Làng Stepantsikovo Và Cư Dân - Bút Ký Từ Nhà Chết

Lượt đọc: 364 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
II - NHỮNG ẤN TƯỢNG ĐẦU TIÊN
II NHỮNG ẤN TƯỢNG ĐẦU TIÊN

❊ ❊ ❊

Tháng đầu tiên nói riêng và toàn bộ thời kỳ đầu cuộc đời lao lý của tôi cho đến bây giờ vẫn còn rõ nét trong ký ức. Những năm sau này trong trại tù chỉ còn ẩn hiện mờ mịt. Những năm sau nữa thì mờ đi hẳn, chúng hòa lẫn vào nhau, chỉ để lại một ấn tượng tổng thể là nặng nề, đơn điệu và tồi tệ dần đi.

Nhưng tất cả những gì tôi đã sống qua trong những ngày đầu tù tội thì cho đến nay tôi vẫn còn hình dung được tựa hồ như mới diễn ra hôm qua. Như thế cũng là phải thôi.

Tôi còn nhớ rõ rằng ngay từ bước đầu tiên trong cuộc sống ở đây cái điều làm tôi kinh ngạc là dường như tôi không tìm thấy trong đó có gì làm tôi ngạc nhiên đặc biệt, có gì bất thường, hoặc nói cho đúng hơn, chẳng có gì đáng giật mình cả. Tất cả những cái đó trước kia dường như đã lờ mờ diễn ra trước mắt tôi và trong trí óc tôi, khi mà trên đường đi Sibir tôi đã cố gắng đoán trước số phận của mình. Nhưng chẳng bao lâu sau những ngõ ngách sâu thẳm của những điều bất ngờ kỳ lạ nhất, những sự kiện quái đản nhất đã bắt đầu khiến tôi phải dừng lại dường như sau mỗi bước chân đi. Và mãi cho đến sau này, khi tôi đã sống khá lâu trong trại, tôi mới hiểu toàn bộ những điều kỳ lạ và bất ngờ của cuộc tồn sinh như vậy và càng ngày tôi càng thấy ngạc nhiên. Tôi phải thú thật rằng điều kinh ngạc đó đã đi theo tôi trong suốt thời hạn khổ sai dài ngày và chẳng bao giờ tôi có thể quen được với nó.

Ấn tượng đầu tiên của tôi ngay sau khi bước chân vào trại nói chung là hết sức tởm lợm, nhưng mặc dù vậy, nó thật kỳ lạ! - tôi thấy rằng trong trại dễ sống hơn nhiều so với tôi tưởng tượng lúc trên đường đi. Các tù nhân dù có bị xiềng xích vẫn được đi lại tự do khắp trại, được chửi bới, ca hát, được làm việc riêng, được hút tẩu, thậm chí còn được uống rượu (tất nhiên là rất ít người thôi), và đêm đêm một số người vẫn chơi cờ bạc. Bản thân công việc thì tôi thấy cũng không thật nặng nề, không thật khổ sai, mãi đến một thời gian dài về sau tôi mới đoán ra được rằng sự nặng nhọc và sự khổ sai của công việc nằm trong sự khó khăn và sự liên tục của nó thì ít, mà trong sự cưỡng bức, sự bắt buộc dưới làn roi vọt thì nhiều. Một anh nông phu ở ngoài tự do có thể lao động nhiều hơn gấp bội, thậm chí phải làm cả đêm, nhất là vụ hè, nhưng ấy là anh ta làm cho mình, làm việc với mục đích hợp lý, và anh ta cảm thấy nhẹ nhàng hơn nhiều so với người tù khổ sai phải làm việc cưỡng bức và đối với anh ta nó hoàn toàn chẳng có lợi ích gì cả. Có lần tôi chợt nghĩ rằng nếu người ta muốn hoàn toàn chà đạp, hủy diệt con người, trừng phạt con người một cách khốc liệt nhất, sao cho một tên giết người kinh khủng nhất cũng phải run sợ và hoảng loạn trước hình phạt đó, thì chỉ cần làm sao cho công việc phải có tính chất hoàn toàn vô nghĩa và vô ích. Nếu như công việc khổ sai hiện thời vừa nhạt nhẽo, vừa ngán ngẩm đối với tù khổ sai, thì bản thân nó, với tư cách là một công việc, nó lại là có lý đấy. Trại nhân phải làm gạch, gánh đất, phải nhào vữa, xây nhà, những công việc ấy đều có ý nghĩa và có mục đích. Tù khổ sai thậm chí đôi khi còn say sưa làm việc, muốn được khéo hơn, tốt hơn, nhanh hơn. Nhưng giả sử bắt họ phải đứng đổ nước từ bình này sang bình khác, rồi lại đổ ngược lại từ bình khác sang bình này, phải chuyên chở đất cát từ chỗ này sang chỗ nọ rồi lại từ chỗ nọ sang chỗ này, thì tôi nghĩ rằng tù nhân sẽ thắt cổ chết sau một vài hôm, hoặc sẽ gây ra hàng ngàn tội ác chỉ mong để được chết đi, để thoát ra khỏi sự nhục mạ, hổ thẹn và đau khổ. Cách hành hạ ấy sẽ biến thành đòn tra tấn, thành lối trả thù và sẽ là vô nghĩa, bởi vì nó chẳng đạt tới một mục tiêu khôn ngoan nào cả. Nhưng chính vì một phần những đòn tra tấn, những sự vô lý, nhục mạ và xấu hổ kia lại là tất yếu trong bất kỳ một công việc cưỡng bức nào, cho nên thứ lao động khổ sai là thứ lao động khổ ải hơn tất cả mọi thứ lao động tự do, lý do là ở chỗ nó bị cưỡng bức.

