Những Kẻ Lang Thang

Lượt đọc: 10 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần Ii - Bảy
Bảy

❊ ❊ ❊

Cô trông trẻ đứng ở ngưỡng cửa phòng trẻ, nhẫn nại ngắm Khai và Minh Minh. Cuộc chia tay buổi sáng chẳng bao giờ dễ dàng, nhưng trước cái nhìn chăm chú của cô gái, Khai cảm thấy càng bất lực hơn bao giờ. Cô trông trẻ mới mười lăm tuổi rưỡi, nhưng vẻ cam chịu trên mặt khiến nom cô già dặn như người phụ nữ trung niên đã sống và làm việc ở đây trước cô.

- Thôi nào, - cuối cùng cô trông trẻ nói lúc Khai không thể gỡ những ngón tay nhỏ nhắn của Minh Minh ra. Nó gào khóc phản đối khi bị rứt khỏi vòng tay mẹ, còn cô trông trẻ nắm lấy cổ tay bé nhỏ của nó và lắc nhè nhẹ:

- Minh Minh ngoan lắm nhé. Em vẫy mẹ và để mẹ đi làm nào. Không làm việc, mẹ không có tiền đâu. Không có tiền thì không có thức ăn. Không có đồ ăn, bụng Minh Minh sôi ầm ầm lên và mẹ sẽ buồn quá, không đi làm được đâu.

Cô gái có kiểu dỗ dành vòng vo, giọng cô đều đều và chậm rãi như đang kể chuyện cổ tích, còn Minh Minh luôn dịu lại. Những lúc ấy Khai cảm thấy cô gái vừa ngây thơ vừa bí ẩn, thân hình gày gò kia ẩn chứa một đứa trẻ và một bà già, không hề chú ý đến sự tồn tại của người khác.

Hán ra khỏi buồng tắm, cài nốt cái khuy cuối cùng trên chiếc áo khoác kiểu lãnh tụ.

- Đúng rồi, để mẹ đi làm nào, - anh ta nói và cù vào dưới cằm Minh Minh. - Nhưng mẹ không đi làm, ba vẫn thừa tiền tiêu. Con thấy con may mắn chưa nào?

Minh Minh quay đi và ôm cổ cô trông trẻ, sẵn sàng xua bố mẹ ra khỏi thế giới của nó trước khi nó bị bỏ lại suốt ngày. Sự gắn bó và hờ hững vô điều kiện của đứa trẻ là điều bí ẩn với Khai. Cô không nhớ mình từng gần gũi với mẹ, một người đàn bà bất hạnh dễ thất vọng vì mọi thứ trên đời: vì chồng bà không có địa vị xã hội, vì ba đứa con thân thiết với cha nhưng lại keo kiệt tình yêu thương với mẹ, vì các bạn đồng nghiệp trong trường được đề bạt, vì cuộc sống buồn chán hết năm này đến năm khác trong một tỉnh lẻ. Mẹ Hán là một phụ nữ đanh đá, luôn tin tưởng vào sự nghiệp chính trị của chồng và bản thân, xuất thân là nữ y tá trong cuộc nội chiến và luôn nhắm tới những quan chức cao cấp, bà chăm chút đến những nhu cầu của Hán, có lẽ là người mẹ tốt hơn mẹ Khai nhưng cô chưa bao giờ nghĩ đến việc học mẹ chồng. Cho đến khi sinh Minh Minh, Khai luôn là người dựa vào những chỉ bảo của các giáo viên trong trường sân khấu, của người nữ nghệ sĩ già là cố vấn của đoàn kịch, và của cha cô. Trong bổn phận làm mẹ mới mẻ, cô cảm thấy không khác nhiều lắm so với đứa trẻ trong một làng chài - trước kia cha cô đã kể cho chị em cô về việc rèn luyện ở thành phố quê hương ông gần biển Đông, nơi một đứa trẻ tròn ba tuổi bị ném vào biển cả không một lời răn dạy, đứa trẻ phải dùng bản năng của mình để nổi trên mặt nước và những đứa không thể tự cứu lấy mình khi bị rơi khỏi thuyền đánh cá sẽ sống lay lắt trên bờ biển, vá lưới, thu nhặt cá khô và rong biển trên dây phơi cùng đám đàn bà. Đời là một cuộc chiến, con người chỉ nghỉ ngơi khi thần chết đến tìm, Khai nhớ tới câu châm ngôn của cha cô. Cô nhìn chân tay bé nhỏ của Minh Minh, ở đoạn đời khác nó sẽ sớm phải đấu tranh trong trận chiến đầu tiên của đời mình.

Khai nhắc lại với cô trông trẻ vài chi tiết về việc cho Minh Minh ăn và ngủ. Nom cô gái nhẫn nại và Khai tự hỏi liệu cô ta có mong họ đi làm để có thể chăm sóc Minh Minh khéo hơn cô nhiều. Lúc mướn cô gái, cha mẹ cô ta đã nói với Khai rằng là con gái cả trong nhà, cô ta đã giúp cha mẹ nuôi sáu đứa em, đứa bé nhất không lớn hơn Minh Minh mấy tí. Cô gái đã như một người mẹ trước khi bước vào tuổi trưởng thành, Khai nghĩ, đôi tay Minh Minh vòng quanh cổ cô gái tin cậy và thân thiết nhắc Khai rằng trong cuộc sống của đứa trẻ, thay thế mẹ bằng một người đằm thắm khác dễ dàng biết bao.

Hán khăng khăng đòi tiễn Khai đến trường quay. Cuộc phê đấu bố trí hoàn hảo ngày hôm trước và thêm nữa là cuộc cấy ghép thành công khiến lúc này Hán thấy không cần giữ kín với Khai rằng một quan chức hàng đầu trong tỉnh đã nhận được đôi thận của Cố San và Hán được khen ngợi, khiến anh ta trở nên ba hoa hơn thường lệ.

- Chính vì thế mà tiến hành phiên xử cô ta? - Khai hỏi.

Hán mỉm cười và nói họ không cần quan tâm đến những chi tiết chẳng liên quan gì; lúc này họ có nhiều điều quan trọng hơn để chờ đợi, anh ta nói và lúc Khai hỏi, mỉa mai hơn dự định, là anh ta định nói gì, Hán gợi ý đến đứa con thứ hai.

Nhưng Minh Minh còn bé lắm, Khai nói. Hán ngắm nghía kỹ càng mặt vợ và bảo cô đừng lo. Anh ta bảo đến lúc cô em gái bé bỏng ra đời thì Minh Minh cũng đủ lớn để làm anh rồi. Ngay cả trước khi có Minh Minh, Hán đã hy vọng có một cô con gái dù biết có con trai đầu lòng sẽ làm cha mẹ anh ta mãn nguyện hơn.

Nhỡ họ lại sinh con trai, Khai nhắc Hán.

- Thì chúng mình lại đẻ đứa nữa. Anh sẽ không thôi cho đến lúc có một đứa con gái xinh đẹp như mẹ nó.

Khai im lặng một lát rồi nói rằng cô không phải là con lợn nái. Hán cười to. Anh ta có thể dễ dàng thấy mọi điều cô nói đều nhộn, và cô nghĩ anh ta sẽ thất bại như một nghệ sĩ, không có khả năng công nhận hoặc phân phát sự tinh tế trong dòng dõi của mình.

Lúc này Hán nói càng nghiêm túc hơn, đã đến lúc nghĩ đến đứa con thứ hai, rồi sớm có ngay đứa thứ ba. Hán giải thích, Minh Minh là để cho cha mẹ anh ta, là đứa cháu nội đầu tiên sinh ra để hài lòng và tiêu khiển cho ông bà. Với mẹ Khai cũng vậy, Hán vội vã nói thêm khi thấy Khai nhìn mình chằm chặp, dù cô không khó chịu, đúng hơn, cô đang nghĩ anh ta đã chót nói ra sự thực: mẹ Khai say mê Minh Minh theo kiểu nhút nhát, như thể bà không có quyền xác nhận nó là cháu như cha mẹ Hán.

Đứa thứ hai cho Minh Minh, nó cần có bạn chơi hơn là họ cần thêm đứa con nữa để mất ngủ, Hán nói. Chỉ đến đứa thứ ba mới có thể là của riêng họ. “Anh không phải là người ích kỷ nhưng anh muốn chúng ta có cái gì đó là của mình”, Hán nói.

Khai bước đi, không đáp. Cô luôn tự thuyết phục mình rằng quyết định lấy chồng chẳng khác gì việc dọn bữa cho một bàn đầy thực khách, mỗi người tính toán một kiểu khác nhau: cha mẹ cô hãnh diện vì ngày càng được trọng vọng hơn, vì tương lai của hai đứa em Khai - Hán đã thu xếp gửi em trai Khai vào trường Sư phạm trên tỉnh, còn cô em gái rất mãn nguyện vì được một người họ hàng của nhân vật quan trọng trong chính quyền ve vãn. Những nhân vật nữ mà Khai đóng trên sân khấu đều hiến dâng đời mình cho những tiếng gọi cao cả hơn, nhưng cô quyết định lấy Hán không phải vì ước mơ cao quý, mà vì một cuộc sống an nhàn và tiện nghi.

Khi họ đến trường quay, Hán cam đoan với Khai là không có ép buộc gì hết. Anh ta đưa cho Khai ca trà thảo dược mang theo:

- Thỉnh thoảng đàn ông có thể trò chuyện như một thằng ngốc lúc đang mơ mộng chứ.

Khai mỉm cười và nói cô chỉ mệt thôi. Cô không có quyền ngăn một người chồng san sẻ mơ ước về tương lai với vợ. Cô tự hỏi nếu mọi cuộc hôn nhân đều do những mánh khóe dối trá tạo thành, thì liệu có giữ cho hôn nhân khỏi sụp đổ nếu bên bị lừa cứ giữ lòng tin mù quáng hoặc sẵn sàng lảng tránh sự thật không mong muốn. Trong năm cuối đời, trong vài cuộc nói chuyện riêng với Khai, cha cô đã thừa nhận rằng kết hôn với mẹ cô là quyết định đáng tiếc nhất mà ông từng làm và ông giữ cuộc hôn nhân đó chẳng qua vì lợi ích của ba đứa con. Lời thú nhận này không lộ ra với mẹ Khai, vì không cần hứa với nhau, cả hai cha con đều hiểu.

- Anh biết có thể anh không phải là người chồng hoàn hảo của em, - Hán nói. - Nhưng anh cũng biết em không thể tìm được người muốn làm nhiều việc cho em như anh, hoặc người có thể làm được nhiều cho em như anh đã làm cho em.

- Sao chúng ta cứ nói chuyện như một cặp vợ chồng mới cưới, cần khẳng định mình với nhau thế nhỉ? - Khai nói, cố làm cho giọng mình nhẹ nhàng. - Minh Minh chưa đủ cho chúng ta hay sao?

Hán đăm đăm nhìn Khai với nụ cười lạ lùng:

- Em nghĩ là có bao nhiêu đứa con mới làm em ổn định?

Cô sẽ chẳng bao giờ ổn định, Khai nói.

Cô chẳng phải là cô gái duy nhất, Hán nói. Khai chưa bao giờ hỏi anh ta về những đối thủ khác, và anh ta cũng ít hỏi cô về quá khứ, dẫu cô biết anh ta có nhiều quan hệ để khám phá nếu anh ta muốn. Hán nói, chẳng lạ gì những thứ các cô gái khác mong muốn, và rõ ràng anh ta có thể dễ dàng cho họ những điều họ theo đuổi. “Nhưng em khác hẳn. Anh biết ngay khi nhìn thấy em. Em nhiều hoài bão hơn hẳn các cô gái khác, và anh nghĩ có khi anh không thể có đủ cho những thứ em muốn”.

Khai chưa bao giờ thấy Hán nói năng thẳng thắn như thế, cũng như cô không mong anh ta sáng suốt hoặc sâu sắc, và cô đâm hoảng. Cô vẫn nghĩ anh ta chẳng hơn gì một cậu con trai được nuông chiều, và thấy việc chăm sóc anh ta vừa như một người mẹ, vừa như một bạn chơi khiến cô ngột ngạt. Lúc này cô mong anh ta là bất cứ cái gì. Cô xem đồng hồ. Cô nói bây giờ cô cần sửa soạn, và Hán gật đầu. Anh ta nói mình cũng cảm thấy bần thần, mệt mỏi vào lúc đầu xuân và hứa sẽ bình phục khi gặp cô vào bữa trưa.

