác gần đó. Nó lấy một cái bánh quy nữa, gặm và đang thong thả đi về nhà thì có ai đó vỗ vai nó.

Quay lại, nó nhìn thấy bộ mặt quen thuộc của gã thanh niên suốt ngày lang thang ngoài chợ. Nó lùi lại, nhìn gã.

- Nhược Nhược là tên mày phải không? - Gã nói, nhe những cái răng vàng khè và khấp khểnh.

Nhược Nhược gật.

- Chắc mày lạ vì sao tao biết tên mày, - gã nói. - Mày có muốn biết không?

Nhược Nhược lắc đầu.

- Mày có năm chị em gái. Có muốn biết tao còn biết những gì về mày không?

Nhược Nhược nhìn gã không đáp. Giá là một ngày khác, trong tâm trạng khác, nó sẽ hỏi gã tưởng mình là ai mà chõ mũi vào việc của người khác. Nó đã nghe lỏm người lớn nói chuyện kiểu này và nó tin đã biết được đúng giọng, nôn nóng, oai quyền. Mỗi khi nó nói với các em gái bằng giọng này, tất cả bọn chúng đều sợ. Nó có thể làm gã thanh niên im miệng và bối rối, nhưng hôm nay nó chẳng còn lòng dạ nào. Việc duy nhất nó muốn làm là cắn bên trong miệng cho đến khi nếm thấy vị máu.

- Nếu mẹ mày đẻ hết đứa con gái này đến đứa khác, họ sẽ trở thành Thiên hoàng và Thiên hậu, mày có biết vì sao không?

Nhược Nhược lắc đầu.

- Chỉ có Thiên hoàng và Thiên hậu mới đẻ bảy cô con gái, bảy nàng tiên, - gã nói. - Chà...

Gã đợi nó cười. Hình như gã thất vọng thấy Nhược Nhược không cười.

- Tên tao là Bát Thập.

Thật kỳ cục, con số lại là tên, Nhược Nhược nghĩ. Nó tự hỏi gã này có anh hoặc chị em gì không, nếu có chắc tên họ là Thất Thập, Lục Thập và Ngũ Thập. Đoán ra câu hỏi, gã nói:

- Mày có biết vì sao tên tao là Bát Thập không? Vì tao ăn đúng tám chục cái bánh bao ngày tao ra đời.

Nhược Nhược biết đây là câu đùa, và chẳng có gì vui nên nó quyết không cười.

- Mày câm à? - Bát Thập hỏi.

- Tất nhiên là không. Hỏi ngu thật.

- Tốt, mày nói được. Mày bao nhiêu tuổi rồi?

- Không phải việc của anh, - Nhược Nhược nói.

- Tao mười chín, ờ, mười chín tuổi ba tháng. Tao sinh tháng Bảy. Mồng Bảy tháng Bảy, một ngày quan trọng, vì tao sinh ngày ấy. Mày có thấy cuốn sách lịch sử không? Nó ghi tất cả những ngày sinh của mọi nhân vật quan trọng, có một người trùng với ngày sinh của tao.

Nhược Nhược chuyển giỏ than sang vai kia. Nó đủ hiểu không nên tin vào những lời ba hoa của gã, nhưng trước kia chẳng ai muốn trò chuyện với nó.

- Mày bao nhiêu tuổi? Nếu mày không nói, để tao đoán vậy.

- Mười hai, - Nhược Nhược nói. Nó không hiểu vì sao gã này dai dẳng thế.

- Mười hai à? Tuyệt.

- Tuyệt cái gì?

Bát Thập có vẻ lúng túng vì câu hỏi của Nhược Nhược:

- Mày có muốn đi và chuyện gẫu với tao không? - Nó hỏi.

- Vì sao?

Bát Thập gãi đầu thật mạnh và Nhược Nhược thấy những vảy gàu to rơi ra.

- Mày có thể đi nói chuyện với tao để không phải đến ga nhặt than. Cái việc mày làm thực ra là ăn cắp, tao chắc mày biết. Bây giờ không ai nói gì không có nghĩa là sau này người ta không truy ra. Cứ đợi mà xem. Bất cứ lúc nào người ta cũng có thể đến và quy cho mày tội ăn cắp tài sản nhà nước. Họ sẽ bảo: “Thương thật, cô bé xinh thế này mà lại làm thế”. Mày có muốn bị bắt như một đứa ăn cắp không? - Bát Thập hỏi. - Trong nhà tao nhiều than lắm. Tao sống cùng bà tao, bà tao thích nói chuyện với các bé gái như mày. Chúng tao có thể mua thêm than cho mày mang về nhà, mày không phải kể với bố mẹ mày. Hãy nghĩ xem, tốt chưa nào?

Chưa người nào bảo nó xinh, trong giây lát Nhược Nhược băn khoăn gã này có mù không. Nhưng gã nói đúng, việc nó làm là bất hợp pháp. Trước kia chưa xảy ra gì với nó, nhưng bây giờ có lý gì nó phải làm việc đó. Nó hình dung cảnh sát đến nhà bắt giam nó. Bố mẹ nó sẽ nhẹ người, các em gái nó ăn mừng vì bớt một miệng ăn. Ông bà giáo Cố có lẽ không buồn nghĩ đến có việc gì xảy ra với nó. Hàng xóm và người lạ sẽ bảo thật may mắn là cuối cùng, họ đã tống khứ được đứa con gái xấu xí ra khỏi cuộc sống của họ. Sẽ chẳng ai buồn nhớ nó.

Bát Thập lại bảo nó nên suy nghĩ đến lời gã. Nhược Nhược không hiểu vì sao có người lại định tử tế với nó. Nó tưởng tượng một ngôi nhà có rất nhiều cục than tốt và chắc. Vài người đàn ông và đàn bà đi qua chỗ bọn chúng trên phố, tất cả đều ăn vận chỉnh tề, mặc áo khoác kiểu Mao Chủ tịch và cầm những lá cờ sặc sỡ trong bàn tay đeo găng. Một số khinh bỉ nhìn người cùng đi với Nhược Nhược, nhưng phần lớn phớt lờ gã. Bát Thập dường như chẳng thèm để ý. Nó cười nhăn nhở và vẫy họ:

- Chào các bác các cô. Hôm nay các vị đi diễu hành à? Vì vụ xử tử phải không? - Gã nói. - Mà mụ ta là ai nhỉ? Có ai biết lý lịch của mụ không?

Chẳng có người lớn nào trả lời, gã quay sang Nhược Nhược:

- Hôm nay người ta xử tử ai đó. Một con mụ. Nghĩ mà xem. Người ta không thể phạm tội và nghĩ có thể chạy trốn để không bị trừng phạt. - Rồi hạ giọng, nó nói thêm. - Nói đi, mày có muốn đi chuyện gẫu với tao không?