Tuy nhiên, tôi nhập trại lại là vào mùa đông, vào tháng Chạp, lúc tôi chưa có khái niệm gì về lao động mùa hè là thứ lao động nặng nề hơn gấp đến năm lần. Mùa đông trong thành lũy của chúng tôi nhìn chung công việc không nhiều. Tù nhân phải đi Irtysh để đập vỡ phá bỏ những chiếc xà lan công, làm việc trong các xưởng thợ, dọn tuyết cho các công sở sau mỗi trận giông bão, nung thạch cao và đổ khuôn thạch cao vân vân và vân vân. Ngày mùa đông thì ngắn, công việc xong sớm, đoàn tù chúng tôi cũng mau về trại. Về nhà hầu như chúng tôi không phải làm gì, nếu như không có công việc gì riêng. Nhưng việc riêng thì chỉ độ một phần ba tù nhân biết làm mà thôi, những người khác ôm gối ngồi không, đi lang thang khắp trại, chửi bới nhau, bày ra mưu nọ kế kia, bịa thành chuyện này chuyện nọ, rồi nếu có đồng tiền thì lại tìm đến rượu chè, đêm đêm đánh bạc đến chiếc áo cuối cùng, tất cả chỉ vì buồn chán, vì nhàn tản, vì chẳng có việc gì mà làm. Sau này tôi mới hiểu rằng ngoài việc mất tự do, ngoài thứ lao động cưỡng bức trong cuộc đời khổ sai còn một nỗi khổ khác nữa có lẽ là ghê gớm nhất so với mọi nỗi khổ khác. Đó là nỗi sống chung cưỡng bức. Tất nhiên, ở những nơi khác cũng có sống chung, nhưng trại này có những con người mà không ai muốn sống chung với họ, và tôi đoan chắc rằng bất kỳ một tù khổ sai nào cũng cảm thấy cái nỗi khổ ấy, mặc dù, tất nhiên, đa phần cảm thấy một cách vô thức.

Việc ăn uống ở đây đối với tôi cũng khá đầy đủ. Các tù nhân đều tin rằng chế độ ăn uống này ở các nhà tù phía châu Âu của Nga không có được. Về việc này tôi không dám phê phán vì tôi không sống ở đó. Hơn nữa nhiều người còn có nguồn thức ăn riêng. Thịt bò ở đây giá rẻ mạt, mùa hè có ba cô-pếch một funt[1]. Nhưng thức ăn riêng thì chỉ có những người thường xuyên có tiền mới có được; phần lớn tù nhân ăn thức ăn chung. Tuy nhiên, những tù nhân hay khoe khoang về thức ăn của mình cũng chỉ nói đến bánh mỳ và cũng chỉ khoe rằng bánh mỳ của họ cũng là thứ bánh mỳ chung, chứ không phải cân cho từng người. Điều này khiến mọi người giật mình: nếu cân cho từng người thì có đến một phần ba tù nhân bị đói: ở những nơi sản xuất thì mọi người lại có đủ. Bánh mỳ của chúng tôi không hiểu sao mà rất ngon, nổi tiếng cả thành phố. Người ta gắn chất lượng đó cho thiết bị các lò trong trại. Canh bắp cải thì thật vô duyên. Canh được nấu bằng chảo chung, có rắc thêm bột, đặc biệt vào những ngày thường thì loãng thếch loãng thoác. Tôi thất kinh vì thấy trong chảo có nhiều con gián, nhưng tù nhân không mảy may quan tâm.

Ba ngày đầu tiên tôi không phải đi làm, những người mới nhập trại đều được như vậy vì đi đường mệt mỏi. Nhưng sau đó tôi được đưa ra ngoài trại để được xiềng lại. Cái xiềng của tôi không phải đồ chuẩn, nó có nhiều vòng tròn; tù nhân gọi là “bộ chuông”. Khi ra ngoài trại thì phải mang. Những xiềng chính hiệu dùng để đi làm, chúng không có những vòng tròn, mà chỉ có bốn thanh sắt dày bằng ngón tay, nối với nhau bằng ba cái khuyết. Những xiềng này đeo trong quần. Nối với cái khuyết giữa là một chiếc đai đeo vào giây thắt lưng thắt ở ngoài áo.

Tôi vẫn nhớ buổi sáng đầu tiên trong trại. Phòng cảnh vệ ở cổng trại có cái trống báo hiệu sớm mai và mười phút sau viên hạ sĩ tuần tra bắt đầu mở khóa các gian. Mọi người lục tục dậy. Trong lúc tranh tối tranh sáng dưới ánh đèn dầu leo lét tù nhân bước ra khỏi lán, run rẩy vì lạnh. Phần lớn còn ngái ngủ nên họ im lặng và cau có. Họ ngáp dài, vươn vai và nhăn những chiếc trán bị đóng dấu. Một số làm dấu thánh, một số khác bắt đầu nói bậy. Ngột ngạt dễ sợ. Không khí buổi sáng mùa đông mát lạnh ùa vào các lán khi được mở ra và khắp gian trại như có khói cuộn. Tù nhân xúm xít quanh các xô nước. Họ xếp hàng dùng gáo múc nước ngậm vào trong miệng, sau đó dùng nước trong miệng mà rửa mặt mũi chân tay. Nước này đã được chuẩn bị từ hôm trước. Bất kỳ gian nào cũng có một tù nhân được lựa chọn để phục vụ. Người này được gọi là parashnik[2] và không phải đi làm. Công việc của anh ta là dọn dẹp trong gian trại, cạo rửa các giường lán và sàn nhà, thay thế cái thùng gỗ dùng ban đêm và xách về hai xô nước sạch - một để rửa mặt buổi sáng và một để uống ban trưa. Vì cái gáo chỉ có một nên lập tức tù nhân cãi nhau:

- Lại vứt đi đâu rồi? Cái thằng đầu cá chép này! - Một anh cao to, cau có, da khô, người đậm, có những cục bướu nhỏ kỳ lạ trên cái đầu trọc, vừa lầu bầu vừa lấy tay đẩy một anh khác béo lùn, có gương mặt ửng đỏ vui tươi, - khoan đã!

- Làm gì mà quát lên thế. Muốn khoan đã thì phải trả tiền, nếu không thì dẹp ra! Đứng lù lù ra thế này. Anh em thấy không, chả có tý văn héo văn hóa nào cả.

Cái từ “văn héo văn hóa” cũng gây được một chút hiệu quả: nhiều người cười rộ. Anh chàng béo lùn vui tính chỉ cần có thế. Ở trong trại này anh ta được coi như thể một anh hề tự nguyện. Anh chàng cao to nhìn anh hề với sự khinh bỉ ra mặt.

- Đồ bò cái vớ vẩn, - anh chàng cao to lẩm bẩm, - ăn bánh chay nhà tù mà cũng béo ị ra. Đến tuần chay không khéo đẻ ra một tá lợn con đấy!

Chàng béo lùn cuối cùng cũng nổi cáu:

- Mày là cái đồ quạ gì mà thối tha thế? - Anh ta đỏ mặt quát lên.

