Những Kẻ Lang Thang

Lượt đọc: 10 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tám
Tám

❊ ❊ ❊

Người thợ mộc đứng tuổi và cậu thợ phụ, cả hai mặc áo lót, người đầy mùn cưa và mồ hôi, khiêng cái giá cưa để Khai bước vào nhà. Hành lang chung của bốn gia đình cùng tầng tạm thời biến thành xưởng, và Khai tò mò hỏi nhà nào làm gì. Câu hỏi tuy vô hại, nhưng làm cả hai người thợ lúng túng. Họ liếc nhìn nhau, và lúc người già hơn cúi đầu, cậu thợ phụ trẻ đáp chẳng qua họ được thành phố phân công một nhiệm vụ chính trị.

Khai cau mày. Cô chưa kịp hỏi thêm, cửa nhà cô bật mở và Hán mỉm cười với cô, vẻ bí ẩn. Anh ta nói có thứ làm cô ngạc nhiên, và bảo cô nhắm mắt lại. Cậu thợ trẻ liếc nhìn Khai và Hán với vẻ tò mò bẽn lẽn, Hán bảo cậu ta làm việc đi, rồi kéo Khai vào trong nhà. Gì thế? Cô hỏi, nhưng Hán một mực bắt cô nhắm mắt đã. Khai thở dài, mặc Hán cầm tay cô dắt vào phòng khách. Khi được bảo mở mắt, Khai nhìn thấy ở giữa phòng một hộp cáctông lớn, bên ngoài in hình chiếc tivi màu xanh.

- Anh ra khỏi thành phố lúc nào? - Khai hỏi. Nơi duy nhất để mua tivi là thủ phủ trên tỉnh, với giấy phép đặc biệt và dù Hán đã nói đến việc mua một cái tivi từ nhiều ngày nay, Khai nghĩ phải mất nhiều tuần mới có giấy phép.

- Hôm nay anh không bước chân ra khỏi cơ quan, - Hán nói. - Và anh không mất một xu.

Khai gật đầu, lơ đãng. Hình như Hán thất vọng vì phản ứng thờ ơ của Khai.

- Đây là quà tặng, - anh ta nói. - Ở Nê Giang chỉ có ba nhà được thôi. Em đoán xem là ai?

- Cha mẹ anh, thị trưởng và nhà ta?

- Chẳng gì lọt qua mắt em, - Hán nói. - Còn ai xứng với phần thưởng này chứ?

- Vì việc ghép thận?

Hán mỉm cười và nói thị trưởng cùng phu nhân đã giới thiệu các thợ mộc lúc đóng xong cái giá để tivi rất đẹp cho họ từ hai ngày trước, và anh ta bảo họ phải làm xong vào ngày mai. Anh không hỏi hàng xóm rồi hãy để những người thợ này dùng không gian chung sao? Khai hỏi nhưng Hán gạt đi và nói anh ta tin rằng những người hàng xóm không dám phàn nàn gì. Theo cách nói của Hán, những người đàn ông trong ba gia đình kia không những ở địa vị thấp hơn Hán nhiều, mà còn tới hạn rồi, chỉ có Hán là người duy nhất trong tầng này có tương lai.

Khai gật, và hỏi các tin tức khác.

- Anh cần nói với em một điều, - Hán nói lúc cửa thông sang phòng trẻ mở. Minh Minh rón rén đi vào, kéo tay cô trông trẻ. Cậu bé nhìn bố mẹ rồi dẫn cô trông trẻ đến sofa. Hán đã sắp xếp lại phòng khách để có chỗ đặt tivi, và lúc Minh Minh trèo lên sofa lúc này ở gần công tắc điện, nó với tay bật, tắt, bật, tắt liên tục. Khai và Hán, cả hai mải nghĩ ngợi, ngắm đứa trẻ trong ánh sáng nhấp nháy.

Cuối cùng, Hán ra hiệu cho cô trông trẻ. Khai bế Minh Minh lên và thơm nó, nhưng nó quẫy khỏi tay mẹ và lại tới sofa. Khai hỏi cô trông trẻ về bữa trưa của đứa bé, bảo cô ta mặc ấm cho nó và dẫn nó đi dạo quanh quảng trường thành phố. Đi dạo trước lúc ngủ trưa? Cô trông trẻ ngạc nhiên hỏi, Khai đáp hôm nay trời ấm, nó có thể thở hít không khí trong lành.

Hán đứng cạnh cửa sổ ngắm đường phố.

- Anh chắc em đã nghe về tình hình ngoài kia, - anh ta nói lúc cô trông trẻ đóng cửa lại.

Ba đêm trước, năm trăm tờ truyền đơn đầu tiên đã được dán, nhưng đến trưa hôm sau, đội vệ sinh đã bóc hết, và từ lúc đó không ai nhắc đến nữa. Vài đêm sau, truyền đơn thứ hai xuất hiện, lần này không những nói đến việc xử tử Cố San, mà còn nói đến phong trào bức tường dân chủ ở Bắc Kinh. Lúc này, Khai nghĩ giả vờ không biết thì thật đáng ngờ. “Những tờ truyền đơn”, cô nói và cảm thấy lời mình đầy nỗi đắng cay mà chỉ mình cô biết. Cô ước giá được là một phần trong những việc xảy ra ở Nê Giang.

- Cái chuyện bức tường dân chủ nhảm nhí này và chuyện con mụ đã chết kia sẽ chẳng đau đầu nhiều nếu tách riêng ra.

- Vì sao?

Hán xua tay gạt chủ đề ấy đi. Bữa trưa đã dọn, anh ta nói và họ có thể thưởng thức bữa ăn ngon lành nấu ở nhà.

Khai hiếm khi hỏi Hán về công việc anh ta quản lý, dù Hán có thói quen thuật lại hoạt động hàng ngày lúc ban đêm, khi họ nằm trên giường. Khai quyết đợi trước khi hỏi thêm. Họ ngồi ăn trưa, không trò chuyện một lúc, sau đó Hán vui lên khi xoay câu chuyện về cái tivi mới. Đó là chiếc tivi đen trắng mười bốn insơ nhập khẩu từ Nhật Bản, to hơn và chất lượng tốt hơn cái anh ta có trước nhiều; sáng nay ba cái cùng đến như một sự ngạc nhiên, một cử chỉ biết ơn từ người bạn quyền thế của họ ở thủ phủ, chắc chắn là thế.

Hình như đây là lúc thích hợp nhất cho Khai hỏi:

- Người bạn bí ẩn anh đang nói là ai vậy?

Hán suy nghĩ rồi lắc đầu:

- Anh sẽ cho em biết chừng nào chúng ta khám phá ra những tờ truyền đơn ấy từ đâu ra.

- Có gì trục trặc sao?

- Không phải là thứ anh thấy, - Hán nói và với tay qua đĩa thức ăn, vỗ vào bàn tay Khai. - Em không nên bận tâm về những thứ này. Chính trị không phải việc đàn bà. Điều cuối cùng anh muốn là em thành người như mẹ anh, - Hán nói và cười toe toét. Khai chưa kịp trả lời, anh ta đã thưỡn cái mặt và bắt chước bài diễn văn của bà mẹ trong ngày mồng Một tháng Năm năm ngoái. Sau lưng mẹ chồng Khai, các thuộc cấp đã đặt cho bà biệt hiệu “Người đàn bà thép”.

Khai không ngờ Hán biết chuyện ấy, vì anh ta và bố vốn được tiếng là những người hâm mộ bà.

- Anh nên biết ơn mẹ, - Khai nói. - Anh sẽ không may mắn đến thế nếu không có mẹ.

- Ồ, anh yêu bà lắm. Tuy nhiên, em không muốn con trai chúng mình có người mẹ như bà chứ? - Hán nói và nháy mắt. Có tiếng gõ cửa. Khai mong là cô trông trẻ bế thằng bé đã ngủ trên tay, nhưng lại là cha mẹ Hán, cả hai đang đợi, nghiêm nghị. Cô chào họ, và họ gật đầu bước vào, không hé một lời. Bằng giọng khe khẽ và nghiêm khắc, họ bảo Hán - đã đi vào bếp rót hai tách trà mời họ - đến nhà họ ngay lập tức.

Khai đứng bên cửa chào cha mẹ chồng. Không ai giải thích gì với cô, còn Hán chỉ xiết chặt vai cô và bảo cô cứ thoải mái, rồi chạy kịp họ. Cậu thợ phụ ngừng việc và ngắm Khai. Lúc ông thợ già khẽ ho và nhắc cậu ta chú ý vào công việc, cậu ta mỉm cười bẽn lẽn với Khai và trở lại việc đánh bóng gỗ bằng cát.

Chiều hôm ấy, Hán không đợi những người thợ mộc xong việc rồi mới lên đường lên tỉnh. Từ nhà cha mẹ về, Hán giải thích rằng thị trưởng và cha mẹ anh muốn anh làm người liên lạc đặc biệt cho thị trưởng, có mặt ở thủ phủ để thu thập những thông tin mắt thấy tai nghe về phản ứng của Bắc Kinh với bức tường dân chủ trước khi họ quyết định về những tờ truyền đơn. Hán nói không biết sẽ ở đấy bao lâu, tinh thần anh ta suy sụp khác thường. Khai hình dung anh ta đã được dặn dò không tiết lộ gì với cô, nhưng khi cô ép hỏi chi tiết, anh ta công nhận rằng tình hình khó khăn cho mọi người trong chính quyền, vì Chính phủ ở Bắc Kinh không có thái độ rõ ràng với bức tường dân chủ. Có nghĩa là các chính sách của Nhà nước có thay đổi nhất định? Khai hỏi. Nó sẽ là đoạn kết sự nghiệp của anh ta, Hán trả lời. Trông anh ta rất thoái chí. Một cậu bé được cha mẹ đặt vào vị trí của người đàn ông. Khai nhìn chồng, gần như thương cảm. Cô sờ lên má anh ta, nhưng chưa kịp tìm ra những lời rỗng tuếch an ủi, Hán đã vồ lấy bàn tay cô, hỏi liệu cô còn yêu anh ta không, nếu anh ta thua trong cuộc chơi này.

Ở đó có gì làm anh ta thua? Cô băn khoăn, nhưng khi cô hỏi anh ta câu đó, Hán chỉ thở dài và nói cô đúng, hãy còn quá sớm để từ bỏ, và anh ta hãy còn hy vọng.

Khai xin giấy nghỉ ốm nữa của bác sĩ và nghỉ buổi chiều. Cô không biết địa chỉ ông bà giáo Cố, nhưng khi lục tìm trong vùng, bà nội trợ đầu tiên cô hỏi thăm đã dẫn Khai đến một ngõ hẻm. Nhà số 11, bà ta bảo cô và nhận xét vắn tắt rằng hiện giờ cuộc sống của bà Cố khốn khổ lắm, không con cái để chia sẻ gánh nặng có người chồng tàn phế.

Khai gõ, và mất một lát đợi bà Cố ra cổng, tay xách một con gà mái cục cục. Chắc cô nhầm nhà, bà Cố nói lúc cô chưa kịp mở miệng.

- Cháu nghe nói ông giáo Cố không được khỏe, - Khai nói. - Cháu tới thăm ông bà.

- Chúng tôi không biết cô, - bà Cố nói. Bà ngắm Khai một lát, bộ mặt lạnh lùng của bà dịu lại. - Cô là người để tiền lại đây phải không?

Tiền ư? Khai hỏi, vẻ bối rối của cô khiến bà Cố thất vọng. Vậy thì có thể là ai nhỉ? Bà lẩm bẩm.

Khai nhìn khắp ngõ hẻm vắng vẻ, chỉ có một ông già đang thiu thiu ngủ trong nắng. Cô có thể vào trong sân nói chuyện với bà Cố vài phút được không? Khai hỏi và bà Cố trông ngờ vực, song cũng để cô vào qua cổng. Con gà mái cục cục và bà Cố thả nó ra, rồi bảo nó bằng giọng như nói chuyện, rằng cứ ở ngoài nắng kẻo nhiễm lạnh. Con gà nhàn tản bước đi, mổ vào chính bóng mình.

Khai rút hai tờ truyền đơn cô giữ kín:

- Cháu đến để nói chuyện với ông bà giáo về những cái này, - cô nói.

Bà Cố nhìn những những tờ giấy mở sẵn nhưng không đọc:

- Nhà tôi đang nằm viện, - bà nói. - Ông ấy không thể nói chuyện với cô được.

Những tờ truyền đơn này nhân danh Cố San, Khai nói và giải thích rằng không phải mọi người ở Nê Giang đều ủng hộ phán quyết của tòa án. Bà Cố nhìn Khai một lát, rồi đột ngột hỏi cô có phải là người đọc bản tin thời sự không.

- Vâng, - Khai nói.

- Cô biết con gái tôi?

Khai kể sau khi tốt nghiệp trường sân khấu trên tỉnh, cô mới chuyển đến Nê Giang. Cô luôn là người ngưỡng mộ San, Khai nói, nhưng lời nói của cô có tác động gì đâu?

- Con gái tôi có thể làm công việc của cô chẳng kém gì cô. Nó là một ca sĩ cừ. Nó luôn là người giỏi nhất, - bà Cố nói. Bà liếc nhìn những tờ truyền đơn. - Cô viết những cái này sao? - Bà hỏi.

Khai nói ước gì là thế, nhưng không, cô chỉ giúp đỡ chút đỉnh thôi.

- Nhưng cô biết ai viết chứ? Họ là bạn cô?

Khai lưỡng lự rồi nói vâng, một vài người là bạn cô.

- Hãy nói với các bạn cô là họ rất tử tế, - bà Cố nói. - Nhưng chúng tôi không cần họ làm bất cứ việc gì như thế này. - Bà Cố nói thêm là bà rất mừng vì chồng bà đang nằm viện. Ông sẽ hoang mang khi nhìn thấy những truyền đơn này.

- Nhưng chúng cháu - họ - chỉ cố gắng giúp đỡ, - Khai nói. - Sai lầm phải sửa. Trong số chúng cháu, San là người đi tiên phong. Chị ấy sẽ nhẹ lòng khi biết bạn bè và các đồng chí đang đấu tranh cho những điều mà chị ấy đấu tranh.

Bà Cố nhìn Khai chằm chặp một lúc lâu và thở dài. Bà nói bà rất cảm kích khi biết Khai và các bạn không quên San. Bà cũng vậy, bà Cố nói. Nhưng chồng bà đang đau ốm cần phải trông nom và bà chẳng giúp họ được mấy. Họ không đòi hỏi gì đâu, Khai cam đoan với bà; cô nói lý do duy nhất cô đến thăm hai vợ chồng bà chỉ để họ biết rằng họ không lẻ loi trên cõi đời này, nơi mà hồi ức về con gái họ sẽ sống mãi như một nguồn cảm hứng.

- Cô diễn thuyết hay lắm, - bà Cố nói. Khai đỏ bừng mặt vì lời nhận xét, nhưng hình như bà Cố không có ý xấu. - San cũng thích diễn thuyết. Nó là đứa trẻ có tài hùng biện nhất, - bà Cố dịu dàng nói. - Cô bao nhiêu tuổi?

- Hai mươi tám.

- Cô lấy chồng rồi chứ? Có con chưa?

Khai đáp vợ chồng cô đã có một bé trai.

- Cha mẹ cô vẫn khỏe chứ?

Cha cô đã mất, Khai đáp. Bà Cố gật đầu, không nói thêm lời thông cảm.

- Cô có lòng tốt đến thăm chúng tôi và cho chúng tôi biết cô quan tâm đến San như thế nào. Tôi không biết các bạn cô và tiểu sử của họ, nhưng cô là một người mẹ và là con gái. Cô có nghĩ mẹ cô cảm thấy ra sao về việc cô làm không? Cô có nghĩ đến bà ấy không?

Khai không biết trả lời câu hỏi ấy ra sao. Đã mấy tuần nay cô không đến thăm mẹ, dù họ ở cách nhau chỉ dăm phút đi bộ.

- Cô không nghĩ đến bà ấy tí nào, phải không? - Bà Cố nói. - Con gái các cô đều giống nhau. Cha mẹ chẳng quan trọng bằng quyết định của mình, và tôi không trách cô đâu. Thế cô có nghĩ đến con trai cô không?

Có, Khai nói, cô làm việc này để con trai cô có thể sống trong một xã hội tốt đẹp hơn. Nhưng tất cả các bậc cha mẹ đều tưởng thế, bà Cố nói. Họ muốn làm mọi thứ tốt hơn cho con cái mình, nhưng thực ra điều họ đang làm khiến cuộc sống của chúng tồi tệ hơn.

- Cháu không hiểu, thưa bà.

- Hãy nghĩ đến San, - bà Cố nói, lúc này mãnh liệt, mặt bà đỏ bừng. - Chúng tôi đã tưởng có thể cho con gái mình một nền giáo dục tốt nhất vì chồng tôi là một trong những người hiểu biết nhất trong thành phố. Nhưng chúng tôi chẳng làm được gì ngoài việc biến nó thành người xa lạ. Cha mẹ cô chắc cũng làm lụng vất vả mới khiến cô kiếm được công việc khấm khá, nhưng việc cô đang làm không chỉ khiến cô nguy hiểm, cô không nghĩ đến họ ư? Cô tưởng mình đang làm vì con trai, nhưng điều cuối cùng nó cần là cô đi đây đó và nói chuyện với dân chúng về những tờ truyền đơn bí mật.

Khai đáp, gia đình không phải là thứ cô có trách nhiệm duy nhất. Bà Cố nhìn cô trừng trừng, bà nói bà thông cảm với mẹ Khai, cặp mắt hẹp của bà chan chứa nỗi buồn dịu dàng trong thoáng chốc, trước khi trở nên lạnh lẽo. Giờ là lúc Khai nên về, bà Cố nói, vì chồng bà đang đợi bà trong bệnh viện.

