Rừng Khộp Mùa Thay Lá

Lượt đọc: 173 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Người mẹ ân tình

❊ ❊ ❊

Tôi sẽ bắt đầu câu chuyện từ đâu nhỉ?

Tháng 2/2018, tôi cùng anh em Cựu chiến binh Trung đoàn 174 trở lại Campuchia, thăm chiến trường xưa, tri ân các đồng đội đã hy sinh trên những địa danh mà chỉ nói đến thôi đã làm cho những người lính năm xưa bùi ngùi xúc động.

Ngay trước chuyến đi, tôi đã nghĩ dù thế nào tôi cũng phải trở lại phum Slo Cram bởi nếu không đến được lần này, thì rất khó có cơ hội trở lại, và mãi mãi tôi sẽ mang món nợ trong lòng mà không biết khi nào trả được.

Đêm hôm Đoàn nghỉ tại Sisophon để sáng mai vào Svay Chek, tôi không sao ngủ được. Gần 40 năm, kể từ ngày khoác ba lô trở về Việt Nam, tôi chưa một lần được nhìn thấy Mẹ, không được nghe bất cứ một dòng tin nào của Mẹ. Những ngày giảng dạy tại trường Sĩ quan Tăng - Thiết giáp, mỗi lần tiếp xúc với học viên từ Campuchia sang, tôi cố gắng hỏi thăm xem họ có biết gì về Mẹ, tình hình chiến sự tại khu vực Svay Chek, nơi Mẹ đang sống. Nhưng bặt vô âm tín.

Tôi đã viết thư, nhờ các bạn học viên dịch sang chữ Khmer và gửi theo đường bưu điện sang Campuchia nhưng cũng chẳng có hồi âm. Đành âm thầm mang nỗi nhớ trong lòng.

Buổi sáng thức dậy, dù biết hành trình hôm đó rất dài, tôi vẫn nói với anh Bùi Tiến và anh em trong đoàn về nguyện vọng của mình là được dừng lại ở phum Slo Cram để tôi tìm Mẹ, Người Mẹ ân tình của tôi. Các anh, các bạn rất ủng hộ ý kiến đó, nhưng cả Đoàn thống nhất chỉ cho dừng lại khoảng 15 phút. Tôi đồng ý.

Xe dừng trên con đường giữa phum, với vốn tiếng Khmer ít ỏi cùng với sự giúp đỡ phiên dịch của chú Minh, những người dân trong phum cho tôi biết, Mẹ tôi đã mất cách đây hơn ba chục năm rồi.

Tôi thẫn thờ, ngỡ ngàng và thực sự thất vọng. Một cảm giác hẫng hụt và tiếc nuối dâng trào trong tôi. Bình tĩnh lại, tôi hỏi họ:

- Ngày tôi ở đây, bà Mia Silon có hai đứa con gái, một đứa tên là Nhanh, khoảng 13-14 tuổi, một đứa tên là Văn, khoảng 9 tuổi. Giờ họ đang sống ở đâu?

Nghe tôi hỏi, những người hàng xóm nói với nhau hàng tràng tiếng Khmer nhưng tôi chỉ nghe được loáng thoáng. Chú Minh phải phiên dịch lại:

- Họ nói, nhà cô Nhanh ở đầu phum, chỗ mình đã đi qua, cách đây chỉ khoảng 300m, còn cô Văn đã vượt biên sang Thái Lan lấy chồng lâu rồi.

Như chết đuối vớ được cọc. Tôi và Minh nhờ một người dân lấy xe máy chở hai anh em xuống nhà Nhanh để khỏi ảnh hưởng đến hành trình của đoàn ngày hôm ấy.

Khi tôi đến nhà thì em đang lễ chùa gần đó. Nghe tin có khách Việt Nam đến nhà, em tất tưởi chạy về, trên tay bế một đứa trẻ độ chừng 2 tuổi.

Là Nhanh đây ư, em đây ư? Gần 40 chục năm rồi nên em khác đi nhiều quá khiến tôi không thể nào ra nhận được. Ngày tôi về nước, em mới 14 tuổi, mỗi khi tôi đến nhà, em lại ôm lấy tay tôi, chạy theo tôi nhõng nhẽo và ra chiều tự hào với lũ bạn cùng phum rằng mình có một người anh là bộ đội Việt Nam. Vậy mà giờ đây gặp lại em đã 53 tuổi. Em đã trở thành một người mẹ của bảy đứa con, là bà nội, bà ngoại, một người đàn bà Khmer già nua, khắc khổ đến tội nghiệp.

Có một điều rất lạ là khi chạy từ chùa về, thoạt nhìn thấy tôi, em chẳng hề lạ lẫm, bình thản gọi tôi với giọng thật trìu mến, như thể em vẫn nghĩ sẽ có ngày tôi trở lại:

- Boòng Điền… nức lá (Anh Điền, nhớ lắm).

Em cười, một nụ cười thật rạng rỡ. Rồi liền sau đó, ngay trước mặt chú Minh và mấy bà hàng xóm, em chẳng ngại ngần ôm chầm lấy tôi, đôi mắt rơm rớm.