- Ừ, quạ thối đấy!

- Tao hỏi mày là quạ gì?

- Quạ ấy đấy.

- Quạ ấy đấy là quạ gì?

- Tao nói một lời thôi, quạ ấy đấy.

- Tao hỏi quạ gì cơ mà?

Hai tay trừng mắt nhìn nhau. Anh béo chờ câu trả lời, hai tay nắm chặt lại thành hai quả đấm, tựa như muốn lao ngay vào chiến đấu. Quả thật tôi đã nghĩ rằng sẽ có một cuộc ẩu đả. Đối với tôi những chuyện ấy là mới mẻ, nên tôi tò mò đứng xem. Nhưng cuối cùng tôi nhận ra rằng những hoạt cảnh tương tự là quá bình thường và nó cứ diễn ra như trong hài kịch, để cho mọi người cùng vui thế thôi, chứ hầu như chẳng bao giờ dẫn đến ẩu đả. Những chuyện ấy khá là đặc trưng và chúng miêu tả được nếp sống trong trại.

Chàng cao to cứ đứng bình tĩnh và trang nghiêm. Anh cảm thấy rằng mọi người nhìn mình và chờ đợi xem anh ta có thất thố hay không, rằng anh cần phải giữ mình, phải chứng tỏ rằng quả thật anh là một loài quạ và phải cho thấy anh là loài quạ gì. Anh đưa xéo mắt qua bên đối thủ tỏ ý ngấm ngầm khinh bỉ, cố gắng gây nỗi bực bội cao hơn bằng cách nhìn nghiêng qua vai, nhìn từ trên xuống, tựa hồ nhìn anh béo lùn như một con bọ, rồi chậm rãi dằn từng âm một:

- Điểu vương!

Hóa ra anh ấy là điểu vương. Một tràng cười rộn rã chào mừng trí khôn của anh ta.

- Mày là thằng đểu lại đòi làm điểu vương! - Anh béo lùn lớn tiếng, khi cảm thấy mình bại trận ở mọi khía cạnh và anh phát khùng.

Nhưng đến khi cuộc cãi vã trở nên nghiêm trọng, mọi người lập tức làm họ hạ nhiệt. Cả gian trại làm ầm lên:

- Các anh làm gì mà ồn lên thế!

- Thà đánh nhau còn hơn gân cổ lên thế này! - Một người trong góc lớn tiếng.

- Nào, giữ chặt lấy kẻo lại đánh nhau bây giờ! - Có người đáp lời. - Ở đây ai cũng hăng máu, bảy người không sợ một người đâu...

- Cả hai đều đẹp mặt! Một anh vì miếng bánh mỳ mà phải vào trại. Một thì như gái hoang ngoài chợ, uống vụng sữa chua của một mụ nên phải chịu đòn ở đây.

- Chà, chà! Thôi đủ rồi, - một anh bị dị tật, giữ trật tự trong trại, vì thế được nằm trên một chiếc giường sắt đặc biệt, lên tiếng.

- Cho xin tý nước, các bạn ơi! Nevalid[3] Petrovich dậy rồi đây! Nào, cho Nevalid Petrovich, người anh em của các bạn một ít nước nào!

- Anh em... Tao anh em gì với mày. Không uống với nhau lấy được một rúp mà cũng đòi anh em. - Anh chàng dị tật gầm lên, đang xỏ tay vào chiếc áo lính.

Chuẩn bị kiểm tra. Trời bắt đầu sáng. Nhà bếp đầy người, không có chỗ chui vào. Tù nhân chen chúc nhau, mặc trên mình những chiếc áo bông bán thân, đội mũ nửa đầu, đứng xếp hàng chờ bánh mỳ do một đầu bếp cắt chia cho họ. Đầu bếp do tập đoàn tuyển chọn, mỗi bếp hai người. Họ được giữ một con dao nhà bếp để cắt bánh mỳ và thái thịt, cả bếp chỉ có một con.

Đám tù nhân ngồi khắp các góc và ngồi quanh bàn, đội nguyên cả mũ, mặc nguyên cả áo, chuẩn bị ăn xong là đi làm ngay. Trước mặt mấy người lại có những chiếc bát gỗ đựng nước kvas[4]. Người ta bẻ nhỏ bánh mỳ cho vào bát rồi uống. Chỗ nào cũng ồn ào như chợ, không thể chịu được, nhưng một số vẫn khôn ngoan trầm tĩnh nói chuyện trong góc.

- Xin kính chào bác Antonych! - một anh tù trẻ tuổi ngồi cạnh một ông tù móm mém nhăn nhó, lên tiếng.

- Chào cậu, cậu không đùa đấy chứ? - ông già không ngước mắt lên và đang cố gắng nhai miếng bánh mỳ bằng hai hàm lợi không răng của mình.

- Bác Antonych ơi, thế mà cháu cứ tưởng bác đã ra đi rồi kia đấy.

- Không đâu, cậu ra đi trước rồi tôi mới theo cậu...

Tôi ngồi xuống bên cạnh họ. Bên tay phải tôi có hai tù nhân ôn tồn nói chuyện, rõ ràng là họ cố gắng giữ vẻ trang trọng trước mặt người đối thoại. Một người nói:

- Hẳn là bọn chúng sẽ không lấy cắp được gì của tôi, nhưng người anh em ạ, tôi vẫn cứ sợ, có gì mà chúng không lấy được kia chứ.

- Còn tôi ấy à, tay không thì không bắt được tôi đâu: tôi sẽ đốt cho chết.

- Đốt thế nào được! Mụ ta cũng là tù trốn trại; chẳng biết tên mụ ta là gì nữa... thế nào mụ ta cũng cướp hết anh, mà lại không vái chào anh mà thôi. Chính tôi cũng đã mất tiền với mụ ấy rồi. Vừa mới đây mụ ta lại tự thân đến. Trốn đi đâu với mụ ấy được? Tôi mới cầu xin thằng cha Fedka - đao phủ, hắn có một cái nhà ở ngoại thành, mua của tên Solomon ghẻ lở, tên Do Thái ấy, cái tên sau này lại thắt cổ chết.

- Tôi biết rồi. Năm kia hắn vẫn còn ngồi bán rượu ở đây, biệt danh của hắn là Grishka - Quán - Tối. Tôi biết.

- Anh không biết đâu; đấy là thằng Quán - Tối khác.