Mất mấy giây Bát Thập mới nhận ra đêm dài đã hết. Mảng trời trong cửa sổ cao của phòng ngủ xanh lơ và không gợn mây, qua cửa ra vào mở nửa chừng, gã có thể thấy phòng khách chan hòa ánh nắng sáng chói. Gã đã lỡ thời gian tốt nhất để gặp Nhược Nhược. Gã không biết cô gái có đợi gã không. Với Bát Thập, đêm qua là một đêm thao thức. Gã nghĩ đến nhiều cách tố cáo tội ác của lão Keng với thành phố, nhưng chẳng có cách nào là ổn. Trong khi đó, gã cảm thấy bóng ma của cô gái đậu ở chân giường, khi gã nhắm mắt và không chịu nhận ra sự có mặt của cô, cô bèn lọt vào khoảng không trong mí mắt gã. Sau một giờ trằn trọc và giở mình, gã thủ dâm. Bóng ma của cô gái biến mất, mang theo khoái cảm thường lệ của gã khi làm việc này. Mãn cuộc, gã mệt lử, đau đớn hơn sung sướng và nằm mê liên miên. Trong một cơn mưa, có một đám cưới kép, Nhược Nhược và gã là cặp thứ nhất, cô gái phản cách mạng bị tử hình và lão Keng là cặp thứ hai. Lúc này Bát Thập nghĩ, giấc mơ thật kinh dị, nhưng có lẽ đó là dấu hiệu công lý đã đưa lão Keng đến với cô dâu đã chết của lão.

Lúc Bát Thập hỏi bà nội mấy giờ, bà gã không trả lời. Gã vén rèm chắn giữa họ và thấy bà trên giường. Bà mơ gì mà vẫn nằm? Gã hỏi. Ông nội gã về thăm hay sao? Bát Thập định đùa, nhưng chưa thốt ra lời, gã nhận thấy bà nội là lạ, gò má bà xám như tro.

Năm phút sau, Bát Thập mới tin bà nội đã chết, dù sờ vào da bà vẫn còn âm ấm. Gã ngồi xuống cạnh bà trên giường, không biết phải làm gì. Khi còn sống, bà ít quấy rầy so với những bà lão trạc tuổi bà, nhưng bà đã chọn lúc bất tiện nhất để chết. Đó là lúc bắt đầu cuộc sống mới của Bát Thập, có Nhược Nhược làm bạn và lão Keng để chiến đấu, gã cần bà sống thêm ít lâu để chăm sóc gã. Trong suốt nửa giờ sau, Bát Thập kiểm tra vài lần, nhưng mỗi lần xem xét, bà càng lạnh hơn.

Bà nội đã chuẩn bị cho đoạn cuối này suốt một thời gian. Vài năm trước, bà đã thuê hai thợ mộc và một thợ sơn đóng quan tài, bà giám sát công việc tỉ mỉ để biết chắc cái quan tài đúng như bà khao khát. Bà cũng trữ hàng chồng quần áo thêu để liệm - xiêm lụa đen thêu hoa cúc vàng và hồng, giày màu ngà, mũ ngủ bằng sa-tanh mịn thêu hàng chục chữ thọ, sắp xếp thành những hoa văn phức tạp. Một hộp bản sao rẻ tiền các đồ nữ trang sẽ theo bà sang thế giới bên kia; còn nữ trang thật - bằng vàng, bạc, ngọc bích và ngọc lục bảo - sẽ bán lấy tiền khi Bát Thập học xong trung học mà chưa kiếm được việc làm bảo đảm.

- Bà đã thu xếp mọi thứ cho cháu, - bà nói với gã, mỗi tháng một hoặc hai lần bà xem lại những đồ chuẩn bị cho cõi sau. - Bà sẽ không là gánh nặng cho cháu đâu.

Sao bà lại gọi mình là gánh nặng, khi bà là người yêu quý nhất trong đời gã? Bát Thập thường nói thế với bà, nhưng thay vì vui, bà lại chảy nước mắt. “Số cháu sinh ra đã khổ. Không biết cha mẹ là ai! Nhờ Trời bà còn sống lâu nhìn cháu trưởng thành”, bà nội Bát Thập nói và kể lại nhiều chuyện của các thời đại khác nhau trong đời bà.

Kiểu nói chuyện này luôn làm Bát Thập bật cười. Gã cần gì một bà già, khi gã có thể tự chăm sóc mình hoàn hảo? Nhưng lúc này, gã ước giá bà nội ở đây giúp gã. Bà bảo bà đã sẵn sàng ra đi, nhưng gã cần làm những gì để bà ra khỏi nhà và đi vào lòng đất? Bát Thập ngồi cạnh giường bà một lúc và quyết định tìm sự trợ giúp. Những người hàng xóm thì chẳng mong gì, tuy họ là bạn của bà nội nhưng đều khinh gã; để bà vào tay họ chỉ khiến gã thành mục tiêu bàn tán bên bàn ăn nhà họ. Nhược Nhược thì chẳng biết gì ngoài cái giỏ than và rau thối. Lão Keng có vẻ là người thạo đời, nên mới được một gia đình khác tìm đến thuê chôn cất con gái họ, nhưng những bí mật bẩn thỉu của lão vẫn còn mới tinh trong đầu Bát Thập, gã không bao giờ muốn lão đến gần bà nội mình. Những người duy nhất còn lại là ông bà Hoa. Họ đã nuôi nấng những đứa trẻ bị vứt như mớ giẻ rách, chắc chắn họ sẽ giúp gã chôn cất một bà già đáng kính.

Phố xá vẫn y nguyên như trước đây, nhưng dân chúng trên đường đi làm không nhìn Bát Thập và hiểu được sự mất mát của gã. Gã đi về hướng Nam xuống bờ sông và từ đó dọc con sông về phía Tây. Khi đã thoát khỏi tầm nhìn của đám thị dân, gã ngồi xuống một tảng đá và bật khóc.

- Sao mới sáng lại ngồi đây mà khóc, hở? - Có ai đó hỏi và đá nhẹ vào bàn chân gã.

Bát Thập đưa mu bàn tay lau mặt. Đó là lão Keng, chiếc áo khoác vải bông vắt vai, tay xách một túi nặng đồ ăn sáng. Chắc lão từ ca đêm về.

- Mặc tôi, - Bát Thập nói.

- Đấy không phải lối trả lời câu chào hỏi thân tình rồi. Có muốn ăn một miếng thủ lợn không?

Bát Thập lắc đầu:

- Bà nội tôi chết rồi, - gã nói, dù quyết coi lão Keng là kẻ thù.

- Bao giờ?

- Đêm qua. Sáng nay. Tôi không biết. Bà ấy chết rồi.

- Chia buồn với mày, - Keng nói. - Bà cụ bao nhiêu tuổi?

- Tám mốt.

- Đủ để gọi là một cuộc ra đi vui vẻ, - lão Keng nói. - Đừng khóc nữa. Hãy mừng cho bà.

Mắt Bát Thập đỏ hoe. Đây là những lời an ủi đầu tiên gã được nghe, và gã gần như thấy phải tha thứ cho lão Keng.

- Tôi không biết loại đám tang như thế nào cho xứng với bà. Với tôi, bà vừa là cha, là mẹ, vừa là bà nội, - Bát Thập nói. Ý nghĩ là đứa mồ côi khiến gã thấy mình bé lại lần nữa, y như gã cảm thấy vào cái ngày mẹ để gã lại cho bà nội nhiều năm trước. Gã thử ho vào lòng bàn tay nhưng nó bật ra thành tiếng nức nở.

- Này, tao biết mày buồn nhưng nếu mày muốn làm bà mày vui lòng, lúc này đừng mất thời giờ khóc lóc nữa.

- Thế tôi phải làm gì? Tôi chưa bao giờ trông nom người chết, - gã nói.

Lão Keng ngước nhìn trời cao. Gió từ đêm trước đã tắt lịm, dự báo thời tiết ấm áp. Mặt trời ló một nửa trên núi, hứa hẹn một ngày đầu xuân dễ chịu.

- Trời sẽ ấm lên trong hai tuần, - Keng nói. - Tao sẽ tìm chỗ chôn bà trước khi tuyết tan. Hãy đến bệnh viện thành phố thuê cho bà một chỗ.

- Sao hôm qua gia đình ấy không thuê bệnh viện? - Bát Thập hỏi nhưng khi câu hỏi buột ra, gã thấy tiếc.

- Nhà xác chỉ nhận những xác chết tự nhiên thôi.

- Chết tự nhiên là gì?

- Là chết như bà mày.

Hình ảnh xác cô gái trở lại với Bát Thập. Gã thở nặng nhọc, cố kìm cơn buồn nôn.

- Cảm ơn ông đã bảo tôi. Giờ tôi đến đó đây.

- Nhưng mày đang đi sai hướng, - lão Keng nói.

Bát Thập nhìn đường về phía Tây dẫn lên núi, nơi xác cô gái bị mổ phanh dưới bụi cây. Gã không biết lão Keng có nhìn thấu ý nghĩ của gã không. Gã nói muốn báo tin cho ông bà Hoa biết đầu tiên, vì họ là bạn của bà nội gã.

Lão Keng quan sát Bát Thập, và gã cảm thấy da đầu căng lên dưới cái nhìn trừng trừng của lão.

- Tôi đi đây, - Bát Thập đứng lên và ngại ngùng giơ một bàn tay.

Lão Keng châm một điếu thuốc:

- Mày có biết tao không thích bất cứ ai quanh quẩn gần nhà tao không?

- Sao tôi lại muốn thế? Tôi phải chăm sóc bà nội.

Lão Keng gật đầu:

- Tao chỉ nhắc thế thôi.

Bát Thập hứa sẽ cư xử phải phép rồi vội vàng bỏ đi. Lẽ ra đêm qua gã nên xếp các tảng đá lại như cũ. Một thám tử giỏi không được để lại bất cứ dấu vết nào khi điều tra. Gã tự hỏi sửa chữa lỗi lầm có quá muộn không.

Lều của ông bà Hoa đã cài then. Bát Thập nhặt một mẩu than và viết nguệch ngoạc những chữ to tướng lên cửa: Bà cháu đã chết - Bát Thập. Gã nhìn những chữ cái rồi xóa chữ chết và viết thành mất. Không nên quấy quả hai ông bà già vì thực tế tàn nhẫn, Bát Thập nghĩ và lúc đó gã chợt nghĩ ra ông bà Hoa không biết đọc.

Chuyến đến nhà xác thật nản lòng, thêm một dấu hiệu nữa về cuộc đời đang ngày càng tồi tệ. Người đàn bà ở bàn tiếp khách quăng một tập giấy qua bàn trước khi Bát Thập kịp giải thích với bà ta. Khi gã mở miệng bà ta chỉ vào tập giấy:

- Điền vào đã rồi hãy mở mồm.

Bát Thập mất một lúc lâu trả lời các câu hỏi. Gã quên mang theo sổ hộ khẩu. Người phụ nữ rất không hài lòng nhưng chắc hiểu sự sơ suất của đứa cháu trai tuyệt vọng. Biết đâu bây giờ bà nội gã đã chết, mọi người sẽ nhìn gã khác đi; có khi họ sẽ tha thứ và thương vì gã mồ côi. Gã nhúng bút vào lọ mực và nói với người đàn bà lúc viết xong:

- Bà là người thân duy nhất của tôi và tôi cũng là người thân duy nhất của bà.

Người đàn bà nhếch một bên lông mày và nhìn Bát Thập, không đáp. Có lẽ bà ta không biết gã là ai.

- Hôm nay bà nội đã bỏ tôi, - gã giải thích. - Tôi không có cha mẹ. Tôi nhớ là chưa bao giờ có.

- Tôi đã bảo không mở miệng trước khi điền xong kia mà?

- Vâng, nhưng tôi chỉ muốn là người thân thiện, - Bát Thập nói. - Ở đây bà chẳng có nhiều người để nói chuyện, nhỉ?