Với Đồng, mùa xuân năm nay bắt đầu từ ngày Hai mươi mốt tháng Ba, đúng tiết xuân phân, ngày nó nhìn thấy con nhạn đầu tiên từ phương Nam trở về và đã ghi lại trong cuốn nhật ký thiên nhiên của nó. Già Hoa đã bảo chim nhạn là sứ giả của mùa xuân; chúng là loài chim nhớ quê hương và trung thành bậc nhất, năm nào cũng trở về tổ cũ. Nhưng thế có nghĩa là không bao giờ có một gia đình nhạn sống dưới mái nhà, Đồng lo lắng nói to, vì chúng không có tổ ở đấy. Già Hoa bảo, trong trường hợp đó, họ phải đợi một cặp nhạn non không về với cha mẹ và làm tổ mới cho riêng chúng.

Ngày hôm sau, Đồng nhìn thấy một đàn thiên nga bay qua bầu trời ngập nắng chiều, con đầu đàn hướng về phương Bắc. Cũng như loài nhạn, thiên nga không bao giờ nhầm nơi chúng bay tới, già Hoa bảo, nhưng khi Đồng hỏi vì sao chúng không bao giờ lạc, già Hoa chỉ có câu trả lời duy nhất là chúng sinh ra đã vậy.

Chiều nào sau giờ học, Đồng cũng đến quảng trường thành phố, nơi trưng bày các tờ báo ngày trong hộp kính. Có hơn một chục tờ chọn lọc in ở Bắc Kinh và thủ phủ, nhưng với Đồng, tờ quan trọng nhất là Nê Giang nhật báo, nó sao chép nhiệt độ ở mục dự báo thời tiết địa phương vào nhật ký. Đồng đọc trong một tờ tạp chí Thiếu nhi hàng quý đã cũ mà già Hoa tìm được vài tuần trước về một cậu bé ghi chép nhiệt độ mỗi ngày ba lần vào cuốn nhật ký thiên nhiên trong nhiều năm trời. Đến năm mười ba tuổi, cậu bé nhận thấy sự thay đổi nhiệt độ và dự báo thành công trận động đất, được tôn vinh là “Anh hùng khoa học” vì đã cứu sống được nhiều mạng người. Bài báo không nói sự thay đổi mà cậu bé nhận thấy là gì, để Đồng xây dựng học thuyết của riêng mình, nhưng đã chỉ cho nó phương pháp mới để trở thành anh hùng. Tất nhiên là bố mẹ nó sẽ bảo họ không có tiền thừa trong túi để mua nhiệt kế, nên Đồng không hỏi. Thay vào đó, nó quyết dùng tờ báo địa phương. Khi già Hoa nghe nói về cuốn nhật ký thiên nhiên, già băn khoăn vì sao ai cũng cần dựa vào những con số, trong khi da người là cách tốt nhất để phát hiện sự thay đổi nhiệt độ không khí từng phút một. Đồng không nói với ông già kế hoạch của mình, nó ấp ủ điều bí mật và hy vọng một ngày nào đó Nê Giang sẽ phải biết ơn tinh thần cảnh giác của nó.

Theo dự báo thời tiết, nhiệt độ ngày Hai mươi hai tháng Ba, cái ngày sau buổi phê đấu, sẽ lên trên điểm đóng băng, và đến giữa trưa gió không còn như cắt trên mặt nữa. Bọn trẻ con rời trường đầu trần, một số tung cao mũ lên trời rồi bắt lấy khi rơi xuống. Buổi tối, con Nhĩ Nhĩ về nhà với một cái găng tay màu hồng của con gái, có một lỗ thủng ở đầu ngón tay cái; Đồng đi thử, đúng cỡ bàn tay nó, nó vẫy vẫy ngón tay cái thò qua lỗ thủng, giả vờ làm con búp bê. Nó bảo Nhĩ Nhĩ là sáng hôm sau, chúng sẽ để cái găng cạnh pho tượng Mao Chủ tịch, nhỡ cô bé cũng thích quảng trường thành phố y như nó.

Sáng hôm sau, Đồng ra ngõ và thấy truyền đơn dán trên tường, trong tầm với nếu nó đứng lên một chồng gạch. Đồng bóc một tờ và đọc. Truyền đơn nói đến nhiều điều nó không hiểu, và hai ngày sau, nó lại thấy tờ truyền đơn khác trong ngõ. Cái cách chúng đến cửa nhà nó thật bí ẩn khiến Đồng hoảng sợ. Nó nhớ đến những bài học ở trường về các đảng viên cộng sản bí mật liều mạng tuyên truyền sự thực cho nhân dân, nhưng ở đất nước Trung Quốc mới, ai cũng sống sung sướng như trong hũ mật, giống như lời một bài hát mới chúng vừa học, họ phải dùng truyền đơn làm gì?

Đồng tự hỏi có thể nói với ai. Bố mẹ nó không khoái gì việc lắng nghe nó, còn thầy giáo ở trường vẫn giảng dạy như thể không có gì xảy ra. Nó vỗ vỗ con Nhĩ Nhĩ và nói chúng ta sẽ thành một đội, cùng nhau giải quyết điều bí mật này. “Hãy cho tao biết bất cứ cái gì đáng ngờ”, - Đồng nói. “Chẳng có gì là quá nhỏ nhặt hết”.

Nhĩ Nhĩ bồn chồn, lượn vòng quanh Đồng. Đồng không biết rằng những đêm trước, Nhĩ Nhĩ đã nghe thấy những tiếng bước chân rón rén trong ngõ, dừng lại rồi đi tiếp. Nhĩ Nhĩ nhảy lên thật cao và bám hai chân trước vào hàng rào, đánh hơi, nhưng trận dạy dỗ gần đây nhất khiến nó không dám sủa. Cả hai đêm cùng một người có mùi đất, mùi phân ngựa, mùi cỏ khô mùa đông và lúa mì mới gặt, làm Nhĩ Nhĩ nhớ đến làng quê nó. Cũng như Đồng và Nhĩ Nhĩ, người lạ ban đêm xuất thân nông thôn, nơi có lần Nhĩ Nhĩ đuổi theo một chú lợn con kêu eng éc cho đến lúc nó đâm sầm vào tấm thân to lù lù của con lợn nái, bình thản trước sự cuống cuồng của đứa con, nơi đã nhiều lần Nhĩ Nhĩ sủa những xe ngựa chạy qua, một người bán hàng rong đi nhờ, cái trống lúc lắc nảy tưng tưng, nhanh nhẹn trong bàn tay khéo léo, kêu tinh-tang, tinh-tang song không bao giờ át nổi tiếng sủa của Nhĩ Nhĩ và lũ chó bạn nó. Trong sáu tháng qua, Nhĩ Nhĩ đã gặp nhiều người từ các làng miền núi, mang theo mùi tuyết ngai ngái, mùi thông già, mùi da thỏ rừng mới thuộc và mùi nấm mới hái, khác hẳn với mùi quê nó ở đồng bằng. Người lạ ban đêm khiến Nhĩ Nhĩ bực bội.

Bực bội cũng là một yếu tố trong hội đồng thành phố, Thành ủy Đảng cộng sản Nê Giang và các cơ quan khác. Tờ truyền đơn đầu tiên là bức thư chất vấn phiên tòa xử lại Cố San, không gây xáo động nhiều lắm. Nó không hơn gì một sự khó chịu, vài người không hài lòng với cuộc sống vì lý do nào đó, dùng thân xác của người phụ nữ đã chết làm cái cớ gây rối. Thị trưởng quyết định đợi xem sao, và yêu cầu tăng cường giám sát vào ban đêm. Nhưng những người bảo vệ bổ sung cho phiên tuần tra khuya, rét mướt và đói, không thể tóm được kẻ dán những tờ truyền đơn thứ hai. Tờ truyền đơn thông báo cho nhân dân thành phố Nê Giang biết phong trào bức tường dân chủ ở Bắc Kinh bắt đầu là một trang mới trong lịch sử dân tộc; Tại sao họ chưa bao giờ có cơ hội nghe tin tức, biết những việc xảy ra ở thủ đô; Tại sao họ không được nói lên ý nghĩ của mình mà không bị xử chết như Cố San?

Tin tức về sự kháng nghị chỉ lọt tới một vài quan chức cao cấp, và sự liên hệ giữa cái chết của Cố San với tình hình ở Bắc Kinh dường như là một âm mưu nham hiểm, càng gay go hơn khi những người không kiên định nổi cơn thịnh nộ, tác động trở lại phong trào bức tường dân chủ không chỉ ở thủ phủ mà cả ở Bắc Kinh. Các chính khách địa phương ngày ngày đọc đi đọc lại tin tức về những tiến triển ở Bắc Kinh. Rõ ràng là có hai phe phái, cả hai đều là đại diện quan trọng trong Chính phủ trung ương và những vị lãnh đạo Đảng. Truyền đơn ở Nê Giang là sự xuất hiện bức tường dân chủ cách bảy trăm dặm? Nếu đúng là thế, thì họ nên chấp nhận khía cạnh nào? Câu hỏi đó khiến họ bối rối; họ, những người chưa từng bao giờ phải lo đến một bữa ăn, giường ngủ hoặc công việc. Cơ quan trở thành những bãi mìn, nơi người ta phải hết sức đề phòng, không ngừng xác định đi xác định lại bạn, thù, và những kẻ hoạt đầu có thể thoắt biến từ bạn sang thù rồi ngược lại. Số phận của họ và tương lai gia đình họ nằm trong tay họ, những người mộng du ban ngày và giật mình ban đêm. Họ phải làm gì với những tờ truyền đơn báo hiệu sự bất an này?

Trong giai đoạn chưa quyết định và do dự này, tuyết cuối đông bắt đầu tan. Mặt đất trở nên ít chắc chắn, bùn đen rịn ra trong nắng. Những cây liễu ven hai bên đường phố chính khoác màu vàng hoe một hoặc hai ngày, trước khi các chồi bật xanh. Đây là thời điểm xanh tươi nhất trong năm, sạch sẽ, tươi mới, bừng sáng. Các nam sinh trung học cắt ngọn cành liễu mềm, rút lõi, biến vỏ ngoài thành những cây sáo liễu. Vài nhạc công kiểu này thổi những giai điệu đơn giản làm bọn con gái cùng tuổi mỉm cười.

Ban đêm, băng trên sông kêu ùng ục cưỡng lại mùa xuân, nhưng ban ngày tan ra dưới nắng. Bọn con trai bất chấp những lời nhắc nhở, răn đe của nhà trường và cha mẹ, để mặc băng đưa chúng xuôi dòng, bàn chân chúng đặt vững vàng hết mức trên băng, và khi những tảng băng đến gần hơn, chúng đẩy nhau ngã tùm xuống nước. Thỉnh thoảng, một đứa mất thăng bằng và ngã nhào xuống sông, những đứa khác đứng như trời trồng và la hét, tạo thành những âm thanh như súc vật. Thằng bé ướt đẫm né tránh những tảng băng trôi, trườn lên bờ và chạy về nhà, cũng cười vì thất bại loại này chẳng làm nó bận tâm. Việc tương tự dễ xảy ra với bất cứ ai; ngày hôm sau, nó có thể là một trong những đứa thắng cuộc, cười đứa khác bị ngã. Đây là một trò chơi, chẳng có gì bảo đảm cho thắng lợi cũng như thất bại lâu dài và thường chỉ kéo dài một sớm một chiều.

Xuống núi và băng qua cây cầu bắc ngang sông, những người dân sơn cước mang theo những con gà, vịt mới nở trong các giỏ tre, mẻ rau dớn đầu tiên do bàn tay bé nhỏ của bọn trẻ con vừa địu em trên lưng vừa hái, con hươu không thoát khỏi viên đạn chì của thợ săn và lúc này được phanh ra làm nhiều loại: gạc, da, thịt sấy khô, các chi và gân được coi là rất bổ cho đàn ông trong chuyện giường chiếu.

Tháng Tư đến cùng tiết Thanh minh, ngày lễ đầu tiên được chờ đợi trong mùa, ngày người dân dâng cúng tổ tiên và người thân mới mất những ổ bánh nóng nghi ngút khói, điểm thêm măng tây xuân, rượu gạo mới cất và nhiều đồ cúng khác. Là dân di cư đến một thành phố mới xây dựng, dân chúng Nê Giang không có đất chôn gia đình hoặc tổ tiên gần đó để thăm viếng, nên Thanh minh trở thành một ngày lễ với cả người chết lẫn người sống. Các hiệu thuốc và những người bán hàng rong đã chuẩn bị nến, hương và cả phẩm nhuộm màu xanh để bán, vì Nê Giang chưa thấy măng tây thật cho đến tận sau ngày lễ. Phụ nữ mua những miếng thịt ngon nhất làm món nguội trong dịp đi chơi ngày lễ; đàn ông tra dầu, lau xe đạp chuẩn bị cho cuộc đi chơi xuân hàng năm. Dù chính quyền thành phố đã thông báo chính sách mới, hủy bỏ Thanh minh là ngày lễ - giao lưu với người chết dưới bất cứ hình thức nào cũng là hoạt động mê tín dị đoan, không thích hợp với thời đại mới, khi đất nước đang tái kiến thiết sau Cách mạng Văn hóa -, ngày lễ năm nay rơi đúng Chủ nhật, nên ảnh hưởng của chính sách mới với dân chúng rất hạn chế.

Cha mẹ Nhược Nhược quyết định năm nay sẽ tổ chức lễ Thanh minh như một dịp đặc biệt. Họ cần được tổ tiên phù hộ hơn bao giờ hết. Trong những năm qua, họ hiếm khi nghĩ đến những người đã khuất, chắc là được những người họ hàng hiếu thảo hơn ở quê nhà hương khói; tuy vậy, không người nào từ chối một món dâng cúng bổ sung. Ban đêm, bố mẹ Nhược Nhược tính toán và bàn bạc đồ cúng tổ tiên, nếu tổ tiên hài lòng chắc chắn sẽ phù hộ cho họ có đứa con trai nối dõi.

Nhược Nhược không thể nhớ có những chuẩn bị tương tự cho những lần sinh của bất cứ đứa em gái nào. Từ khi con gái ông bà Cố bị hành hình, bố mẹ nó nhìn nhận cuộc sống vui vẻ hơn. Mẹ Nhược Nhược đi lại hết sức thận trọng, hai bàn tay ôm vòng quanh bụng. Bố Nhược Nhược hay sờ lên bụng vợ, cái kiểu làm Nhược Nhược rùng mình vì ghê tởm nhưng vẫn không thể rời mắt khỏi bàn tay khớp đốt to tướng trên người mẹ nó. Nó cứ nhìn mãi, cho đến khi một trong hai người, thường là mẹ nó bắt gặp cái nhìn chòng chọc của nó và sai nó đi làm việc vặt trong nhà. Bố Nhược Nhược cấm mẹ nó làm bất cứ việc gì, kể cả việc gấp hộp diêm chẳng ảnh hưởng gì đến đứa bé. Hiện tại Nhược Nhược bị giao phó toàn bộ việc nhà, vừa kiếm than, nhặt lá rau thừa, vừa mua bán tạp phẩm, nấu ba bữa ăn một ngày và giặt giũ cho cả nhà. Nhược Nhược nói toẹt ra rằng nếu mọi người đợi nó nhặt than từ ga về rồi nấu bữa sáng, sẽ muộn giờ làm và đi học; bố mẹ nó sửng sốt thấy nó dám cãi lại, nhưng điều Nhược Nhược nói là thật nên họ phải giao việc đó cho đứa con gái thứ hai, khiến nó căm ghét Nhược Nhược hơn bao giờ hết.

Trừ đứa bé nhất, tất cả mấy cô bé đều cảm nhận được tầm quan trọng của lần thai nghén này. Mỗi ngày hai lần, mẹ Nhược Nhược oẹ và nôn vào cái bô, còn Nhược Nhược có nhiệm vụ phải cọ sạch. Đứa em gái thứ nhất và thứ hai của nó phải nhanh chóng lấy nước ấm và khăn sạch cho mẹ. Nhược Nhược đứng nhìn, kinh hoảng vì cái mùi chua loét, hăng xè của mẹ nó lan khắp cuộc sống của họ. Dù hiện giờ trời đủ ấm để mở cửa sổ, song mùi đó hình như bám lấy từng thứ trong phòng, thấm vào chăn đệm, gối, trên giường gạch, bữa ăn Nhược Nhược nấu, quần áo chăng từ đầu này đến đầu kia căn phòng, thậm chí cả trên da Nhược Nhược. Tuy nhiên, hai đứa em gái không xun mũi khi chăm sóc mẹ, và được bố Nhược Nhược khen ngợi. Ông bảo, rốt cuộc thì học vấn đã biến chúng thành những con người biết điều và có ích. Mẹ nó thì bảo, Nhược Nhược tuy lớn nhất nhưng vẫn là một đứa ngu, vô tích sự. Nhược Nhược lắng nghe, mặt lạnh như tiền; nó cắn vào bên trong miệng và nhìn xoáy vào kẽ nứt trên sàn. Thái độ này làm mẹ Nhược Nhược nổi nóng, nhưng khi bà tìm thứ gì đó để đánh Nhược Nhược, cái chổi hay cái thước chẳng hạn, bố Nhược Nhược ngăn lại. Ông bảo chẳng bõ cho bà bực mình với Nhược Nhược. Bây giờ bà cần chăm sóc đứa con, bà quá giận sẽ làm ông mếch lòng.

Mẹ Nhược Nhược bằng lòng, bà bảo nó giấu cái mặt xấu xí đi, để bà đỡ phải nhìn thấy. Thay vì hành động ngớ ngẩn như nó thường làm, Nhược Nhược cố nhìn khắp căn phòng bé tí, đông đúc tìm chỗ nấp rồi bế bé Sáu lên và vùi nửa mặt vào cái bụng mềm mềm của đứa trẻ.