- Khác thế nào được! Về mặt hiểu biết thì anh cũng là người biết nhiều đấy! Nhưng tôi có khối người làm chứng...

- Cứ dẫn họ đến đây đi! Anh ở đâu đến đây, còn tôi là ai anh biết không?

- Là ai! Tôi không nói khoác đâu, nhưng tôi đánh gục anh mấy lần rồi đấy. Đã thua lại còn vỗ ngực!

- Anh đánh gục tôi ấy à! Người sẽ đánh gục tôi thì chưa ra đời, người đã đánh gục tôi thì nằm dưới đất rồi.

- Đồ dịch hạch!

- Đồ miệng hùm nọc rắn!

- Muốn ăn một nhát kiếm Thổ Nhĩ Kỳ?

Và cuộc đấu khẩu bắt đầu.

- Thôi, thôi, thôi! Làm gì mà ầm cả lên thế! - Mọi người xung quanh lên tiếng. - Lúc còn tự do thì không biết sống; ở đây thì cứ lột trần nhau ra...

Mọi người ngay lập tức bắt họ im lặng. Ở đây việc cãi nhau “đánh nhau” bằng lưỡi vẫn có thể được. Phần nào đó nó cũng giải sầu cho mọi người. Nhưng đánh nhau thì không phải bao giờ cũng được phép. Chỉ trong những trường hợp rất đặc biệt những kẻ cừu thù thì mới đánh nhau. Chuyện đánh nhau phải được báo cáo lên thiếu tá; quản giáo bắt đầu đi tìm, thiếu tá thân chinh đến tận nơi. Tóm lại, mọi người mất ăn mất ngủ. Chính vì thế đánh nhau là không được phép. Ngay cả những kẻ thù hận nhau mà chửi bới nhau cũng chỉ là để mua vui, để trau chuốt ngôn ngữ. Nhiều khi bản thân họ tự lừa dối mình, khi bắt đầu bằng sự nóng giận, hung hăng dữ dội... khiến mọi người nghĩ rằng họ sắp lao vào cấu xé nhau; nhưng thực ra chẳng có gì xảy ra đâu. Khi đạt đến một cực điểm nào đó thì họ lảng ra ngay. Ban đầu những điều đó khiến tôi sửng sốt. Tôi đã cố ý dẫn chứng ra đây những cuộc nói chuyện thường nhất của tù khổ sai. Đầu tiên tôi không thể hình dung được vì sao họ chửi bới được nhau vì sự thỏa mãn, làm sao lại tìm thấy ở đấy một trò tiêu khiển, một trò luyện võ miệng, một sự thích thú? Tuy nhiên, cũng không được quên còn thói hiếu danh nữa. Một người chửi bới biện chứng thì được kính trọng. Người đó được vỗ tay như đối với nghệ sĩ vậy.

Vừa mới hôm qua đây và cũng từ hôm qua tôi nhận thấy rằng người ta nhìn xéo tôi.

Tôi đã bắt gặp nhiều ánh mắt u ám, ngược lại, có nhiều tù nhân đi bên tôi, nghi ngờ rằng tôi có tiền. Họ bắt đầu nghe ngóng: họ dạy tôi cách đeo cùm mới, họ mang đến cho tôi một cái hòm có khóa, tất nhiên là để lấy tiền, để tôi cất vào đó những vật dụng được phát và mấy cái quần áo của riêng tôi mà tôi mang vào trại. Ngày hôm sau họ ăn cắp hết của tôi và đem uống rượu. Trong số họ có một người về sau trở thành người thân tín của tôi, mặc dù anh ta vẫn không ngừng có dịp là ăn cắp của tôi. Anh ta làm việc ấy không mảy may ngượng ngùng, hầu như là một cách vô thức, tựa hồ như là theo bổn phận, và vì thế mà tôi không thể nào nổi cáu được. Thế nhưng họ lại dạy tôi rằng tôi phải pha trà riêng, rằng sẽ không tồi nếu tôi có một cái ấm, tạm thời họ mang đến cho tôi mượn một cái, rồi lại giới thiệu cho tôi một anh đầu bếp và bảo tôi rằng chỉ cần ba mươi cô-pếch một tháng là anh này sẽ nấu nướng cho tôi món gì cũng được, miễn là tôi thích ăn riêng và còn đi mua thực phẩm cho tôi nữa... Hiển nhiên là họ vay tiền của tôi và chỉ riêng ngày đầu tiên ấy mỗi người trong số họ đã đến vay dễ đến ba lần.

Trong trại tù khổ sai người ta nhìn những người vốn là quý tộc một cách u ám và thiếu thiện cảm.

Mặc dù những người này đã mất hết quyền có tài sản và hoàn toàn bằng vai phải lứa với các tù nhân khác, nhưng các tù nhân thì lại không bao giờ thừa nhận họ là bè bạn của mình. Điều ấy xảy ra thậm chí không phải từ một định kiến có ý thức, mà chỉ là hoàn toàn chân thành và tự nhiên thế thôi. Các tù nhân chân thành thừa nhận chúng tôi là quý tộc, mặc dù chính họ lại cứ thích đem chuyện khánh bại của chúng tôi ra mà đùa rỡn.

- Thôi, thế là đủ rồi đấy!

- Khoan đã! Xưa kia ông Piotr giàu sang lẫy lừng, bây giờ ông Piotr tay không bện thừng - v.v... và v.v,... toàn những lời châm chọc kiểu ấy.

Họ say sưa nhìn vào nỗi đau khổ của chúng tôi, mà chúng tôi thì không muốn phô ra. Đặc biệt là đầu tiên khi đi làm chúng tôi khốn khổ vì thể lực không bằng họ và hoàn toàn không thể giúp đỡ gì họ. Không có gì khó hơn là chiếm được lòng tin của dân chúng (đặc biệt là lớp dân chúng ở đây) và làm sao để được họ yêu mến.

Trong trại khổ sai có một số nhà quý tộc. Thứ nhất, có năm người Ba Lan. Về họ tôi sẽ nói kỹ ở phần khác. Dân tù khổ sai thì lại vô cùng ghét bỏ người Ba Lan, thậm chí ghét hơn cả những người quý tộc Nga lưu đày. Những người Ba Lan (tôi nói về một số tù chính trị) đối xử với họ hết sức tế nhị, lễ độ một cách đáng phật ý, bằng mọi cách tránh giao tiếp và không thể dấu diếm thái độ khinh bỉ đối với họ. Các tù nhân rất hiểu điều đó và cũng ăn miếng trả miếng.

