Mùa mưa năm 1979, đơn vị chốt ở phum Khvay, một phum khá lớn nằm ở phía bắc Ta Baen. Ban Chỉ huy Tiểu đoàn nằm giữa phum, các đại đội bộ binh được đẩy lên các vị trí tiền duyên là Khu Mả Đá và Chốt 48 phía trước.
Những ngày đó, địch hoạt động khá dữ. Hầu như đêm nào chúng cũng tổ chức tập kích. Cứ khoảng 1112 giờ đêm, lúc bộ đội đang say giấc là chúng luồn vào phía sau các hầm chốt, tập kích vào đội hình của Tiểu đoàn bộ. Chỉ cần vài ba tên, với trang bị nhẹ, gồm một khẩu AK, một khẩu B40 hoặc B41, một khẩu cối 60 hoặc M79, chúng lẻn vào sát các hầm tiền duyên của ta. Mỗi loại súng, chúng bắn ùng uỳnh vài phát rồi lại biến vào rừng. Lúc bộ đội tỉnh dậy thì chúng đã chạy tận đẩu tận đâu rồi. Lính ta bắn cứ như đổ đạn vào rừng mà chẳng diệt được thằng nào.
Có hôm, một viên cối của địch nổ gần, làm vỡ tan cái nồi quân dụng của bếp Tiểu đoàn. Cũng may không có ai bị sao.
Lính tráng thời đó quen với việc địch tập kích lắm, quen đến nỗi chỉ cần nghe thấy tiếng nổ của bất kỳ loại vũ khí nào trong đêm thì dù đang ngủ say thế nào cũng có phản xạ, lăn rất nhanh xuống dưới gầm võng, lăm lăm súng trong tay và tai dỏng lên nghe xem địch từ hướng nào bắn tới.
Cái phản xạ tự nhiên ấy tồn tại mãi trong tôi, để đến sau này khi về học sĩ quan, mỗi khi tham gia diễn tập, tôi vẫn có cảm giác như những tháng ngày còn trong mặt trận. Nghe tiếng pháo hiệu mà tôi giật mình, lăn ngay xuống mấy gốc sim rừng… đau điếng.
Ban chỉ huy Tiểu đoàn bàn phương án chống địch tập kích, xác định các mũi các hướng địch hay vào, dâng đội hình lên cao hơn và bố trí khép kín các hướng để phát hiện địch từ xa, hoặc khi chúng tập kích thì cơ động, đánh thẳng vào sườn chúng. Mặt khác, yêu cầu bộ đội đào hầm có nắp kiên cố, tổ chức canh gác nghiêm ngặt và gài mìn ở một số vị trí trước các hầm tiền duyên…
Thế nhưng ngay sau đó địch vẫn tập kích đều đều.
Có những đêm, không thấy địch tập kích nhưng mìn nổ, anh em chắc mẩm là bọn Pốt luồn vào đã dính mìn. Sáng ra lên kiểm tra, chẳng thấy xác thằng Pốt nào mà chỉ thấy mấy con thỏ và lợn rừng chết lăn quay cạnh mấy hố mìn. Lính ta lại xách thỏ với lợn rừng về cải thiện.
Một đêm địch lại tập kích. Tiếng RPD, tiếng B40 của địch bắn vào phum khá gần. Ngay sau những tiếng nổ của địch bắn tới, mấy khẩu cối 82 và DKZ75 của ta hướng về phía rừng bắn hàng chục trái, các loại súng bộ binh cũng thi nhau nhả đạn… Tiếng nổ của các loại vũ khí trong đêm nghe thật lớn, thật vang. Những ánh chớp đầu nòng của mấy khẩu 12 ly 7 và những tiếng “khùng, khùng…” của nó nghe thật uy lực. Những vệt lửa xanh lét xé toác đêm đen…
Bọn địch không bắn nữa. Nhưng lát sau nghe tiếng “oành” phía xa.