Một đêm, Nhược Nhược nghe lỏm bố mẹ nó bàn ở đầu kia của cái giường gạch xem có nên gửi Nhược Nhược đi đâu đó vài tháng, với niềm tin phổ biến là người mẹ mang thai sẽ vô tình truyền những nét về thân thể của những người xung quanh cho thai nhi. Mẹ Nhược Nhược không muốn đứa bé thừa hưởng bất cứ rủi ro nào của Nhược Nhược; liệu có chỗ nào gửi nó đi vài tháng không? Bà hỏi.

Chẳng có chỗ nào đâu, bố nó đáp. Lát sau, mẹ nó nói:

- Giá chúng mình giết quách nó lúc mới sinh.

Bố Nhược Nhược thở dài:

- Nói thì dễ nhưng làm thì khó, - ông nói. - Một mạng là một mạng, chúng ta đâu phải kẻ giết người.

Mắt Nhược Nhược nóng và ướt. Vì câu này, khi đến lúc chôn cất cha mẹ, nó sẽ tắm rửa cho ông bằng nước nóng chứ không phải bằng nước lạnh. Ông không bao giờ nói với nó quá ba câu mỗi ngày, nhưng ông vốn là người ít nói, và nó tha thứ cho ông. Tuy vậy, khoảnh khắc khờ khạo chỉ kéo dài đến câu sau của bố nó:

- Vả lại, - ông nói, - Nhược Nhược giống như một đứa hầu chúng ta không phải trả công.

Lặng lẽ, Nhược Nhược tắt lửa và đổ đầy chậu nước lạnh như đá.

Bé Tư và bé Năm vừa hình thành một liên minh mới và không tham gia nhiều vào cuộc sống bên ngoài thế giới bí mật của chúng, chúng nắm tay và quan sát mẹ biểu diễn cơn buồn nôn mỗi buổi sáng và chiều. Chúng ít quấy Nhược Nhược vì chúng chẳng bao giờ muốn bố mẹ chú ý; hoặc chúng chưa đủ lớn hoặc đã có mọi thứ với nhau rồi. Vài lần, Nhược Nhược nghĩ đến việc bầu bạn với chúng, nhưng cả hai đứa tỏ ra không khoái, cái nhìn tò mò của chúng xoáy lên mặt Nhược Nhược, nhắc nó biết rằng nó sẽ không bao giờ xinh xắn như các em nó, cho đến lúc này rõ ràng là hai đứa lớn lên sẽ thành hai cô gái đẹp nhất nhà.

Nhưng tất cả những việc này - sự nôn nóng của bố mẹ, mưu đồ của hai đứa em lớn để nó bị phạt, sự lãnh đạm của bé Tư và bé Năm - không làm Nhược Nhược rối trí bằng Bát Thập. Nó thể hiện sức mạnh của nó bằng một niềm vui thầm kín. Nó nêm muối vào món hầm nhiều hơn cần thiết, hoặc thêm nửa chén nước vào nồi cơm. Nó thấm đẫm quần áo của cha mẹ vào xút rồi phơi khô, không giũ. Nó nhổ nước bọt vào khăn quàng đỏ của các em gái và vò tã đầy nước đái của đứa bé cùng với áo của mẹ. Không ai để ý đến những hành động phá hoại ngầm này, nhưng trong những lúc liều lĩnh nhất, Nhược Nhược mong bị phát hiện. Nếu bố mẹ định đá nó ra khỏi nhà, nó sẽ dọn đến nhà Bát Thập ở bên kia thành phố, gần nửa giờ đi bộ và là một nơi cách biệt, thoát khỏi kiếp sống như tù của nó.

Tuy vậy, công việc nội trợ chất thêm lên vai làm nó không có nhiều thời gian với Bát Thập ban ngày. Ngoài cung cấp than và rau, Bát Thập không có phép thuật gì để bữa ăn, giặt giũ, nhóm lò hoặc trông nom các em tự xong. Gã gợi ý đến nhà Nhược Nhược và giúp nó khi bố mẹ nó đi làm. Nó nghĩ đến việc đó, cám dỗ và kích thích, rồi từ chối. Không được để bố mẹ nó nghe được về sự có mặt của Bát Thập, nếu không từ hàng xóm thì từ các em gái nó, nhất định họ sẽ tống khứ nó đi ngay, không thương tiếc. Bất chấp mọi mơ tưởng của nó, Bát Thập có là chỗ dựa vững chắc không? Nhược Nhược quyết định cho gã thêm ít thời gian.

Một giờ ngắn ngủi buổi sớm trở thành thời gian hạnh phúc nhất của nó trong ngày. Sáu giờ sáng, khi nó đến, Bát Thập thường dọn sẵn bữa: lạp xường, đậu phụ rán, lạc rang, tiết lợn đông, tất cả mua ở chợ hôm trước, nhiều đến mức chúng không thể ăn hết. Nhược Nhược nhóm lửa - dường như Bát Thập không thể tự làm được việc này - và nấu cháo trên bếp lò, thế là thành một bữa sáng thịnh soạn, Bát Thập ngồi cạnh nó bóc hạt đậu đông lạnh. Thịt hạt đậu màu nâu sẫm, vô vị, nhưng khi Bát Thập thái thành từng lát mỏng và đút vào miệng Nhược Nhược, nó ngạc nhiên thấy đậu giòn và ngọt. Sự lạnh lẽo trong miệng và hơi ấm từ bếp lò cháy bập bùng khiến nó rùng mình vì niềm vui kỳ lạ. Đôi khi, ngón tay gã cứ để trên môi nó ngay cả sau khi lát đậu đã biến mất. Nó há to miệng, giả vờ cắn; gã cười và rụt tay lại.

Buổi sáng trước tiết Thanh minh, giữa hai lát đậu đông lạnh, Bát Thập nói:

- Già Hoa bảo giờ đến lúc chôn bà tao rồi.

- Bao giờ? - Nhược Nhược hỏi.

- Ngày mai. Họ nghĩ chôn vào ngày lễ là có ý nghĩa lắm.

Hình như ai cũng có điều gì đó quan trọng trong ngày Thanh minh, Nhược Nhược nghĩ. Bố nó đã đặt một xe xích lô, một sự xa xỉ mà họ chỉ vừa đủ để trang trải. Bé Tư, bé Năm được đi cùng mẹ và một cái sọt to đựng đồ cúng, trong khi hai đứa lớn hơn đi bộ cùng bố nó. Nhược Nhược và đứa bé nhất ở nhà vì không sao theo kịp họ. Nhược Nhược thấy khó mà không thất vọng, đây là cuộc đi chơi duy nhất gia đình nó dự định từ lâu, và nó thèm được lên núi là nơi nó chưa bao giờ được đặt chân tới, dù như thế có nghĩa là nó phải ở bên gia đình nó suốt cả ngày.

- Anh định chôn bà ở đâu? - Nó hỏi Bát Thập.

- Cạnh mộ ông nội và bố tao. Già Hoa bảo hôm nay ông ấy sẽ đến đó để biết chắc mọi việc đã sẵn sàng.

- Em không biết Nê Giang là quê anh.

- Gần đây thôi. Ông nội tao là người đào nhân sâm. Ông bảo những củ sâm tốt nhất là những củ có hình dạng người đàn bà.

- Nhảm nhí.

- Sììì. Không được nói thế về người đã chết, - Bát Thập nói. - Các hồn ma có thể nghe thấy đấy.

Nhược Nhược rùng mình.

- Mà thật đấy. Có những củ sâm trở thành phụ nữ đấy, - Bát Thập nói. Gã nhét lát cuối cùng vào miệng Nhược Nhược và bảo nó đợi. Ngay sau đấy, gã từ phòng ngủ ra, cầm cái hộp bọc lụa đỏ và mở ra cho Nhược Nhược. Bên trong là một củ nhân sâm bày trên lớp lụa trắng ngà. - Nhìn này, đầu, cánh tay, chân. Tóc dài nữa này, - Bát Thập nói và lướt ngón tay khắp củ sâm, còn Nhược Nhược sửng sốt thấy trông củ sâm giống hệt thân người đàn bà không quần áo. - Đẹp không, hả? - Bát Thập nói. - Đây là củ tốt nhất ông nội tao đào được. Nếu ông bán nó đi, ông có thể mua được bảy nàng hầu, nhưng ông không muốn xa nó. Ông bảo đây là nữ thần sâm. Khi binh lính đến, ông bà đã cầu nguyện nữ thần đừng đưa bố tao đi cùng, nhưng lẽ tất nhiên nữ thần đã bỏ rơi họ.

- Anh bảo bố anh là một anh hùng cơ mà?

- Anh hùng là thứ nhảm nhí. Mày có biết bố tao được tuyển như thế nào không? Người ta đến làng và mời tất cả thanh niên vào một ngôi nhà để ăn tối. Nếu có người mời đến ăn tối mà dí súng vào đầu thì phải đi thôi. Thế là bố tao cùng các thanh niên khác đến. Họ được mời ăn một bữa thịnh soạn rồi bảo ngồi lên một cái giường gạch lớn. Một cậu lính đốt lửa dưới gầm giường, cho thêm củi, và một lúc sau cái giường gạch trở nên nóng rẫy. Giống như vỉ nướng thịt ấy, mày hiểu không? Viên sĩ quan nói: “Các anh em, chúng tôi là Giải phóng quân Nhân dân và chúng tôi đấu tranh vì nhân dân. Hãy nghĩ đến điều đó. Nếu các anh em quan tâm đến sự nghiệp của chúng tôi, hãy tụt xuống và anh em sẽ trở thành thành viên vẻ vang của chúng tôi”. Không một ai nhúc nhích. Tất nhiên là cha mẹ họ đã dặn đừng gia nhập quân đội; họ bảo quân đội Cộng sản sẽ không ghi tên ai vào lính bằng cách chĩa súng như quân đội Dân tộc chủ nghĩa. Mà đúng thế, viên sĩ quan rất lịch sự. Ông ta bảo cậu lính đốt giường ấm hơn cho các vị khách, và một cần vụ mang trà nóng và thêm lá thuốc vào tẩu cho họ. Giờ thì thử nói xem mọi người sẽ làm gì nào? Cử động hay ngồi yên trên giường cho cháy mông? Một lúc lâu sau, bố tao không thể chịu nóng được nữa và tụt xuống khỏi giường. Ông là người đầu tiên, vì thế ông được phong cấp cao hơn hẳn các bạn, sau này người ta cử ông học lái máy bay chiến đấu. Những người còn lại chỉ là lính bộ binh và cần vụ.

- Sau đó tất cả tụt xuống hết chứ?

- Tất cả, trừ một người. Bạn thân nhất của bố tao. Mông ông ấy bị bỏng nặng nên suốt đời bị gọi là “Bỏng Mông”.

Nhược Nhược mỉm cười. Bát Thập hay kể chuyện, và nó không bao giờ hỏi đâu là thật, đâu là bịa.

- Sao? Không tin à? Cứ hỏi mọi người trong làng xem! Họ bảo bố tao khôn vì sớm tụt khỏi giường và được đề bạt nhiều nhất, nhưng có đi đến đâu nào? Với lại, Bỏng Mông hết đời ở nơi chẳng tử tế gì. Ông ấy bị hành hình năm 59 vì tội phá hoại. Ông ấy và bố tao chết trong cùng một tháng. Người ta bảo bố tao bị hồn ma của ông bạn kéo đi. Tao đã kể cho mày nghe chuyện này chưa?

Nhược Nhược lắc đầu.

- Chỉ có một nơi duy nhất cho mọi người đi đến.

Nhược Nhược cố hình dung bà nội Bát Thập, thân hình khô quắt như một củ nhân sâm và hồn ma của bà đang lơ lửng trong không khí nghe trộm hai đứa. Nó múc cháo vào một cái bát:

- Này, anh ăn nhiều vào và nói ít đi, - nó bảo Bát Thập. Hồn ma của bà lão sẽ hài lòng khi thấy cháu mình được săn sóc chu đáo.

Chúng ngồi xuống và ăn. Sau một lát im lặng, Nhược Nhược nói:

- Ngày mai gia đình em lên núi.

- Để làm gì? Gia đình mày có chôn cất tổ tiên ở đây đâu, - Bát Thập nói. - Trên núi không có bưu điện để gửi đồ cúng đâu.

- Họ chỉ lấy cớ để phung phí tiền nong và lên núi cho vui thôi.

- Giống các nhà khác thôi. Mày có đi không?

- Em ấy à? Mặt trời mọc đằng Tây họ mới cho em đi.

Bát Thập gật, rồi ngừng gắp, gã nhìn Nhược Nhược và mỉm cười đầy ẩn ý:

- Vậy là mày sẽ ở nhà, và... một mình.

- Với đứa em mới sinh.

- Nó có thể ngủ ở đâu đó chứ? - Bát Thập hỏi.

Tim Nhược Nhược lỡ nhịp.

- Nhưng anh cần chôn bà anh.

- Mày tưởng bà bực mình nếu tao không làm à?

- Vâng, - Nhược Nhược nói. - Đừng để bà bực.

- Nhưng tao có thể bị ốm và không thể đi đưa ma được.

Nhược Nhược cười. Nó hài lòng thấy vong hồn bà lão không đua tranh với nó. Vì nhún nhường và thận trọng, nó gợi ý Bát Thập nên mua ít tiền vàng cho vong hồn bà già phòng khi bà giận, và gã đồng ý rằng đấy là ý hay. Càng bàn bạc, hình như chúng càng thấy đây là cơ hội hoàn hảo, Nhược Nhược nghĩ, trong lòng nó nặng trĩu dây xích ràng buộc và không thể lầm đường lạc lối thành người khác được.

- Anh giải quyết con chó của lão Keng đến đâu rồi? - Nhược Nhược hỏi. Nó không tin bất cứ câu gì gã nói về con chó, nhưng nói đến điều làm gã vui dường như là một việc nghiêm túc.

Tốt, Bát Thập nói. Nó đã cho con chó ăn chân giò muối, thịt nướng tẩm rượu mạnh và bây giờ nó đã thành bạn của gã; Bát Thập nói gã đã sẵn sàng thử vụ đầu độc con chó có ông chủ ngông cuồng như Keng. Nhược Nhược hờ hững lắng nghe và chăm chú ăn.

- Tất nhiên là thật khó được đền đáp, - Bát Thập nói. - Trong lúc thanh toán con chó của lão Keng, tao đã thấy một thứ thú vị hơn. Mày có nhìn thấy xác mụ ta không? Một số người trong thành phố đang cố tổ chức cuộc phản đối vì mụ ta.

Miếng tiết đông trượt khỏi đũa của Nhược Nhược rơi vào bát cháo.

- Sao lại thế? - Nhược Nhược hỏi. - Cô ấy chết rồi còn gì?

- Nếu mày hỏi tao, thì dân chúng hóa rồ chẳng vì lý do gì, - Bát Thập nói. - Mày đã nhìn thấy truyền đơn dán khắp thành phố chưa?

Nhược Nhược nói nó không để ý, rồi nó nhớ lại câu chuyện thì thào giữa bố mẹ nó trên giường. Có lần bố nó bảo dùng xác chết là một mánh khóe phổ biến và không tìm ra bọn gây rối ở đâu hết; lần khác ông bảo họ đã có thắng lợi và công lý của mình. Cả hai lần mẹ nó đều nguyền rủa bằng những lời nặng nề thường lệ.

- Những người ấy là ai? - Nhược Nhược hỏi.

- Họ thuộc một nhóm bí mật, ban đêm đến với đầu lâu trắng hếu.

Nhược Nhược rùng mình, dù nó biết chắc là Bát Thập nói phóng đại.

- Họ quan tâm gì đến cô ta?

Bát Thập nhún vai:

- Có lẽ vong hồn của mụ ta trở lại và tung ra phù chú nên hiện giờ dân chúng mới bị mê hoặc và làm việc vì mụ ta.

- Nhảm nhí, - Nhược Nhược nói, giọng lo sợ.

- Thế vì sao mà những người này hành động như những đồ ngu thế?

Nhược Nhược nghĩ đến bà Cố, sự dịu dàng trước kia và sự thay đổi thái độ đột ngột của bà. Trong vài tuần qua, Nhược Nhược đã đứng bên cửa nhà ông bà Cố mấy lần, nhưng cả hai ông bà đều không ra gặp nó. Có lẽ bà Cố đã bị hồn ma của con gái phù chú và trở thành một người đàn bà quá đáng.

- Bà già ấy, - Nhược Nhược rầu rĩ nói. - Bà ấy ghét em.

- Ai?

- Mẹ của cái cô bị xử tử.

- Mày đã làm gì bà ta?

- Làm sao em biết được? - Nhược Nhược nói. - Người ta ai cũng ghét em.

- Không phải tao, - Bát Thập nói. - Tao mến mày.

- Bây giờ anh nói thế thôi, - Nhược Nhược nói. - Ai mà biết đến lúc nào anh lại thay đổi?

Bát Thập thề chuyện đó sẽ không bao giờ xảy ra, nhưng Nhược Nhược chẳng còn lòng dạ nào mà nghe nữa. Nó đột ngột nói đến lúc nó phải về, và Bát Thập chưa kịp phản đối, nó đã vào thẳng bếp tự nhặt lấy than. Bát Thập gãi đầu, năn nỉ Nhược Nhược cho gã biết gã đã làm gì để nó mếch lòng. Nhược Nhược thấy sự sốt sắng làm vui lòng nó thật buồn cười. Nếu gã muốn nó cười, nó sẽ cười, nhưng cái kiểu loay hoay như kiến trong chảo nóng khiến nó vui vui. Nó hẹn ngày mai, sau khi cha mẹ nó và các em gái đi rồi, nó sẽ trở lại.