Tôi phải mất hai năm ở trại để chiếm được thiện cảm của các tù nhân. Cuối cùng phần lớn anh em yêu mến tôi và công nhận tôi là “tử tế”.

Những người quý tộc Nga, trừ tôi ra, thì còn bốn người. Một người thì thuộc loại đê tiện mạt hạng, sống rất trụy lạc, chuyên nghề làm mật thám và hóng hót. Trước khi vào trại tôi đã được nghe chuyện hắn ta và ngay từ những ngày đầu tiên tôi đã cắt đứt mọi quan hệ với hắn. Người nữa chính là tên giết cha mà tôi đã nói đến trong bút ký của mình. Người thứ ba là Akim Akimych. Tôi ít thấy người nào kỳ quái như ông này, người để lại trong ký ức tôi một ấn tượng mãnh liệt. Ông ta người cao, gày, đầu óc chậm chạp, dốt nát cực kỳ, nhưng lại rất thích lý sự và sống ngăn nắp như một người Đức. Trại nhân diễu cợt ông ta, nhưng một số người lại sợ quan hệ với ông vì tính cách tỉ mỉ, cầu kỳ và hay cáu bẳn của ông. Ngay từ đầu ông ta đã sinh sự với họ, chửi bới họ và thậm chí đánh nhau với họ. Về mặt ngay thẳng thì ông ta là một hiện tượng. Thấy điều gì bất công là ông ta xông vào, dù không phải việc của mình. Ông ta ngây thơ đến cùng cực. Chẳng hạn, khi chửi nhau với đám tù nhân, đôi khi ông át giọng chúng, bảo chúng là đồ trộm cắp và ra sức thuyết phục chúng đừng như thế nữa. Chúng tôi đứng về phía ông ngay từ ngày đầu, và thế là ông kể hết cho tôi nghe chuyện ông. Ông khởi nghiệp ở vùng Kavkaz, từ trường võ bị, từ trung đoàn lục quân, phấn đấu bằng mồ hôi nước mắt, cuối cùng cũng được thăng hàm sĩ quan và được đề bạt làm trưởng một tuyến phòng thủ. Một tù trưởng hòa hảo láng giềng ban đêm đem quân sang tấn công và đốt pháo đài của ông, nhưng trận đánh không thành. Akim Akimych đã khôn ngoan hơn, ông làm ra vẻ không biết ai là chủ mưu. Mọi việc đổ cho bọn không có thiện chí hòa bình. Một tháng sau Akim Akimych mời tên tù trưởng sang chơi xã giao. Tên này sang chơi, không nghi ngờ gì hết. Akim Akimych tập hợp quân đội, vạch trần âm mưu của y, công khai quở trách y và chứng minh rằng đốt pháo đài là điều đáng xấu hổ. Đồng thời ông cũng lên giọng giáo huấn rất tỉ mỉ, rằng tù trưởng thì phải biết làm gương và để kết luận ông đem y ra xử bắn. Việc này ngay lập tức được báo cáo lên cấp trên một cách chi tiết. Vì việc này ông bị đưa ra tòa, bị tuyên xử tử, nhưng sau được khoan hồng và bị đày đi Sibir, xếp vào loại tù khổ sai hạng hai, làm việc trong các pháo đài, thời hạn mười hai năm. Ông hoàn toàn nhận thức được rằng ông đã sai. Ông nói với tôi ông đã biết như thế từ trước khi xử bắn tên tù trưởng kia. Ông biết rằng ông sẽ bị xử theo luật pháp, nhưng dù biết thế, dường như ông vẫn không thể hiểu được tội trạng của mình lại đến như vậy.

- Xin ông tha lỗi! Nhưng cái thằng ấy đốt pháo đài của tôi, đúng không? Làm sao tôi có thể cúi đầu sùng bái nó được chứ! - ông nói, khi thấy tôi phản đối.

Nhưng mặc dù các trại nhân diễu cợt thói ngốc nghếch của Akim Akimych, họ vẫn kính trọng ông vì ông ngăn nắp và khéo léo.

Không có nghề gì Akim Akimych không biết. Ông là thợ mộc, thợ giày, thợ hồ, thợ thếp vàng... và mọi nghề đó ông đều học được trong tù. Ông cứ tự học mà làm được mọi việc: liếc nhìn ai làm một lần là làm được ngay. Ông làm các hộp gỗ, các giỏ đan, làm đèn lồng, đồ chơi trẻ con rồi đem bán trong thị trấn. Và thế là ông có tiền tiêu, ngay lập tức ông có thêm quần áo, có gối êm hơn, có đệm gấp. Ông ở cùng một lán trại với tôi và đã giúp đỡ tôi nhiều trong những ngày đầu tôi mới nhập trại.

Khi tù nhân ra ngoài trại để đi làm, họ phải xếp hàng đôi trước bốt gác, đầu hàng và cuối hàng đều có lính áp giải đeo súng đã nạp đạn sẵn. Cùng đi với họ có sĩ quan kỹ sư, hướng dẫn viên và một vài kỹ sư cấp dưới trông nom công việc. Hướng dẫn viên điểm danh tù nhân rồi phân chia thành từng nhóm đến nơi làm việc.

Tôi đi cùng những người khác đến xưởng kỹ thuật. Đó là một tòa nhà gạch thấp bé có cái sân to bầy la liệt các loại dụng cụ. Ở đây có xưởng rèn, xưởng nguội, xưởng mộc, xưởng sơn v.v... Akim Akimych đến đây và làm việc trong xưởng sơn. Ông nấu dầu sơn, pha sơn, đóng bàn và các đồ gỗ bằng gỗ hồ đào.

Trong khi chờ xiềng mới tôi đã trò chuyện với Akim Akimych về những ấn tượng đầu tiên của tôi trong trại.