Người đàn bà thở dài và giơ tờ tạp chí lên che mắt. Gã nhìn tờ bìa Những bộ phim nổi tiếng in một cặp trai gái ngả người lên cây và nhìn Bát Thập vẻ sung sướng. Bát Thập nhăn mặt với cặp này rồi trở lại việc điền nốt chỗ giấy tờ. Tờ cuối cùng là giấy cho phép hỏa táng. Bát Thập đọc hai lần mới hiểu.

- Đồng chí, - gã nói khẽ, khàn khàn, mong được sự thông cảm mà gã xứng đáng được hưởng.

- Xong chưa?

- Tôi có một câu hỏi. Bà tôi tám mốt tuổi và đã nuôi tôi từ khi tôi bé tí, bà đã đóng một cỗ quan tài. Bà tôi không thích bị thiêu, - Bát Thập nói. - Tôi không biết bà thế nào nhưng tôi cũng không thích bị thiêu, dù sống hay chết.

Người đàn bà chằm chặp nhìn Bát Thập một lúc lâu và chộp lấy tờ đăng ký trong tay gã:

- Sao còn làm mất thời giờ của tôi? - Bà ta nói. Bà ta xé toạc tờ giấy, vò thành một quả bóng và ném vào thùng rác cạnh lối ra. Bà ta ném trượt, và Bát Thập đến nhặt quả bóng giấy lên.

- Tôi không hiểu, đồng chí ạ, - gã nói, cố tỏ ra nhún nhường. - Đồng chí bảo tôi điền xong hãy mở mồm, tôi đã làm y như thế. - Theo quan sát của Bát Thập phần lớn phụ nữ hay gắt gỏng ở nơi làm việc. Ở nhà, họ phải phục dịch các ông chồng cục cằn, vì thế ở công sở phụ nữ phải chứng tỏ họ có quyền, có thế. Bát Thập sẵn sàng chiều lòng người này, dù bà ta không còn trẻ, hai túi thịt sẫm màu dưới mắt khiến bà ta trông như con gấu trúc.

Người đàn bà chỉ tờ yết thị dán trên tường:

- Đọc đi, - bà ta nói rồi lại cắm cúi với tờ tạp chí.

- Vâng, vâng, tất nhiên rồi, đồng chí bảo gì cũng xong ạ, - Bát Thập nói. Gã đọc tờ yết thị: Theo chủ trương mới của tỉnh thay đổi phong tục địa táng cũ kỹ, lạc hậu, chiếm quá nhiều đất trồng trọt phục vụ dân số đang gia tăng, chính quyền thành phố quyết định hỏa táng là hình thức mai táng hợp pháp duy nhất; còn hai tháng rưỡi nữa quyết định có hiệu lực.

- Hình như chúng ta vẫn còn thời gian cho đến khi quyết định có hiệu lực, - Bát Thập nói với bà ta. - Đủ thời gian chôn một bà già bé nhỏ chứ ạ?

- Đấy là việc của cậu, - người đàn bà nói, vọng ra từ sau tờ tạp chí. - Không phải của chúng tôi.

- Nhưng tôi có thể thuê một chỗ trong nhà lạnh của các vị cho đến khi tuyết bắt đầu tan?

- Chúng tôi chỉ nhận xác để hỏa táng.

- Nhưng quy định nói rằng...

- Quên đi. Ở đây chúng tôi không đủ chỗ cho tất cả mọi người, và bây giờ chủ trương của chúng tôi là chỉ nhận các xác hỏa táng thôi, - người đàn bà nói. Bà ta rời bàn và vào văn phòng bên trong.

Bát Thập rời nhà xác, trong lòng đỡ nặng nề. Bà nội gã là người khôn ngoan, đã chọn đúng lúc để chết. Sống thêm hai tháng nữa sẽ phải vào lò thiêu - như bà hay nói - Trời đã quy định trừng phạt bất cứ loại tham lam nào. Cái chết của bà nội thay vì là một thảm họa, lại thành một việc đáng ăn mừng. Bát Thập tự nhắc nhở, con người phải luôn luôn nhìn thấy mặt tốt của sự việc. Sức lực hàng ngày của gã đã phục hồi. Ánh nắng ấm trên mặt gã, một buổi sáng xuân vui tươi.

- Bát Thập, - một giọng nói khe khẽ từ lối đi bên cạnh. - Bát Thập xoay người và nhìn thấy Nhược Nhược, đầu trần, cái mũ trong bàn tay lành lặn, đứng trong bóng bức tường của lối đi. Nom nó không đến nỗi xấu xí như gã nhớ.

- Nhược Nhược! - Bát Thập nói, mừng rỡ gặp một bộ mặt thân thiện. - Mày làm gì ở đây?

- Em đang tìm anh. Sáng nay em không nhìn thấy anh, - Nhược Nhược nói. - Hôm qua anh bảo sẽ cho em than nếu em nói chuyện với anh.

Bát Thập gõ vào đầu, mạnh hơn ý định và cau mày:

- Tất nhiên rồi, đấy là lỗi của tao, - gã nói và tiến tới. - Nhưng chỉ vì sáng nay tao phải chạy đi có việc quan trọng. Mày có muốn nghe không?

Nhược Nhược mở to mắt và lần đầu tiên Bát Thập nhận ra nó có riềm mi đẹp, dày và tròng mắt nó màu nâu sẫm. Gã thổi vào lông mi Nhược Nhược và nó chớp mắt. Gã cười rồi dụi mạnh vào mắt, có vẻ buồn bã:

- Bà nội tao mất đêm qua, - gã nói.

Nhược Nhược há hốc miệng.

- Phải, một mình bà đã nuôi tao và chẳng yêu quý ai ngoài tao, - Bát Thập nói.

- Bà chết như thế nào?

- Tao không biết. Bà chết trong lúc ngủ.

- Thế sao anh lại buồn? Anh nên vui chứ. Em nghe người ta nói nếu một người phụ nữ chết trong lúc ngủ có nghĩa là được thưởng vì làm nhiều việc thiện.

- Tao vui! - Bát Thập nói. - Nhưng có điều, không ai sẵn lòng giúp tao chôn bà.

- Bây giờ bà ở đâu? - Nhược Nhược hỏi. - Anh đã lau rửa và thay quần áo cho bà chưa? Anh không muốn bà ra đi không được rửa ráy và mặc quần áo cũ chứ?

- Làm sao tao biết những việc này? - Bát Thập nói, - Trước kia chưa ai chết hết. Mày biết nhiều nhỉ. Mày có muốn đến giúp anh không?

Nhược Nhược ngập ngừng:

- Em phải đến chợ.

- Nhà tao có đủ rau cho mày và lũ em xinh xắn của mày. Cả than nữa. Mày thích bao nhiêu cứ lấy. Hãy đến và giúp một bà già tử tế, - Bát Thập nói. - Nào đi, đừng bắt bạn bè phải đợi.

Đi sau Bát Thập vài bước, Nhược Nhược đếm các cột đèn. Gã không muốn hai đứa đi cạnh nhau, để người ta không ngờ vực. Từ chợ, chúng rẽ lên hướng Bắc và theo con đường lên quả núi phía bắc. Nơi đây các khối nhà xây theo kiểu giống hệt dưới thung lũng, nhưng nhà của Bát Thập lớn khác thường. Gã nhìn khắp con phố vắng vẻ trước khi mở khóa cổng và ra hiệu cho Nhược Nhược vào. Nó nhìn tòa nhà rộng rãi trước mặt, rất ấn tượng. Sân rộng gấp đôi bình thường, nhà kho lớn bằng căn phòng đằng trước của nhà nó, tường gạch xây ngăn với các sân hàng xóm. Bát Thập giảng giải, cha gã là anh hùng nên người ta phân cho diện tích lớn hơn nhà người khác, song đội xây dựng chẳng buồn làm cho ra hồn, nên xây một ngôi nhà hai phòng giống y như các nhà khác trên phố, chỉ rộng gấp đôi mà thôi.

- Chắc anh phải tốn nhiều than lắm mới sưởi ấm được cả nhà này, - Nhược Nhược nói lúc bước vào phòng trước. Một giá cao ngăn phòng thành bếp - có bồn rửa, vòi nước, một bếp lò để nấu nướng, vài cái tủ vẽ hoa lá - và một phòng khách, có lò sưởi riêng. Tường phòng khách dán kín quảng cáo cảnh các nam, nữ anh hùng trong các bộ phim và kịch cách mạng. Nhược Nhược sờ cái bàn đặt giữa phòng khách, trông nặng nề vì những hình chạm, khắc kiểu cổ tứ phía. Hai ghế bành màu đỏ sẫm, lưng ghế chạm các hoa văn rắc rối, lót đệm mềm, mời mọc.

- Mẹ anh đâu? - Nhược Nhược hỏi.

- Có Trời mới biết. Bà ấy lấy chồng khác và bỏ tao ở đây.

Bà ta ngu thật, Nhược Nhược nghĩ. Chưa ai cho nó thấy cảnh sang trọng này. Chưa kịp phát biểu ý kiến, nó đã nghe thấy tiếng sột soạt quen thuộc. “Chuột đấy”, nó nói và ngồi xổm xuống tìm. Nhà nó lúc nhúc chuột quấy phá, ban đêm chúng gặm sồn sột làm nó mất ngủ. Chúng cắn rách quần áo, đôi khi còn gặm nát cả những tấm bìa mới mà gia đình nó dùng để gấp hộp diêm. Ngoài đứa bé mới sinh, các con gái trong nhà đều được huấn luyện cách dồn chuột và đánh chết chúng bằng một cú vụt vào cổ.

- Kệ nó, tao có thuốc rồi, - Bát Thập nói. Gã vào bếp và một phút sau trở lại, cầm một cái hộp bọc satanh đỏ rất đẹp. Trong hộp có vài rễ cây nâu nâu, nhăn nheo. - Rễ nhân sâm đấy, - Bát Thập nói và đưa cái hộp cho Nhược Nhược.

Nhược Nhược đụng ngón tay vào lớp satanh đỏ. Nó không biết rễ sâm bao nhiêu tiền, riêng cái hộp trông cũng đắt tiền và đẹp hơn mọi thứ nhà nó có.

- Ông nội tao là người đào sâm, còn bà nội thích rễ sâm. Loại thuốc bổ nhất quả đất đấy, - Bát Thập nói. - Tất nhiên là nó không làm cho mình sống mãi được.

- Bây giờ bà ở đâu?

Bát Thập ra hiệu vào phòng ngủ.

- Một phút nữa hãy vào đó, chúng ta phải chăm sóc lũ chuột trước đã. - Gã bẻ một nhánh nhỏ rễ sâm và đặt lên miệng Nhược Nhược. - Mày có muốn nếm thử không? Ngọt như mật ong ấy.

Nhược Nhược há miệng nhưng chưa kịp cắn, Bát Thập đã rút cái rễ ra xa miệng Nhược Nhược:

- Ha ha ha, tao đùa đấy, ngốc ạ. Chỉ người già trên bảy mươi mới ăn nhân sâm. Trong đó có lửa đấy. Nó sẽ làm cho mũi mày chảy máu, da thịt mày cháy xém và thối rữa.

Nhược Nhược ngậm chặt miệng lại, hơi tức. Nó không biết vì sao lại nhận lời giúp Bát Thập. Nó nghĩ đến việc để mặc gã với bà nội gã rồi về nhà, kiếm ít lá bắp cải người ta bỏ đi, trông lũ em, chơi với đứa bé, kể cho chúng nghe những chuyện ma nếu chúng làm bé Sáu khóc, dọa cho chúng ăn rễ nhân sâm nếu chúng dám kêu ca. Nhưng Nhược Nhược thấy khó mà nhúc nhích đôi chân. Bát Thập đã hứa nhiều thứ, cho mang than về nhà, cả rau nữa. Tình bạn, và một thứ nữa khiến Nhược Nhược không thể thốt nên lời.

Bát Thập tìm thấy lọ mật ong và nhúng cái rễ sâm vào. Lúc gã lấy ra, trông nó như đẫm sương và ngon lành. Nhược Nhược chỉ được ăn mật ong một lần ở nhà ông giáo Cố. Dạ dày nó gầm réo.