- Lúc đó anh có thể nói ý kiến của anh, - nó nói và bỏ đi, trước khi Bát Thập có dịp bào chữa.

Ông giáo Cố nằm viện mất hai tuần và ra viện trước tiết Thanh minh, cùng các bệnh nhân khác xin về nhà nghỉ lễ. Bàn tay trái của ông đã hồi phục tốt, chỉ chân trái vẫn phải chống gậy và ông có thể đi lại chầm chậm. Bà Cố thuê xe xích lô, và trên quãng đường ngắn ngủi từ bệnh viện về nhà, ông giáo Cố thấy vài người dừng lại nhìn họ đi qua, một số gật đầu chào, thậm chí có người còn giơ tay vẫy trước khi gãi đầu, dường như họ ngượng nghịu vì cử chỉ của mình. Bà Cố cũng lén lút gật đầu đáp lại, nhưng không thoát khỏi mắt ông giáo Cố. Ông kéo tấm chăn đang tuột khỏi chân, và vợ ông giật mình, như tỉnh giấc mơ và cúi xuống đắp lại.

- Không có giày ống chắc mình lạnh lắm, - bà nói. Bà tháo găng và đút bàn tay vào tấm chăn ủ chân cho ông. Qua lớp bít tất vải, ông cảm thấy hơi ấm của lòng bàn tay bà. - Bác sĩ bảo tránh đi giày để tuần hoàn máu đỡ bị trở ngại, - bà nói, như dỗ một đứa trẻ. - Chúng ta sắp đến nhà rồi.

Ông giáo Cố nhìn xuống bàn chân giấu kín trong tấm chăn len cũ in đôi phượng hoàng màu đỏ và vàng đã bợt. Đó là món quà của người vợ đầu tặng, ngày ông đến Nê Giang hồi còn là một thị trấn nhỏ, chưa phát triển, lý tưởng nhất cho cảnh sống lưu vong của ông. Tấm chăn với màu sắc và họa tiết lòe loẹt như lăng mạ khiếu thẩm mỹ của ông, và ông nhớ đã ném trả người đàn bà quyết không làm vợ ông nữa. Bà ta đã nhặt lên và gói lại, cho vào vali của ông. Bà bảo đây là lúc họ phải tin vào thứ bớt trí tuệ hơn; thật sai lầm là họ vẫn mù quáng tin vào tri thức của họ.

Ông đáp lại, đi mà ve vãn chủ nhân vô sản dốt nát của bà, phản công lại cơn thịnh nộ và tự thán của bà. Nhưng sau này, khi trấn tĩnh lại, ông bối rối vì lời lẽ của người vợ đầu. Luôn là người khôn ngoan, bà chọn phe thắng ngay cả trước khi cuộc nội chiến nghiêng về bên này hay bên kia. Còn ông là người mơ mộng hão huyền, sống trong tháp ngà cho đến khi lệnh trục xuất ném thẳng vào mặt.

Đây là lúc phải gạt chủ nghĩa tri thức lại đằng sau. Khi đã ổn định ở Nê Giang, ông giáo Cố nhớ lại những lời của bà và quyết định dạy các lớp ban đêm dành cho phụ nữ mù chữ. Ông nhìn thấy công lao của ông trong sự tiến bộ của họ, không phải như một người trí thức mà như một con kiến thợ, tha từng hạt cát nhỏ nhất từ trên núi, xếp giữa dân chúng của ông và một xã hội văn minh, khai sáng. Đêm tân hôn với người vợ thứ hai, ông lấy tấm chăn ra; ông bảo với cô dâu trẻ, đây là quà tặng của một người bạn cũ. Ở các thị trấn tỉnh lẻ, tấm chăn len vẫn là một của hiếm, một quà tặng đắt tiền. Vợ ông thích mê mẩn, và trong vài năm đầu, bà để dành và chỉ dùng trong những dịp đặc biệt, những ngày lễ hoặc các dịp kỷ niệm và tháng đầu tiên trong năm mới. Nhưng cũng như mọi thứ được yêu quý trong cuộc hôn nhân mới, qua bao năm tháng tấm chăn đã mất ý nghĩa ban đầu và hiện giờ được dùng cho các lý do thực tế, nó là tấm chăn ấm áp, rất có ích cho sáu tháng mùa đông khắc nghiệt ở Nê Giang.

Khi họ về đến ngõ, xích lô dừng lại, nó quá to không vào được đến cửa nhà ông bà Cố. Ông giáo Cố từ từ, tập tễnh về nhà trong lúc vợ ông trả tiền người phu xe. Vài con gà dạt sang một bên và ngắm ông giáo Cố, còn ông nhận ra hai con gà mái của nhà trong đám đó. Ông đẩy cánh cổng và thấy một đống củi đã cưa, xếp gọn gàng. Một phụ nữ trẻ nghe tiếng bước chân ông và ra khỏi nhà. Cô nói, họ về vừa đúng giờ ăn trưa.

Ông giáo Cố quan sát người này. Cô ta xấp xỉ ba chục, mái tóc để thẳng, dài vừa phải phủ kín gáy, rẽ ngôi lệch, cài cái cặp tóc. Cô mặc áo khoác kiểu lãnh tụ màu xám, quần xám sẫm hơn. Ngay từ cái nhìn đầu tiên, đã thấy cô có diện mạo chuẩn của một phụ nữ trẻ có chồng, phong thái đoan trang, là một người vợ đáng mong đợi, không muốn lộ nữ tính và vẻ đẹp với bất cứ người lạ nào. Một góc chiếc khăn quàng bằng sa mỏng màu hoa đào lộ ra ngoài cổ áo lãnh tụ, có lẽ là cố ý. Ông giáo Cố liếc nhìn cái khăn. Trong đêm tân hôn với người vợ đầu, bà mặc xiêm y lụa màu này, hoa đào là màu sắc ưa thích của bà.

Người phụ nữ mỉm cười, hàm răng rất trắng và đều tăm tắp:

- Ông khỏe chứ ạ, thưa ông giáo Cố?

Ông không đáp. Ông nhận ra người phụ nữ này xinh đẹp hơn cố ý ra vẻ bình thường.

- Cô là ai? - Ông hỏi, giọng không thân thiện.

- Đây là cô Khai, - bà Cố vừa vào cổng vừa nói. - Cô ấy là người đọc các bản tin.

- À, ra là cô, - ông giáo Cố nói. Không thể quên được giọng nói của cô, có thể so với bầu trời thu đẹp nắng, một dòng suối trong trẻo vào mùa xuân hoặc bất cứ mọi thứ ví von rỗng tuếch khác có thể dùng cho một nữ phát thanh viên, từ đài trung ương đến địa phương tất cả đều được lựa chọn kỹ càng vì thiếu sự độc đáo trong giọng nói. Thật đáng buồn, người này có thể thay thế người kia dễ dàng vì giọng nói gần như giống hệt nhau, ông giáo Cố nghĩ. Nghề ấy chắc nhàm tẻ lắm, hết ngày này sang ngày khác nói toàn những lời chẳng phải của mình. Nhưng ông có quyền gì mà coi thường cô? Theo ông biết, công việc này có thể mang lại cho cô tiếng tăm.

- Giọng cô hay lắm, - ông giáo Cố nói. - Thật vinh dự là người phát ngôn của Đảng.

Một khoảng ngừng ngắn trước khi Khai ngại ngùng gật đầu. Bà Cố quan sát cả hai rồi đặt bàn tay lên cán tay ông.

- Chắc mình mệt rồi. Mình ăn một chút rồi nghỉ nhé? - Bà nửa đỡ nửa kéo ông vào nhà. Ông giằng ra, mạnh hơn dự định, để thoát.

Khai bưng xoong gà hầm lên bàn và hỏi thăm ông giáo Cố chặng đường về nhà. Ông không trả lời. Ông chẳng còn lòng dạ nào mà chuyện phiếm, dù với vợ hay với người lạ. Trong hai tuần nằm viện, nhiều lần ông đã thầm nói chuyện với người vợ đầu tiên, lúc tranh luận, lúc cãi cọ, ông không muốn bị ai ngắt lời.

Bà Cố khẽ xin lỗi Khai, bà nói chuyến đi có thể làm ông mệt mỏi. Khai đáp không sao, dù thế nào, cô cũng nên ra về vì có vài việc phải làm. Ông giáo Cố trở lại với nỗi ưu tư của mình, song người phụ nữ trẻ kia đã làm ông nhãng trí. Ông ngước nhìn và ngắm kỹ mặt cô:

- Cô là học sinh của tôi, phải không? - Bất chợt, ông nói khiến cả bà Cố lẫn Khai sửng sốt.

- Cô Khai không sinh trưởng ở Nê Giang, - bà Cố nói, và giải thích rằng Khai trở thành phát thanh viên sau khi rời đoàn kịch trên tỉnh.

Ông giáo Cố nhìn Khai chăm chú. Bà Cố nói bà đi dọn giường, nhỡ ông muốn nằm nghỉ chốc lát trước khi ăn trưa.

Suốt ba chục năm qua, ông đã dạy hàng trăm học sinh, chỉ gần đây giống như mọi người già khác, ông mới lẫn lộn tên và mặt họ. Càng hay quên đoạn đời gần đây, những hồi ức trước kia của ông càng sắc nét.

- Cô là học sinh của tôi, - ông giáo Cố nhắc lại.

Trông Khai bứt rứt:

- Cháu đã học lớp một của ông hai tháng trước khi chuyển đi, - Khai nói.

- Hồi đó là bao giờ?

- Một ngàn chín trăm sáu mươi.

Ông giáo Cố nheo mắt và tính:

- Không, đấy là năm 1959. Cô học cùng lớp với San.

Bà Cố quay sang Khai, trông cô xúc động, và trong giây lát không ai nói gì. Ông giáo Cố thử nhớ lại thêm về Khai, nhưng ông chỉ nhìn thấy San học lớp một năm 1959, một cô bé gày gò có hai đuôi sam mỏng, đuôi tóc vàng hoe như cỏ héo, một đứa trẻ thiếu ăn giữa bao đứa trẻ đói khát trong nạn đói kéo dài ba năm liền trước khi đất nước nới lỏng sự kiềm chế.

Bà Cố là người trấn tĩnh trước. Bà múc món hầm vào bát:

- Cô Khai mang gà và hạt dẻ đến đấy, - bà nói.

- Tại sao cô chuyển trường? - Ông giáo Cố hỏi.

- Cháu được chọn và gửi đi học trường Sân khấu thiếu nhi, - Khai nói.

Ông giáo Cố khịt mũi:

- Tôi hình dung hồi ấy cô được nuôi nấng đầy đủ vì là một ngôi sao được chọn, - ông nói. Có một cái gì đó trong người phụ nữ này khiến ông khó chịu, giọng nói của cô, cô cùng tuổi với San nhưng có nghề nghiệp bảo đảm và một cuộc sống dư dật, cô đã xông đến nhà ông, nói dối vợ ông là chưa hề gặp San. Hồi ấy, con gái ông mới lên bảy, nó ngước nhìn ông bằng cặp mắt nài nỉ khi ông chia bữa ăn đạm bạc dành từ khẩu phần của ông cho những đứa trẻ trong những gia đình đông con và đói hơn con gái ông. Những đứa bé ấy lớn lên trở thành những thanh niên nguy hiểm nhất, đầu óc chúng trống rỗng và háo hức tiếp thu y như miệng chúng, chúng ngốn ngấu bất cứ thứ gì người ta cho chúng ăn, xấu, tốt và tai ương.

- Cô đã từng biết đói bao giờ chưa? - Ông giáo Cố nói với Khai, không giấu vẻ thù hận.

- Dù là ai cũng là khách trong nhà ông, - bà Cố nói, giọng không tán thành. - Hôm nay ông đừng cư xử như một chủ nhà tồi.

- Chắc lúc này ông giáo mệt rồi ạ, - Khai nói. - Cháu sẽ trở lại nói chuyện với ông sau.

Ông không trả lời người nào. Ông loạng choạng rời ghế và vào phòng ngủ. Lò đã cháy rực, và ông kinh ngạc thấy mình mệt lử vì nóng. Ông lắng nghe vợ ông xin lỗi Khai, và Khai đáp là cô hiểu, và không, cô không để tâm tẹo nào. Ngay sau đó, không thể nghe thấy câu chuyện nữa. Ông giáo Cố nhìn lên đồng hồ trên tường. Ông tự hỏi vợ ông nhớ đến người chồng đau ốm bao lâu mà đốt lò quá nóng và khó chịu đến thế vào lúc giữa trưa một ngày xuân.

Ông giáo Cố đếm được bảy phút trên đồng hồ thì bà Cố vào, bưng bát thịt hầm chưa hề đụng tới.

- Mình nên ăn một chút, - bà nói.

- Người đàn bà ấy đâu rồi? - Ông hỏi.

- Tên cô ấy là Khai, - bà Cố nói.

Ông giáo Cố gắng gượng ngồi dậy. Ông ngạc nhiên thấy vợ không nhanh nhảu giúp ông.

- Mình thù hằn cô ấy, cứ như thể cô ấy nợ mình thứ gì, - bà Cố nói.

- Cô ấy nói dối chúng ta. Tại sao cô ta lại ở đây? - Ông giáo Cố căn vặn. - Cô ta là công cụ chính trị của chính quyền. Cô ta muốn gì?

Vợ ông nhìn ông đăm đăm, cái nhìn hơi trêu chọc khiến ông nhớ đến cô con gái nổi loạn của mình mười năm trước.

- Mình không dạy học trò của mình hãy suy nghĩ và đừng vội kết luận đấy chứ?

Ra đây là thứ ông muốn về nhà ư, ông giáo Cố ngẫm nghĩ, một người vợ chất vấn ông từng lời.

- Mình định giữ con người này bao lâu, liệu tôi có quyền biết trước khi nằm viện không? Tôi có đáng được mình giải thích không? - Ông nói, cao giọng.

- Các bác sĩ bảo mình phải giữ bình tĩnh, - bà nói.

- Chẳng có người nào bình tĩnh hơn một người đã chết.

Vợ ông đặt bát lên cái ghế cạnh giường. Ông tưởng bà sẽ ngồi lên ghế xúc cho ông. Khi bà không làm thế, ông cố gắng với lấy cái thìa dù không thấy ngon miệng.

- Có một điều mình nên biết, sở dĩ chúng tôi không nói trước với mình vì chúng tôi nghĩ sự hồi phục của mình là quan trọng hơn hết, - bà Cố nói.

- “Chúng tôi” là ai?

- Khai và tôi, cùng các bạn của cô ấy. Chúng tôi đang vận động dân chúng làm một bản kiến nghị vì San.

Sự thay đổi ở vợ ông - mắt bà không còn nhìn xuống khi nói, cách phát âm rõ ràng từng lời - khiến ông giáo Cố lo lắng. Suốt gần ba chục năm là công dân loại hai, và nhất là trong mười năm gần đây, từ khi San bị tống giam, cả hai vợ chồng ông đã rút vào trong cái kén họ cùng dệt nên, một cái vỏ mỏng manh và khép kín đem lại hơi ấm duy nhất cho họ. Họ như hai con cá cùng chọn sống nốt phần đời còn lại trong cái vũng đang cạn - tất cả những chuyện này có phải là một ảo ảnh? Người đàn bà trước mặt ông là ai, người đang tin cậy những thanh niên xa lạ ôm ấp một ý tưởng điên rồ và vô nghĩa lý về cuộc phản kháng không bao giờ thay đổi được vận số của con gái ông? Cảm giác sụp đổ, không thể nắm bắt một thứ gì - giống hệt cảm giác ông từng trải qua khi bắt đầu ốm - khiến ông khó thở.

- Giờ tôi nghĩ không nên giấu mình nữa, - bà Cố nói. - Nó đã thành tin quan trọng nhất rồi.

- Mình đã thành một ngôi sao mới nổi.

Bà lờ câu ấy của ông:

- Mình không thể tin có bao nhiêu người cảm thông đâu. Dân chúng sợ nhưng không có nghĩa là họ nhẫn tâm. Chúng ta chỉ cần tìm ra họ.

Ông giáo Cố quan sát vợ. Má bà ửng hồng, mắt bà như hai giếng nước sâu thẳm đã khô đi theo năm tháng, nhìn vượt qua đầu ông và lấp lánh khác thường. Sự lạnh lẽo lan khắp người ông dù lò sưởi đang cháy. Đây là một thứ bệnh, là một loại bệnh chết người, bệnh cuồng chính trị, lôi kéo quần chúng, như thể họ là những hạt cát có thể dễ dàng thu nhặt bằng một câu thần chú và biến thành một cái tháp. Nó đã diệt mạng sống của con gái ông, và giờ lại tóm lấy con người thụ động nhất trên đời này là vợ ông, một bà già dễ bảo và nhún nhường.

- Vậy các người muốn gì? - Cuối cùng, ông hỏi. - San đã chết rồi.

- Chúng tôi muốn chính quyền nhận thức được sai lầm. San vô tội. Không người nào nên trừng phạt vì những điều nó nghĩ. Đấy là một sai lầm và bây giờ là lúc sửa sai.

Chắc Khai đã bồi dưỡng những lời này cho vợ ông, cái người phụ nữ trẻ trung làm nghề đọc to những lời hay ho và sáo rỗng, tạo ảo tưởng cho những con người đang đau khổ.

- San chết rồi, - ông giáo Cố nói. - Dù các người có làm gì đi nữa, cũng không thể làm nó sống lại.

- Chúng tôi đấu tranh không phải vì mạng sống của nó. Đây là sự công bằng nó đáng được hưởng, - bà Cố nói.

