Sau khi làm chủ hoàn toàn tỉnh lỵ Kratié, các đơn vị được lệnh tiếp tục truy quét địch dọc bờ đông lên phía bắc, thượng nguồn Mekong.
Là người miền núi, vốn chỉ quen với những dòng suối nhỏ chảy cuồn cuộn trong mùa mưa lũ. Về Hà Nội học, thấy dòng sông Hồng chở nặng phù sa ôm lấy thành phố tôi đã cảm thấy con sông rất lớn. Giờ đây được tận mắt thấy dòng Mekong mênh mang sóng nước, tôi thật sự ngợp. Bên kia bờ sông, những hàng thốt nốt cao lớn như thế mà trở nên nhỏ xíu, những mái nhà nhấp nhô mờ ảo bên mép nước mờ xa chỉ còn là những chấm nhỏ li ti… Nghe mọi người nói đoạn sông này có rất nhiều cá heo và cá sấu, tôi chẳng tin và nghĩ ai đó bịa ra để hù lính thôi. Nhưng sau này, xem tài liệu mới biết họ nói đúng. Đó là giống cá heo Mekong (hay còn gọi là cá heo Irrawaddy), cá sấu Hoa cà và cá sấu Xiêm. Các loài này có kích thước rất lớn và rất thích sống ở đoạn sông chảy qua thị trấn Sambour, phía bắc tỉnh lỵ Kratié. Chẳng thế mà người ta vẫn gọi sông Mekong là dòng sông của các loài quái thú.
Cả ngày hôm đó, bộ đội hành quân bộ ngược bờ sông, đến các phum sóc theo đường hành tiến. Bọn địch chốt giữ trong các phum sóc chỉ là một vài nhóm nhỏ, nên hầu như chúng chỉ dám chống cự yếu ớt rồi nhanh chóng rút chạy. Thị trấn Sambour, thị trấn Sandal, chùa Trăm Cột giáp ranh với tỉnh Stung Treng được hoàn toàn giải phóng. Sư đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ khi bắt tay với Quân khu 5 từ phía tây bắc đánh xuống.

Chiều muộn hôm ấy, khi bộ đội đang truy đuổi địch dọc sông, nhìn sang bờ tây, thấy hai chiếc thuyền chở khoảng chục tên lính Pốt mặc áo màu đen đang cố cập bờ để chạy trốn, Tiểu đoàn trưởng lệnh cho khẩu đội DKZ75 giá súng ngay bờ sông bắn sang, không cho chúng chạy thoát. Khẩu đội DKZ lấy thước tầm 4.000, nạp đạn, giật cò. Một tiếng nổ chói tai, một tiếng rít khủng khiếp vang lên và chỉ trong tích tắc, một cột nước bùng lên phía sau hai chiếc thuyền. Cự ly 4.000m mà đạn vẫn chưa tới tầm.
Sau khi nâng tầm lên 4.200m, với 3 quả đạn liên tiếp, khẩu đội DKZ75 đã bắn chìm cả hai chiếc thuyền, hầu hết bọn lính trên thuyền bị tiêu diệt, một vài tên sống sót cố bò ngược lên bờ và chạy sâu vào khoảng rừng phía sau.
***
Những ngày này, trên hướng chính diện của chiến dịch, các đơn vị chủ lực của ta tiến công như vũ bão. Quân đoàn 4 đang tập trung lực lượng, đập tan phòng tuyến Đan So, làm bàn đạp đánh chiếm bến phà Neak Loeang, mở đường cho đại quân tiến vào giải phóng Phnom Penh. Quân khu 9 cũng đang thần tốc, đánh lướt các vị trí vòng ngoài, mở đường tiến về sào huyệt của địch.

Phối hợp với hướng chính, chiều 03/01/1979, Sư đoàn nhận lệnh vượt sông với nhiệm vụ là mũi vu hồi chiến dịch, cùng các đơn vị bạn tiến công, giải phóng tỉnh Kampong Cham, cùng với các đơn vị bạn bao vây, tiến đánh Phnom Penh.