- Này, - Bát Thập nói và nhét một cái thìa cùng lọ mật ong vào tay Nhược Nhược. - Ăn hết đi nếu mày thích. Tao chẳng khoái gì mật ong. - Gã lau sạch mật ong đang nhỏ giọt trên rễ sâm. Nhược Nhược tống một thìa đầy mật ong vào miệng. Rốt cuộc, anh ta là người tốt, hào phóng và tử tế, dù những câu đùa nhiều lúc làm nó lúng túng.

- Anh làm gì thế? - Nó lúng búng giữa đôi môi dinh dính, ngòn ngọt.

- Đây là sáng kiến đầu độc chuột của tao, - Bát Thập nói. - Chuột thích mật ong, y như mày ấy. Thế là chúng ăn rễ sâm không nghĩ ngợi gì, rồi chúng sẽ nuốt lửa vào bụng, chúng sẽ quằn quại đến chết, ân hận là đã ăn một miếng ngọt ngào thứ đồ ăn trộm.

Nhược Nhược rùng mình. Nó nhìn lọ mật ong trong tay:

- Anh cho thuốc độc vào mật ong à?

- Sao tao lại làm thế? - Bát Thập nói. - Mày tưởng tao đầu độc mày chắc? Buồn cười thật. Mày không phải là chuột. Mày là bạn tao.

Nhược Nhược nhìn bộ mặt nhăn nhở của Bát Thập và thấy hơi khó chịu.

- Anh có nhiều bạn không? - Nó hỏi.

- Nhiều chứ, - Bát Thập nói. - Nửa dân số ở Nê Giang này là bạn tao.

- Anh có các cô khác làm bạn không?

- Có chứ. Đàn ông và đàn bà. Trẻ và già. Chó, mèo, gà, vịt.

Nhược Nhược không biết có phải Bát Thập đùa không. Nhưng nếu gã có các cô gái khác là bạn, họ có đến đây không nhỉ? Cách gã đối xử trên đường về đây để mọi người không thấy họ đi cùng nhau làm nó nghi ngờ.

- Anh có hay đưa các cô ấy đến nhà anh không? - Nó hỏi.

Bát Thập lắc đầu, mặt mũi rất nghiêm túc.

- Anh không sao chứ? - Nhược Nhược hỏi

Bát Thập lắc lắc một ngón tay với Nhược Nhược:

- Đừng làm ồn, - gã thì thào. - Để tao tính.

Nhược Nhược nhìn Bát Thập. Gã bĩu môi, lông mày nhíu lại, nom gã chẳng khác gì một đứa bé vờ làm người lớn. Gã thật ngộ. Nhược Nhược không bao giờ biết tiếp theo gã làm gì. Nó đã nghe hàng xóm đe con gái họ không được nói chuyện với người lạ. Bố mẹ nó cũng bảo các em gái nó thế, nhưng không bao giờ dặn nó, vì hình như chẳng ai nghĩ nó có thể gặp nguy hiểm. Nhược Nhược lại ngắm nghía Bát Thập. Nếu gã định giở trò gì xấu xa, nó sẽ gọi to hàng xóm của gã. Nhưng có lẽ sự lo lắng của nó là không cần thiết. Gã không phải người lạ. Gã là một người bạn mới, và Nhược Nhược cho là nó thích gã, theo một kiểu khác hẳn nó quý mến ông bà giáo Cố. Họ khiến nó muốn mình ngoan hơn, xinh đẹp hơn, đáng yêu hơn, nhưng lúc này thì có khác gì đâu? Họ ghét nó và không cho phép nó trở lại nhà họ. Bát Thập khiến nó quên mình xấu như quỷ. Có lẽ nó không xấu thật.

- Được rồi, - lát sau, Bát Thập đan hai bàn tay vào nhau và cười mỉm. - Tao nghĩ ra một kế hoạch rồi.

- Kế hoạch gì?

Bát Thập ra hiệu cho Nhược Nhược theo gã vào phòng ngủ. Tấm rèm che giữa hai cái giường vẫn chưa vén lên. Gã bảo Nhược Nhược ngồi lên cái giường chưa dọn của gã.

- Mày có thể giữ bí mật cho tao không? - Bát Thập hỏi.

Nhược Nhược gật.

- Không được nói với ai hết, - gã nói. - Được không?

- Em chẳng có ai là bạn, ngoài anh, - Nhược Nhược nói.

Bát Thập mỉm cười. Gã kéo rèm và Nhược Nhược nhìn thấy bà già nhắm mắt như ngủ, đắp kín chăn và gài chặt dưới cằm. Mái tóc mỏng, hoa râm của bà búi như kiểu các bà già, vài món tuột ra khỏi cái lưới tóc. Nom bà giống như một bà lão Nhược Nhược có thể mến, nhưng có khi cái chết khiến người ta trông hiền hậu, vì không bà già nào Nhược Nhược gặp ở chợ tử tế với nó.

- Bát Thập đặt ngón tay dưới mũi bà gã một lát và nói:

- Bà chết như người ta có thể chết. Bây giờ mày thề trước bà đi.

- Tại sao?

- Không ai đùa với người chết, - Bát Thập nói. - Hãy nói thế này: Tôi thề không bao giờ kể với ai bí mật của Bát Thập. Nếu tôi làm thế, vong hồn của bà anh ấy sẽ khiến tôi không được chết yên lành.

Nhược Nhược ngẫm nghĩ. Nó không thấy trong việc này có gì hại, vì bố mẹ nó thường bảo, nó mang lại cho gia đình bao nỗi đau và phiền muộn, sẽ chẳng có gì đẹp đẽ trong cái chết của nó. Nhược Nhược cần quái gì, đời nó đã chẳng có gì tốt lành, thì sợ gì cái chết đe dọa? Nó nhắc lại lời thề và Bát Thập có vẻ thỏa mãn. Gã ngồi xuống cạnh Nhược Nhược và nói:

- Tao sẽ giết con chó của lão Keng.

- Vì hôm qua lão Keng đánh anh à? - Nhược Nhược hỏi. Nó thất vọng. Một con chó chết hình như chẳng xứng với lời thề trịnh trọng trước xác một người bà.

- Còn hơn thế. Lão là một con quỷ, và tao sẽ làm cho cả thành phố này biết. Có nhiều chuyện sau này tao sẽ kể với mày. Còn bây giờ, mày chỉ biết là tao sẽ giết con chó mực của lão trước khi làm nốt kế hoạch còn lại.

Nhược Nhược gật đầu. Nó không biết có muốn nghe tiếp kế hoạch của Bát Thập không. Bà lão nằm cách đó mét rưỡi làm nó rối trí.

- Vậy thì như thế này. Chó không phải là bà già và chúng không thích rễ sâm, hiểu chưa? Với chó thì cái gì như rễ sâm với một bà già nhỉ?

Nhược Nhược nhìn Bát Thập, bối rối.

- Nghĩ đi, nhóc. Một cái lạp xường, hay một khúc dồi, hử? - Bát Thập nói. - Tao sẽ làm thế này: mỗi ngày tao sẽ cho con chó một cái lạp xường cho đến khi cứ nhìn thấy tao là nó vẫy đuôi, rồi lúc ấy thì, pằng, một cái lạp xường tẩm thuốc sâu. Con chó khốn khổ sẽ không bao giờ hình dung người bạn duy nhất trên đời nó lại giết nó. Mày thấy thế nào?

Nhược Nhược sốt ruột. Hình như Bát Thập có thể ngồi đó mà nói với Nhược Nhược hoặc nói một mình suốt buổi sáng. Nếu nó không về nhà nấu kịp bữa trưa trước khi bố mẹ nó về, mà đêm qua nó đã không nấu bữa tối, mẹ nó sẽ cho một trận mưa chổi tre lên lưng nó.

Bát Thập nhìn nó:

- Mày không thích kế hoạch này à?

- Nghĩ đến những việc khác trước khi chăm sóc cho bà anh là không tốt, - nó nói. - Em không ngồi đây nói chuyện với anh cả ngày được đâu.

- Việc cho người sống trước rồi mới đến người chết, - Bát Thập nói. - Nhưng mày đúng. Tao cần mày khiêng giúp bà tao vào quan tài trước khi mày về.

- Sao anh không thuê người chuyên nghiệp?

- Nếu thuê, tao phải thiêu bà tao, - Bát Thập nói. - Thế đấy. Chúng ta có thể làm được mà. - Gã kéo một cái rương trong góc phòng ngủ ra. - Tao cho là bà đã để sẵn mọi thứ ở đây. Hãy tìm xem mày cần gì rồi mặc cho bà. Tao đi lấy quan tài.

Bát Thập ra kho trước khi Nhược Nhược kịp đáp. Nó mở rương. Quần áo lụa và satanh xếp gọn từng lớp trong rương: áo khoác, áo choàng, áo cánh, quần, giày, mũ. Nó đưa bàn tay lành sờ chiếc trên cùng, lòng bàn tay nứt nẻ của nó chạm phải một cái áo. Phí thật, đem chôn những quần áo đẹp như thế này với người đã chết, Nhược Nhược nghĩ. Nó lau cả hai bàn tay lên cái quần thô nháp của nó rồi mới sờ vào quần áo lần nữa. Nó lấy từng thứ ra khỏi rương và xếp thành chồng gọn gàng trên giường cạnh bà lão. Khi đến đáy rương, nó thấy mấy cái phong bì, mỗi cái đề một con số. Nó mở cái đầu tiên và thấy một tập tiền, hầu hết là mười và năm tệ. Nhược Nhược chưa bao giờ nhìn thấy nhiều tiền đến thế. Nó cắn môi và nhìn quanh. Khi biết chắc Bát Thập không có đấy, nó cho tiền vào phong bì, gập đôi lại và nhét vào túi nó.

- Quan tài nặng quá, - lát sau, Bát Thập bước vào và nói. - Tao nghĩ có khi bọn thợ mộc đổ chì vào trong. Bây giờ chúng mình không phải lo về nó nữa.

Tiếng Nhược Nhược run run lúc nó chỉ mấy cái phong bì cho Bát Thập. Gã kiểm tra bên trong và huýt sáo:

- Tao tưởng bà tao gửi tiết kiệm ở ngân hàng - gã nói. Gã rút ra hai tờ mười tệ và đưa cho Nhược Nhược.

Nó lắc đầu và nói nó không muốn lấy tiền.

- Sao lại không? Bạn bè thân thiết không chia cho nhau được sao?

Nhược Nhược nhận tiền. Nó phân vân liệu hồn ma của bà lão có quanh quất đâu đây giám sát việc hậu sự như những người già vẫn nói, và nếu thế, liệu bà ta có giận vì cái phong bì trong túi nó không? Nhưng Nhược Nhược cần gì phải lo về hồn ma? Lúc này, vợ chồng ông giáo Cố đã quay lưng lại nó, chẳng gì có thể làm cuộc sống của nó tệ hơn. Nhược Nhược kéo tấm chăn và cởi bộ quần áo ngủ của bà lão. Một mùi lạ lùng, không hăng xè mà ngọt lợ, và Nhược Nhược thấy buồn nôn. Lúc bàn tay nó chạm vào da bà lão, nó thấy dai và lạnh. Khi bố mẹ nó chết sẽ y như thế này. Ý nghĩ đó khiến Nhược Nhược đỡ sợ. Vả lại, việc của nó là chăm sóc bố mẹ khi họ già cả, cuối cùng là lau rửa cho họ để chôn cất. Nó tự hỏi ai sẽ tiễn đưa ông bà giáo Cố. Hình dung họ chết và trần truồng trên giường còn làm nó buồn hơn cả bố mẹ nó chết. Nó ước với ông bà Cố sự việc sẽ khác đi - có lẽ gió sẽ cuốn họ đi như khói, trước khi bàn tay người khác chạm vào da họ - nhưng sao nó dễ tha thứ cho họ thế, trong khi họ đuổi nó đi không hề ngập ngừng?

Bát Thập la cà ở bên kia rèm, chẳng giúp gì Nhược Nhược. Nó thấy lạ, cho đến lúc nó nhận ra có lẽ không hay cho một cậu trai nhìn thấy cái xác trần truồng của bà mình. Gã là người tốt và trọng danh dự, dù kỳ quặc.