Ngu ngốc, mụ đàn bà ngu ngốc, nói như một con vẹt, đưa xác con gái họ ra làm vật hiến tế chung, đền đáp một lời hứa rỗng tuếch. Những người đàn bà này, với logic nông cạn và đầu óc khao khát, những người đàn bà này bị hoa mắt vì những lời lẽ cao thượng, bị người khác tẩy não và rót đầy. Số phận của ông là suốt đời đối mặt với một kẻ thù như thế, đầu tiên là người vợ tận tụy với chủ nghĩa cộng sản đến mức hủy bỏ cả hôn nhân, rồi đến đứa con gái, và bây giờ là người đàn bà duy nhất còn lại trong đời ông, người ngỡ đã miễn dịch với cái bệnh này suốt phần đời dài nhất? Ông trừng trừng nhìn vợ.

- Họ mất bao lâu biến mình thành một nữ anh hùng? - Ông lạnh lùng hỏi. - Tôi đoán là chỉ năm giây.

Bà Cố đáp bằng giọng bình tĩnh, cũng như ông, bà đã có nhiều nỗi nghi ngờ, nhưng họ phải nuôi hy vọng về một sự thay đổi. Họ không thể để con gái họ hy sinh mạng sống vô ích.

Con gái họ đã chết vì ngu dại, vì suốt đời tin vào những người không đáng tin, ông giáo Cố muốn nhắc nhở vợ, nhưng rốt cuộc ông chỉ bảo bà dừng việc đang làm.

- Tôi không cho phép việc này, - ông nói. - Tôi cấm mình hoặc bất cứ ai dùng tên tuổi San như một cái cớ để giành giật.

Bà Cố sửng sốt ngước nhìn. Một lúc lâu sau, bà mỉm cười với ông:

- Thưa thầy Cố, chẳng phải thầy chính là người cách đây nhiều năm đã dạy em rằng phụ nữ không phải là nô lệ và người hầu của đàn ông đó sao? Và thứ mà đàn ông không thể cho chúng em, chúng em cần đấu tranh để giành lấy bằng chính bàn tay mình?

Ông giáo Cố nhìn vợ, người ông run run. Những lời dối trá ông buộc phải dạy từ nhiều năm trước trở lại đánh gục ông, biến ông thành một thằng hề. Ông nghĩ đến việc ném bát gà hầm vào tường hoặc xuống sàn xi măng cứng, ông sẽ để mặc nước canh nóng và nhờn mỡ bắn tung tóe khắp nơi, ông sẽ nhìn cái bát sứ vỡ tan thành nhiều mảnh. Nhưng thế sẽ được gì ngoài việc đặt ông ngang tầm một gã đàn ông vô giáo dục và phi lý? Cơn giận choán ngợp ông lúc trước đã thay bằng nỗi thất vọng và tình trạng kiệt quệ. Ông nhìn vợ, cười gượng:

- Tất nhiên là hiện nay, chúng ta đang sống trong thời đại cộng sản, - ông nói. - Đồng chí, hãy tha thứ cho sự lẩm cẩm của một ông già, nhé.

Ai mà biết rằng Nhược Nhược lại nổi cơn tam bành con gái lên, đòi gã thể hiện lòng trung thành? Một bông hồng với cuống có gai cũng đáng để liều và chịu đau, nhưng nếu là một bông hoa dại bên đường cứ tưởng mình là bông hồng và mọc ra những cái gai khó ưa? Bát Thập cười khúc khích một mình. Có lẽ gã cần để mắt tới tính khí Nhược Nhược và nắm chắc nó không trở thành một trong những mụ mái già gắt gỏng ngoài chợ. Gã ngắm một cô y tá mất cả vẻ tươi tắn vì ca đêm đứng trước tủ kính, không hài lòng với mái tóc tả tơi và cố đưa những ngón tay sửa lại. Gã tiến đến chỗ cô, rút ra túi kẹo gã luôn mang theo bên mình phòng khi có một cô gái gã muốn bắt chuyện.

- Tóc cô đẹp lắm, - gã nói. - Cô có muốn ăn không?

Cô gái lạnh lùng nhìn Bát Thập:

- Về nhà và soi gương xem, - cô nói.

- Sao kia? Không cần gương tôi cũng biết mình như thế nào chứ, - Bát Thập nói. - Cô mới là người đang rỉa lông cánh trên phố.

- Cái vận thối tha mới sáng ra đã gặp một thằng cha tởm lợm, - cô ta nói với một bà đi dạo qua và vội bỏ đi, bàn tay cô vẫn chải tóc.

Cô ả ngỡ mình là ai, một con thiên nga cải trang ư? Bát Thập ngắm hình ảnh của mình phản chiếu trong tủ kính, một gã “coi được” trong cái áo khoác mới. Ba gã choai choai đầu cạo trọc lốc, đeo kính râm dừng lại cạnh gã.

- Này Bát Thập, mày có cần một cái áo khoác như thế không?

Bát Thập nhìn vào mắt chúng nhưng chỉ thấy hình ảnh mình phản chiếu trong sáu thấu kính đen ngòm. Gã không biết những tên này, nhưng từ vài cuộc chạm trán đầy rủi ro với các băng nhóm mới mọc lên ở Nê Giang, gã biết không nên thu hút sự chú ý của chúng.

- Kính đẹp đấy, - gã nói và vỗ vào túi, tìm bao thuốc lá dành sẵn cho những lúc như thế này. Mấy cậu choai choai bắt lấy những điếu thuốc Bát Thập ném cho chúng.

- Chúng tớ có thể mượn áo khoác của cậu một hôm không? - Tên trẻ nhất nói và cười nhăn nhở.

- Được, - Bát Thập nói. - Chẳng có gì mà tớ không chia sẻ cho các anh em, - Gã cởi áo khoác và rùng mình trong gió sớm. Mấy tên gật gù và đi tiếp, tên trẻ nhất thử mặc chiếc áo khoác cho các đàn anh xem.

Một lũ nguy hiểm đang nảy nở ở thành phố này, Bát Thập nghĩ. Gã vỗ tệp tiền trong túi quần, gã đã khôn ngoan không để tí tiền nào trong áo khoác. Gã vào cửa hàng gần đó, hỏi mua một gói hạt hướng dương và lúc ra, gã cho vài hạt vào miệng và nhai thành một mớ hổ lốn, tưởng tượng tất cả những kẻ đối địch bị nghiền nát giữa hai hàm răng gã. Gã thấy chỉ có Nhược Nhược là đáng được tôn trọng. Nhưng gã đã cho Nhược Nhược những gì, ngoài vài giỏ than và rau? Con bé đúng là thứ gã cần để chứng tỏ bản thân. “Mày cứ gọi tên đứa nào làm khổ mày”, gã tưởng tượng sáng hôm sau, gã sẽ nói với Nhược Nhược như thế đầu tiên. “Cứ gọi tên chúng nó ra và tất cả lũ ấy cũng là kẻ thù của Lộ Bát Thập này. Tao sẽ không để cho chúng sống yên ổn”. Gã sẽ bắt đầu từ mẹ của con mụ bị xử tử, người đã căm ghét Nhược Nhược.

Ở lối vào một ngõ, gã nhìn thấy con Nhĩ Nhĩ.

- Chào ông bạn, - gã nói và thọc tay vào túi. Con chó ve vẩy đuôi. - Lại đây, - Bát Thập nói ngọt ngào. - Mày có khỏe không? Mày tìm tao à? Tao đang nghĩ đến mày đây.

Con chó đến gần hơn và cọ cổ vào chân Bát Thập. Đồ ngu, Bát Thập nghĩ. Gã rút bàn tay trong túi ra và vỗ. “Xin lỗi nhé, hôm nay tao không có thịt cho mày. Mày thấy đấy, tao đang chạy một số việc khác”.

Con chó lượn quanh gã một phút rồi chạy mất. Bát Thập cảm thấy khoái chí. Tình bạn mới với Nhĩ Nhĩ là một kết quả phụ trong kế hoạch với con chó của lão Keng - chẳng mất mấy thời gian và chân giò muối để chiếm được trái tim Nhĩ Nhĩ, chó nào nỡ chê thịt? Rốt cuộc thì chó vẫn là chó, không thể so với trí tuệ của con người.

Bát Thập vào một cửa hiệu có tấm biển gỗ màu đen khảm chữ vàng Trường Thọ. Một bà già đứng bên quầy, đang sắp những tờ tiền nhàu nhĩ hộ chủ hiệu.

- Bà ơi, bà mua gì thế? - Bát Thập hỏi.

Gã chưa nghe về bà phù thủy làng Đông phát hiện ra nhiều cách giao lưu với người âm sao? Bà già hỏi. Bà ta chỉ mất một chuyến đến gặp bà phù thủy đã biết rằng chồng bà không đủ tiền để uống rượu ở thế giới bên kia.

- Bà tin ông ta à? - Bát Thập nói. Gã nhìn số tiền trên quầy, ông chồng chắc không đủ say sưa với khoản tiền còm kia. - Nhỡ ông ấy dùng tiền của bà để mua một bà khác ở dưới ấy thì sao?

Bà già lầm bầm rằng chồng bà chưa bao giờ mê gái; ông ấy sống vì rượu và chết cũng vì rượu. Bát Thập nghĩ đến lão ngu này, chết trước khi biết được niềm vui thực sự của cuộc sống và lắc đầu không tin:

- Thật đáng thương, - gã nói. - Uống rượu thì có gì hay ho kia chứ?

- Cậu nói thế vì cậu chưa biết mùi vị thực sự, - chủ hiệu, một người đàn bà đứng tuổi, tóc uốn theo lối mới, nói. - Người ta luôn đặt rượu ngang với nhan sắc của phụ nữ, cậu có hiểu vì sao không, cậu bé? Vì rượu và đàn bà là hai thứ hấp dẫn nhất với đàn ông.

Bát Thập thở phì. Bà chủ hiệu thì biết gì về đàn ông? Gã chọn mua một tập tiền, một lâu đài thu nhỏ, xe tứ mã, một cái tủ và vài thứ linh tinh khác, tất cả làm bằng giấy thông thảo trắng sẵn sàng đốt thành tro theo bà nội gã sang thế giới bên kia. Gã cũng hỏi mua ít thuốc chuột, và bà chủ hiệu ngỡ ngàng:

- Cửa hiệu nhà tôi chỉ phục vụ những người bước vào cõi vĩnh hằng thôi, - bà ta nói. Giống mọi người dân Nê Giang, bà ta phải viện đến bất cứ uyển ngữ nào có thể để tránh nhắc đến chữ chết, và Bát Thập mỉm cười. Gã trả tiền các thứ vàng mã và nói gã hỏi thuốc chuột vì không muốn xác bà gã bị bất cứ con chuột nào quấy phá. Kinh hãi, người đàn bà tái nhợt cúi đầu trước pho tượng Phật ở góc cửa hàng, cắm một que hương đang cháy trước mặt gã. Xin Người tha thứ cho sự ngu tối của cậu ta, người đàn bà nói, khiến Bát Thập phì cười và không muốn gây thêm cơn ác mộng cho bà ta. Cách vài nhà xuống phố, gã mua gói thuốc chuột trong cửa hàng dược phẩm.

Về đến nhà, gã để các thứ vàng mã cạnh quan tài bà nội.

- Bà ơi, ngày mai già Hoa và vợ ông ấy sẽ tiễn đưa bà về với ông nội và bố cháu, - gã nói, gã có thói quen trò chuyện với bà mỗi khi thấy lẻ loi. Gã thái một lát chân giò muối dày, khoan vài lỗ và đổ rượu vào. - Khi nào bà đến đó, bà nói hộ cháu vài lời với ông và bố cháu. Nói với họ rằng cháu làm việc tốt và sẽ không làm nhục tên tuổi họ. Ngày mai cháu không thể đi tiễn bà, vì cháu có việc quan trọng hơn phải làm.

Gã mở gói thuốc chuột và đổ vài viên nhỏ vào cái cối bà gã vẫn dùng để giã ớt khô. Các viên thuốc có màu nâu xám bẩn thỉu. Con chuột nào lại muốn động đến cái thứ kinh tởm này chứ nhỉ, Bát Thập hỏi to lúc nghiền các viên thuốc thành bột. Gã không biết thuốc độc đến chừng nào nhưng một lớp bột nghe chừng chưa đủ thuyết phục, nên gã thêm một vốc vào cối.

- Bà ơi, cháu kể bà nghe, bây giờ chẳng mấy ai sử dụng trí óc. Khó mà tìm được người thông minh như bố cháu, bà nhỉ? - Bát Thập nói và nghĩ vong hồn cũng như người sống, sẵn sàng ngốn ngấu những lời khen. Các bà lão sung sướng nếu bạn khen con, cháu họ; có lẽ bà nội gã sẽ tha thứ cho gã tội ngày mai không đi chôn cất bà. Gã tiếp tục nói chuyện và ca ngợi bố thêm nữa. Khi giã xong, gã đưa cối đến gần và ngửi - ngoài mùi ôi ôi thoang thoảng, gã không cảm thấy gì nguy hiểm. Gã lấy miếng chân giò muối và rắc bột kín hai mặt, gã dùng cái thìa con cố nhét thêm bột vào các lỗ. - Bà chắc đang băn khoăn vì thứ này, - gã nói. - Nhưng bà hãy canh chừng cho cháu và cầu cho việc này trót lọt, sau khi cháu làm xong việc lớn này, cháu sẽ đến và đốt thật nhiều tiền vàng cho tất cả mọi người.

Lần cuối cùng bà nội dẫn Bát Thập đi thăm mộ ông nội và bố, gã mười hai tuổi. Lần sau, gã sẽ đưa Nhược Nhược đi cùng, để họ không phải lo về người nối dõi. Gã nhìn miếng chân giò muối một lát, rồi cẩn thận phết mật ong lên cả hai mặt, để chắc không một hạt bột độc nào rơi.

- Thế, có đẹp không? - Gã nói.

Bát Thập đi qua nửa thành phố mới tìm thấy Nhĩ Nhĩ. Chỉ cần một miếng thịt nhỏ, gã có thể nhử con chó theo. Cả hai đi qua cây cầu vắt ngang sông và trèo lên Nam Sơn. Một ngày đẹp, mặt trời ấm trên mặt gã, cảm giác phấn chấn của mùa xuân hiển hiện trong không khí. Bát Thập dừng lại bên bụi mận dại nở hoa sớm.

- Tao có thứ này cho mày đây, - Bát Thập nói và để lát chân giò muối cạnh bụi cây.

Nhĩ Nhĩ ngửi ngửi lát chân giò muối, rất tò mò nhưng ngay lập tức tỏ ra không khoái. Bát Thập giục con chó, nhưng nó chỉ cào cào miếng thịt và ngửi. Bát Thập sốt ruột. Gã giằng lấy miếng chân giò muối và giả vờ ăn. Thế mà được việc, khi Bát Thập ném miếng thịt lại cho Nhĩ Nhĩ, nó đớp lấy trong không khí và chạy đi.

Bát Thập sục sạo, nghĩ sẽ để vài phút rồi mới xác định vị trí của con chó và quan sát tác dụng của thuốc độc. Nếu thuốc chuột không diệt được con chó nhỏ, thì chắc chắn ăn thua gì với con mực của lão Keng, Bát Thập phân vân, liệu gã có phải trở lại hiệu thuốc và làm om lên không. Gã sẽ đòi thứ thuốc mạnh hơn, nói rằng chuột nhà gã khỏe như lợn thiến. Gã nghĩ miên man cho đến lúc nghe thấy tiếng kêu ăng ẳng đầy đau đớn của con chó. “Có thế chứ”, gã nói và lúc đó, gã nghe thấy một tiếng tru dài, thảm thiết.

Bát Thập thấy con chó trên đất, thở hồng hộc, chân giật giật vô vọng. Một cái rìu nhỏ bổ vào sọ nó, giữa hai con mắt, và máu đỏ lầy nhầy ộc ra. Rõ ràng là con chó đang chết nhanh chóng. Cạnh con chó là một thiếu niên mặc áo khoác vải bông màu xám mòn xơ như một đống giẻ rách, bàn tay trái chảy máu vì bị chó đớp, tay phải cầm chặt lát chân giò muối.

- Mày giết con chó để tranh cái kia?

Cậu bé nhìn người thanh niên trước mặt. Nó nghĩ phải giải thích nó không định giết con chó, nhưng ai tin được nó khi máu chó dây trên rìu. Cậu bé nom không quá mười tuổi, đến thành phố chẳng có gì bán ngoài sự nghèo khổ và những bắp thịt chưa phát triển của cậu. Thỉnh thoảng, một bà nội trợ thuê cậu bổ củi, giết gà hoặc dỡ than, những việc lặt vặt bà ta có thể tự làm hoặc nhờ chồng, con, nhưng thuê cậu, bà ta cảm thấy “cái tâm đỡ áy náy”. Sau vài tuần, cậu bé đã rút ra kết luận rằng tất cả phụ nữ đều giống nhau, họ nói đến cái tâm nhưng canh giữ ví tiền rõ kỹ. Họ cho cậu ăn nhưng không trả tiền, và với lương tâm của những người đàn bà, cậu bé nửa ăn mày nửa ẻo lả như con gái biết rằng không thể đòi hơn.

- Mày giết con chó? - Bát Thập lại hỏi.

Cậu bé lùi lại và nói:

- Nó cắn tôi trước.

- Tất nhiên là thế rồi. Mày ăn cướp miếng thịt của nó. Tao cũng sẽ cắn mày, - Bát Thập vồ lấy cánh tay áo thằng bé, lôi nó đến chỗ con chó, nó vẫn thở nông và nhanh, móng chân cào vào lớp đất mới tan băng. - Nhìn xem mày đã làm gì. Mày là loại người gì mà đánh nhau với một con chó để giành thức ăn?

Thằng bé đánh giá tình hình. Nếu nó chạy, người này sẽ tóm nó dễ dàng. Nó có thể chống lại, nhưng cũng không tốt đẹp gì hơn. Người này có thể dốc hết sức táng cho nó một đòn, nhưng ngoài ra thì cũng chẳng thể làm gì hơn với nó. Thằng bé dịu lại.