Mìn nổ.
Sau tiếng mìn, tất cả trở nên tĩnh lặng, thanh bình như không có gì xảy ra. Sáng hôm sau, bộ đội lên kiểm tra mìn, thấy rất nhiều dấu máu để lại trên mặt đất, lại có cả một chiếc dép cao su đúc dính bê bết máu ngay cạnh hố mìn.
Tiểu đoàn điện lên báo cáo lên Trung đoàn với nội dung:
“Đêm qua, địch tập kích vào đội hình Tiểu đoàn 6. Ta bắn trả, một tên bị thương, nhưng chúng chạy thoát” Thật bất ngờ, ngay chiều hôm đó, Trung đoàn điện lại cho Tiểu đoàn:
“Tên địch tập kích vào Tiểu đoàn 6 đêm qua đã bị bắt”.
Cả đơn vị ngạc nhiên, không hiểu sao Trung đoàn lại bắt được tên địch tập kích vào tiền duyên phòng ngự của Tiểu đoàn. Mãi khi mấy ông trinh sát Trung đoàn xuống tăng cường cho Tiểu đoàn kể chuyện mới rõ đầu đuôi.
Thì ra là thế này:
Ban Chỉ huy Trung đoàn bố trí dưới sàn một ngôi nhà có dân đang ở. Chủ nhà là một trung niên khá đẹp trai, thân hình vạm vỡ. Lão ta cùng vợ và mấy đứa con sống trên sàn nhà. Hằng ngày, lão chủ nhà rất ít khi ra khỏi nhà, thường chỉ quanh quẩn làm công việc gia đình, nhưng thỉnh thoảng lại đi vắng mấy buổi. Lão nói là sang Thái Lan mua hàng hóa về cho gia đình.
Những ngày ở nhà, sau bữa cơm chiều, lão ta thường xuống uống nước, nói chuyện với các cán bộ của Ban Chỉ huy với thái độ rất nhã nhặn, ôn hòa và rất thân thiện. Bữa Tiểu đoàn tôi điện có địch bị thương thì sáng sớm hôm ấy lão ta cũng từ đâu về rất sớm, một ống chân buộc miếng băng cầm máu, tay chống gậy bước cả nhắc lên nhà.
Mấy anh cán bộ Trung đoàn vẫn đang ngủ, nhưng nghe tiếng bước chân lên sàn liền thức giấc, thấy thế hỏi lão:
- Anh đi đâu mà bị thương?
Lão ta trả lời:
- Hôm qua tôi đi tìm bò, vướng phải mìn của Pốt.
Lúc đầu, mấy cán bộ nhà ta tin là thế, điện cho y tá đến rửa ráy, băng bó vết thương cho lão rất cẩn thận. Lão ta cứ luôn miệng:
- O cun con top, o cun lục thum chà rờn lá (cám ơn bộ đội, cám ơn ông lớn nhiều lắm).
Nhưng sau khi nhận điện của Tiểu đoàn tôi, Chỉ huy Trung đoàn mới chắp nối thông tin, thấy có sự trùng hợp, liền lôi lão ta ra hỏi. Lúc đầu lão ta cãi nhưng cuối cùng thì phải nhận. Rồi lão khai chính lão ta và 2 tên nữa thường xuyên lẻn đi trong đêm, đào súng đạn chôn trong rừng để tập kích vào Tiểu đoàn tôi suốt thời gian vừa qua. Theo lời khai của lão, ta bắt thêm hai tên địch cũng đang nằm trong dân chưa kịp chạy trốn.
Tiếp tục khai thác, cuối cùng mới hiểu nguyên nhân tại sao trong thời gian gần đây, đơn vị tổ chức nhiều trận truy quét nhưng khi nổ súng rất ít khi gặp địch.