Lúc lau rửa xác chết, Bát Thập gợi ý dùng nước lạnh ở vòi cho đỡ rách việc. Nhược Nhược không đồng ý. Cái phong bì gập đôi cứ dọa nhảy khỏi túi áo nó, lộ ra với Bát Thập và cả thế giới; Nó ước giá biết cách giấu kỹ hơn, trong giày chẳng hạn, nó có thể bước đi vững vàng, và cảm thấy có tội, nó một mực đòi nhóm lửa để nó tắm cho bà già bằng nước ấm thêm lần nữa. Bát Thập theo nó vào bếp, dựa vào một cái tủ và ngắm nó đốt lò.

- Mày sẽ là cô cháu dâu ngoan đấy! - Gã nói, thán phục.

Nhược Nhược đỏ bừng mặt và giả vờ không nghe thấy. Bát Thập đặt một cái ghế cạnh lò và ngồi dạng hai chân, hai cánh tay ôm lấy lưng ghế.

- Bố mẹ mày có định gả mày cho ai không? - Gã hỏi.

Câu hỏi đến lạ, Nhược Nhược nghĩ và lắc đầu.

- Mày có nghe câu tục ngữ Con chim có đôi cánh yếu nhất cần ra đi trước không?

- Không.

- Nên nghĩ đến câu ấy. Không nên đợi quá lâu mới tìm được một tấm chồng.

Nhược Nhược không nói gì và thầm nghĩ có khi Bát Thập đúng. Bố mẹ không muốn gả chồng cho nó, họ không có ai để tắm rửa cho trước khi chôn cất. Nếu nó là con gái của ông bà Cố, liệu lúc này họ có lo đến chuyện chồng con cho nó, để khi họ lìa đời, nó sẽ không còn lại trơ trọi?

- Nếu mày thích, tao sẽ để mắt đến các ứng viên có thể, - Bát Thập nói.

Nhược Nhược nhìn ngọn lửa, lặng thinh. Nước reo o o. Lúc Bát Thập gặng lần nữa, nó nói:

- Đừng để bà anh đợi lâu quá.

Bát Thập cười to:

- Bây giờ bà chẳng biết gì đâu, - gã nói. Gã giúp Nhược Nhược xách ấm nước vào phòng ngủ, rồi ngồi lên giường mình ở bên kia rèm. Nhược Nhược nhẹ nhàng lau rửa cho bà lão, cố không nhìn kỹ làn da khô và nhăn nheo, cặp vú dài kỳ quái và chảy xệ, các khớp xương đầy mấu. Nếu không có cái phong bì ăn trộm được trong túi, chắc nó làm xong mọi việc trong vài phút. Khi lau rửa xong, nó cố lồng bộ quần áo lụa vào cái xác, nhưng bà lão nặng trì xuống và cứng nhắc, không chịu hợp tác. Nhược Nhược giật mạnh một cánh tay bà ra khỏi ống tay áo thì nghe thấy một tiếng rắc nhỏ. Chắc nó đã làm gẫy cánh tay bà lão, Nhược Nhược nghĩ, nhưng nó không còn quan tâm nữa. Nó chỉ có một tay lành nên cài các khuy tết trên áo choàng rất lâu. Lúc đội chiếc mũ ngủ và đi giày xong, nó nói với Bát Thập:

- Giờ anh có thể vào và nhìn bà rồi.

Hai đứa đứng cạnh nhau. Nom bà lão bình thản và thỏa mãn trong bộ trang phục đẹp nhất sang thế giới bên kia. Lát sau, Bát Thập quàng vai Nhược Nhược và kéo sát vào người gã:

- Em là một cô gái tốt bụng, - gã nói.

- Bây giờ em phải về nhà, - Nhược Nhược nói.

- Cứ lấy bất cứ thứ gì em cần trong kho.

- Không quá nhiều đâu, - Nhược Nhược nói khi Bát Thập xếp vài cái bắp cải vào giỏ cho nó. - Với lại, bố mẹ có thể căn vặn.

- Anh sẽ tiễn em về nhà.

Nhược Nhược nói nó không muốn gã đi cùng.

- Thôi được, - Bát Thập nói. - Tùy em. Nhưng bao giờ anh gặp lại em? Chiều nay em đến được không?

Nhược Nhược do dự. Nó muốn đến nhà này lần nữa, có đồ ăn, than sưởi và một người bạn, nhưng không thể được. Rốt cuộc, Bát Thập tìm ra một giải pháp - sáng nào Nhược Nhược cũng có thể đến nhà gã khoảng một tiếng đồng hồ và lấy than trong thùng, còn trong ngày, nó có thể đến gặp gã ít nhất một lần nữa, lấy cớ phải đến chợ.

Nhược Nhược thấy buồn khi chúng chào tạm biệt. Trên đường về nhà, nó rẽ vào một phố nhánh và rút phong bì trong túi ra. Hết ngày, bố mẹ nó nhất định tìm ra cái này. Nó không biết họ có nộp nó cho cảnh sát vì nó là kẻ trộm, hay chỉ sướng điên lên tịch thu số tiền. Nó chẳng thích kiểu nào, nên nó đổi hướng và đến thẳng nhà ông bà Cố. Khi đến cổng, nó chỉ hy vọng họ sẽ mở cửa và giơ tay đón nó.

Một người đàn ông đi qua Nhược Nhược và quay nhìn nó:

- Cháu tìm ông bà Cố à?

Nhược Nhược gật đầu, niềm hy vọng nhỏ bé trào lên, có lẽ họ biết nó sẽ đến và dặn hàng xóm trông chừng hộ.

- Ông giáo Cố bị ốm, bà Cố đang trông ông ấy trong bệnh viện. Phải ít lâu nữa họ mới về nhà.

Nhược Nhược định hỏi thêm nhưng người đó bỏ đi trước khi nó kịp nói. Nó đợi cho đến khi người đó đi khuất, rồi luồn cái phong bì xuống dưới cánh cổng. Họ sẽ chẳng bao giờ biết số tiền này là của nó, nhưng có khi họ sẽ đổi ý khi nhận ra cõi đời đối tốt với họ, còn họ lại ngược đãi nó; biết đâu khi ông giáo Cố ra viện, họ sẽ đến tìm nó.

Ăn trưa xong, Đồng ra đi. Bố mẹ nó đang ngủ trưa, còn con Nhĩ Nhĩ chạy quanh đâu đó. Bố Đồng không thích Nhĩ Nhĩ, và cho rằng Đồng chơi đùa với chó là lãng phí thời gian. Đồng mừng vì Nhĩ Nhĩ tìm ra nhiều chỗ lang thang cho đến khi mặt trời lặn, bóng tối khiến nó đỡ chướng mắt với bố, lúc ông bắt đầu cuộc nhậu nhẹt ban đêm.

Hãy còn sớm mới đến giờ học chiều, và Đồng tìm con đường xa hơn đến trường. Trong sáu tháng qua, nó đã thăm dò nhiều đường phố, ngõ ngách ở Nê Giang, và ngắm không biết chán mọi người bận bịu với cuộc sống. Chợ là nơi náo nhiệt, hình như nhiều cái miệng nói cùng một lúc và không cho ai thời gian để trả lời, trong khi ở những ngõ hẻm, đàn ông đàn bà túm năm tụm ba chuyện phiếm, đầy những chuyện nghe lỏm được về cuộc sống của người khác. Chỉ một ông già chẳng suy nghĩ gì hoặc một con mèo lang thang bị ánh nắng mê hoặc cũng khiến Đồng cảm thấy say sưa, dường như họ thuộc một thế giới bí ẩn mà nó không thể bước vào.

Sau sự kiện ngày hôm trước, mọi sinh hoạt dường như vẫn thế. Chắc tất cả đều dự buổi phê đấu, nhưng không ai lộ ra những kỷ niệm. Nhiều tờ thông báo bị rách, những tờ khác nay chỉ còn là những mảnh bám vào tường, không còn được người qua đường chú ý. Trong chợ, các bà nội trợ to tiếng mặc cả, chèo kéo, dường như những người bán hàng đều là những kẻ nói dối không biết ngượng. Tại một quầy rau mậu dịch, một người đàn ông bán hàng, chán nản và nhàn rỗi, cong bàn tay thành hình khẩu súng nhắm vào mông vào một nữ đồng nghiệp. Cô gái trạc lứa tuổi hai mươi, gương mặt tròn vành vạnh, xua bàn tay như xua một con ruồi quấy rầy, dù mỗi lần anh ta kêu pằng, cô ta lại cười. Đồng cũng cười, nhưng bắt gặp cái nhìn của nó, cô gái gọi Đồng là thằng ranh con láo lếu. “Mày nhìn gì hả? Cẩn thận đấy, không tao móc cả hai mắt mày”.

Đồng đỏ mặt và quay đi. Phía sau nó, anh chàng bán hàng hỏi sao anh ta không được hưởng một thứ xa xỉ như thế. Cô ta đáp sẵn sàng móc mắt anh ta ngay tại chỗ nếu anh ta muốn thế. Anh ta giục cô làm đi, giờ anh ta không cần mắt vẫn nhìn thấy vẻ đẹp siêu phàm của cô. Đồng đi tiếp. Lại một lần nữa, nó nhận ra thế giới người lớn có một loại mật mã bí ẩn và vì không nắm được quy tắc nên nó luôn thấy chướng tai gai mắt vì nhiều lý do không hiểu nổi.

Rẽ vào góc phố, vài con gà mái đang thong dong trong một con hẻm. Đồng nhìn xoáy vào một con gà mái, quyết không cho nó mổ, nhưng con gà đang mải kiếm ăn. Từ đằng sau cái ghế ba chân, một con mèo hoang áp sát lũ gà nhưng chưa kịp đến gần hơn, đã bị bà già ngồi trên cái ghế đẩu trước mảnh sân đập gậy xuống đất và quát ầm lên. Lũ gà mái chạy tan tác, vỗ cánh phành phạch và cục cục rối rít. Giật mình, Đồng hít vài hơi trấn tĩnh rồi hỏi thăm bà già xem mọi sự có ổn không.

- Mọi sự sẽ hỏng bét nếu tao không đề phòng, - bà già đáp.

Đồng quay nhìn con mèo hoang đang quan sát họ từ xa.

- Con mèo kia chắc chỉ muốn chơi đùa thôi, - Đồng nói.

- Tao không nói con mèo, - bà già nói. Đồng ngước nhìn bà ta, lúng túng. - Tao nói mày kia, thằng ranh. Mày tưởng vồ được con gà mái khi xung quanh không có ai chắc?

Đồng lắp bắp nói nó chưa bao giờ có ý định ăn trộm gà của bất cứ ai.

- Mày tưởng tao không nghe thấy cái bàn tính bé tí lách cách trong bụng mày khi mày nhìn đàn gà của tao, hử, - bà già nói. - Một thằng ranh nhà quê như mày!

Đồng rút khỏi con hẻm. Nó chẳng biết nói gì để tự vệ.

Sau bữa trưa, Khai đến bệnh xá ở tầng một của tòa nhà hành chính và nói với bác sĩ là khó ở. Bác sĩ trạc sáu nhăm tuổi, được quyền cho thuốc cảm và giấy nghỉ ốm, còn nếu nặng hơn ho hoặc chảy nước mũi thì xin mời các viên chức sang bệnh viện thành phố ở bên kia đường.

Ba ngày nhé? Bác sĩ hỏi lúc ghi tên Khai ngay ngắn trên đầu tờ giấy.

Một buổi chiều cũng tốt lắm rồi, Khai đáp. Bác sĩ thản nhiên ghi nghỉ nửa ngày, rồi hài lòng ngắm nghía kiểu chữ cổ điển một lát trước khi ký tên. Ông có thể tạt qua sở Tuyên truyền được không? Khai hỏi; cô không muốn các đồng nghiệp làm om sòm vì một cơn cảm lạnh nho nhỏ, cô giải thích, và bác sĩ gật đầu ra chiều hiểu biết, nói ông sẽ đích thân mang giấy nghỉ này lên.