- Mày nhìn đi, - Bát Thập nói. - Mày định giở trò gì giỡn mặt tao, hả?

Thằng bé quỳ xuống và khóc:

- Chú ơi, - nói nói. - Chú ơi, là lỗi của cháu. Cháu nghĩ con chó bé thế mà ăn nhiều thịt thế kia thì phí quá. Cháu định lấy miếng thịt cho mẹ cháu. Ba tháng nay mẹ cháu và em gái cháu chưa được nếm miếng thịt nào.

- Ra mày có em gái? - Bát Thập nói. - Nó bao nhiêu tuổi?

- Chín, - thằng bé nói. - Bố cháu chết sáu năm rồi, còn mẹ cháu bị ốm. - Để chứng minh cho câu chuyện, cậu bé mở cái túi vải nhỏ và chỉ cho gã những thứ bên trong - mấy cái bánh bao và nửa cái nó đã ăn, cứng như đá. Nó giải thích, em gái nó sáng chế ra cách nấu lại các mẩu bánh bao thừa thành một thứ bột nhão.

Bát Thập gật đầu. Chắc thằng bé đã phải kể câu chuyện này hàng ngàn lần với những mụ mái già trong thành phố để kiếm chút thương cảm. Bát Thập rút vài đồng ra:

- Chắc mày là đứa biết chăm sóc gia đình. Nếu không vì mẹ mày và em gái mày, - Bát Thập nói và nhe răng ra, - tao đã tống mày đến cảnh sát. Giờ thì cầm lấy tiền mua ít quần áo tử tế cho em gái mày.

Thằng bé nhìn số tiền và nuốt khó nhọc:

- Cháu đã nhỡ tay giết con chó của chú. Sao cháu dám nhận tiền của chú?

Bát Thập phì cười. Thằng bé chắc biết Bát Thập không lớn hơn nó bao nhiêu, nhưng nó biết cách nói chuyện cho phải phép và Bát Thập thấy hài lòng.

- Đây không phải chó của tao, - gã nói. - Nếu mày giết chó của tao, tao sẽ vặn cái cổ xương xẩu của mày, như thế này này.

Bát Thập gõ lên đầu thằng bé.

- Đừng ngu thế. Cảnh sát chẳng thèm quan tâm dù mày có chặt mười con chó thành nhiều mảnh.

Thằng bé nhận tiền và cảm ơn Bát Thập rối rít. Bát Thập ngửa tay ngăn thằng bé lại. Cả hai đi đến chỗ con chó đã ngừng thở và cử động, lúc này nó nằm trên đất, bùn phủ kín nửa móng. Thật khó tưởng tượng một cậu bé gày gò lại có thể giết con chó bằng một nhát chém chính xác.

Thằng bé quỳ xuống, nhặt cái rìu và lau vào áo khoác. Bát Thập bảo nó vứt lát chân giò muối đi. Thằng bé do dự và nói:

- Nhưng thế không phải là lãng phí sao?

- Sao mày cứ hỏi những câu ngu ngốc thế nhỉ?

Thằng bé quan sát Bát Thập ném lát chân giò muối, mạnh hết sức. Lao vút thành một vòng cung đẹp trong trời chiều và rơi ngoài tầm nhìn.

- Bây giờ về nhà mau, trước khi tao hết kiên nhẫn, - Bát Thập nói.

Thằng bé vâng nhưng vẫn không nhúc nhích, mắt nhìn con chó chết. Lúc Bát Thập giục nó lần nữa, nó nói:

- Chú ơi, chú nghĩ để con chó ở đây sẽ xảy ra chuyện gì?

- Làm sao tao biết được? - Bát Thập nói. - Tao đã bảo mày rồi, đấy không phải chó của tao.

- Chú muốn có một cái mũ hoặc khăn bằng da chó không? - Thằng bé hỏi.

Bát Thập cười to:

- Chà, mày hơi khéo đấy. Nếu tao cần gì, tao có tiền để mua. Mang con chó đi và làm thứ gì đó cho em gái mày, nếu mày đang nghĩ thế.

Thằng bé cũng mỉm cười:

- Chú ạ, nếu nhà chúng cháu không tồi tàn, cháu sẽ thết chú một bữa thịt chó cực ngon, như ngày lễ ấy.

- Đừng nịnh tao, - Bát Thập nói. - Giờ tao phải đi có việc. Tao gửi lời thăm em gái mày nhé.

Thằng bé nhìn Bát Thập đi khuất rồi mới ngồi xuống làm việc. Nó đổ các bánh bao cũ ra lề đường và xé cái túi vải thành nhiều dải. Nó cởi áo khoác và quấn quanh xác con chó, rồi đeo lên lưng. Con chó nặng hơn nó tưởng, vẫn còn ấm làm nó nhớ đến ngày em gái nó cưỡi trên lưng con lợn con lao vào nó, lúc chúng đi sau cỗ quan tài bố nó đến nghĩa trang. Trước lúc chết, bố nó cầm tay nó và bảo nó phải làm người đàn ông trong nhà, chăm sóc mẹ và em gái.

Thằng bé nghĩ đến nấm mồ bố nó không được chăm nom trong suốt sáu năm qua. Nó ngước nhìn lên trời, vẫn xanh trong. Nếu nhanh chân, nó có thể về đến nhà trước lúc trời tối, dọn sạch mộ bố cho tiết Thanh minh. Mẹ nó nằm liệt giường đã năm năm nay, không thể đi được, nhưng nó sẽ dẫn em gái nó đến đấy. Giờ nó là đàn ông, chịu trách nhiệm với cả người sống lẫn người chết. Thằng bé rảo bước, rồi một lát sau, nó quay trở lại. Nó loanh quanh, sục sạo tìm miếng thịt, tuy hơi bẩn vì cát nhưng lau kỹ sẽ được một bữa ngon lành.

Khai nói với các đồng sự trong Sở Tuyên truyền là cô sẽ làm một cuộc dọn dẹp mùa xuân cho phòng phát thanh. Biên tập viên nhướn lông mày nhưng không nói gì, còn Khai thấy dọn dẹp vào ngày trước tiết Thanh minh có thể coi là một cách tổ chức ngày lễ mê tín, nhưng cô quyết không để ý đến việc đó. Từ khi truyền đơn xuất hiện, các đồng sự của cô lịch sự với nhau, nhưng không người nào dám hé răng một lời về tình hình. Tất cả đều như các phong vũ biểu cực nhạy, bắt sóng sự thay đổi trong môi trường chính trị bất cứ phút nào.

Một thư ký đề nghị giúp, nhưng Khai lịch sự từ chối, cô nói căn phòng quá nhỏ, hai người rất khó xoay sở. Hai giờ chiều, thời khắc chậm nhất trong ngày, lúc Khai rời cơ quan đến phòng, cô nhìn thấy nhiều cơ quan trong tòa công thự đã đóng cửa. Mọi người nghỉ buổi chiều cho lễ ngày mai, dù chính quyền không công khai cho phép tổ chức Thanh minh. Sáng sớm hôm đó, lúc Khai ghé qua nhà, mẹ cô kể đã thuê một người đáng tin cậy đốt tiền vàng và nhiều thứ đồ cúng khác cho bố Khai; Khai không biết liệu mẹ chồng cô có làm thế không, vì Hán vẫn ở trên tỉnh chưa về. Anh ta đi đã hai tuần, ngoài vài cú điện thoại gọi đến cơ quan cô, họ không trò chuyện gì nhiều. Dù có địa vị, họ vẫn chưa có điện thoại ở nhà riêng, dẫu Hán đã hứa sẽ sớm thay đổi. Cơ quan không phải là nơi thích hợp để trao đổi thông tin, và cô hình dung cấp tỉnh cũng không cho phép Hán được tự do nhiều thứ. Họ chỉ nói chuyện về Minh Minh, hai ngày đầu nó rất nhớ Hán nhưng rồi nó nguội dần, như chẳng có gì khác thường.

Khai ở lỳ trong phòng làm việc. Cô nghĩ đến thái độ thù địch của ông giáo Cố, vì cô cũng gặp sự chống đối khi lần đầu tiên gặp bà Cố, nhưng trong trường hợp của bà là sự không tin cậy vào một người xa lạ là tiếng nói đại diện của chính quyền. Phải vài lần đến thăm, bà Cố mới không từ chối hoa quả và sữa bột Khai mua biếu ông giáo Cố, và sau một thời gian họ bắt đầu trò chuyện, không nói về San cũng như cuộc phản kháng, mà theo kiểu vô hại nhất, nói về sự thay đổi của các mùa. Dần dà bà Cố trở nên thân tình. Một hôm, bà hỏi thăm Khai về cha mẹ cô, và Khai đáp cha cô đã mất từ vài năm trước. Bà Cố ngẫm nghĩ một lát và nói cô là người con gái may mắn được tiễn đưa cha mẹ. Bà trích dẫn một thành ngữ cổ về ba điều bất hạnh nhất trên đời: mồ côi cha mẹ từ khi còn bé, mất chồng hoặc vợ ở tuổi trung niên và mất con ở tuổi già. Bà Cố nói bà đã trải qua hai trong ba nỗi bất hạnh đó, và Khai nhìn lảng đi vì không thể tìm ra lời an ủi. Bà Cố nhìn vào mắt Khai, không buồn cũng không thương thân và nói đây là lúc để một bà già như bà trở nên có ích theo một cách nào đó.

Khai chưa bao giờ ngờ ông giáo Cố lại nhận ra cô là học sinh cũ. Sự thù địch của ông khiến cô biết mình bị giới hạn biết chừng nào, nó chống lại mong ước của cô, quá khứ của cô, gia đình và vị trí của cô. Nếu cô muốn, cô có thể trở lại cuộc sống cũ của cô. Ngoài việc giới thiệu bà Cố với Gia Lâm, cô không có nhiều liên hệ trong cuộc phản kháng sắp tới, cũng không quan hệ nhiều với các bạn của Gia Lâm, họ cùng anh phát hành truyền đơn và trù tính cho sự kiện ngày Thanh minh. Thực tế mọi việc có thể đảo ngược mà không rối. Cô không cần lựa chọn khác, trong tất cả mọi người cô muốn được ông giáo Cố hiểu và chấp nhận cô hơn hết.

Có người đập cửa. Tim Khai đập thình thịch. Khi cô mở cửa, Hán lách vào và khóa lại ngay.

- Anh làm em sợ, - Khai nói. Má cô bừng nóng, như bị bắt gặp trong một lúc giấu giếm, nhưng hình như Hán không để ý đến vẻ bứt rứt của cô.

- Có chuyện gì thế? - Khai hỏi. - Minh Minh có sao không?

- Anh chưa về nhà, - Hán nói. - Mươi phút nữa anh phải đi ngay.

- Sao thế?

Hán chằm chằm nhìn Khai, không đáp. Có lẽ nào anh ta đã phong thanh biết cuộc phản kháng dự định vào ngày mai? Cô tự hỏi ai đã rò rỉ thông tin, nhưng cô không quen biết các bạn của Gia Lâm. Anh đã báo cho Khai mọi việc trong tầm kiểm soát, trong tay những người đáng tin cậy, phạm vi hoạt động ngày Thanh minh dành cho Khai và bà Cố. Nhưng có khi lòng tin của anh đã nhầm chỗ. Cô ước giá được gặp các bạn anh.

- Nếu anh trở thành kẻ vô danh tiểu tốt, - Hán nói, và ngồi xuống cái ghế duy nhất trong phòng - hoặc tệ hại hơn, nếu anh thành kẻ tội phạm và không bao giờ có thể cho em thứ gì nữa, liệu em còn yêu anh không?

Khai nhìn Hán, mắt anh ta chan chứa nỗi thống khổ mà Khai ước giá có thể chia sẻ. Các nhân vật nữ cô thủ vai trên sân khấu chưa bao giờ đối mặt với một người chồng công bố tình yêu của mình: Họ là các trinh nữ hy sinh mạng sống vì tiếng gọi cao cả hơn, là những người mẹ để lại chiếc khăn thêu vào tã lót của con trước khi lên đường, không trở lại với con cái, là vợ của nhà cách mạng; trong trường hợp Thu Ngọc, chồng cô là một thằng đểu, hắn không yêu Thu Ngọc và có quyền yêu bất cứ ai.

Hán bước tới chỗ Khai và ôm cô. Cô buộc mình phải đứng yên. Lát sau, khi Hán vùi mặt vào tóc Khai mà khóc, cô chạm vào đỉnh đầu anh ta. Sau khi bình tĩnh lại, Hán nói anh ta đã nghe tin phe phái ủng hộ bức tường dân chủ sẽ thắng ở Bắc Kinh, và nếu tin đồn chính xác, người họ đã giúp ghép thận sẽ mất hết quyền lực.

- Cha mẹ anh biết chưa?

- Anh đã đến gặp họ và thị trưởng một giờ trước, - Hán nói. - Cha mẹ anh đang lo thị trưởng sẽ thí anh để tự vệ.

Khai nhìn Hán; bộ mặt nhẵn nhụi, gần như trẻ con của anh ta giờ mới một ngày chưa cạo mà râu ria lởm chởm, lòng trắng mắt vằn đỏ.

- Nhưng anh phải chịu trách nhiệm cái gì? - Khai nói.

- Những quả thận, - Hán nói, và giải thích rằng kẻ thù của họ ở tỉnh cho đến nay có vẻ đang thắng, hiện đang điều tra việc cấy ghép và cuộc hành hình Cố San, khẳng định đã vi phạm nhiều thủ tục pháp lý.

- Thật thế ư?

- Nếu không vì chuyện này, hắn sẽ tìm ra cớ khác để tấn công bọn anh, - Hán nói. - Đây là một thực tế xưa như trái đất, kẻ cướp mà thành công sẽ làm vua, còn kẻ cố cướp đoạt mà thất bại sẽ bị gọi là tội phạm.

Khai nắm lấy mép bàn cô đang dựa vào và cố đứng cho vững. Cuối cùng, lúc Hán ngước nhìn, những giọt nước trong mắt anh ta đã thay bằng vẻ quả quyết hiếm hoi:

- Em có thể hứa với anh một điều không? - Hán nói. - Em có thể viết đơn ly hôn, đề ngày hôm nay và ký vào, để phòng hờ không? Anh không muốn có chuyện gì kinh khủng xảy ra cho em.

Cô không thuộc loại từ bỏ gia đình vì tin đồn, Khai nói yếu ớt.

- Đây không phải lúc sướt mướt, - Hán nói. - Anh biết em yêu anh, nhưng anh không thể hủy hoại tương lai của em. Viết đơn đi. Nói em không còn yêu anh nữa và muốn tự nuôi dạy con. Giả vờ như em không biết tí gì và hy vọng rằng họ không giáng cấp em. Hãy ngừng lại, đừng để anh làm hỏng tương lai của em và Minh Minh.

Khai chậm rãi lắc đầu.

- Em có muốn anh thảo hộ em không? Em chỉ cần ký vào.

Từ lâu, Khai không còn yêu người đàn ông trước mặt cô nữa; có lẽ cô chưa bao giờ yêu anh ta. Nhưng cô cảm thấy một nỗi thôi thúc ôm ghì anh ta như một người mẹ an ủi đứa con đã cố hành động như một người đàn ông can đảm. Hán suy sụp lần nữa trong vòng tay cô, và cô để mặc anh ta vùi mặt vào tóc cô, cảm thấy cổ áo cô ướt át. Không ai yêu cô nhiều như anh ta, cô nhớ lời anh ta nói trong đêm tân hôn. Cô đã ngước nhìn lên chân dung Mao Chủ tịch trên tường phòng khách sạn lúc anh ta thì thầm điều bí mật vào mái tóc đen, không cắt xén, dài như tóc thiếu nữ của cô.

4 THÁNG BẢY, 1979, Đồng viết vào cuốn nhật ký thiên nhiên, rồi đọc phần dự báo thời tiết ở góc phải tờ Nê Giang Nhật báo. Trời nắng. Gió nhẹ. Nhiệt độ cao 12° C, thấp -1° C. Nó ghi những con số rồi ra ngoài tìm con Nhĩ Nhĩ. Thứ Bảy chỉ học nửa ngày, và nó lấy làm lạ khi thấy con Nhĩ Nhĩ quên; Sáng hôm ấy nó đã bảo Nhĩ Nhĩ về nhà vào buổi trưa, vào các ngày thứ Bảy Nhĩ Nhĩ chưa bao giờ làm khác. Đồng lo có chuyện xảy ra với con chó. Nó không còn là con cún con và có những bí mật riêng của nó. Vài buổi tối, Nhĩ Nhĩ thờ ơ với thức ăn Đồng mang đến hộp các tông. Đồng tự hỏi hay nó làm chuyện gì hư hỏng, lấy trộm đồ ăn của những con chó khác hoặc ở chợ.

Nó đi hết ngõ này đến ngõ khác, réo gọi Nhĩ Nhĩ. Nó thấy vài con chó nhưng té ra không phải Nhĩ Nhĩ, bọn chúng đều bận bịu với cuộc sống riêng trong một chiều xuân. Đồng nghĩ, có lẽ mình không nên trách Nhĩ Nhĩ, sau một mùa đông dài dặc, con nào chẳng muốn chạy nhắng lên một chút? Đồng đi vòng quanh thành phố rồi ngược dòng sông.