Thì ra, “địch ở sau lưng nhà ngươi mà nhà ngươi không biết”. Cứ mỗi lần Ban Chỉ huy Trung đoàn họp bàn phương án tác chiến thì hắn lại nằm ẹp mình xuống sàn nhà nghe lỏm, ghé mắt xuống khe giữa những tấm gỗ sàn nhà, nhìn trộm bản đồ tác chiến. Mặc dù không biết tiếng Việt, nhưng những địa danh thì khi bàn phương án ta vẫn phải phát âm tiếng Khmer, ví dụ như “Phum Thmei”, “Phum Slaeng”.. Vậy là hắn báo ngay cho địch biết, chúng nhanh chóng rời khỏi mục tiêu trước khi ta nổ súng.
Sau khi hắn bị bắt, phía trước đội hình Tiểu đoàn tôi gần như im hẳn, không còn thấy chúng vào quấy phá như trước nữa. Lính ta vẫn tiếp tục gài mìn nhưng gài ở những khu vực có vũng nước hoặc cây cối xanh tốt. Đêm đến, lợn rừng và thỏ hoang vẫn mò ra tìm nước uống và chúng trở thành những bữa ăn cải thiện thường xuyên của bộ đội trên chốt.
***
Sau khi ta chốt chặt đường biên để không cho địch luồn về quấy phá, địch trà trộn trong dân, theo các đường mòn người dân tự mở sang Thái Lan buôn bán làm ăn, âm thầm vận chuyển vũ khí, lương thực, chuyển quân về nội địa, đẩy mạnh hoạt động chống phá. Ở một số nơi, chúng tìm cách chui vào bộ máy chính quyền thôn xã, biến chính quyền mới của bạn thành chính quyền hai mặt, tuyên truyền chia rẽ nhân dân với bộ đội Việt Nam, gây cho họ sự hoang mang, lo sợ bị Pol Pot quay lại trả thù.
Ở nhiều nơi, ban ngày cán bộ phum xã làm việc cho chính quyền mới, đêm đêm lại hoạt động cho địch.
Ngay cả việc xây dựng lực lượng vũ trang cho bạn lúc đầu cũng thật gian nan. Sư đoàn có nhiệm vụ tổ chức huấn luyện cho hai đại đội bộ đội địa phương của bạn. Bộ đội của bạn được phát quân phục may theo kiểu riêng, vải đẹp hơn quân phục của chúng tôi, chế độ ăn tốt hơn và mỗi người được giao quản lý một khẩu AR15 nhưng không có đạn để làm giáo cụ huấn luyện. Cả tháng trời luyện tập, họ chấp hành nghiêm túc mệnh lệnh chỉ huy, không có biểu hiện gì nghi vấn. Vậy mà một hôm, sáng ngủ dậy đồng chí Đại đội trưởng người Việt Nam nằm cùng dãy nhà của bộ đội tá hỏa khi phát hiện cả đơn vị không còn một ai, doanh trại trống trơn không một bóng người. Họ đã bỏ đi hết, rất may là họ không mang theo vũ khí và cũng không đụng chạm gì đến đồng chí cán bộ kia… Thật hú vía.
Những ngày đó địch và ta không thành giới tuyến, không có phía trước, chẳng có phía sau. Các đơn vị của ta có mặt ở khắp nơi, làm chủ các phum làng, nhưng địch cũng lẩn quất khắp các cánh rừng quanh đó. Thậm chí, chúng lù lù trước mặt mà ta không biết. Một phần do bất đồng ngôn ngữ.
Một hôm, anh em đi tuần dọc tuyến đường từ Ta Baen đến phum Coco, phát hiện một toán khoảng 14, 15 người tầm từ 20 đến 35 tuổi ăn vận quần áo đen đi từ hướng biên giới về, người nào cũng khoác trên vai một cái bồng hoặc vác bao tải đựng đầy hàng. Thấy khả nghi, bộ đội yêu cầu được kiểm tra, họ ngoan ngoãn chấp hành. Mở hành lý của họ ra, thấy mấy chục cái màn đơn, hàng chục tấm chăn, ngoài ra là xà phòng, đường, sữa, thuốc đánh răng Thái Lan và khá nhiều bông băng cá nhân. Họ nói là sang Thái mua về để dùng.