Để thực hiện nhiệm vụ này, Trinh sát Sư đoàn, được sự chi viện của hỏa lực pháo binh, tổ chức vượt sông trước, đánh chiếm mục tiêu đầu cầu, tạo điều kiện cho lực lượng cơ bản của Sư đoàn sang sông.
Suốt buổi chiều và tối 03/01/1979, từ phía sau hàng chục cây số, các dàn pháo 155 ly, 130 ly, 105 ly của lực lượng pháo binh Quân khu và pháo binh Sư đoàn dồn dập bắn sang bờ tây sông Mekong. Tiếng các loại đạn pháo bắn nổ rền như trống trận, khói bụi mù mịt suốt dọc triền sông phía bên kia. Nghe và nhìn pháo bắn, tôi chợt nghĩ nếu tên địch nào còn sống, đang lẩn khuất quanh khu vực đó, thì chỉ cần nghe tiếng đạn thôi cũng đã đủ kinh hoàng, không còn hồn vía đâu mà chống cự.
Trong khi pháo binh bắn chuẩn bị, lực lượng Trinh sát Sư đoàn đã nhanh chóng vận động lên thượng nguồn hơn 2km, kết bè chuối, thả trôi theo dòng nước, dạt vào hai cù lao giữa sông. Khi pháo chuyển làn, anh em tiếp tục cơ động, làm chủ bến sông phía tây, đốt hai đống lửa rất lớn làm hoa tiêu cho đội hình lớn của Sư đoàn sang sông.
Do phương tiện vượt sông phải ưu tiên cho hướng bến phà Neak Loeang nên trên hướng Sambour, Trung đoàn 25 công binh của Quân khu phải đảm bảo cho Sư đoàn vượt sông bằng những con thuyền cao tốc loại nhỏ và mấy chiếc phà cũ kỹ. Suốt mấy ngày đêm liên tục, 12 chiếc thuyền lắp máy Cô le[1] như những chiếc lá tre, cứ lộn đi lộn lại trên mặt sông hàng trăm chuyến mới hoàn thành nhiệm vụ đưa bộ đội qua sông. Một số thiết bị lớn như xe tăng, xe thiết giáp và pháo binh được vận chuyển bằng hai chiếc phà nhỏ phía hạ lưu.
Khoảng 11 giờ đêm, chúng tôi nhận lệnh xuống thuyền. Dòng sông mênh mang, con thuyền thì nhỏ mà trời đêm đen kịt, chỉ có một điểm mốc là hai đống lửa lớn được đốt lên bên bờ đối diện. Gần hai chục anh em trèo lên thuyền mà lòng đầy lo âu. Sông lớn thế này mà chẳng ai biết bơi, lỡ lật thuyền thì chỉ làm mồi cho cá. Mà giả dụ có biết bơi đi nữa thì giữa dòng sông mênh mông này, chẳng cách nào thoát chết, nếu chết cũng không biết xác sẽ trôi về đâu…
Con thuyền tròng trành rồi lướt nhẹ trên mặt nước, tiếng máy nổ đều đều, sóng nước bắn tung hai bên mạn thuyền, hắt vào mặt mát rượi. Trời tối om, chỉ có những vì sao nhấp nháy, phản chiếu thứ ánh sáng yếu ớt xuống mặt nước, không đủ để chúng tôi nhìn rõ mặt nhau. Đành mặc cho số phận.
Rồi cuối cùng thuyền cũng cập bờ. Chúng tôi rời thuyền, hành quân chiếm lĩnh vị trí được phân công.
***
Sang sông được mấy ngày mà chẳng thấy đánh đấm gì, địch đâu không thấy, chỉ thấy ruồi vàng với muỗi. Mà chúng ở đâu ra lắm thế, cứ vo ve bay lượn như trực thăng thám thính, rồi đúng lúc mình không để ý, chúng lao xuống chích vào bất cứ chỗ nào trên cơ thể, khiến mặt mũi, chân tay ai cũng sưng vù. Giữa cái nóng như đổ lửa ở cánh rừng nhiệt đới này, lính ta bắt đầu thấy ngán ngẩm vì chờ đợi.