- Phải rồi, họ không ưa quý tộc đâu, - ông nhận xét, - nhất là các vị tù chính trị. Họ sẵn sàng phanh thây uống máu các ông, chẳng có gì khó hiểu đâu. Thứ nhất, ông thuộc loại người khác, không giống họ. Thứ hai, trước kia tất cả họ hoặc là nông nô, hoặc là quân nhân. Ông thử nghĩ mà xem, làm sao họ có thể yêu mến ông được? Tôi xin nói với ông rằng ở đây sống khó lắm, còn ở các đại đội tù binh nước Nga còn khó khăn hơn. Ở trại này cũng có người từ bên đó sang, không phải mình khen trại mình, nhưng quả thực là họ được chuyển từ địa ngục lên đến thiên đàng. Làm việc đâu có phải là tai họa. Bên đó người ta bảo rằng đối với tù binh loại một thì chỉ huy không hoàn toàn là quân nhân, ít ra họ cũng có phong thái ứng xử khác, so với chúng ta. Người ta bảo rằng bên đó người đi đày có thể sống biệt lập. Tôi không sống ở đó, nhưng người ta nói thế. Người ta không cạo đầu, không mặc sắc phục quân đội, còn bên chúng ta vẫn mặc quân phục và được cạo râu, trật tự tốt hơn, trông ưa nhìn hơn. Chỉ có điều là họ không thích như thế. Mà ông xem đấy, một lũ lưu manh kinh khủng! Có tên thì là lính mới, con một tên binh nhì nào đó, có tên thì là người Chéc-két, có tên lại là ly giáo, có tên là người chính giáo đấy, nhưng bỏ lại vợ đẹp con khôn ở quê, có tên là người Do Thái, người Tsigan, có tên chẳng biết là người gì, thế nhưng chúng vẫn phải sống chung với nhau bất kể là thế nào, phải nhân nhượng nhau, phải ăn chung với nhau một mâm, ngủ chung với nhau một lán. Còn luật lệ phép tắc thì hà khắc: ăn thêm một miếng cũng phải giấu giếm, có xu nào phải bỏ vào trong giày ủng, và xung quanh chỉ có trại giam và trại giam. Dù không muốn, những chuyện bất chính cứ lọt vào đầu.

Những điều đó thì tôi đã biết rồi. Tôi chỉ muốn hỏi kỹ ông ta về tên thiếu tá. Ông Akim Akimych không dấu và tôi còn nhớ rằng ấn tượng của tôi không hoàn toàn tốt đẹp.

Thế nhưng tôi còn phải sống hai năm nữa dưới quyền hắn ta. Tất cả những điều ông Akim Akimych thuật lại là hoàn toàn đúng, chỉ có điều khác là ấn tượng từ thực tại bao giờ cũng mạnh hơn ấn tượng của một câu chuyện bình thường. Hắn ta khủng khiếp chính là bởi vì một người như thế mà lại cai quản, cai quản gần như không có giới hạn hai trăm sinh mạng. Bản thân hắn chỉ là một kẻ vô trật tự và độc ác, ngoài ra không có gì. Đối với tù nhân hắn ta nhìn như nhìn kẻ thù tất nhiên, và đó chính là sai lầm đầu tiên và chủ yếu của hắn. Hắn ta quả thực cũng có một số năng lực, nhưng tất cả, thậm chí là những năng lực tốt, cũng thảy đều ở dạng méo mó. Là người bột phát, hung bạo, hắn ta sục vào trại thậm chí đôi khi cả vào ban đêm, và nếu hắn thấy tù nhân ngủ mà nằm nghiêng bên trái hoặc nằm ngửa, thì đến sáng hắn trừng phạt “Ngủ là phải nằm nghiêng bên phải. Ta đã lệnh như thế rồi đấy”. Trong trại mọi người ghét hắn và sợ hắn như sợ dịch hạch. Mặt hắn thì đỏ gay, hung ác. Mọi người biết rằng hắn lại hoàn toàn nằm trong tay tên lính hầu Fedka. Hắn yêu nhất là con chó xù Trezorka, và hắn đau khổ suýt chết khi con này lâm bệnh. Mọi người kể rằng hắn rên rỉ như khóc con trai, hắn đuổi cổ một bác sĩ thú y, và theo thói quen, suýt nữa thì hắn đánh nhau với ông ta. Rồi sau nghe Fedka nói rằng có một tù nhân là bác sĩ thú y tự học chữa bệnh cực kỳ giỏi, hắn liền gọi ngay đến:

- Hãy cứu chữa cho con Trezorka, tao sẽ đắp vàng lên người mày!

Ông này là nông dân Sibir, khôn ngoan, nhanh nhẹn, đúng là một nhà thú ý mát tay, nhưng tính cách đặc là nông dân.

Mãi về sau, sau cái lần tôi đến thăm tên thiếu tá, khi mọi chuyện đã lùi vào quên lãng, ông ta mới kể lại cho đám tù nhân nghe: “Tôi theo dõi con chó nằm trên divan, kê đầu vào gối trắng, tôi thấy nó bị sốt. Tôi nghĩ rằng phải trích mạch, rồi nó sẽ khỏi. Rồi tôi nghĩ thầm “Mà sao? Mình không chữa, nó chết thì đã sao?” Tôi mới bảo “Thôi chết rồi, lạy Chúa lòng lành. Bây giờ gọi bác sĩ là muộn rồi, lẽ ra phải gọi từ hôm qua, hôm kia. Hai ba ngày trước thì còn chữa được cho nó. Bây giờ thì tôi không thể, không chữa được rồi...”

Thế là con Trezorka chết thật.

Tôi được nghe kể rất chi tiết là người ta đã định giết chết tên thiếu tá. Trong trại có một tù nhân. Anh đã ở đây mấy năm, nổi tiếng hiền nhu. Ai cũng nói anh ấy hầu như không trò chuyện với ai, thường bị coi là ngố. Anh là người có học, suốt năm ngoái thường ngồi đọc Kinh thánh, đọc ngày đọc đêm. Nửa đêm mọi người ngủ thì anh thức dậy, thắp cây nến sáp nhà thờ, trèo lên bệ lò sưởi, mở sách ra đọc đến sáng. Một bữa anh tìm tên hạ sĩ quan nói rằng anh không muốn đi làm. Tên thiếu tá được báo cáo. Hắn nổi khùng lên và lập tức đến trại. Anh tù cầm một hòn gạch lao đến nhưng ném trượt. Anh bị bắt, bị xử tội và bị trừng trị. Mọi việc xảy ra rất nhanh. Ba hôm sau anh chết trong nhà thương. Lúc hấp hối anh bảo rằng anh không độc ác với ai, chỉ muốn nhận phần đau khổ mà thôi. Tuy thế, anh không thuộc về một giáo phái ly khai nào cả. Trong trại người ta nhớ đến anh với lòng kính trọng.