Những tảng băng trôi đã tan, và từ lâu đám thiếu niên không còn tiêu khiển nữa, chúng có trò chơi mới, kích động hơn trong các ngõ hẻm, lập các nhóm mang tên thú dữ và đánh nhau giành cho tên nhóm mình tồn tại. Ban đầu các cuộc đánh lộn chỉ là trò vô hại, đấm và đá, nhưng chẳng mấy chốc các nhóm nhỏ nhập thành nhóm lớn hơn, vũ khí đủ loại sáng tạo bằng cách ăn trộm, mài sắc, giũa và tưởng tượng. Tuy các nhà cầm quyền bỏ lơ các băng nhóm, các bậc cha mẹ, giáo viên và các viên chức trong thành phố còn mải lo nuôi gia đình và thăng tiến đều đều, song mùa xuân năm nay họ cũng bị nỗi lo phiền thâm nhập vào cuộc sống dưới dạng những tờ truyền đơn bất ngờ, in rônêô. Phòng tuyến bị cắt ngang. Họ nên chọn bên nào? Họ âm thầm suy nghĩ ở nơi làm việc và hỏi ý kiến vợ, chồng ở nhà.

Những rắc rối và thiếu quả quyết của thế giới người lớn không lấn sang nhiều thế giới của những người khác, những người ít lo âu hơn. Theo thông lệ hàng năm, học sinh các trường tiểu học tìm ra niềm say mê mới. Mùa xuân năm nay, các bé gái thu thập giấy bóng kính gói kẹo thay cho hạt nhựa hồi năm ngoái, còn bọn con trai cá cược bằng hàng loạt các anh hùng thời chiến thay cho trò chơi tương tự bằng các hình tam giác gấp giấy. Nữ sinh trường trung học vẫn tránh xa các cuộc đánh đấm trên đường phố, dù một số trận rùm beng để thu hút sự chú ý của các em. Không ý thức được những tham vọng tuổi trẻ của bọn con trai, các cô gái phung phí những tình cảm nồng nàn cho các bạn gái thân nhất. Chúng ngồi trên bờ sông hoặc trong sân nhà, bàn tay khóa vào nhau, các ngón tay đan cài, chúng khe khẽ thì thầm về tương lai, e sợ giật mình khỏi giấc mơ về cõi trần gian chẳng mấy nỗi sẽ mở ra như một bông hoa bí ẩn.

Đồng đi qua hai cô gái ngồi bên sông đang hát một bản tình ca, chẳng ai chú ý đến tình trạng của nó. Nó vừa tới rừng bạch dương, một thanh niên đang lom khom trước một cái hang nông vươn thẳng dậy khi nghe thấy tiếng chân nó. Đồng đến gần hơn và nhìn thấy một quả cầu màu xám tua tủa những mũi tên trên mặt đất.

- Cái gì thế? - Nó hỏi.

Người đó quay sang Đồng và suỵt:

- Đừng đánh thức con nhím của tao dậy.

Đồng nhận ra người thanh niên dù nó không biết tên cậu ta.

- Đừng lo, - Đồng nói. - Nó đang ngủ đông, anh có nói nó cũng dậy đâu.

- Mùa xuân đến rồi mà, - người đó nói.

- Nhưng chưa đủ ấm cho nhím, - Đồng nói. Nó đã đọc trong một cuốn niên giám thiếu nhi mà già Hoa nhặt trong thùng rác, rằng loài nhím sẽ không thức dậy khỏi giấc ngủ đông, cho đến khi nhiệt độ lên tới 15° C. Nó thuật lại với cậu thanh niên và chỉ cho cậu ta những thứ nó ghi chép trong cuốn nhật ký về thiên nhiên. Đồng nói, rắn cũng thức dậy vào khoảng thời gian đó, song rùa còn đợi lâu hơn vì phải mất nhiều thời gian hơn sông mới ấm lên. Cậu thanh niên nhún vai và nói thông tin ấy chẳng ích lợi gì cho cậu ta.

- Nhà tao chắc là ấm hơn rồi, - cậu ta nói. Cậu ta đi găng rồi vốc quả cầu tua tủa lên.

- Sao anh lại muốn đưa nó về nhà? - Trong tay cậu thanh niên, con nhím trông như đã chết, dù Đồng biết rõ hơn cả chó săn.

- Vì tao cần một con thú cưng. Mày có con chó tên là Nhĩ Nhĩ, phải không?

- Hôm nay anh có trông thấy nó không? Em đang đi tìm nó, - Đồng nói.

Bát Thập nhìn Đồng, nụ cười của gã thật lạ lùng. Gã băn khoăn sao thằng bé giết con Nhĩ Nhĩ đi nhanh thế. Lúc này chắc nó đã qua ranh giới thành phố.

- Có khi lúc này nó đang chạy đâu đó với bạn gái của nó rồi, - Bát Thập nói.

- Nó không có bạn gái, - Đồng nói.

- Sao mày biết? - Bát Thập nói và cười nhăn nhở khiến Đồng thấy khó chịu. Đồng định không nói chuyện với cậu ta nữa. Nó quay đi nhưng Bát Thập đuổi kịp nó, hai bàn tay vẫn khum khum giữ con nhím. - Tao dạy cho mày một bài nhé. Đôi khi mày cứ tưởng con chó của mày là bạn thân nhất, nhưng mày nhầm. Chẳng hạn như, bỗng nhiên nó về nhà cùng một con khác nữa.

- Nó không thế đâu, - Đồng nói, hơi cáu.

- Sao mày biết?

- Tất nhiên là em biết. Nó là chó của em mà.

Bát Thập không nói gì và huýt sáo. Lát sau, Đồng nói:

- Sao anh cứ theo em?

- Mày đang về thành phố, và tao cũng thế. Vậy sao không phải là mày theo tao?

Đồng đứng lại, cậu thanh niên cũng đứng lại. Đồng quay người đi trở lại dòng sông và Bát Thập cũng quay người, đi cạnh cậu bé.

- Giờ anh đang đi theo em đấy nhé, - Đồng nói.

- Tao chỉ bất ngờ thay đổi ý định và trở lại cùng hướng này, - Bát Thập nói và nháy mắt.

Đồng đỏ mặt vì tức. Người này lớn mà trơ tráo thế không biết; ngay một đứa lên năm cũng còn biết điều hơn.

- Em không muốn đi cùng anh, - Đồng nói. - Đừng đi theo em nữa.

- Tao muốn đi cùng mày, - Bát Thập nói, nhại giọng trẻ con. - Chẳng có luật nào quy định tao không thể đi cùng mày.

- Nhưng em không đi theo người khác nếu người ta bảo không muốn đi cùng em, - Đồng nói, cáu tiết.

- Luật của ai đấy, hả? Mày không sở hữu con đường này. Vì thế tao cứ đặt chân lên bất cứ chỗ nào tao muốn, hiểu chưa? Nếu muốn, tao có thể theo mày đến bất cứ đâu, miễn là tao không vào nhà mày.

Đồng phát khóc, nghẹn lời. Nó chưa bao giờ gặp người nào như gã thanh niên trước mặt, và nó không biết cãi ra sao. Bát Thập khoái chí nhìn Đồng đầm đìa nước mắt rồi bật cười.

- Thôi thôi, tao không muốn trêu mày nữa, - gã nói, vẫn bằng giọng nhại trẻ con. Gã bỏ đi, vừa tung con nhím như một quả bóng và bắt lấy nó bằng đôi tay đeo găng. Được vài lần, gã lỡ tay và con nhím lăn lông lốc trên đất làm gã cười vang.

Đến giờ ăn trưa Nhĩ Nhĩ vẫn chưa về. Khi Đồng nhắc đến sự vắng mặt của nó với bố mẹ, bố nó ngồi sụp xuống chiếc ghế bành duy nhất và nhìn lên tường, nơi chẳng có gì để nhìn và nói, nhạt nhẽo:

- Nó sẽ về khi nào nó muốn.

Nói chuyện với bố trước bữa ăn thật vô tích sự, với ông, bữa ăn là quan trọng nhất và trong lúc đợi ăn, chẳng gì có thể quấy rầy ông dù trời có sụp. Mẹ Đồng liếc nhìn nó thông cảm nhưng không nói gì. Bà đặt bữa lên bàn và mang ra chai rượu gạo. Đồng cầm chai từ tay mẹ và rót một ít vào cái chén sứ. Khi bố nó đã say và ngủ tít, nó sẽ van nài mẹ nó giúp.

Đồng bưng chén bằng cả hai tay đến chỗ bố:

- Cơm đã dọn rồi, bố ạ.

Bố Đồng nhận cái chén và gõ khớp ngón tay lên đầu nó. Đồng đau nhưng cố không để lộ.

- Nuôi một đứa trẻ còn tốt hơn một con chó, - bố nó nói, đấy là cách ông biểu lộ sự tán thành Đồng. Ông đến bàn và cạn chén. - Rót cho bố chén nữa, con trai.

Đồng rót và bố nó hỏi nó có muốn thử một tí không. Mẹ nó miễn cưỡng xen vào, nhưng bố nó không nghe.

- Thử một lần đi, - ông giục Đồng. - Con đủ lớn rồi. Khi bố bằng tuổi con, tối nào bố cũng hút thuốc và uống rượu với ông nội con, - ông ta nói và đấm tay xuống bàn. - Bố tao, là ông nội mày ấy, chẳng là một đàn ông đích thực đấy ư? Tao bảo này, con trai, đừng làm bất cứ việc gì kém ông ấy nhé.

Theo những câu chuyện bố Đồng kể lúc say, thì ông nội nó là một huyền thoại ở địa phương, tính khí nóng nảy, sẵn sàng đánh nhau với bất cứ ai vì một sự bất công nhỏ nhất. Ông mất năm 1951, khi chưa đầy năm mươi tuổi. Nghe nói ông đánh nhau to để bảo vệ dân làng chống lại một Đảng viên được phái đến giám sát quá trình đưa ruộng đất tư nhân vào công xã. Ông đánh Đảng viên đó chết dở, ngày hôm sau ông bị bắt và tử hình tại chỗ như một kẻ thù của đất nước cộng sản mới.

Mẹ Đồng vốc ít lạc rang vào đĩa của bố nó.

- Ông đừng uống rượu suông thế, - bà nói.

Bố Đồng phớt lờ bà. Ông rót chén nữa và chỉ đũa vào Đồng:

- Nghe này, ông nội con là một con người chân chính. Bố con chẳng là gì. Tốt hơn hết, con đừng làm chúng ta thất vọng. Hãy đến đây, ngồi cạnh ta.

Đồng ngập ngừng. Nó không ưa hơi thở của bố nó và những cử chỉ suồng sã khi ông say, nhưng mẹ nó đã dịch ghế cho nó ngồi trước khi nó kịp phản đối. Bố Đồng đặt bàn tay lên vai nó và bảo:

- Để ta kể con nghe chuyện này, con sẽ hiểu con người được tạo ra như thế nào. Con đã nghe về Lưu Bang, hoàng đế đầu tiên của triều Hán chưa? Trước khi lên ngôi vua, ông đã phải chiến đấu nhiều năm với Hạng Vũ, kẻ địch dai dẳng nhất của ông. Một hôm, Hạng Vũ bắt được ông bà, mẹ và vợ của Lưu Bang. Ông ta dẫn họ ra bãi chiến trường và nhắn tin cho Lưu Bang: Nếu ngươi không đầu hàng ngay lập tức, ta sẽ hầm nhừ thịt họ và tối nay, quân lính của ta sẽ có một bữa no nê. Con đoán Lưu Bang đã nói gì không? Chà chà, đúng là một anh hùng của mọi anh hùng! Ông đã viết trả lời Hạng Vũ như sau: Cảm ơn ngươi đã cho ta biết về bữa tiệc. Ngươi sẽ là một người tử tế, hào phóng và gửi cho ta, kẻ thù đang đói của ngươi, một bát thịt hầm nhừ tơi? Hãy nghĩ mà xem, con trai. Nếu trái tim con đủ cứng rắn để ăn thịt mẹ và vợ con, chẳng gì có thể đánh bại con trong đời.

Đồng nhìn mẹ ngồi bên kia bàn. Bà mỉm cười với con, và nó cố cười đáp lại. Hình như mọi sự lại y như thế, trong một đêm nọ, nó và mẹ nó đã phải ngồi và lắng nghe bố nó kể những câu chuyện cũ giống nhau, cơm canh phải hâm nóng mấy lần, cho đến lúc bố nó say mềm không thể nói được nữa, Đồng và mẹ mới được phép ăn.

Đồng nghĩ đến Nhĩ Nhĩ; bố nó bảo yêu chó là một tình cảm tầm thường, và mối quan tâm duy nhất của ông với Đồng hình như là làm nó thành một người đầy nam tính. Đồng tự hỏi nó có khiến bố nó thất vọng không. Nếu kẻ thù đe dọa tính mạng của ông bà và mẹ nó, nó sẽ khóc và van xin, hứa đủ thứ để đổi lấy mạng sống cho họ.

Sau vài tuần rượu, bố Đồng đẩy lùi ghế và bảo mẹ nó lấy một viên gạch, bà vẫn để một chồng gạch trong bếp cho ông biểu diễn kỹ năng kung-fu và khi chồng gạch vơi, bà rất nghiêm túc xếp đầy. Lúc bà trở lại với một viên gạch đỏ, ông lắc đầu và nói quá dễ, tối nay dùng gạch rắn hơn. Nghe chửa? Ông nói, duỗi các ngón tay và tạo thành tiếng rắc bằng các khớp đốt. Bà đáp họ chỉ có gạch đỏ, và bà sẽ xếp chồng hai viên. Bố Đồng phát cáu, gọi bà là mụ đàn bà đần độn, ra lệnh cho bà đi vay một viên của hàng xóm đang xây lán trong sân nhà họ cho một ông bác đến chơi và nhất quyết không chịu về.

Khi bà trở lại với một viên gạch xây dựng nặng chịch, to gấp sáu viên gạch đỏ, bố Đồng cầm lấy và đặt bàn tay kia lên cổ bà:

- Tôi có thể vặn ngoéo cổ bà bằng hai ngón tay. Bà có tin tôi không? - Ông hỏi. Bà cười khúc khích và nói tất nhiên rồi, bà không hề nghi ngờ điều đó. Ông thở phì phì thỏa mãn và đặt viên gạch vào giữa sân.

Đồng quan sát bố nó ngân nga hát và nhảy múa một chút trước khi cúi xuống và gầm vang một tiếng, ông đập vào viên gạch bằng cạnh bàn tay. Tối nay nếu Nhĩ Nhĩ về nhà đúng giờ, nó sẽ thích lắm, nó luôn là người phấn khởi nhất nhà mỗi khi bố Đồng biểu diễn trong cơn say. Viên gạch vẫn nguyên vẹn, nhưng bàn tay bố nó đỏ bầm và sưng phồng. Đồng giấu cả hai bàn tay vào túi. Chỉ có một lần bố Đồng chém vỡ đôi viên gạch, có lẽ hoàn toàn là gặp may, nhưng ông chưa bao giờ chán trò ấy.

Ông cố lần nữa bằng cả hai bàn tay nhưng viên gạch không chịu thua. Lúc ông kiểm tra, các cạnh của cả hai bàn tay đều chảy máu. Không chút bối rối, ông bảo mẹ Đồng đừng làm nhắng lên, lúc bà mang cho ông một mảnh giẻ mềm và sạch. Ông thử hai lần nữa, và khi viên gạch nhất định không chịu đầu hàng, ông đá và hình như ngón chân ông còn đau hơn cả bàn tay. Ông nguyền rủa và nhảy tót vào phòng kho bằng bàn chân lành, mẹ Đồng chưa kịp phản đối, ông đã đập viên gạch cứng bằng búa. Viên gạch vỡ nhưng không thành hai nửa, ông ngồi xổm ngắm nghía và cười ầm lên. Đồng và mẹ nó đến gần hơn, họ thấy ba sợi sắt gỉ ở giữa viên gạch, giữ nó lại với nhau.

- Người ta ăn cắp vật liệu xây dựng ở đâu để làm lán của họ nhỉ? - Bố Đồng nói. Ông lau cẩn thận bàn tay đầy máu vào quần và uống thêm, hài lòng vì không bị mất mặt. Lúc mẹ Đồng giục ông đi nằm lần nữa, ông rút vào phòng ngủ cầm theo chén cuối cùng, và ngay sau đó những tiếng ngáy như sấm của ông lọt qua cánh cửa đóng chặt.

Đồng và mẹ nó ngồi ở bàn, bà mỉm cười với nó:

- Ông ấy là người đến ngộ, - bà nói khẽ và lắc đầu, vẻ thán phục. Lúc này bữa tối đã nguội ngắt, bà nhóm bếp hâm lại cho Đồng nhưng nó chẳng còn lòng dạ nào mà ăn.

- Mẹ ơi, mẹ nghĩ con Nhĩ Nhĩ có bị sao không? - Nó hỏi.

Mẹ Đồng bảo nó đừng lo. Nó chưa kịp trả lời thì nghe thấy một tiếng động. Nó lao ra sân nhưng thất vọng thấy không phải con Nhĩ Nhĩ cào vào cánh cổng mà có người đang gõ. Nó mở cổng. Trong ánh đèn đường vàng vọt, Đồng nhìn thấy bộ mặt không quen của một người đàn bà đứng tuổi, đầu choàng khăn. Bà ta hỏi bố mẹ nó bằng giọng khe khẽ. Cạnh bà, trên mặt đất là một túi nilông to.

- Cô đến vì con chó của cháu phải không? Có chuyện gì với Nhĩ Nhĩ? - Đồng hỏi.

- Sao, cháu mất chó à?

- Nó chưa bao giờ về muộn thế này - nó nói.

- Cô rất tiếc. Nhưng cháu đừng lo, - người đàn bà nói.

Người lớn ai cũng nói y như thế, chẳng giúp được gì. Đồng đứng tránh sang bên nhưng nó chưa kịp mà, bà ta đã vào sân, mẹ nó ra cổng và hỏi bà ta mang gì đến.

- Đồng chí, chắc đồng chí đã nghe về vụ Cố San, - người đàn bà nói. - Tôi đến đây nói chuyện với đồng chí về một cuộc tập hợp vì Cố San.

Mẹ Đồng nhìn quanh trước khi khẽ xin lỗi rằng vợ chồng bà không phải loại người quan tâm đến tin này.