Chiều 07/01/1979, qua Đài Tiếng nói Việt Nam, biết Phnom Penh đã được giải phóng, lính tráng sướng quá, ôm lấy nhau reo mừng, ai cũng nghĩ thế là xong rồi, sống rồi, không phải đánh đấm gì nữa, sắp được trở về với mẹ rồi. Những thằng lính trận phởn chí ôm lấy nhau nhảy cẫng lên, rồi kéo nấc liên thanh lia lên trời cả loạt AK theo kiểu ăn mừng chiến thắng. Khẩu đội 12 ly 7 ở phía trước thấy vậy cũng nã cả dây đạn, nghe cứ “đùng, đùng” như tiếng trống trận, khiến cả khu rừng đang yên đang lành bỗng rộn lên tiếng súng. Những chú chim đang đậu trên vòm những cây khộp hoảng hốt bay vút lên không trung.
Trong niềm vui chiến thắng, mấy anh cán bộ cũng không nỡ mắng bộ đội bởi trong lòng họ cũng rộn ràng phấn khởi.
Tôi thoáng nghĩ, chiến tranh chỉ có thế thôi à? Tưởng sang giải phóng Campuchia thì mình cũng sẽ có mặt trong đoàn quân tiến vào Phnom Penh chứ, giống như cách đây hơn ba năm, trong cuộc Tổng tiến công giải phóng hoàn toàn miền Nam, có biết bao người lính trở về, họ tự hào vì được tham gia một chiến dịch lịch sử, đập tan chế độ Việt Nam Cộng hòa để đất nước có ngày thống nhất, giang sơn liền một dải.
Chỉ thế này thì quá đơn giản. Sau này về nhà rồi chẳng có gì để kể. Lỡ có ai hỏi: anh có được vào giải phóng Phnom Penh không? Chẳng lẽ lại nói phét là có. Rồi lỡ người ta hỏi: Phnom Penh có đẹp không thì biết trả lời thế nào…
Chúng tôi đâu biết rằng, do không thể chống đỡ nổi với sức tiến công như vũ bão của quân tình nguyện Việt Nam và lực lượng vũ trang của Mặt trận Cứu nước Campuchia, Pol Pot đã thực hiện âm mưu nhử ta vào sâu mới đánh và chiến lược “vườn không nhà trống” chúng bỏ ngỏ thủ đô và các đô thị, tránh giao tranh đến mức thấp nhất với bộ đội ta để hạn chế thương vong; phân tán lực lượng, dựa vào rừng núi và khu vực biên giới để thực hiện chiến tranh lâu dài.
Chính vì vậy, những trận đánh vừa qua của đơn vị tôi, ngoại trừ trận đánh vào Kratié địch không thể bỏ chạy nên phản kích dữ dội, còn lại hầu như chưa có trận nào giao chiến lớn. Ta tiến đến đâu, địch kháng cự yếu ớt rồi bỏ chạy đến đó. Chúng đang đón đợi chúng tôi ở những cánh rừng phía tây.
Chúng tôi cũng đâu có hiểu Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã hạ quyết tâm giải phóng Phnom Penh trước ngày 08/01/1979 - ngày mà Liên Hợp Quốc sẽ mang vấn đề Campuchia ra bàn tại Hội nghị toàn thể. Việc quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với lực lượng vũ trang của bạn giải phóng thủ đô Phnom Penh ngay trước ngày mà các thế lực thù địch với Việt Nam đưa ra phán quyết, chẳng khác nào bàn về một việc đã rồi.
Thế cờ hiểm khiến chúng không thể nào đảo ngược được nữa.
❀ ❀ ❀
[1] Máy nổ Kohler của Đức, thường được dùng chạy ghe, còn gọi là máy đuôi tôm (BTV).