- Ở đâu?

- Đi với tao. Tao sẽ chỉ cho mày nhà tao.

Nhược Nhược lắc đầu. Muộn lắm rồi, mẹ nó chắc đang rủa cái chân què làm nó về muộn.

- Tôi phải về nhà, - nó nói.

- Sau bữa sáng mày rảnh chứ? Tao sẽ đợi mày ở đầu sông, cạnh cây liễu già nhé. Mày biết chỗ ấy không?

Cây liễu ấy già lắm, thân cây đầy mấu, ngọn mọc đầy cành con giống như một mụ điên. Từ nhà Nhược Nhược đi bộ qua nửa thành phố, qua nhiều khu rừng bạch dương ven sông cho đến lúc không nhìn thấy các dãy nhà thấp, ngoài các ống khói cao vút của nhà máy phát điện. Nhược Nhược đã đến đó trước khi bé Sáu ra đời; hồi đó nó không bị giao phần lớn các việc vặt trong nhà, vào mùa xuân nó đi đào bồ công anh non và hái quả đậu tằm. Suốt mùa xuân và đầu mùa hè, gia đình nó ăn các loại cỏ ăn được, đem luộc và nêm muối. Họ ăn như thế ròng rã suốt mùa, cho đến lúc miệng họ đầy những sợi cỏ thô, đắng chát. Nhớ lại khiến miệng Nhược Nhược đầy vị cỏ.

- Sao nào? - Bát Thập nói. Gã nhìn Nhược Nhược dường như mặt nó là mặt của bất cứ cô gái nào khác, miệng nó không méo về bên trái, mắt nó không rũ xuống cùng một phía. Bàn tay trái và chân trái nó vặn vẹo, nhưng hình như gã không chú ý. - Mày đến chứ?

Nhược Nhược gật.

- Hay lắm, - Bát Thập nói. Nó lấy một cái bánh quy trong hộp trên tay Nhược Nhược và ném tọt vào miệng trước khi bỏ đi.

Ông giáo Cố nhóm lửa và đổ nước vào chỗ gạo còn lại. Ông ngắm ngọn lửa màu vàng liếm đáy nồi, thì thầm với nước trong nồi như bị thôi miên nhẹ. Một hạt cát cũng trọn vẹn như một thế giới, ông nói với ngọn lửa, tiếng ông chỉ đủ cho tai ông nghe thấy. Ý nghĩ có người trên chín tầng mây có thể nhìn vào cái kén nhỏ xíu vợ chồng ông đang đau đớn mắc kẹt trong đó an ủi ông. Với con mắt trên cao kia, sự đau đớn của họ dường như nhỏ bé và chẳng khác gì mẩu than trong mắt ông, đốm than đang cháy và sẽ sớm lụi thành tro tàn xám xịt.

Nước đã sôi, vung nồi phì ra luồng hơi trắng xóa. Ông giáo Cố khuấy gạo rồi ngồi xuống bên bàn. Phòng ngủ yên ắng, chắc vợ ông ngủ thiếp đi rồi. Lúc nãy bà bị hai viên cảnh sát giải về, và trước khi mở còng tay cho bà, họ đã đe dọa cục cằn. Ông lo bà bị kích động, nhưng bà im lặng cho đến lúc Nhược Nhược tới, nó là người cuối cùng trên đời nhận cơn giận dữ của bà.

Đôi bàn tay ông giáo Cố dò dẫm khắp mặt bàn như thể người mù. Nhiều năm nay, ông nhiễm thói quen bận bịu đôi tay với bất cứ thứ gì với tới, có lẽ là dấu hiệu nhiễu loạn tâm lý, nhưng ông cố không để ý đến. Ngoài một bát cháo đặc còn lại, cái bàn trống trơn. Một việc nữa mất đi cùng với Nhược Nhược là gấp ếch bằng tờ lịch, ông giáo Cố nghĩ. Việc đó bắt đầu khi San mười bốn tuổi, một Hồng vệ binh trẻ măng sẵn sàng đập tan thế giới. Ông buộc mình gấp giấy, những ngón tay bận bịu của ông cứu ông thoát khỏi nỗi buồn thấy con gái ông biến thành một người xa lạ, nhẫn tâm ngay trước mắt mình. Một ngày đầu hè, trong bữa ăn sáng San đọc cả bài diễn văn về việc ông nên cúi chào các thanh niên cách mạng thay cho chống lại bằng sự im lặng, ông đã làm con ếch nhảy lên và rơi vào bát cháo ăn dở của vợ. Cả ông giáo lẫn bà giáo không ai vớt con ếch ra, và lúc đó ông biết rằng họ sẽ không bao giờ lại cười vui với nhau như một gia đình nữa. Cũng sáng hôm ấy, khi đám đồng chí cách mạng trẻ tuổi của San tới, cô gợi ý họ ra ngoài và “đá vào mông những kẻ phản cách mạng”. Cô, đứa con gái mà ông đã dạy đọc thơ Đường ngay từ hồi còn rất bé, đã buột ra những lời lẽ thô bỉ dễ dàng đến thế. Sau này, có người đến trường ông báo tin ngoài việc đá vào mông nhiều người, San còn đá vào bụng một phụ nữ mang thai tám tháng. Ông giáo Cố ẩn trong văn phòng và viết một tiểu luận dài, suy ngẫm về sự thiếu hụt của thơ ca cũng như giáo dục trong một thời đại không nên thơ. Lúc viết xong và đọc lại bài tiểu luận, ông ném nó vào lửa và gắng hết sức mình đối mặt với người vợ, người đã cùng ông chịu chung trách nhiệm đưa một kẻ giết người vào thế giới này.

Làm thế nào San thoát được mọi hậu quả hành động của mình ở ngoài tầm hiểu biết của ông giáo Cố. Vợ ông suy sụp và thường xuyên khóc lóc, là việc trước tiên trong buổi sáng hoặc đôi khi giữa một bữa ăn vô vị. Bà đã làm gì xấu xa mà San lại như thế? Bà hỏi ông. Hay Trời phạt họ vì trước kia cả hai đã có vợ có chồng, nên đưa sự ô uế này vào cuộc hôn nhân của họ? Ý nghĩ này là sự mê tín nhảm nhí, ông giáo Cố muốn nhắc nhở vợ nhưng bà quá mê muội, dẫn đến lầm lạc vì tin mình phải chịu trách nhiệm về những tội ác con gái bà gây ra. Trước sự bất đồng lặng lẽ của ông, bà trở thành một người đàn bà tầm thường, quẫn trí, cố tìm nguyên nhân cho từng tai họa và thất bại, dường như cõi đời là thứ có thể giải thích được và sẽ có nghĩa cho người nào tiếp tục sống.