Khai lên phòng phát thanh bằng cửa sau và mở ngăn kéo dưới cùng của bàn làm việc. Bên trong có một áo khoác vải bông cũ màu xám nâu, khuy áo không hợp bộ, trên hai khuỷu tay có nhiều miếng vá. Một chiếc khăn quàng nhét trong túi, túi kia đựng chiếc khẩu trang bằng vải bông trắng. Áo và khăn của người trông trẻ dạo trước, Khai đã đổi áo và khăn của mình cho bà ta. Dù Khai cố giải thích mập mờ với người trông trẻ rằng cô dùng cho những nhiệm vụ ở ngoài thành phố, người trông trẻ đáp lẽ tất nhiên Khai không muốn mặc áo khoác len và quàng khăn lụa đến những nơi dơ dáy mà những người thuộc tầng lớp thấp hơn cư ngụ.

Khai thay trang phục. Bên dưới bộ quần áo cất một xếp thư, phong bì không đóng dấu, tất cả đều của Gia Lâm. Trước khi khóa ngăn lại, cô rút hú họa một phong bì. Bên trong là một bức thư dài về bản chất của chế độ chuyên chế, và Khai nhìn lướt tờ giấy tuy đã đọc nhiều lần và nhớ thuộc lòng. Nó viết như một bản suy tưởng hơn là một bức thư, và cô thường tự hỏi liệu có gửi cho nhiều bạn bè của Gia Lâm đọc không. Trên một trang rời trong cùng phong bì là một đoạn ngắn, ghi chương trình phát thanh của nước Anh bằng tiếng phổ thông mà Gia Lâm nói vừa tìm ra gần đây qua cái đài bán dẫn sóng ngắn của anh. Một lần nữa, Khai lại tự hỏi có phải mình tưởng tượng ra khi cảm thấy anh háo hức muốn chia sẻ tin tức với cô. Còn nhiều thư nhắn ngắn hơn, kể nhiều chi tiết lặt vặt về cuộc sống của anh mà nói chung cô không biết, khiến cô bất đắc dĩ phải đốt hết thư của anh như anh đã dặn.

Gia Lâm và Khai thường không hay gặp nhau, có khi một hoặc hai tuần trôi qua, cô mới kiếm được cớ đến thư viện thành phố. Họ không nói chuyện nhiều, mà chỉ lẳng lặng trao đổi thư từ kẹp trong các tờ tạp chí. Thỉnh thoảng, anh trao cho cô vài bức thư trong phong bì, và cô cố không nghĩ liệu hàng ngày anh có đợi cô trong phòng đọc, hay không thấy cô xuất hiện, anh có thất vọng không. Có lần Gia Lâm kể người thủ thư là bạn của anh; bà ta cho phép anh ngồi trong phòng đọc, miễn là phải đeo khẩu trang và đi găng. Khai tin rằng người thủ thư, một phụ nữ xấp xỉ năm mươi đủ hữu hảo với Gia Lâm để các chuyến đến thư viện của anh không đến nỗi vô ích.

Gia Lâm và Khai không bao giờ đặt kế hoạch cho các cuộc gặp mặt, và trong thư, họ ít nhắc đến cõi trần ai, nơi họ phải tìm nhiều cớ mới gặp được nhau chỉ dăm hoặc mười phút, họ thường viết về những đề tài không thể trao đổi trực tiếp. Cô giữ mọi bức thư của anh. Cô ước ao có thể tự đốt chúng, nhưng vì biết chắc anh đã làm một cách nghiêm túc với từng bức thư cô viết gửi anh, rồi sẽ đến ngày cô chẳng còn gì của anh ngoài những lời ghi lại trên giấy vở học sinh, nét chữ của anh mảnh dẻ và nghiêng sang bên phải. Đôi khi bút hết mực và những chữ màu xanh sẫm nhạt đi ở giữa một đoạn dài, cho đến khi các chữ nhạt như tờ giấy, có vẻ như khắc lên giấy hơn là viết, anh mới nhớ ra và đổ đầy mực vào bút.

Khai để những tờ giấy vào trong phong bì và khóa lại. Vài phút sau, cô rời tòa nhà, đầu trùm chiếc khăn cũ, đeo khẩu trang. Lúc này rất ít người nhận ra cô là ngôi sao phát thanh, và cô cảm thấy tạm thời được tự do.

Thư viện là nơi duy nhất mở cửa cho công chúng, nằm trong một ngôi nhà có thời là tổng hành dinh của Hồng vệ binh địa phương. Trước kia, ngôi nhà này của một ông già, nhưng ngay sau khi Cách mạng Văn hóa bắt đầu, ông già bị giết bằng bả chuột. Vụ của ông bị bưng bít với dân chúng trong thành phố. Nghe nói ông ta là trẻ mồ côi, được một cặp vợ chồng bác sĩ nhận nuôi và lớn lên nửa như con trai nửa như người học nghề. Ông bác sĩ là chuyên gia y tế duy nhất trong thành phố khi Nê Giang mới chỉ là một nơi buôn bán. Khi hai ông bà già qua đời, người con nuôi thừa hưởng cả tiền bạc lẫn ngôi nhà kiểu cổ hình tứ giác bao quanh một khu vườn nhỏ tươi tốt, gần trung tâm thành phố. Ông ta hành nghề châm cứu, nhưng chỉ thỉnh thoảng mới làm cho các bệnh nhân già bị đau lưng hoặc viêm khớp; Ông chín chắn, lịch sự và thân thiện, và hình như vì lý do nào đó khiến ông sợ những bão tố của cuộc cách mạng sắp tới. Nhưng vì bất cứ cái chết nào cũng được tính toán trước - nhất là các vụ tự tử, vì bất cứ vụ tự tử nào cũng bị quy tội trốn tránh pháp luật -, bắt đầu có tin đồn ông là một ông hoàng Mãn Châu đang chờ cơ hội phục hồi vương triều cuối cùng. Như lời một thống chế nổi tiếng đã nói, lời nói dối lặp đi lặp lại một ngàn lần sẽ trở thành sự thực, sau khi ông già bị lực lượng chính trị bủa vây, đã rơi vào lưới luật pháp bằng một cái chết dễ dàng. Ngay sau đó, Hồng vệ binh chiếm luôn cơ ngơi, dùng làm nơi in các tờ rơi tuyên truyền các sự kiện. Trong nhiều tháng, các phòng đằng sau dùng làm phòng thẩm vấn tạm thời và phòng giam.

Thư viện mới thành lập được một năm rưỡi, gồm hai phòng đằng trước của tòa nhà. Vài cái bàn và ghế xếp thành hàng ở một phía phòng đọc, phía kia để một cái bàn hàng thịt, bày hàng chục tờ báo chí. Thủ thư ngồi ở bàn cạnh lối vào phòng đọc, và nếu có người hỏi mượn sách, bà ta sẽ mở cửa sang phòng khác, nơi vẻn vẹn mươi cái giá sách. Không có thẻ, không thư mục; khi có người tìm một cuốn sách cụ thể, người thủ thư sẽ lục trong đống rồi trở ra, tay cầm một hoặc hai cuốn bà ta cho là phù hợp.

Trong thành phố, rất ít người dùng thư viện, và Khai chẳng lấy làm lạ khi Gia Lâm chọn nơi này để gặp cô. Người thủ thư gật đầu lạnh nhạt với Khai lúc cô đến, và lại cắm cúi đọc. Khai phân vân: liệu bà ta có nhận ra cô là phát thanh viên thời sự không, nhưng chắc bà ta chỉ nhớ cô là người thỉnh thoảng ghé qua trả vài tờ tạp chí trong phòng đọc. Khai không nói chuyện, vì thế bà ta sẽ không nhận ra giọng cô. Bà ta là góa phụ, chồng bà là viên chức trong chính quyền thành phố, đã nhảy xuống dòng Nê Giang khi có hai cậu bé kêu cứu, nhưng ông ta chỉ biết bơi vừa đủ, rốt cuộc không cứu được ai kể cả bản thân mình. Chính quyền thành phố phong tặng ông danh hiệu anh hùng, và khi vợ ông vốn là giáo viên, muốn xin một công việc đỡ căng thẳng hơn, đã cho bà cương vị mới là thủ thư trong thư viện thành phố, một vị trí thừa thãi thời gian để bà tha hồ thương khóc.

Gia Lâm là người duy nhất trong phòng đọc. Ngồi trong một góc quay mặt ra cửa, anh nhìn Khai từ bên trên chiếc khẩu trang bằng vải bông rồi trở lại ghi chép vào cuốn sổ dày cộp. Cô luôn tìm kiếm sự thay đổi biểu cảm trên mặt anh nhưng chẳng bao giờ thấy gì, và cô tự hỏi cặp mắt cô bên trên cái khẩu trang có vô cảm như anh không. Cô đến chỗ bày báo chí và chọn một tờ, trang bìa là chân dung phóng to vị lãnh tụ mới của đất nước.

Khai đọc vài chữ trên một trang rồi giở sang trang khác. Người thủ thư ngồi sau bàn dường như ít chú ý đến hai người trong phòng đọc. Khai lấy ra mảnh giấy, viết nguệch ngoạc lên đó trước khi đi qua chỗ Gia Lâm tìm tờ khác. Chúng ta cần nói chuyện, cô thả mẩu tin nhắn xuống cạnh anh. Cô không biết anh có cảm thấy sự khẩn thiết trong đó không. Trước kia cô chưa bao giờ yêu cầu chút gì; một bức thư, bản thảo hay bản duyệt là những thứ cô trao cho anh.

Gia Lâm xếp cuốn sổ vào túi xách và sẵn sàng đi ra. Gặp ở nhà anh, lời nhắn kín đáo để lại cạnh tờ tạp chí Khai giả vờ chú ý.

Sau khi đợi một lát, cô cũng ra, đi bộ từ trung tâm thành phố vào nơi đông đúc hơn, những chó, mèo, gà vịt trong các ngõ hẻm, nắng chiều với các ông già thiu thiu ngủ. Đây là thế giới trước kia Khai từng quen thuộc, trước khi chuyển đến sống trên tỉnh, cô đã sống ở một trong những ngõ hẻm như thế này cùng cha mẹ và các em. Ngôi nhà tiều tụy là một trong những nguyên nhân khiến mẹ cô rầu rĩ, bà tin rằng bố Khai không leo lên các nấc thang xã hội đủ nhanh để họ dọn đến một ngôi nhà hiện đại. Chỉ sau khi Khai lấy Hán, cha mẹ cô mới có căn nhà mẹ cô hằng mơ suốt đời. Hồi đó, Khai và gia đình cô mừng rỡ vĩnh biệt cái ngõ hẻm, nhưng giờ đây cô ước giá không bao giờ rời khỏi cuộc sống này.

Khai tìm ra nhà Gia Lâm và đẩy cánh cổng màu xám đen, khép hờ. Mảnh sân đúng kích thước tiêu chuẩn, một chiều bốn một chiều sáu mét đầy những đồ, đủ loại tạp nhạp: vại muối dưa không dùng đến, xếp bừa bãi cái nọ chồng lên cái kia, săm xe vặn xoắn treo lên ghiđông chiếc xe đạp han gỉ, mất cả hai bánh; nhiều hộp cáctông bẹp phẳng, xếp thành chồng cao; ba sợi xích kim loại bao quanh, tạo thành một hình tam giác nổi bật, bên trong trưng ba cái lưỡi lê. Những thứ ấy của ba đứa em trai Gia Lâm, anh đã kể ngay lần đầu tiên cô đến thăm, khi anh tiễn cô ra cổng, lời bình luận thoáng qua về các em trai cùng tiếng ồn ào huyên náo chỉ như thực tế cuộc sống của những người xa lạ nào đó. Nhưng sáu tháng sau, nhìn thấy chúng lần nữa, Khai biết rằng sẽ có ngày cô nhớ lại các chi tiết này như một phần cõi trần gian mà Gia Lâm đã sống; ngày đó chúng sẽ được dùng để tái tạo hình ảnh của anh trong kỷ niệm.

Cửa vào nhà mở.

- Cô cần giúp gì? - Một bà già quấn chiếc áo choàng dài bằng vải bông hỏi.

Khai chỉ túp lều và nói, giọng nghẹt lại rằng cô tìm Gia Lâm. Bà già, chắc là mẹ Gia Lâm, nét mặt có nhiều nét giống anh, gật đầu và vẫy tay rồi đóng cửa.