Cuối cùng thì tôi cũng được cải huấn xong. Trong lúc này có mấy cô bán bánh mỳ lần lượt vào trại. Có những cô gái còn rất nhỏ tuổi. Trước khi trưởng thành các cô ấy đi bán bánh mỳ; mẹ các cô ấy ở nhà nướng bánh cho các cô đem bán. Lớn lên, các cô vẫn đi, nhưng bây giờ không đem theo bánh mỳ nữa. Các cô không còn là trẻ con. Mỗi chiếc bánh giá có một xu. Tù nhân hầu như mua hết.

Tôi để ý đến một anh tù thợ mộc đầu đã hơi bạc, nhưng mặt mũi hồng hào vẫn hay cười vui bông đùa với các cô bán bánh. Trước lúc các cô đến anh ta quàng lên cổ một chiếc khăn màu đỏ mận. Một cô béo phây, má rỗ nhằng rỗ nhịt đặt lên bàn làm việc của anh một cái mẹt hàng. Hai người bắt đầu nói chuyện. Anh tù cười hềnh hệch:

- Sao hôm qua em không đến đó?

- Sao lại không? Em có đến, và nghe thấy người ta gọi anh là Mitka[5]. Cô gái liến thoắng.

- Người ta gọi bọn anh đi, nếu không thì anh đã ở đây... Ngày hôm kia bọn các em đều đến chỗ anh.

- Ai mà các em?

- Mariashka này, Khavroshka này, Chekunda này, cả cô Hai Xu này...

- Thế là thế nào nhỉ? - Tôi hỏi Akim Akimych. - Chẳng lẽ lại là thế?

- Vẫn có đấy, - ông trả lời, - đầu hơi cúi xuống, bởi vì ông là con người hết sức trinh bạch.

Tất nhiên, điều đó vẫn có xảy ra, nhưng cũng rất ít và hết sức khó khăn. Nói chung thì có nhiều tên đi săn lùng rượu nhiều hơn đi săn chuyện kia, bất chấp sức đè nén tự nhiên của cuộc sống gò bó. Tìm được phụ nữ là rất khó khăn. Phải lựa chọn được thời gian, địa điểm, phải thỏa thuận được, phải hẹn hò được, phải tìm được chỗ cách ly. Đặc biệt khó là phải đánh lừa được bọn áp giải, và nói chung là phải chi hàng đống tiền. Nhưng sau này tôi cũng có dịp được là chứng nhân của những hoạt cảnh tình yêu. Tôi còn nhớ một lần vào mùa hè chúng tôi ngồi ba người trong một nhà kho bên bờ sông Irtysh đốt một bếp lò nung cùng những người áp giải tốt bụng. Cuối cùng, đã xuất hiện hai ả “thổi kèn”, theo cách gọi của đám tù nhân.

- Sao các em ngồi đâu mà mãi không đến thế? Ở nhà Zverkov à? - một anh tù nhân hỏi mấy ả. Các cô đến với anh, còn anh thì cũng đã đợi hoài các cô.

Một cô vui vẻ đáp:

- Em ngồi lâu ấy à? Con sáo ngồi trên cọc lâu hơn con ở chỗ hok, - cô gái vui vẻ đáp.

Đó là một cô nàng bẩn thỉu nhất thế giới. Đó chính là nàng Chekunda. Cùng đi với nàng có cô Hai Xu. Cô này thì cũng không thể nào tả được.

- Còn em thì lâu lắm anh cũng không gặp, - anh chàng tán gái quay sang cô Hai Xu, tiếp tục, - hình như em có vẻ gầy đi đấy.

- Cũng có thể. Trước đây em béo nhiều, còn bây giờ ăn uống cứ như là nuốt phải kim khâu ấy.

- Toàn đi với lính chứ gì?

- Không đâu, cái bọn độc mồm nói như thế về chúng em với các anh chứ gì. Nhưng thế thì đã sao? Mặc dù gầy đét vẫn yêu anh lính kiết!

- Bây giờ các em bỏ lính đi, yêu các anh đây này; các anh có tiền...

Để cho màn kịch được hoàn chỉnh các bạn hãy tưởng tượng ra anh chàng tán gái đầu trọc, chân xiềng, ngực lông lá và bị áp giải.

Tôi chia tay ông Akim Akimych và biết rằng tôi có thể được quay về trại, nhận người áp giải và về lán. Mọi người đã lục tục về. Trước hết là những người làm khoán. Phương tiện duy nhất buộc tù nhân làm việc cật lực, đó là khoán việc cho anh ta. Đôi khi việc giao khoán quá lớn, nhưng chúng lại kết thúc nhanh gấp đôi, hơn là nếu như bắt họ làm việc đến tận hồi trống báo ăn trưa. Làm xong, tù nhân được thoải mái về nhà và không có ai chặn đường.

Mọi người ăn trưa không cùng nhau, mạnh ai người nấy ăn, về trước ăn trước; mà nhà bếp cũng không đủ chỗ cho cùng một lượt. Tôi nếm thử món canh cải, nhưng vì không quen, không thể ăn được nên pha trà uống. Chúng tôi ngồi vào một góc bàn. Ngồi cùng tôi là một ông bạn cũng nòi quý tộc như tôi.

Tù nhân ra vào nườm nượp. Phòng vẫn còn rộng vì mọi người chưa đến hết. Một nhóm năm người đã ngồi riêng quanh một bàn lớn. Anh nhà bếp múc cho họ hai bát canh và đặt lên bàn cả một đĩa to đựng cá rán. Họ chúc mừng gì đó và bắt đầu ăn. Họ nhìn xéo sang chúng tôi. Có một người Ba Lan đi vào và ngồi xuống cạnh chúng tôi.

- Đằng này không ở nhà, nhưng vẫn biết hết mọi việc! - một tù nhân dong dỏng cao bước vào nhà bếp, đưa mắt nhìn mọi người, nói to.

Y chừng năm mươi tuổi, có cơ bắp nhưng lại gầy gầy, gương mặt tinh quái và vui vẻ. Y có đặc điểm là môi dưới dày và trễ xuống, khiến mặt y thêm phần hài hước.

- Thế nào? Các bạn ngủ ngon chứ! Sao không chào anh em một câu? Chào các bạn người Kursk của chúng ta ấy! - y nói thêm, rồi ngồi xuống cạnh những người đang ăn, - Hãy tỏ lòng mến khách, tiếp đãi cho tử tế.