Ông giáo Cố lắc đầu. Ông tự nhủ, mình cũng chẳng hơn gì bà ấy. Ông đã bị những mong ước của mình lừa gạt một cách rồ dại. Lần đầu tiên ông gặp bà, bà đã không còn sống với người chồng trước, có tới năm vợ. Bà là người duy nhất tự rời bỏ gia đình, khi chính phủ cộng sản mới thành lập cấm chế độ đa thê, còn các bà vợ khác phải để các viên chức chính quyền kéo khỏi gia đình. Bà là người đầu tiên ghi tên theo học lớp xóa mù chữ dành cho phụ nữ của ông giáo Cố, năm đó bà mới mười tám tuổi, tóc đen nhánh và mượt như lụa, má hồng như quả đào tơ, mắt buồn thăm thẳm như giếng sâu. Bà có bộ mặt hãm tài bẩm sinh, dân trong thị trấn đe ông giáo Cố khi ông quyết định cưới bà. Nhìn gò má kìa, quá cao, môi nữa, không đủ đầy đặn, người ta bảo thế. Ông nhún vai, coi khinh những lời bình phẩm của họ. Bà kém may mắn, mồ côi cha mẹ từ năm mười hai tuổi, mười bốn tuổi bị ông bác bán cho người chồng già hơn bốn chục tuổi, vừa làm vợ vừa làm hầu gái. Ông giáo Cố không muốn nghe bất cứ lời đàm tiếu nào. Vợ và chồng là hai người cùng số phận, những vần thơ cổ viết thế. Sao họ không trở thành vợ chồng từ trước? Ngày họ cưới, người vợ đầu của ông gửi một bức điện tới: Hãy nuôi sống nhau bằng nước lã. Ông giấu biệt bức điện, dù người vợ mới không đọc được hết các chữ trong đó. Ông chưa bao giờ kể với bà những lời cầu phúc cũng như câu chuyện ngụ ngôn đằng sau những từ đó - vợ chồng như hai con cá mắc cạn trong cái vũng nhỏ, họ thi nhau nuốt càng nhiều nước càng tốt trước khi mặt trời nung khô cái vũng, để trước khi chết, truyền nước cho người mình yêu trong nỗi khốn khổ kéo dài.

Cũng chẳng lạ là ông giáo Cố với người vợ đầu trong lúc yêu nhau đã ước là hai con cá trong truyện, mong muốn này cùng bao mơ ước và dự định khác đã lẳng lặng ra đi ở đoạn kết cuộc hôn nhân của họ. Chẳng phải là một ngoại lệ sai lầm khi bà đệ đơn ly hôn, cuộc hôn nhân của họ không thể đáp ứng những đòi hỏi của xã hội mới, bà là một đảng viên cộng sản kiểu mẫu, còn ông là phần tử trí thức phản cách mạng có thời là chuyên gia giáo dục, phục vụ cho chính phủ dân tộc chủ nghĩa. Sau khi ly hôn, bà ở lại trường đại học, là nữ giáo sư toán học đầu tiên trong khu gồm ba tỉnh, sau đó được đề bạt làm hiệu trưởng một trường đại học có uy tín ở Bắc Kinh. Còn ông, người sáng lập trường trung học đầu tiên theo phong cách phương Tây trong tỉnh, bị giáng xuống dạy trường tiểu học ở địa phương. Nếu chồng và vợ thực sự là những người cùng chung số phận, thì ông không xứng đôi vừa lứa với người vợ đầu. Ông cầu mong cho bà may mắn hơn, tìm được người chồng xứng hợp với địa vị của bà, được Đảng chấp thuận, hoặc tốt hơn là người được Đảng phân công. Nhưng bà vẫn ở một mình, không con cái. Ông chưa bao giờ đủ can đảm hỏi bà vì sao. Hàng năm, họ trao đổi một hoặc hai bức thư, viết rất ít vì ông cảm thấy chẳng còn gì hoặc quá nhiều để nói. Thư của bà đơn thuần là những lời thăm hỏi ông và gia đình, và ông không dám hình dung sự đau đớn của bà dưới vẻ lịch sự bình thản.

Cuộc hôn nhân đầu tiên của ông giáo Cố kéo dài ba năm, sau này ông nhớ lại những cuộc trò chuyện đầy trí tuệ của họ. Ngay trong tuần trăng mật, họ dành nhiều thời gian đọc và thảo luận về Kant[1] hơn là hưởng thụ nơi nghỉ dưỡng trên bãi biển. Hồi đầu cuộc hôn nhân thứ hai, thỉnh thoảng ban đêm ông ngắm người vợ trẻ ngủ và hy vọng rốt cuộc, bà sẽ có nhiều thứ hơn là vẻ đẹp thể chất, và ông có thể chia sẻ cuộc sống trí tuệ với bà, khi ấy ông mới ba mươi hai, vẫn còn quá trẻ để hiểu những khao khát vô hạn của đàn ông hoặc sự vô lý của thói háo danh.

Cuối cùng, khi đến giai đoạn ông rút ra nên mong mỏi những gì ở người vợ trẻ, ông không yêu bà bớt đi. Ông cảm thấy có trách nhiệm hơn với bà, không chỉ như một người chồng và một người đàn ông, mà còn như cha mẹ và người thầy. Ông luôn coi bà như đứa con đầu của ông, trước khi San và những đứa con khác họ có thể giữ được - lần sinh nở đầu tiên của họ là một bé trai chỉ sống được ba ngày, khi San lên hai họ đã cố lần nữa nhưng bị sẩy thai. Sau đó, họ từ bỏ mong ước, coi như được Trời ban phúc là có San, một cô con gái xinh đẹp, khỏe khoắn và mạnh mẽ.

Một đứa con trai sẽ khác hẳn, lúc này ông giáo Cố nghĩ, con trai sẽ lớn lên thành một thanh niên trí thức, một người ông có thể chuyện trò thực sự. Một đứa con trai có thể chăm sóc cha mẹ trong cái ngày tổn thất này, và trong tất cả những ngày sắp tới. Nhưng đó là những ý nghĩ ngớ ngẩn, mong ước một thứ vô ích. Tốt hơn hết là ông đặt dấu chấm hết cho những suy nghĩ lan man phi lý này. Ông giáo Cố mở ngăn kéo. Từ ngày hôm trước, ông đã không làm sổ thu, chi.