Mẹ anh biết không nên hỏi về cuộc sống của anh, Gia Lâm giải thích khi bắt gặp cô liếc nhìn cánh cửa đóng chặt. Anh để Khai vào lều và chỉ cái ghế duy nhất.

- Hôm nay mẹ anh không đi làm? - Khai hỏi.

- Bà bị cảm lạnh.

- Các em anh đi học?

Trông Gia Lâm sửng sốt vì họ chưa bao giờ nói chuyện phiếm. Anh bảo anh mong là chúng ở trường, nhưng nghe đồn chúng đã gia nhập một băng đường phố và bỏ học vì mải việc riêng.

- Cha mẹ anh có biết không?

- Cha mẹ bao giờ cũng là những người cuối cùng biết tin xấu.

- Anh không muốn nói chuyện với các em, thì ít nhất cũng để cha mẹ anh biết chứ?

Gia Lâm bảo chúng mong anh không can thiệp vào cuộc sống của chúng, đáp lại chúng cũng mặc anh với thế giới riêng của mình. Vả lại, chúng chỉ là anh em cùng mẹ khác cha, chẳng có lý do gì để anh tới trước mặt cha đẻ của chúng mà xác nhận trách nhiệm này nọ. Anh có san sẻ những chi tiết này trong cuộc sống của anh với các bạn bè không? Khai băn khoăn, nghĩ tới những câu cô có thể hỏi anh.

Gia Lâm đợi một lát, thấy Khai không nói gì, bèn hỏi cô có chuyện gì cần nói với anh. Có, Khai đáp, cùng một yêu cầu cô vẫn đưa ra với anh: một cuộc phản đối nhân danh Cố San, bây giờ không phải vì mạng sống của San nữa mà vì cô ấy có quyền được xác nhận là bị xử tử oan. Khai nói đến phiên xử đáng ngờ và những quả thận của San ghép vào cơ thể một người đàn ông khác, nói đến hành động không phục tùng của bà Cố ở ngã tư và nhớ lại tấm lưng thẳng của bà Cố khi bà bị kéo xềnh xệch khỏi ngọn lửa cháy âm ỉ. Đây là lúc phải thức tỉnh quần chúng ở Nê Giang về sự tàn bạo và bất công đối với cả bà mẹ lẫn cô con gái.

Khai nói xong, cả hai lặng thinh một lát. Rồi Gia Lâm ra hiệu cho cô đến góc lều và rút vài tấm nhựa. Bên dưới là một máy in rônêô và một chồng truyền đơn mới in. Khai cầm một tờ lên, cô nhận ra nét chữ của Gia Lâm. Thư gửi dân chúng thành phố Nê Giang, đề ngày hành hình. Khai ngước nhìn, bối rối:

- Anh đã làm từ hôm qua?

- Phải.

- Em không biết anh đã làm mọi việc một mình.

Gia Lâm lắc đầu và nói còn vài người bạn khác giúp anh.

- Nhưng sao chúng ta phải đợi nếu anh đã in xong truyền đơn? - Khai hỏi.

- Tình hình thay đổi từng ngày, - Gia Lâm nói. Rồi anh hỏi cô có nghe tin về bức tường dân chủ ở Bắc Kinh không. Khai lắc đầu, và Gia Lâm có vẻ ngạc nhiên. Anh ngỡ chí ít cô cũng biết dù không được phép tuyên truyền. Cô đáp mình chẳng là gì ngoài một giọng nói của chính quyền, và muốn hiểu tin tức thật trên đời, cô dựa vào anh hơn bất cứ ai.

Gia Lâm kể ở thủ đô đã dựng lên một bức tường, là nơi dân chúng có thể tự do bày tỏ ý kiến của mình. Chỉ trong vài tuần qua đã có nhiều ý kiến yết công khai, đòi hỏi một chính quyền cởi mở và dân chủ hơn. Lúc anh nói xong, Khai cảm thấy mất mát lạ lùng. Cô không biết Gia Lâm biết tin này bao lâu rồi, nhưng anh chưa bao giờ kể cho cô trong thư. Cô hình dung những người trẻ tuổi ở thủ đô tập hợp thành từng nhóm, san sẻ mơ ước với nhau. Ngay trong túp lều của Gia Lâm, các bạn anh chắc phải thức rất khuya đợi những tin xác thực trên cái radio sóng ngắn. Còn cô ở đâu trong những đêm như thế, ngoài việc đóng vai một người vợ ngoan và một người mẹ tốt?

Cô có thể gặp các bạn anh không? Khai hỏi.

- Anh sẽ dối trá nếu nói không, - Gia Lâm nói và giải thích rằng các bạn anh đang bất hòa; Anh giải thích mơ hồ nhưng Khai hiểu ngay rằng không phải Gia Lâm, mà là các bạn anh không tin cô. Cô không biết anh có nói thẳng, bảo vệ cô trước mặt các bạn, hay họ hỏi anh quen biết cô ra sao. Những bức thư của cô, anh đọc xong và đốt, vậy là không có sự giúp đỡ nào. Nhưng dù anh có giữ chúng, cô cũng không thể hình dung anh đưa thư của cô cho các bạn xem. - Có lẽ họ chưa hiểu em bằng anh, - Gia Lâm nói, vẻ áy náy trong mắt anh.

- Anh không giúp họ hiểu em hơn được sao?

Anh phải bảo vệ mọi người, Gia Lâm nói, và cái nhìn của anh tránh né hơn lời lẽ khiến Khai hiểu rằng anh còn che giấu cái gì đó hơn cả sự đối địch của các bạn.

- Nếu em đến cảnh sát tố giác anh, các bạn anh sẽ thành thừa vì em có biết ai đâu? - Khai hỏi.

- Anh cũng bảo vệ cả em, - Gia Lâm nói. - Mỗi người trong chúng ta đều có thể là kẻ phản bội bạn bè.

- Các bạn anh có nhất trí để anh viết thư cho em không? - Khai hỏi. - Hay lúc đầu cũng không tán thành?

Nó chẳng có mấy ý nghĩa, Gia Lâm nói, giờ anh đã buông tha cô rồi. Nhưng Khai khăng khăng muốn biết. Gia Lâm nói họ đã nghĩ đến việc tìm một quan chức nào đó, nhưng rồi kế hoạch này chưa chín muồi.

- Thế là anh tự ý viết cho em?

Gia Lâm ngoảnh đi không đáp.

- Vì sao? - Khai hỏi.

Cuối cùng Gia Lâm kể, nhiều năm trước anh đã xem cô đóng vai Thu Ngọc, và từ đó trở đi anh luôn tự hỏi cô thuộc loại người nào, làm sao cô có thể biểu diễn như thế nếu trái tim cô không có sự thuần khiết và cao cả của một kẻ tử vì đạo.

- Em có thể là một con người khác hẳn và lúc này anh đang bảo vệ ý kiến của mình. Em có thể nói anh đã đánh cược với bản thân, viết thư cho em vì anh muốn được biết, nhưng làm thế nào để không bị thua cuộc thì anh không biết. Có lẽ hoàn toàn là may rủi thôi. Anh sẽ không ngạc nhiên nếu sự việc lại xoay ra hướng khác, - Gia Lâm nói, cố nén cơn ho bất cứ lúc nào cũng chực bật ra.

Vậy đó là câu chuyện mà họ đã tránh né ngay từ đầu, Khai nghĩ, và cô hình dung Gia Lâm là khán giả, có lẽ từ trước khi anh bị bệnh, trước cuộc hôn nhân của cô. Sự hiện diện của một người đó có thể mở rộng tầm hiểu biết của người khác không phải là một phát minh gì mới mẻ; Nhiều lần trong nhà hát, Khai đã nhận được thư của những người hâm mộ, có người viết tên thật, có người viết biệt hiệu, một số không ký tên. Nhưng những con đường gặp nhau không đúng lúc - quá sớm hoặc quá muộn, và Khai không kể cô gặp Gia Lâm trong hoàn cảnh nào. Việc đó kéo dài như bất cứ mọi thứ ngoài tầm kiểm soát. Cô gặp Gia Lâm không như một người mới làm mẹ mà như một phụ nữ lớn tuổi hơn, Khai nghĩ và hình dung lúc Minh Minh là một thanh niên, có lẽ cô sẽ hàm ơn cuộc gặp gỡ này, thậm chí cô sẽ tự do lựa chọn lần nữa. Nhưng về phần Gia Lâm, bệnh tật sẽ sớm thay thế bằng cái chết, trước cả lúc cô được giải phóng và đường đi của họ sớm chia lìa.

- Em phải hiểu rằng anh không tránh né em vì là một người bạn, - Gia Lâm dịu dàng nói.

Cô nói lúc này anh đủ việc để bận rồi, cô tôn trọng mong muốn của các bạn anh và để họ lại với nhau, anh không cần lo cô nghĩ ra sao đâu. Cô cũng như anh, biết tìm nhau ở đâu. Trong giây lát tiếng cô run rẩy, và cô bỏ đi đột ngột trước khi họ có thể yếu lòng và buột ra những lời không nói ra thì hay hơn.

Các bệnh nhân khác trong phòng bệnh chắc đã nghe về con gái ông. Họ liếc nhìn ông giáo Cố mỗi khi tưởng ông không để ý. Khi ông nhìn lại, họ ngoảnh đi và cúi đầu. Ông giáo Cố thấy họ cố tránh trò chuyện về vụ này. Chắc họ nghĩ ông là một người đáng thương, không thể vươn lên, dễ dàng thất bại. Ông giáo Cố không nói chuyện với những người cùng phòng. Khi đến giờ thăm, vợ con họ ùa vào phòng bệnh, ông náu dưới tấm chăn kẻ sọc và giả vờ ngủ. Vợ ông cũng không nói chuyện với các bệnh nhân khác hoặc gia đình họ. Bà mang phích đựng canh gà đến và ngồi xuống ghế cạnh giường. Nửa thời gian thăm đã qua, ông vẫn không chịu nhận ra bà, bà đu đưa ông nhè nhẹ và bảo tốt hơn hết là ông uống nước canh gà trước khi bà phải ra về. Ông để bà đỡ ông dựa vào cái gối, bà dịch ghế đến sát cạnh giường, thìa trong tay. Ông ngoan ngoãn uống canh, không làm ồn và đợi ba ngày mới hỏi vì sao bà giết cả hai con gà cho một người vô tích sự như ông. Mấy con gà là đàn con duy nhất của họ, ông nghĩ đến câu tục ngữ nhưng không để lời nhận xét tàn nhẫn ấy buột ra. Bà không động đến lũ gà của họ, bà nói, nhưng không cắt nghĩa bà đã xoay sở ra sao để trả tiền thịt gà. Bà cũng mua đồ ăn khác ở cửa hàng đắt tiền cạnh bệnh viện, đủ thứ hoa quả đóng hộp, sữa bột khô, chà là tẩm mật ong, nước cam cô đặc mà ông giáo Cố tin là làm bằng saccharine và phẩm màu cam. Thêm ngày nữa, ông không thể không hỏi về khoản tiền cho những thứ xa xỉ không cần thiết này. Bà lưỡng lự rồi kể có một người hảo tâm và thông cảm đã tuồn tiền vào sân nhà họ. Ông hình dung bà đã rút khoản tiền tiết kiệm còm cõi của họ, đau lòng mà tiêu và bịa ra những người lạ nhân từ ông không còn tin là có nữa. Ông không kiểm tra chéo những lời lấp liếm của vợ. Cuộc đời đã đủ lạnh lùng lắm rồi, nếu bà muốn nhóm ngọn lửa hy vọng nhỏ nhoi, ông sẽ để bà làm nhưng quyết không bị kéo vào những hình ảnh tưởng tượng của bà.

Cơn đột quỵ không chết người nhưng làm nửa người bên trái của ông giáo Cố bị liệt, dù không nặng bằng những người khác trong phòng bệnh, và ông hy vọng sẽ hồi phục khả năng vận động. Bác sĩ Phạm, một phụ nữ trạc bốn mươi, khắc nghiệt ra lệnh cho toàn thể bệnh nhân trong phòng bệnh khi cô ta giám sát buổi vật lý trị liệu cho họ. Các bệnh nhân khác và họ hàng dù trước mặt tỏ ra kính cẩn, song đã đặt cho cô ta biệt hiệu Hổ cái.