Thấy có những dấu hiệu khả nghi, anh em dẫn họ về Ban Chỉ huy Tiểu đoàn. Tại đây Ban chỉ huy giao cho một phiên dịch người Khmer cùng với anh em bộ đội làm rõ xem họ là dân hay địch. Vì không có chỗ ngồi nên tất cả ngồi la liệt ở bậc lên xuống của chùa. Mặc bộ đội ta nói gì, khuôn mặt của cả toán người kia đều lạnh như băng, không cảm xúc, không phản ứng…
Mấy chiến sĩ khám xét họ một lần nữa, phát hiện một cuốn sổ nhỏ trong túi của một tên trong đoàn. Vừa mở cuốn sổ, nhìn thấy những dòng chữ ngoằn ngoèo ở trang đầu tiên, anh phiên dịch hô lớn:
- Bắt, bắt ngay chúng nó.
Dù không biết tiếng Việt, nhưng nghe tiếng quát là cả bọn chúng ù té chạy, mỗi thằng một hướng. Mấy thằng chạy ngời ngời ra cánh đồng rồi trốn vào phum trước mặt, đứa chạy dọc theo đường lộ… Anh em bộ đội quanh đó bị bất ngờ nên không kịp lấy súng, cứ vừa hô hoán, vừa đuổi theo hướng chúng chạy. Tôi đang đứng cạnh đó thì bất ngờ một thằng quay mặt lại hướng tôi rồi co giò chạy, nó chạy đúng hướng tôi nên tôi chỉ biết lấy hai tay du vào ngực nó cản lại, nhưng sức nó khỏe, nó đẩy tôi ngã nhào xuống đất. Ngay lúc ấy, một anh lính vớ được một cành củi cứ thế phang vào hai cẳng chân nó. Tôi cố vùng đứng dậy, túm ngay một chân nó giật mạnh khiến nó ngã sấp mặt xuống, anh lính kia nhanh chóng đè lên lưng, khóa tay nó, trói giật cánh khuỷu rồi buộc vào cột nhà sàn nơi bọn tôi ở. Một lát sau, bộ đội từ các hướng cũng quay về, họ bắt thêm được ba thằng nữa, số còn lại chạy hết.
Lúc ấy, anh phiên dịch mới nói:
- Đây là bọn Pốt trong nội địa, chúng sang Thái Lan nhận hàng quân nhu. Sổ của chúng ghi rõ số lượng hàng đã nhận, có cả chữ ký của thằng giao và thằng nhận đây này.
Chìa ra thì bọn tôi xem chứ khi nhìn vào cuốn sổ, khác nào nhìn bức vách, ai biết chúng nó ghi cái gì bởi toàn những chữ viết ngoằn ngoèo như giá đỗ. Đành chỉ biết dẫn 4 thằng bị bắt bàn giao cho Trung đoàn, còn sau đó khai thác thế nào thì chúng tôi chẳng rõ.
Sự việc diễn ra ngay trước mắt tôi từ đầu đến cuối nên khi những tên địch kia chạy thoát, bên cạnh sự tiếc nuối tôi vẫn cảm thấy muốn trách lão phiên dịch kia nữa. Tại sao khi biết chúng là địch, lão ta không ra hiệu hoặc nói thật bình thường để bộ đội ta chủ động bài binh bố trận bắt chúng. Lão ta hô lên như thể đánh động cho chúng nó chạy?
Thế mới biết, tác chiến ở một địa bàn hoàn toàn xa lạ, ngôn ngữ bất đồng, họ lại không phải người Việt, nên thật khó.
Địch trong dân, dân trong địch, chẳng biết đằng nào mà lần.