Ông cẩn thận giở cuốn sổ, nhưng không có dấu vết cái hóa đơn. Ông duyệt lại kỹ lưỡng ngày hôm trước trong trí, hai nhân viên không thiếu lễ phép, những hóa đơn màu hồng, vàng và trắng họ đã làm. Chưa bao giờ ông bà giáo Cố lại nghĩ họ phải trả tiền cho viên đạn cướp đi mạng sống của con gái họ, nhưng tại sao câu hỏi ngu xuẩn đến thế ở địa vị của ông lại không được hỏi? Ông ký tên và và tính giá viên đạn cho hai người đó, hai mươi tư xu. Giá hai cây bút chì hoặc vài bắp ngô, những thứ ông hay mua cho các học sinh nghèo. Ông nhớ trước đó ông đã gấp đôi tờ biên lai và để vào trong cuốn sổ lúc vợ ông đi chợ về, xách cái túi lưới đựng cải bắp và củ cải. Trong ngõ, bà không hỏi hai người đàn ông đang đi ra, có lẽ bà không nhìn thấy họ hoặc có khi bà đã đoán ra họ là ai. Vợ chồng ông không nói về vụ của San từ khi đơn kháng án bị bác bỏ.

Ông giáo Cố xem lại cuốn sổ lần nữa. Vợ ông không bao giờ động đến nó, bà tin cậy ông mọi việc về tiền nong. Từ đêm hôm qua, chính ông cũng không mở sổ ra. “Chắc là nó đi chơi với ma rồi”, một giọng quen thuộc nói với ông giáo Cố, trong giây lát ông giật mình nhưng nhận ra là giọng nhũ mẫu của ông từ nhiều thập kỷ trước. Nhũ mẫu hầu hạ ông bà của ông, nhũ mẫu gọi ông là cậu chủ, nhưng bà giống một người mẹ hơn. Mẹ đẻ ông là hiệu trưởng một trường nữ sinh nội trú, phần lớn thời gian bà bận với việc gây quỹ cho các học sinh nghèo học tiếp lên trung học. Ông nhớ nhũ mẫu thường thán phục nói rằng mẹ ông giỏi giang hơn cả đàn ông. Nhũ mẫu không được học hành gì, nhưng bà có những ý kiến và cách giải thích cho từng sự việc xảy ra trên đời. Một cái kẹp tóc để không đúng chỗ có thể đang đi dạo chơi với ma, một đống xu hoặc chú lính chì bị mất cũng y như thế, đôi khi các bóng ma trở lại lần nữa nhưng ở chỗ khác hẳn, vì ma hay quên, và cũng giải thích được các vật biến mất mãi mãi. Bà có giọng nói khàn khàn, bà bảo đấy là do bà đã khóc quá nhiều, khóc chồng, khóc con, tất cả đã chết trong nạn dịch tả. Họ đã trả xong nợ nần, bà nói về gia đình mình như thể những cái chết của họ chỉ thêm một sự việc thông thường, cần vài lời giải thích dễ hiểu.

Ông giáo Cố nhắm mắt, trong tình trạng thờ thẫn ông cảm thấy như trở lại thời ấu thơ, ngủ thiếp đi trong lúc nhũ mẫu kể chuyện bằng giọng chậm rãi.

Cửa phòng ngủ bật mở, ông giáo Cố chưa kịp gạt cuốn sổ sang bên, vợ ông đã ào tới bếp lò và nhấc cái nồi xuống. Cháo đã ngừng sôi từ lâu, phòng đằng trước sặc mùi khê khét. Ông giáo Cố nhìn vợ ân hận, nhưng bà nhìn tránh đi và vét cháo cho cả hai, chỗ đỡ khê cho ông và phần đáy nồi đen sì cho bà.

Họ ăn, không nói chuyện và cũng chẳng thấy ngon lành gì. Lúc ăn xong, bà đứng dậy rửa bát. Ông đợi bà làm xong.

- Nhược Nhược chẳng có lỗi gì. Mình không nên đối xử với nó như thế.

Lời lẽ buột ra có vẻ buộc tội hơn dự định của ông. Bà vợ nhìn ông trừng trừng. Ông cố mềm giọng:

- Ý tôi là, chúng ta đã làm nó và gia đình nó tổn thương. Họ chẳng làm gì chúng ta.

- Họ là một phần thiên hạ sẽ ca ngợi việc giết con gái ông, - vợ ông nói. - Sao chúng ta phải cảm thấy mắc nợ người khác, khi chúng ta chẳng nợ nần ai hết?

- Thứ tôi có là tài sản của tôi, còn thứ tôi mắc nợ là số phận của tôi,- ông giáo Cố trả lời. Lời lẽ đầy vẻ dỗ dành và ông nhắc lại lần nữa với mình bằng giọng khe khẽ, ngân nga. Vợ ông không đáp và náu mình trong phòng ngủ.

Nhược Nhược ăn hết chỗ bánh quy và ném cái hộp đi trước khi mở cổng. Không như phần lớn các gia đình khác ở Nê Giang, nhà nó không có kho chứa đồ tạp nhạp trong mảnh sân nhỏ. Nó đổ than vào cái thùng thưa bằng gỗ, phủ tấm vải dầu cũ. Con gà mái trắng, một trong hai con của gia đình nó, vỗ cánh phành phạch và nhảy lên trên cái thùng. Nhược Nhược suỵt suỵt, xua nó xuống đất. Là con vật tò mò nhất trên đời, con gà trắng sáng nào cũng kiểm tra thùng than, như thể nó được mẹ Nhược Nhược giao cho nhiệm vụ giám sát cô bé. Nhược Nhược khẽ mắng, bảo đấy không phải việc của nó. Con gà mái trắng bỏ đi, không chút bối rối.

Trong phòng đằng trước dùng làm bếp, mẹ Nhược Nhược đang nấu bằng dầu hôi, và Nhược Nhược xun mũi vì cái mùi khác thường. Con gà kia màu nâu, đẻ không sai bằng con trắng, vỗ cánh lúc thấy Nhược Nhược vào, dù chân nó bị buộc vào cái ghế đẩu để không đi xa được. Không quay nhìn Nhược Nhược, mẹ nó đảo xèo xèo trong chảo và cao giọng hỏi sao nó về muộn thế. Nhược Nhược tưởng mẹ nó giận và phạt không cho nó ăn sáng, ấp úng nói nó phải đợi lâu ở ga, nhưng hình như mẹ nó không nghe thấy.