- Xin các vị hãy nghĩ đến những điều khủng khiếp xảy ra với đứa con của một người mẹ khác, - bà ta nói. - Tôi là mẹ của ba đứa con. Và bà cũng là một người mẹ. Cháu có mấy anh chị em, cháu bé?

- Ba, - Đồng nói.

Mẹ nó kéo nó vào sát người hơn:

- Tôi xin lỗi. Nhà này không thích chuyện chính trị.

- Chúng ta không thể chạy trốn khỏi chính trị. Nó sẽ đuổi kịp chúng ta.

- Không phải là tôi không thông cảm, - mẹ Đồng nói. - Nhưng chúng ta có làm được gì khác đâu? Người chết thì đã chết rồi.

- Nhưng nếu lúc này chúng ta không nói, sẽ lại có lần sau, có khi là một đứa con khác. Một ngàn hạt cát có thể xây một cái tháp. Mỗi người chúng ta có thể làm điều có thể, đúng không?

Đồng quan sát mẹ nó, bà tránh người đàn bà và lại xin lỗi. Thỉnh thoảng, những người ăn mày từ thị trấn dừng lại trong ngõ, xin tiền và đồ ăn. Bố Đồng không bao giờ cho những người này vào gần sân nhà họ, nhưng mẹ nó lúc nào nom cũng bối rối khi bố nó quát mắng những người xa lạ nghèo khổ và đói khát rằng ông ta là một công nhân lương thiện, không có nghĩa vụ phải san sẻ đồng tiền bằng máu và mồ hôi của mình. Đôi khi, bố Đồng say rượu và ngủ tít, mẹ nó gói vội mấy cái bánh bao còn lại và để ra ngoài cánh cổng. Sớm hôm sau lúc thức dậy, Đồng thấy những cái bánh không còn nữa. Những người ăn mày có trở lại lấy bánh không? Nó hỏi mẹ khi bố nó không ở quanh đấy, nhưng bà chỉ lắc đầu và mỉm cười, như thể bà không hiểu câu hỏi.

- Đồng chí, xin hãy nghe tôi chỉ một lần này thôi, - người phụ nữ nói. - Ngày mai, chúng tôi tổ chức tưởng niệm Cố San tại quảng trường thành phố. Xin bà hãy đến gặp mẹ cô ấy. Có khi lúc đó bà sẽ thay đổi suy nghĩ và ký vào bản kiến nghị ủng hộ cuộc tập hợp.

Nom mẹ Đồng rất lúng túng.

- Tôi không đi được đâu, tôi... chồng tôi sẽ không bằng lòng. - Bà nhìn quanh xem có ai đến không.

- Tôi cầu xin trái tim và lương tâm của bà, - người phụ nữ nói. - Bà đừng để chồng bà quyết định mọi việc thay bà.

Mẹ Đồng chầm chậm lắc đầu, có vẻ thất vọng vì lời buộc tội. Người phụ nữ mở cái túi nilông và rút ra một bông hoa trắng:

- Dù bà không muốn ký vào bản kiến nghị, xin bà hãy cầm bông hoa trắng này, đến để tỏ lòng kính trọng cô gái anh hùng và mẹ cô ấy, - bà ta nói.

Đồng nhìn bông hoa làm bằng giấy lụa trắng muốt, gắn vào một cuống dài cũng bằng giấy trắng. Mẹ nó thở dài và không nhúc nhích. Đồng nhận bông hoa và người phụ nữ mỉm cười.

- Cháu là người giúp đỡ mẹ cháu rất cừ, - bà ta nói với Đồng rồi quay sang mẹ nó. - Tối nay, mỗi gia đình sẽ nhận được một bông hoa trắng. Nó không gây bất cứ nguy hiểm gì nếu ngày mai, bà chỉ để bông hoa vào giỏ cho chúng tôi. Chúng tôi sẽ ở đó trước lúc mặt trời mọc.

Mẹ Đồng khẽ đóng cổng lại, sau lưng người đàn bà. Bà và Đồng đứng trong bóng tối, lắng nghe người đó gõ cổng nhà hàng xóm. Lát sau, Đồng huých mẹ và đưa bông hoa cho bà. Bà cầm lấy, rứt bông hoa ra khỏi cuống rồi vò cả hai thành một quả cầu nhỏ. Lúc Đồng cao giọng hỏi bà tại sao, bà đặt lòng bàn tay ấm áp, mềm mại lên môi nó:

- Chúng ta không thể giữ bông hoa. Bố sẽ tìm thấy và không vui đâu.

Đồng định phản đối, nhưng bà suỵt nó và nói việc cần hơn là để nó ở đâu. Bà nhẹ nhàng nắm cánh tay Đồng và nó theo bà vào phòng trước. Bố nó vẫn đang ngáy trong phòng ngủ. Các đĩa thức ăn mẹ nó hâm lại đã nguội ngắt, nhưng lúc này hình như bà quá mệt không để ý nữa. Bà đặt nó ngồi bên bàn và bà ngồi phía bên kia.

- Chắc con sắp chết đói rồi hả? - Bà nói.

- Không ạ.

- Đừng bực mình với mẹ, - bà nói. - Khi nào lớn hơn con sẽ hiểu.

- Tại sao mẹ không muốn nộp lại bông hoa vào ngày mai? Cô ấy nói nó không gây phiền toái gì kia mà.

- Chúng ta không thể tin cô ta.

- Nhưng vì sao? - Đồng hỏi.

- Chúng ta không muốn dính dáng gì đến những người này, - mẹ nó nói. - Bố bảo là họ điên.

- Nhưng bố nhầm và họ không điên, - Đồng nói.

Mẹ Đồng nhìn nó gay gắt:

- Con có biết mình nói gì không? - Bà nói.

Đồng lặng thinh. Nó nghĩ đến những tờ truyền đơn nó vẫn giữ và đóng thành một cuốn vở bài tập. Nó đã đọc nhiều chữ trên tờ truyền đơn; phần nó hiểu có vẻ hợp lý. Họ viết rằng nhân dân phải có quyền nói lên điều họ nghĩ, họ nói về sự tôn trọng quyền con người, tuy là thường dân nhưng cũng có vị trí của mình trong xã hội. Đồng hiểu vì sao lúc nào nó cũng cảm thấy bị khinh rẻ vì là một cậu bé nhà quê.

- Đừng cật vấn bố mẹ, - mẹ Đồng nói. - Chúng ta quyết định những gì ta thấy là tốt nhất.

- Mẹ ơi, cô ấy là người xấu à? - Đồng hỏi.

- Ai? Người mang hoa ấy à? Mẹ không biết. Có lẽ cô ấy không xấu, nhưng cô ấy đang làm một việc sai lầm.

- Sao ạ?

- Trước hết, chính quyền không giết nhầm người.

- Vậy ông nội con là người xấu ư?

Mẹ Đồng im lặng một lúc lâu rồi đứng dậy đóng cửa phòng ngủ:

- Có lẽ mẹ không nên nói với con điều này, - bà nói. - Nhưng con phải biết rằng câu chuyện bố con kể không đúng hoàn toàn. Ông nội con đánh một quan chức vì một góa phụ ông muốn cưới sau khi bà nội con chết. Người kia cũng muốn lấy bà ta, vì thế hai người đánh nhau sau khi cãi lộn trong một bữa tiệc. Khi quan chúc kia bị đánh, ông ta tuyên bố ông nội con là phản cách mạng và xử tử. Chẳng có gì cao quý trong câu chuyện, và bố con cũng biết thế.

- Vậy ông nội sai?

Mẹ Đồng lắc đầu:

- Bài học cho con là: Không bao giờ chống lại viên chức của chính quyền. Đừng tưởng bố con chỉ là người nghiện rượu. Ông hiểu nhập tâm từng quy luật và không làm điều gì nhầm lẫn. Nếu không, ông sẽ không còn sống đến tận bây giờ vì có một người cha là phản cách mạng.

- Nhưng nếu chính quyền làm sai? Thầy giáo con bảo không có người lúc nào cũng đúng.

- Cứ để mặc người khác hành động sai trái, còn chúng ta không làm gì hết. Có nhớ chuyện của bố kể về vị Hoàng đế không? Phải có trái tim cứng rắn mới lớn lên thành người, con hiểu chưa?

Đồng gật, tuy nó không biết nghĩ sao về những lời của bà. Bà chưa bao giờ nói với nó những điều như thế, và trông bà xa lạ, gần như dọa dẫm. Bà quan sát nó lâu hơn rồi mỉm cười:

- Trông con nghiêm túc chưa kìa, - bà nói. - Con còn bé và không nên băn khoăn về những việc của người lớn.

Đồng không trả lời. Mẹ lại giục nó ăn. Nó xúc đồ ăn vào miệng mà chẳng biết có vị gì. Rồi nghe thấy một tiếng động và nó chạy ra cổng, nhưng chỉ là gió thổi qua ngõ. Nó trở lại và hỏi mẹ liệu hai mẹ con có nên ra ngoài tìm con Nhĩ Nhĩ không.

Bà thở dài và mặc áo khoác.

- Lại thêm một thằng quấy nhiễu, - bà mệt mỏi nói. - Sao lúc này con không rửa ráy rồi đi nằm? Mẹ sẽ ra ngoài tìm nó cho.

- Con đi với mẹ nhé? - Đồng hỏi.

- Không - mẹ nó nói, giọng bà gay gắt hơn thường lệ làm nó không dám kèo nhèo.

Mẹ Đồng đến nhà bạn cách hai khối nhà và gõ cửa. Bà nói đến để chuyện phiếm, chứ không muốn ở ngoài trời lạnh trong một đêm lộng gió để tìm con chó lạc một cách vô ích. Người bạn - một công nhân - mời bà vào và trong lúc nhâm nhi chén trà nóng, họ bàn kế hoạch ngày hôm sau: gia đình người bạn định đi chơi, họ thường lên núi dịp Thanh minh; mẹ Đồng nói họ chưa có dự định gì, song nhìn các con bạn hăm hở gói ghém đồ ăn, bà cũng muốn làm thế vì lợi ích của Đồng.

Ở mọi nơi trong thành phố, những bông hoa trắng trong túi nilông được phát từ nhà này sang nhà khác. Dân chúng mở cổng, thấy mình đối diện với một bác sĩ trong bệnh viện của công nhân, một nhân viên trong nhà máy quang học, một giáo viên trung học đã nghỉ hưu, một kế toán ở cửa hàng bách hóa, một dược sĩ, vài thanh niên trí thức vừa từ nông thôn trở về. Một số hoa trắng tìm thấy trong các thùng rác, hộp đựng đồ chơi và trong các xó xỉnh sớm bị lãng quên; còn những bông khác được đặt cẩn thận trong lễ vọng và đợi ngày tan tác.

Đêm hôm ấy, Đồng ngủ không ngon. Nó dậy mấy lần và ra sân kiểm tra cái chuồng bằng cáctông của Nhĩ Nhĩ, dù nó biết Nhĩ Nhĩ không thể vượt qua cánh cổng khóa chặt. Chắc Nhĩ Nhĩ gặp chuyện không may rồi. Đồng khóc khe khẽ, mẹ nó thức giấc một lần và bảo nhỏ nó có khi sáng mai Nhĩ Nhĩ sẽ về. Đồng sụt sịt, nó biết mẹ nó không tin vào lời bà nói. Một lát sau nó vẫn không sao nín được, mẹ nó ôm chặt nó và đu đưa rồi bảo có lẽ Nhĩ Nhĩ không bao giờ trở lại. Có chuyện gì với nó? Đồng hỏi. Bà trả lời là không biết, nhưng cứ phải sẵn sàng cho chuyện xấu nhất có thể xảy ra.

Họ đặt cho cô cái tên Mẫu Đơn theo cái khăn mùi soa để trong bọc, một vuông lụa thêu bông mẫu đơn lẻ loi. Màu hồng của hoa và màu xanh của lá đã bợt, nền vải trắng nay đã ngả vàng, còn bà Hoa, đôi tay ôm lấy đứa trẻ sơ sinh, băn khoăn nó xuất thân từ gia đình nào. Già Hoa đáp, vừa cúi xuống và nói với Minh Quang ba tuổi rưỡi rằng dù sao chăng nữa, thân xác công chúa kẹt trong số kiếp một hầu gái, trời đã đáp lại mong mỏi của nó và gửi cho nó một đứa em gái.

Bây giờ bà Hoa hỏi già Hoa, họ có để lại chiếc khăn ấy cho Mẫu Đơn không?

Chắc vậy, già Hoa đáp; chẳng có lý do gì mà họ không làm. Mẫu Đơn sẽ biết cái khăn đó là thứ đặc biệt với cô.

Bà Hoa nhìn già Hoa đào bằng cái cuốc chim, một đầu đã long; Bát Thập đã gợi ý mua dụng cụ mới cho họ, nhưng bà Hoa lo cậu ta lãng phí khoản tiền dành dụm, nên bảo cứ để họ dùng cuốc chim và xẻng của họ, bàn tay già lão của họ đã quen với những thứ này rồi.

Không biết mẹ Mẫu Đơn đã tìm thấy nó chưa, bà Hoa nói, một câu bà hay tự hỏi mình. Già Hoa dùng búa đóng lại cái cuốc chim và đáp họ còn chẳng biết mẹ nó còn sống hay không, nói chi đến việc tìm ra Mẫu Đơn. Thật đáng thương nếu hai mẹ con không tìm được nhau, bà Hoa nói, còn già Hoa nện búa, không nói gì.

Mẫu Đơn chiếm lĩnh giấc mơ của cha mẹ nuôi và người chị lớn, hơn là các cô em gái lần lượt đến với gia đình. Cô là người nhặt rác chậm nhất nhưng khi tìm thấy một cái ví trong thùng rác, cô là người đầu tiên gợi ý rằng nó có thể đựng đủ tiền cho cả nhà sống vui vẻ và thoải mái đến hết đời, và khi thất vọng thấy trong ví toàn ảnh, cô đã tỉ mẩn cắt vụn ra thành nhiều mảnh đến mức không thể nhận ra. Sau mỗi lần tìm thấy một đứa trẻ bên đường, cô khóc tức tưởi và cố nhớ tên các thành phố nhặt được các em, không che giấu hy vọng tìm được bố mẹ đẻ của cô và cả của Minh Quang.

Cho nên chẳng có gì lạ khi ông bà Hoa hay mơ đến cuộc trở về của Mẫu Đơn với bố mẹ đẻ. Chiếc khăn, một đầu cố ý để lòng thòng do người mẹ trong một hoàn cảnh vô vọng, có lẽ một ngày nào đó sẽ được tìm thấy. Còn chuyện của người mẹ như thế nào nhỉ? Bà Hoa tự hỏi, bà hay nghĩ đến những người mẹ của các cô con gái. Trời đã đặt Mẫu Đơn vào tay họ chăm sóc và Trời sẽ đưa cô trở lại, ông bà Hoa tin thế, nhưng rốt cuộc, năm cô mười ba tuổi rưỡi, trái tim chai điếng của họ cũng đành phải gả cô cho một người hơn cô mười tuổi. Anh ta là con một, cha mẹ sinh anh ta khi đã ngoại tứ tuần, lúc hy vọng có một đứa con đã gần như cạn kiệt. Họ hứa sẽ đối xử với Mẫu Đơn như con gái, và tình thương yêu hiển hiện của họ với cô gái khiến ông bà Hoa nhẹ lòng.

Bà Hoa không biết mẹ đẻ Mẫu Đơn khi tìm thấy cô có hiểu và tôn trọng sự dàn xếp cho cuộc hôn nhân này không. Trong trí tưởng tượng của bà thường diễn ra nhiều cảnh khác nhau. Khi thì cậu trai và cha mẹ cậu vô cùng buồn bã khi Mẫu Đơn quyết định rời bỏ họ để tìm một cuộc sống mà cô hằng mơ ước; Lần khác, mẹ đẻ của Mẫu Đơn đau đớn khi cô quay lưng lại với bà, như một sự trừng phạt bà đã bỏ rơi con. Bà Hoa nói với chồng về những nỗi lo lắng này, và ông dừng một nhịp búa. Ông bảo, mẹ thì bao giờ cũng là mẹ, giọng ông trách móc, nhưng bà Hoa biết nếu nói ông cũng là một người bố thì cũng thế mà thôi, nên bà chỉ thở dài và im lặng. Con mất cha mẹ thành mồ côi, vợ mất chồng thành góa phụ, nhưng chẳng có từ nào chỉ những bậc cha mẹ mất con. Đã một thời là cha mẹ, họ sẽ là cha mẹ suốt quãng đời còn lại.

Chẳng ai nói gì một lúc lâu. Già Hoa để cái cuốc chim sang một bên và bắt đầu vớ lấy cái xẻng cùn mép.

Lúc phá tan sự im lặng, bà Hoa nói sáng mai họ nên đến quảng trường thành phố.

Già Hoa ngước nhìn bà, không đáp.

Bà Hoa nói, bà cảm thấy có trách nhiệm với ông giáo Cố. Ý nghĩ ấy có trong đầu bà từ khi bà biết tin ông giáo ốm. Họ nên đến đó và xin lỗi bà Cố.

Già Hoa nói họ đã được thuê chôn cất.

Họ có thể đến sớm, trước khi đi chôn, bà Hoa nói. Bát Thập đã đến lúc đầu giờ chiều nay, nói cậu ta bị cảm lạnh và nhờ vợ chồng bà chôn cất bà nội hộ. Già Hoa và bà Hoa không nói toẹt vào mặt cậu ta là nói dối; cậu ta đã trả công họ hậu hĩnh.

Già Hoa gật. Họ sẽ đi, ông nói, và bà biết là ông sẽ làm thế.

Dịch nguyên bản từ tiếng Anh The Vargants by Yiyun Li
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 10 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.