Ông giáo Cố nằm viện đến ngày thứ năm, bác sĩ Phạm đến muộn so với ca sáng, và lúc đến, cô ta không đội mũ trắng. Ông giáo Cố nhận thấy mái tóc ngắn của cô đã biến thành nhiều lọn tóc xoăn nhỏ và lộn xộn. Chắc cô không muốn làm hỏng mái tóc uốn sóng mới mẻ của mình, thực ra đó là lần đầu tiên trong đời cô uốn tóc, vì thế hệ cô lớn lên đúng lúc chỉ một làn tóc uốn quăn cũng bị quy là tàn dư tư sản bất hợp pháp. Sau khi bị ra lệnh giơ cánh tay và chân mà ông không thể làm nổi, ông giáo Cố khen kiểu tóc mới của bác sĩ Phạm.

Sửng sốt, bác sĩ Phạm đỏ mặt và không nói gì. Cô ta đi nhanh sang giường bên và nhanh chóng lấy lại tự chủ bằng cách mắng mỏ người nằm đó. Cử chỉ bối rối của cô khiến ông giáo Cố buồn lòng. Ông thấy thương bác sĩ Phạm, cả thế hệ phụ nữ như cô đã tiêu phí những năm tháng tươi đẹp nhất trong những bộ quần áo lùng thùng, màu sắc ảm đạm, mớ tóc để thẳng cắt ngắn tũn tước đi vẻ đẹp dịu dàng của họ, và hiện giờ họ cố túm lấy những ngày tháng không còn trẻ nữa, hy vọng trông xinh đẹp. Nhưng ông có quyền gì mà nghĩ đến những người phụ nữ theo cách ấy, khi bản thân ông, già cả và tàn phế, đang là đối tượng thương hại của người đời?

Phòng phục hồi có mười tám giường, mười lăm giường có người nằm, phần lớn là người già bị đột quỵ và xuất huyết não. Tuy nhiên, ông là người có hoàn cảnh độc nhất vô nhị khiến mọi người tò mò. Ông giáo Cố cũng chú ý đến những cuộc bàn tán của các bệnh nhân, gia đình và y tá, tuy không để lộ ra. Ông nghe lỏm được rằng Đại Phu, xấp xỉ ngũ tuần, góa vợ từ một năm trước, là người khỏe mạnh trước khi trải qua cuộc phẫu thuật đặc biệt cắt túi mật. Ông bị sỏi mật nhưng không nặng lắm, và hình như không cần thiết phải phẫu thuật. Tuy nhiên, tin đồn lan đi rằng quân y viện trên tỉnh cần một bệnh nhân làm mẫu để thao diễn một phương pháp mổ mới, không cần gây mê. Đại Phu, qua một số quan hệ, đã tự hiến mình cho nhiệm vụ chính trị này với điều kiện hai con gái ông được vào làm việc trong nhà máy. Hai cô con gái đều có học và bị gửi xuống nông thôn nhiều năm mới được trở về thành phố, không thể tìm được việc làm. Người cha bị mổ không thuốc gây mê, chỉ có năm cái kim châm cứu vào bàn tay. Nghe đồn rằng trong khi được quay phim, Đại Phu đã chịu quá nhiều đau đớn suốt cuộc phẫu thuật, và sau đó đôi chân ông bị liệt vì một lý do y học chưa rõ ràng và khả năng tiểu tiện bị hỏng vĩnh viễn. Sau vài ngày theo dõi, các bác sĩ quân y lúng túng cho rằng có vấn đề về tâm lý và gửi trả Đại Phu về Nê Giang.

Ông giáo Cố kinh ngạc thấy một người đàn ông có thể chịu đựng như thế vì con gái mình. Tuy vậy, Đại Phu không cho mình là anh hùng như các bạn cùng phòng bệnh tôn vinh. Là một nhân viên bậc thấp, ông rất bối rối khi được ca ngợi vì lòng vị tha. Ông luôn xin lỗi khi không đi tiểu được.

- Anh cứ thoải mái - y tá Thời, một người đứng tuổi có bàn tay dịu dàng hơn những người khác thuyết phục anh. Các bác sĩ giải thích triệu chứng của Đại Phu là do ông đã kiềm chế quá sức để chịu đựng đau đớn trong cuộc phẫu thuật, nên các cơ của ông bị ngập máu triền miên. - Cứ thoải mái đi, - y tá Thời nhắc lại. - Hãy cố tưởng tượng nhé. Hãy nghĩ đến lúc anh còn bé và không thể nhịn tiểu được. Hồi bé anh có tè dầm trên giường không?

- Có, - Đại Phu nói.

- Hãy nhắm mắt lại và nghĩ đến lúc anh tè dầm, nào. Anh muốn nhịn nhưng không thể được, thế là, nó cứ vọt ra. Nó đang vọt ra đấy. - Giọng y tá Thời nghe rõ cả tiếng thở và gấp gáp, và những lúc như thế, các bệnh nhân, kể cả bốn ông già ở mãi cuối phòng bệnh hay thu hút sự chú ý bằng cách rên và than phiền về những thứ không có, đều im thin thít. Để kích thích thêm trí tưởng tượng của Đại Phu, y tá Thời bảo một y tá trẻ mở vòi ở bồn rửa mặt, để nước chảy tí tách vào một cái chậu rỗng. Đại Phu ngượng nghịu ngồi ở mép giường, được y tá Thời và một y tá nữa đỡ, quần đùi tụt xuống tận mắt cá, cái bô men đặt giữa hai chân. - Nước sẽ chảy, - y tá Thời thì thầm khích lệ, và mọi người trong phòng đều nín thở, cuối cùng, một trong bốn ông già ở cuối phòng phá tan sự im lặng, hét to lên rằng ông ta không thể nhịn tiểu được nữa, có ai đưa hộ ông cái bô. Một y tá tập sự trẻ cố giấu niềm vui khi làm ơn cho ông già; Y tá Thời an ủi Đại Phu, nói ông đã cố gắng hơn nhiều và tin rằng lần sau ông sẽ thành công. Mặt đỏ tía, Đại Phu xin lỗi vì mọi thứ phiền toái ông đã gây ra cho các y tá và những người khác trong phòng. Đại Phu xin lỗi không ngừng, kể cả với hai cô con gái đến phòng bệnh cho bố thấy những cái áo choàng trắng họ mặc vì vị trí hiện nay của họ tại xí nghiệp dược phẩm, màu trắng hơn hẳn màu xanh thông thường, và trong cái nhìn của những người không biết công việc của họ, nâng họ lên ngang cấp y tá, thậm chí một bác sĩ. Các cô con gái không nói về khả năng lôi cuốn những người đàn ông thích hợp bằng chiếc áo choàng, nhưng người cha nhìn thấy hy vọng ấy trong mắt họ, những cô gái hai sáu, hai bảy tuổi, không còn trẻ để kết hôn. Ban đêm, ông âm thầm luyện tập trong bóng tối, quyết tâm cử động đôi chân để không thành gánh nặng cho các con. Viễn cảnh cưới một phụ nữ có cha nằm liệt giường có thể khiến những người theo đuổi hoảng sợ, và Đại Phu hình dung người vợ đã khuất của ông đang từ trời cao nhìn xuống ông, chê trách. Buổi sáng hôm bà bị xe tải cán chết, họ đã cãi nhau vì những việc vặt trong nhà, lúc đó bà phàn nàn đã lấy phải một người đàn ông kém cỏi nhất đời, chẳng có ích gì cho vợ con, đấy là những lời cuối cùng bà nói với ông. Suốt từ đó, ông thường băn khoăn tự hỏi bà có tin thế không, hay chỉ không biết chọn lời trong lúc cáu giận, và không định xúc phạm ông. Ông không còn cách nào để biết, Đại Phu ngẫm nghĩ. Nói khác đi, ông chỉ có thể làm mọi điều để chứng minh thôi.

Lúc Đại Phu nức nở trong gối, những lo lắng của các bậc cha mẹ làm phiền thêm nhiều người ngoài bệnh viện. Một người mẹ vừa giúp cô con gái đang hoảng hốt vì kỳ kinh nguyệt đầu tiên, không thể nhắm mắt cạnh người chồng ngáy pho pho. Bà nhớ lại mẹ mình không ngừng kiểm tra quần lót của các con gái vì sợ chúng bị hãm hiếp hoặc người lạ rủ rê. Cô con gái thoát khỏi mường tượng của bà mẹ rồi trở thành mẹ, và lúc này kinh hoàng vì bóng ma nỗi sợ của bà mẹ đã biến ngôi nhà thành địa ngục.

Trên chiếc giường khác trong cùng khu nhà, một người đàn ông nhắc vợ đe hai cô con gái đang tuổi dậy thì không được mặc màu sáng. Nhưng sự ngăn cấm không được xinh đẹp nay không còn nữa, người vợ nói toạc ra, che chở các cô con gái và nghĩ đến những năm thanh xuân của mình, khô héo trước khi bừng nở. Người ta sẽ để ý và bàn tán, người cha nói, không muốn đề cập đến chủ đề nguy hiểm với các con gái ngực đã căng phồng và môi đầy đặn, khiến ông phải nhìn lảng đi và no mắt với thân hình trẻ trung của các cô gái khác trên đường phố.

Bố mẹ Nhược Nhược không ngủ. Bàn tay bố đặt trên bụng mẹ, cái bụng bắt đầu lùm lùm, họ hy vọng có mụn con trai, và không muốn chia sẻ nỗi kinh hãi có thêm một đứa con gái nữa. Ở đầu kia cái giường, Nhược Nhược nghe trộm được và thầm khấn các thần thánh vô danh sẽ cho họ một bé gái.

Mẹ Gia Lâm cũng lo lắng về thời gian sống còn lại của anh, nhưng còn lo về ba đứa em trai hơn, chúng đã ăn cắp tiền của bà mua ba cặp kính râm. Hôm đó, chúng về nhà sớm hơn với món đồ đen ngòm trên mặt, và lúc nhìn vào, bà nhìn thấy mình trong sáu cái thấu kính của chúng, mặt mệt mỏi và tóc hoa râm. Bà không biết chúng có gia nhập các băng đảng trong thành phố không nhưng khi nói chuyện với chồng về nỗi lo này, ông nói đây là điều tự nhiên để bọn con trai thành người.

Trong lều ông bà Hoa, bà Hoa mơ đến bảy cô con gái. Thỉnh thoảng, họ nói chuyện với bà về đứa con gái mới sinh không làm đẹp lòng nhà chồng, hoặc một đứa con trai mong mỏi mãi mới có khiến chồng cô khác ngừng đánh đập; mấy đứa bé hơn kể về trại mồ côi, nơi chúng quá lạnh, quá đói hoặc phải làm lụng quá vất vả. Trong cái đêm đặc biệt này, cô bé nhất bị hở vòm miệng bẩm sinh và bị các chị đặt cho biệt hiệu Bánh bao, đến và kể với bà Hoa rằng cô quyết định về nhà, cô sẽ đến chào biệt cha mẹ vì những năm sống với họ là hạnh phúc nhất trong đời cô. Trong giây lát, bà Hoa cảm thấy hơi thở của cô gái trên má bà, rồi cô gái biến mất, để lại bà Hoa toát mồ hôi lạnh. Bà cắn vào ngón tay; cái đau có thật, vậy là bà không mơ. Bà nằm trong bóng tối một lúc và bật khóc. Hồn ma của Bánh bao đã đến nói với bà lời từ biệt, bà Hoa kể với chồng lúc ông tỉnh dậy, lúc này có chuyện gì đó xảy ra với cô gái tội nghiệp trên đường sang cõi khác. Ông Hoa cầm bàn tay bà, lát sau bà Hoa bình tâm lại. Họ không bao giờ biết cái gì hoặc ai giết đứa con gái bé bỏng của họ, bà nói và ông đáp có lẽ Trời biết rằng để con bé sống còn khó khăn cho nó hơn nhiều.

Dịch nguyên bản từ tiếng Anh The Vargants by Yiyun Li
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 10 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.