Trong phòng ngủ, bố Nhược Nhược và các em gái nó ngồi quanh cái bàn thấp đặt trên giường gạch. Cái bàn nhỏ là đồ gỗ duy nhất trong nhà, còn lại toàn là các hộp các tông dùng làm kho, hòm hoặc tủ. Giường gạch là nơi diễn ra mọi sinh hoạt của gia đình, cái bàn thấp dùng làm bàn ăn, bàn học cho các em gái và bàn làm việc của họ. Bố Nhược Nhược làm việc ở nhà máy kim loại nặng, mẹ nó đóng gói sâm và nấm thuộc bộ phận bán buôn trong cửa hàng nông sản, họ kiếm chỉ đủ nuôi Nhược Nhược và năm em gái nó, quần áo lần lượt truyền từ cha mẹ xuống Nhược Nhược rồi đến những đứa con khác. Tối tối, cả nhà quây quần quanh chiếc bàn thấp và gấp hộp diêm kiếm thêm. Ngay đứa lên ba cũng bị giao phải làm cho xong một mẻ nhỏ. Bàn tay què quặt của Nhược Nhược không làm được việc này, và hiển nhiên là nó không chỉ sống bằng mồ hôi, nước mắt của cha mẹ mà còn của các em gái nó nữa.

Lửa đã nhóm trong bụng cái giường gạch. Bố Nhược Nhược nhấm nháp chén rượu rẻ tiền cất bằng khoai, nhưng nom ông không rầu rĩ như lúc uống vào buổi tối. Mẹ nó bưng đĩa bánh mì rán tới. Nhược Nhược sửng sốt thấy bữa sáng hoang phí như thế.

Bố Nhược Nhược ra hiệu cho nó và nói:

- Ăn đi. Nếu mày không nhanh lên, chúng tao sẽ ăn hết phần đấy.

Các em gái nó cười rúc rích, lúc đầu còn cố nén, sau cười òa lên lúc mẹ nó không quát tháo và bảo chúng im miệng. Ngay cả bé Sáu cũng làm ồn, vui vẻ. Bố Nhược Nhược nhúng đầu đũa vào chén rượu, rồi rỏ giọt rượu vào miệng. Mẹ Nhược Nhược cao giọng ngăn ông nhưng chỉ bằng cách cười cợt và bằng lòng. Đứa lên ba và lên năm hò hét đòi nếm rượu, bố chúng cũng cho mỗi đứa một giọt. Hai đứa lớn hơn đã đi học, hiểu biết hơn và không đòi, nhưng cả hai sán lại gần bố. Gần đây chúng bắt đầu tranh nhau để bố chú ý, ông về đến nhà, đứa con gái thứ hai chạy đi lấy dép và trà cho bố. Nhưng Nhược Nhược thấy ngoài những việc chịu khó thay mẹ chăm sóc bố, nó không phải đối thủ của đứa con gái thứ ba. Đứa bé lên tám là phong vũ biểu đo tâm trạng của bố - lúc ông vui, nó làm như nó là con cưng duy nhất của ông, đòi ông chiều chuộng bằng giọng nũng nịu khe khẽ và những cử chỉ âu yếm; khi ông buồn, nó biết giữ mình và rón rén đi lại trong nhà.

Nhược Nhược trèo lên giường. Nó rúc vào góc bàn xa mẹ nhất và hỏi đứa em lên mười:

- Con gà nâu bị sao thế?

- Tối nay chúng ta sẽ làm thịt một con gà để ăn mừng, - mẹ nó trả lời. - Ăn cỗ. Mỗi kẻ xấu xa đều có ngày đền tội. Mẹ mừng thấy rốt cuộc ngày ấy đã đến.

Mùa xuân nào, những người nông dân từ trên núi cũng xuống Nê Giang, mang theo các giỏ đầy gà con mới nở, lông tơ vàng óng, kêu chiêm chiếp và mổ lung tung. Bọn trẻ con rụt rè đòi một hoặc hai con để nuôi, và chúng ngạc nhiên thấy cha mẹ chúng trả mươi hoặc mười lăm tệ. Gà con sớm chết khiến bọn trẻ buồn lắm, nhưng mùa hè đến, vài con gà may mắn sống sót, trong số đó có một hoặc hai con bắt đầu đẻ trứng. Bố mẹ Nhược Nhược không có tiền mua nhiều, họ giao cho các em gái nó canh chừng trong mùa xuân để mấy con gà không bị lũ mèo hoang đói khát ăn tươi nuốt sống. Tối tối, khi Nhược Nhược nấu ăn cho cả nhà, các em gái nó giúp hàng xóm quây đàn gà vào ban đêm. Đôi khi, một gia đình thừa con gà còn lại đến cuối mùa hè và họ đem cho gia đình Nhược Nhược. Việc đó dựa trên lòng tin và hiểu biết, nhưng thường thì sau cả một mùa, những người hàng xóm chẳng còn lại gì, và chẳng ai trách được.

Nhược Nhược nghĩ đến con gà nâu thích mổ xung quanh Nhược Nhược lúc nó giặt rũ trong sân, vào mùa ấm áp hơn. Nhược Nhược chẳng lạ khi mẹ nó chọn giết con nâu thay con trắng. Trước đó Nhược Nhược chưa bao giờ được ăn thịt gà, và nó ước con gà nâu không phải là con gà đầu tiên nó được ăn.

Bố Nhược Nhược chiêu hết chén rượu nữa. Dù nát rượu, ông dịu dàng với mẹ Nhược Nhược và chưa bao giờ đánh bà như những người say khác thường đánh đập vợ. Ngoài đứa con lên tám, hầu như ông chẳng để ý gì đến những đứa khác. Ông hay thở dài, thỉnh thoảng lại khóc trong những lúc uống một mình ban đêm, lúc ông tưởng các con đã ngủ say. Trong những đêm ấy, từ góc giường Nhược Nhược liếc trộm ông. Mẹ nó mặc ông một mình, cứ lặng lẽ gấp hộp diêm, như thể không có những giọt nước mắt ấy.

- Để tôi nói cho mấy bố con nghe, - mẹ Nhược Nhược nói. - Hãy luôn luôn tử tế với người khác. Trời để mắt đến những kẻ xấu xa. Bọn chúng không bao giờ thoát khỏi bị Trời trừng phạt.

Các em gái của Nhược Nhược sốt sắng gật đầu. Người mẹ trìu mến vỗ miếng bánh mì rán to nhất lên đĩa bố chúng.

- Cái con đĩ Cố ấy là tấm gương cho các con, - bà nói. - Nhớ lấy bài học đó.

- Ai là con đĩ hở mẹ? - Đứa tám tuổi hỏi.

Mẹ Nhược Nhược rót thêm chén nữa cho chồng và một chén cho mình. Nhược Nhược chưa bao giờ thấy mẹ động đến rượu chè, nhưng lúc này bà nhấp một ngụm vẻ khoái trá.