- Chào người anh em, nhưng chúng tôi không phải người Kursk đâu.

- Vậy là người Tambov?

- Cũng không phải Tambov. Anh bạn không xin được gì của chúng tôi đâu. Đi đến chỗ người giầu mà xin.

- Các bạn ơi, hôm nay trong bụng tôi chỉ có Ivan-Taskun và Maria-Ikotishna thôi[6]. Đâu, còn người giầu ở đâu nhỉ? Còn người giầu ở đâu nhỉ?

- Kia kìa, người giầu Gazin kia kìa; đến chỗ ông ta đi.

- Ông Gazin này ăn chơi lắm các bạn ạ. Ông ta đã uống rồi đấy. Ông này uống đến sạch túi thì thôi.

- Có hai mươi rúp đấy, - một người khác nhận xét. - Làm nghề bán rượu lợi thế, anh em ạ.

- Thế nào? Không đãi khách à, các bạn? Thế thì hớp tí canh của nhà nước vậy!

- Thôi, ông đi mà xin nước trà. Các ngài quý tộc đang uống kia kìa.

- Làm gì có quý tộc. Ở đây không có ai là quý tộc cả. Ai bây giờ cũng như chúng ta cả thôi, - một tù nhân ngồi trong góc âu sầu thốt lên. Từ nãy tới giờ anh ta chưa nói câu nào.

- Trà thì tôi uống đến no được, nhưng đi xin thì ngượng lắm; chúng ta đều biết tự trọng, - một anh chàng dày môi đưa mắt hiền hòa nhìn chúng tôi, nhận xét.

Tôi liền ngỏ lời mời anh chàng tù nhân:

- Nếu anh muốn thì tôi mời anh, được không?

- Ông hỏi được không ấy à? Được chứ sao không được! - Anh ta đi đến chỗ bàn tôi.

Anh chàng âu sầu trong góc bảo:

- Chà, ở nhà thì chỉ nước lọ cơm niêu, đến đây đã biết mùi trà rồi, đã biết đòi uống nước của ông chủ.

- Thế chẳng nhẽ ở đây không ai uống trà hay sao? - Tôi hỏi anh ta, nhưng anh không thèm đáp.

- Người ta mang bánh mỳ đến kia rồi. Hãy tặng cho anh ấy một chiếc!

Người ta mang bánh vào. Anh chàng trẻ tuổi xách cả một xâu bán lại cho anh em. Cô thợ nhân nhượng cho anh ta tấm bánh thứ mười mà anh ta vẫn trông đợi.

- Bánh nào, bánh nào! - Anh ta vừa đi vào bếp vừa kêu to, - bánh nóng Moskva đây! Ăn thêm cũng được, nhưng phải trả tiền. Nào, các bạn, còn chiếc cuối cùng đây: ai có mẹ già nào?

Lời kêu gọi đến tình mẫu tử khiến mọi người cười ầm, và có người lấy thêm mấy cái bánh nữa.

- Thế nào, các anh em, - anh ta nói, - Gazin hôm nay chơi đến đổ thì thôi. Chà chà! Đã chơi là chơi! Lão tám mắt sắp đến rồi đấy.

- Đến thì giấu đi. Nhưng mà sao, hắn say lắm rồi hả?

- Đâu có! Dữ như quỷ. Cà khịa với mọi người.

- Nếu vậy thì chơi với hắn bằng nắm đấm.

- Họ nói ai vậy? - Tôi hỏi người Ba Lan ngồi cạnh tôi.

- Đó là tay Gazin, tù nhân, hắn buôn bán rượu ở đây. Nhưng hễ kiếm được tiền là lại uống sạch. Hắn thật độc ác. Tuy nhiên, lúc tỉnh thì lại hiền. Khi say thì lộ hết bản tính, sẵn sàng cầm dao lao vào người khác. Người ta lại phải hạ nhiệt hắn.

- Hạ nhiệt bằng cách nào?

- Phải đến mươi người túm lấy hắn, đánh cho một trận nhừ tử, đến khi hắn không còn biết giời đất gì nữa, tức là phải đánh đến thừa sống thiếu chết, lúc đó mới đặt xuống phản, đắp cho một cái áo bông ngắn.

- Ngộ nhỡ hắn chết thật thì sao?

- Người khác thì có thể chết, còn hắn thì không. Hắn khỏe như voi, khỏe hơn tất cả mọi người trong trại và có thân hình rắn chắc lắm. Hôm sau hắn lại dậy khỏe khòe khoe như thường.

Tôi lại tiếp tục lục vấn người Ba Lan:

- Vậy xin ông cho tôi biết, bây giờ mọi người đang ăn, còn tôi chỉ uống trà. Thế mà họ nhìn tôi như ghen tị với cốc trà này. Thế nghĩa là gì?

Người Ba Lan đáp:

- Không phải ghen với cốc trà. Họ tức ông vì ông là quý tộc và không giống như họ. Nhiều người muốn cà khịa với ông. Họ rất muốn chọc tức ông, hạ nhục ông. Rồi ở đây ông sẽ còn thấy nhiều điều khó chịu nữa. Đối với chúng ta ở đây hết sức gian khổ. Chúng ta chịu gian khổ về đủ mọi phương diện. Cần phải biết lãnh đạm nhiều hơn thì mới quen được. Rồi ông sẽ còn được nhiều lần thấy cảnh chướng tai gai mắt, được nghe những câu chửi thề về ngụm nước trà và về những món ăn riêng, mặc dù ở đây cũng vẫn có nhiều người rất thường ăn thêm như thế, một số thường xuyên uống trà. Họ thì được, còn chúng ta thì không.

Nói xong ông đứng dậy, rời bàn ra đi. Mấy phút sau những lời ông nói biến thành hiện thực nhỡn tiền...

❀ ❀ ❀

[1] Khoảng nửa cân. Mỗi funt là 409,5 gr. (N.D.).

[2] Từ chữ parasha nghĩa là thùng xí (N.D.).

[3] Nevalid - nói lóng từ invalid (người dị tật, tàn phế) (N.D.).

[4] Nước uống làm từ lúa mạch (N.D.).

[5] Cách gọi tên suồng sã. Nếu thân mật gọi là “Mitka, Mitya”, nếu trân trọng thì là “Dmitri” (N.D.).

[6] Ý nói bụng rỗng, chỉ có hơi thôi (N.D.).

Võ Minh Phú và Lê Đức Mẫn dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.