- Nhược Nhược, đừng nghĩ bố mẹ ghét bỏ gì con và bắt con làm lụng như đầy tớ. Ai cũng có ích bằng cách nào đấy. Khi nào đủ lớn, các em con sẽ lấy chồng, chồng chúng nó sẽ chăm nom chúng đến hết đời.

Đứa em lên tám cười toét miệng với Nhược Nhược vẻ ngạo mạn khiến Nhược Nhược chỉ muốn tát cho nó một cái.

- Song con thì không thể tìm được người nào sẵn lòng lấy con, - mẹ Nhược Nhược nói tiếp. - Con phải tỏ ra có ích với bố mẹ, hiểu chưa?

Nhược Nhược gật đầu và ép chặt bàn tay què dưới chân. Nó thích ngồi trên bàn tay tàn tật cho đến lúc cảm thấy buồn ngủ. Những lúc ấy, bàn tay nó như của ai khác, nó phải chạm vào từng ngón để biết là chúng vẫn còn đấy.

- Có kẻ đã nguyền rủa chúng ta qua con, Nhược Nhược ạ, chính vì thế nhà ta không có con trai. Nhưng hôm nay, kẻ làm việc đó với chúng ta đã đến ngày tận số. Bây giờ lời nguyền đã hết, bố mẹ sẽ sớm có con trai, - mẹ nó nói, và bố nó đưa tay vuốt ve bụng bà. Bà mỉm cười với ông rồi quay sang đàn con gái. - Các con đã nghe về cuộc phê đấu hôm nay chưa?

Đứa lên mười và đứa lên tám nói chúng sẽ đi với trường, còn mẹ Nhược Nhược có vẻ hài lòng với câu trả lời.

- Còn con nữa, Nhược Nhược, hãy đưa con Bốn, con Năm và con Sáu đến sân vận động Đông Phong.

Nhược Nhược nghĩ đến cậu thanh niên Bát Thập trên phố, đến cây liễu qua những khu rừng bạch dương bên sông.

- Vì sao hở mẹ? - Đứa lên tám hỏi.

- Sao à? Vì mẹ muốn tất cả các con gái mẹ nhìn thấy việc xảy ra với con đĩ ấy, - mẹ nó nói và chia miếng bánh của bà ra làm bốn, sẻ cho các em nó nhưng không có phần cho Nhược Nhược và đứa bé nhất.

Bố Nhược Nhược đặt chén xuống. Mặt ông đỏ bừng, mắt ông dường như không thể thấy gì.

- Để tao kể cho mấy mẹ con nghe chuyện này, từ nay tất cả chúng mày hãy nhớ lấy. Mẹ chúng mày và tao cùng lớn lên trong một làng ở tỉnh Hà Bắc, các chú bác chúng mày vẫn ở đấy. Mẹ chúng mày và tao yêu nhau khi học lớp năm.

Đứa lên mười nhìn đứa lên tám, cả hai cười khúc khích, đứa bé cười to hơn đứa lớn. Mẹ Nhược Nhược đỏ mặt.

- Ông kể cho chúng nó chuyện cũ ấy làm gì? - Bà nói và trong giây lát, Nhược Nhược thấy bà nom như một người khác hẳn, bẽn lẽn như một cô gái.

- Vì tôi muốn các con biết bà và tôi đã cùng nhau chịu đựng những gì, - bố Nhược Nhược nói. Ông cầm chén lên ngửi rồi quay sang đám con gái. - Nếu chúng mày về làng, người ta vẫn còn kể về câu chuyện tình của chúng ta. Khi chúng ta mười bốn tuổi, mẹ chúng mày đến Nội Mông thăm bà cô. Suốt mùa hè, bố mẹ viết thư cho nhau, số tem chúng ta dùng nhiều hơn cả làng dùng trong một năm. Ông bưu điện nói cả đời làm việc, ông ta chưa bao giờ thấy chuyện như thế.

- Ông nói thật đi, ông lấy đâu ra tiền mua tem? - Mẹ Nhược Nhược nói. - Tôi lấy tiền trong ngăn kéo bà cô và không bao giờ dám hỏi liệu bà có biết là mất tiền không.

- Tôi ăn cắp dây đồng ở nhà máy Hồng Sắc cạnh làng, bà nhớ không? Rồi đem bán đi.

Chắc đây là lần đầu tiên mẹ Nhược Nhược nghe được câu chuyện, vì mắt mẹ trở nên dịu dàng và mơ màng như mắt bố.

- Thế mà người ta không bắt ông, - bà nói. - Và ông không bị điện giật chết.

- Nếu tôi bị giật chết thì bây giờ ai cho bà cả một đàn như thế này? - Bố Nhược Nhược đáp và cười khúc khích.

Mẹ Nhược Nhược đỏ mặt:

- Đừng nói đùa như thế trước mặt các con.

Ông cười to và cho một miếng đậu phù nhự vào miệng. Rượu làm cả hai ông bà táo bạo và vui vẻ quên lãng. Nhược Nhược quan sát họ, nửa thích thú nửa ghê tởm.

- Ông ngoại các con là người làm đậu phụ, còn ông nội là nông dân giỏi nhất vùng, họ kiếm đủ tiền để mua đất.

- Hãy nhớ rằng cha tôi là người làm đậu phụ thật thà nhất, cả đời không lừa ai bao giờ.

- Nhưng cái con ranh ấy, con Cố San lại bảo ông nội và ông ngoại các con là tư bản và địa chủ. Nó cầm đầu đội Hồng vệ binh, dẫn cả tốp con gái đến đánh đập mẹ các con. Mẹ đang có thai Nhược Nhược, mà con ranh ấy đá vào bụng mẹ. Chính vì thế mới sinh ra Nhược Nhược như thế này.

Đứa lên mười và đứa lên tám liếc trộm Nhược Nhược; bé Sáu bi bô rồi vồ lấy bàn tay Nhược Nhược mà gặm. Nhược Nhược bế bé Sáu, cho nó ăn một miếng bánh nhỏ.

- Vì thế mà hôm nay có buổi phê đấu ạ? - Đứa tám tuổi hỏi, sau một lúc lâu im lặng.

- Không, - mẹ Nhược Nhược nói. - Có ai quan tâm đến việc nó đã làm với chúng ta đâu? Không ai nhớ nỗi bất hạnh của chúng ta, vì chúng ta là dân thường. Nhưng thế lại hay. Công lý thực hiện bằng cách này hay cách khác. Hôm nay mi lãnh đạo Hồng vệ binh, ngày mai mi là phản cách mạng, đợi một viên đạn. Dù con ấy bị kết án gì đi nữa, tôi cũng sung sướng thấy hôm nay nó phải trả món nợ của nó.

Nhược Nhược ôm đứa em sát hơn, còn bé Sáu sờ bàn tay lên má Nhược Nhược cho đến lúc những ngón tay nhỏ bé của nó nắm được tai Nhược Nhược; Bé kéo tai Nhược Nhược, một cử chỉ làm cả hai chị em dễ chịu.

- Em đang tính, - lát sau mẹ Nhược Nhược nói, giọng bà bình tĩnh hơn. - Ngày mai em muốn uốn tóc. Nhiều bạn học của em đã làm thế.

- Có an toàn cho đứa trẻ không? - Bố Nhược Nhược hỏi.

- Em hỏi rồi, họ đều bảo không sao, - mẹ Nhược Nhược nói. - Đã đến lúc cho em trông giống một phụ nữ hơn một con ma.

- Với tôi, lúc nào em cũng là người đàn bà đẹp nhất.

- Ai tin được lời nói nhảm nhí của người say? - Mẹ Nhược Nhược mỉm cười và nâng chén lên chạm với chồng.

Bát Thập huýt sáo, sải những bước dài và nhún nhẩy về nhà. Cứ mươi, mười lăm bước gã lại thấy nhiều người tụ tập trước một bản thông báo, và mỗi lúc một nhiều các đơn vị công tác cầm biểu ngữ và khẩu hiệu. Đầu óc đang bận bịu về Nhược Nhược, Bát Thập không có thời gian dừng lại và nói chuyện với mọi người cho nhãng đi. Gã tự hỏi vì sao trước kia ý tưởng ấy không đến với gã. Gã đã nhìn thấy Nhược Nhược trên phố vài năm nay, sáng nào cũng đeo giỏ than từ ga tàu hỏa về, ban ngày nó đến khu chợ và nhặt rau héo mà các bà nội trợ bóc ra trước khi trả tiền. Một sinh vật hèn hạ, lúc đó gã nghĩ về Nhược Nhược như thế. Nó vẫn xấu xí, nhưng chắc chắn hiện giờ nom đã có vẻ con gái hơn. Mười hai tuổi, Bát Thập tự nhủ rồi vừa nói to vừa nếm náp vị ngọt ngào của con số. Trên đời đầy những cô gái khỏe khoắn và xinh đẹp, nhưng ngoài gã ra, liệu có ai nghĩ Nhược Nhược là một cô gái đáng thèm muốn? Gã huýt sáo to và sai điệu bản tình ca trong bộ phim lãng mạn những năm năm mươi. Hai cô gái đứng trước cổng trường trung học, chỉ vào gã và cười rúc rích, gã cười đáp lại thật dễ thương, gửi họ cái hôn gió như gã đã xem một diễn viên làm thế trong bộ phim nhập từ nước phương Tây nào đó, bộ phim nước ngoài đầu tiên chiếu ở Nê Giang. Bát Thập rất ấn tượng với vẻ thoải mái của người đó và gã tập nhiều lần động tác đó trước tấm gương trang điểm của bà nội. Mấy cô gái đi nhanh hơn, họ đỏ mặt giữ vẻ nghiêm trang, gã cười và gửi thêm nụ hộn nữa, một trong hàng trăm nụ hôn gã đã gửi và sẽ gửi nhưng chưa rơi vào đâu.

Bát Thập nghĩ đến bà Hoa, ý nghĩ lang thang đến bảy cô gái mà bà già không còn được coi là con gái nữa. Bọn họ tuy bị cha mẹ bỏ rơi, nhưng chắc hẳn mặt mũi và người ngợm phải khá hơn Nhược Nhược. Gã băn khoăn vì sao khi sinh ra Nhược Nhược có bộ mặt khủng khiếp như thế mà bố mẹ Nhược Nhược chưa bao giờ nghĩ đến việc bỏ nó trên bờ sông cho chết, hoặc vì sao họ cứ nuôi cả mấy đứa em gái Nhược Nhược. Rõ ràng là họ mong mỏi một đứa con trai, nên cứ đẻ hết đứa này đến đứa khác. Gã nghĩ đến những đứa con gái mà bà Hoa đã phải cho làm con dâu người khác. Có lẽ đấy là thứ gã cần, mua một cô bé của người như bà Hoa để làm vợ tương lai. Nhưng một việc như thế cần có thời gian. Trong khi đó, gã nghĩ đến Nhược Nhược, một cô bé xấu xí khủng khiếp như Nhược Nhược là thứ có thể đến với gã sớm nhất.

Về đến nhà, Bát Thập thấy cái nồi hấp bằng tre trên bàn, một tấm chăn bông quấn xung quanh vuông vắn giữ cho ấm. Bên dưới là sáu cái bánh bao trắng ngần để sát vào nhau, tươi mới và mời mọc. Gã chộp một cái và khoái chí thấy những ngón tay gã hằn vết trên vỏ bánh mịn màng. Gã gọi to bà nội rằng bữa sáng đã xong không thấy trả lời, gã vào phòng ngủ, căn phòng gã ở chung với bà. Cả hai cái giường đã dọn, tấm rèm che ở giữa đã kéo lên và buộc bằng rubăng. Bát Thập chăng tấm rèm này từ hai năm trước, khi nó đã biết tự kích thích trên giường. Không phải vì bà nội rình mò, các giác quan của bà lão đã trì độn như con dao gỉ khai quật từ nấm mộ cổ, nhưng Bát Thập thấy cần có tấm rèm để bổ sung sự thích thú cho những trò chơi bí mật của gã.

Bát Thập cắn một miếng bánh và đến gần bà nội hơn, bà lão đang thiu thiu trong cái ghế bành nhồi dày dặn đặt bên phía bà trong phòng ngủ. Gã đặt ngón tay dưới mũi bà và cảm thấy hơi thở của bà. Bà vẫn còn sống.

- Dậy đi, dậy, con lợn lười biếng này. Mặt trời đã tỏ và nhà đang cháy kìa, - Bát Thập nói, uốn éo bắt chước giọng bà gã khi gã còn bé và hát, nhưng bà lão không mở mắt. - Bữa sáng đã xong, và đàn kiến đang đợi vụn bánh của bà. - Gã lại ngân nga. Bà lão mở mắt, gật đầu thật nhanh rồi lại thiếp đi. Gã đứng dậy. Bà đã tám mươi mốt tuổi và bà có quyền hưởng bất cứ thứ gì bà thích: những lúc chợp mắt vào buổi sáng, thỉnh thoảng ăn một miếng, ngồi rất lâu trên chậu đựng nước tiểu trong phòng và bất chợt thiếp đi một lát. Đến nhà xí công cộng không an toàn cho bà nữa, ở đó người ta nhảy ra nhảy vào qua vũng nước hôi thối, trên những tảng đá mòn hay những hòn cuội. Bát Thập biết rồi sẽ đến ngày gã phải trông nom bà lão, nấu ăn cho bà, dọn giường, cọ bô, tắm rửa cho bà. Gã không sợ việc đó. Bà nội chăm sóc gã suốt đời, gã phải trông nom lại bà khi bà cần. Nếu gã có một đứa con gái bé, gã sẽ làm y như thế. Nếu gã tìm được một bé gái lúc này, Bát Thập nghĩ, gã sẽ đặt tên cho bé là Bát Thập Nhất theo tuổi của bà nội. Tên Bát Thập đặt theo kiểu đó, năm gã ra đời, cụ nội gã tròn tám mươi. “Bát Thập Nhất”, Bát Thập nói to với căn phòng, và nghĩ chỉ thiên tài mới nghĩ ra cái tên ấy, nó khiến cho bé gái đó thành em gái gã, ngoài việc bé thuộc về gã, ngay một thằng ngốc cũng nhìn thấy. Có tám mươi mốt vì tám mươi có rồi, và bạn tìm Bát Thập Nhất ở đâu nếu không có Bát Thập? Nó thấy rất muốn chia sẻ ý nghĩ hay ho ấy với ai đó, nhưng bà nội nó ngày càng hay quên lẫn, câu chuyện giữa hai bà cháu thường bị ngắt quãng vì những nhận xét chẳng đâu vào đâu về những sự việc xảy ra đã nhiều năm, thậm chí hàng chục năm trước. Có lẽ gã nên kể với Nhược Nhược. Nó có hiểu được gã không? Nom nó ngớ ngẩn, nhưng dân thành phố này đều cho gã là “ngơ ngơ” đấy thôi?

- Mày sẽ không bao giờ biết đâu, - Bát Thập nói và gật gù ra vẻ hiểu biết, dường như có người đang đứng ngay cạnh gã. - Con bé ấy khôn hơn mày tưởng nhiều.

Bát Thập nhét nốt cái bánh vào miệng, và rời nhà khi chuông đồng hồ điểm tám tiếng. Phố chính ngợp trong không khí hội hè. Hai người đàn ông đeo băng đỏ đang đóng cửa chợ. Học sinh các trường tiểu học gần đó diễu hành và hát vang những bài ca cách mạng, giai điệu quen quen với lỗ tai chưa bao giờ học lời của Bát Thập, gã không thể nhận ra lời trong lúc lắng nghe bọn trẻ con hét to hơn là hát, miệng chúng tròn như chữ O. Ở một phố bên, hai giáo viên giục mười hai đứa bé nhập vào đoàn diễu hành, bàn tay chúng nắm vào sợi dây, hai đầu dây trong tay giáo viên. Nam nữ công nhân nhà máy kẹo mặc đồng phục xanh lơ hát và cười, đợi đoàn học sinh đi qua, hai người đàn ông huýt sáo gọi mấy nữ sinh lớn hơn chắc đã nhiều lần nhấm nháy và đủ lớn để liếc mắt nhìn lại.

- Cuộc phê đấu ở đâu? - Bát Thập hỏi một cảnh sát ở ngã tư.

Viên cảnh sát đẩy vào lưng Bát Thập và nói:

- Đừng cản trở giao thông.

- Tôi đứng ở đây thì động hệ gì, đồng chí? - Bát Thập nói. - Đồng chí có nhìn thấy khẩu hiệu trên tường kia không? Nó viết PHỤC VỤ NHÂN DÂN. Đồng chí có biết ai nói thế không? Mao Chủ tịch. Đồng chí phục vụ nhân dân kiểu gì thế, hả, quát mắng và suýt bẻ gẫy cổ tay người ta?

Viên cảnh sát quay nhìn Bát Thập:

- Cậu là ai?

- Tôi là một người trong đám quần chúng đồng chí phục vụ.

Viên cảnh sát rút trong túi ra cuốn sổ tay nhỏ:

- Tên cậu là gì? Cậu làm việc ở đâu?

Bát Thập cố nghĩ ra điều để nói nhưng chưa kịp, viên cảnh sát đã quay sang quát một người đang cố len qua đoàn diễu hành của thiếu nhi. Bát Thập nhún vai và nói khẽ trong lúc lẩn đi:

- Tên tao là Bác Mày, tao làm việc trên giường của mẹ mày.

Đi vài bước nữa, Bát Thập hỏi một người và được biết nhân dân trong quận này đến trường trung học là một trong sáu địa điểm cho cuộc phê đấu trước khi xử tử.

- Ông có biết mụ ta là ai không? - Bát Thập hỏi.

- Một kẻ phản cách mạng, - người đó đáp.

- Tôi biết rồi, nhưng mụ ta là ai?

Người đàn ông nhún vai:

- Điều ấy can dự gì đến cậu?

- Ông lấy vé ở đâu? - Bát Thập hỏi.

- Vé gì? Cậu cứ đi với trường cậu.

- Hiện giờ tôi bỏ học rồi.

- Thì đi với nơi cậu làm việc.

Bát Thập định giải thích gã là người tự do, nhưng dừng lại ở nửa câu vì hình như người đó không nghe gã. Bát Thập đứng ngắm những người đàn ông và đàn bà, học sinh, công nhân nghỉ hưu diễu qua. Tất cả nom vui vẻ, ca hát, hô khẩu hiệu và vẫy những lá cờ sặc sỡ lên trời. Bát Thập chưa bao giờ coi trọng việc là thành viên của một tổ chức nào. Gã nghĩ sẽ theo đuôi đoàn học sinh trung học, nhưng không có cờ trong tay, nom gã thật đáng ngờ. Lát sau, gã nói một mình: “Phê đấu thì có gì đặc biệt? Mình sẽ đến đảo xem tử hình”.

Lời lẽ thốt ra rồi, ý Bát Thập đã quyết. Việc gì gã phải là một trong những người trong đám diễu hành khi gã có mọi thứ tự do trên đời để muốn gì làm nấy? “Chào nhé”, gã nói, vừa cười vừa vẫy những người chen lấn trên phố như một bầy cừu.

❀ ❀ ❀

[1] Immanuel Kant (1724-1804): Nhà triết học Đức, được nhiều nhà tư tưởng có ảnh hưởng nhất của nhiều thời kỳ hiện đại học hỏi. (Các chú thích của người dịch).

Dịch nguyên bản từ tiếng Anh The Vargants by Yiyun Li
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 10 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.