Rồi em khóc. Giữa tiếng nức nở em nói với tôi:

- Boòng, Me bất hời. Boòng nức Me tê? (Anh, Mẹ mất rồi,… Anh có nhớ Mẹ không?)

Tôi cũng khóc. Một thằng lính đã bước qua cả một cuộc chiến chinh gian khổ ở xứ sở này chưa bao giờ biết khóc, kể cả những lúc phải chứng kiến đồng đội hy sinh thì chúng tôi cũng chỉ bặm môi lại mà chịu đựng. Vậy mà khi nghe em hỏi vậy, tôi không thể cầm được nước mắt, tôi ôm lấy vai em, tấm thân gầy gò dựa hẳn vào vai tôi. Tôi chỉ biết nói:

- Anh biết rồi. Anh nhớ Mẹ, nhớ các em lắm nhưng không thể nào sang được. Anh có lỗi với Mẹ và các em rất nhiều.

Tôi hỏi em:

- Mẹ chết thế nào?

Em kể, sau ngày tôi về nước mấy năm, Mẹ sang lấy hàng bên Thái Lan, khi mang hàng về theo đường buôn, Mẹ bị pháo Thái Lan bắn chết.

Lại đường buôn, lại pháo Thái Lan. Cái Ngã tư Đường Buôn 39 năm trước đã giết chết 46 đồng đội của tôi, giờ lại giết chết người Mẹ ân tình của tôi, để hôm nay tôi về đây không còn nhìn thấy Mẹ… Thật xót xa.

Nhanh đưa đứa cháu đang bế cho bà hàng xóm bế giúp, rồi dắt tay tôi lên cầu thang để thắp hương cho Mẹ. Ở Campuchia, khi có người chết, họ sẽ hỏa thiêu và gửi tro và di ảnh trên chùa, nên ở nhà chỉ có một bát hương trên kệ, ngoài ra không có gì khác.

Tôi lên thắp hương cho Mẹ, hỏi thăm gia đình em, hỏi thăm tin tức của em, tặng em một chút quà để nhớ ngày gặp mặt, rồi phải lên đường cùng đoàn cho kịp hành trình kẻo muộn, đồng đội đang chờ.

Lúc tôi đi rồi, bàn tay Nhanh, bàn tay của những người dân phum Slo Cram cứ vẫy mãi, hẹn ngày tái ngộ.

Nhà văn Nguyễn Vũ Điền gặp lại “em Nhanh” trong chuyến trở lại chiến trường xưa dịp tết 2018

(Link: https://www.nxbtre.com.vn/diem-tin/chiec-vong-day-tho-trong-rung-khop-33698.html)

***

Ngày ấy, cách đây tròn 39 năm, mùa mưa năm 1979, chúng tôi đóng quân tại phum Ta Baen, cách phum Slo Cram của bà khoảng một cây số. Ngày nào, người Mẹ Khmer này cũng đi qua cửa ngôi chùa chúng tôi đóng quân để lên bán hàng trên chợ Svay Chek. Bà đội cả xấp vải nặng trĩu trên đầu và buổi chiều lại tất tả đội hàng về. Công việc nặng nhọc như vậy, nhưng ở bà vẫn toát lên dáng vóc của một người đàn bà thành thị chứ không giống những người nông dân vùng này. Những đau thương, mất mát suốt cuộc đời vẫn không làm cho một bà mẹ 54 tuổi mất đi những nét đẹp vốn có của một người đàn bà quý phái chốn thị thành. Bà không lẫn trong những người nông dân mộc mạc ở vùng biên giới này.

Một buổi tối, tôi và Cương xuống phum Slo Cram chơi và hỏi mua thuốc lá. Khi chúng tôi đến, gia đình bà đang ăn cơm. Bà đon đả mời chúng tôi vào chơi rồi rót nước mời chúng tôi uống. Hai thằng nói chuyện với bà bằng tiếng Khmer, rồi một lát sau, bà nói chuyện với chúng tôi bằng tiếng Việt, thứ tiếng Việt mang chất giọng Sài Gòn rất sõi. Chúng tôi vui lắm, bởi ở tận nơi giáp biên giới Thái Lan thế này mà lại có một người nói tiếng Việt, làm cho chúng tôi cảm thấy thật gần gũi và ấm áp. Từ đó, cứ vài ba ngày chúng tôi lại đến chơi với bà và hai đứa trẻ.

Một hôm, tôi bị cảm, sốt rất cao và không sao ăn được, y tá đơn vị đã cho thuốc nhưng uống vẫn không khỏi. Bà đi chợ qua, ghé vào chỗ chúng tôi xin nước uống. Thấy tôi nằm li bì, bà hỏi thăm rồi nói với anh em lấy cho bà một lọ dầu xoa để bà cạo gió cho tôi. Bà bắt tôi cởi trần, nằm sấp xuồng sàn gỗ, rồi bà lấy dầu xoa, xoa vào lưng tôi, dùng đồng bạc cạo dọc xương sống và các giẻ xương sườn. Cả lưng tôi đầy những vết cạo tím ngắt. Mấy hôm sau thì tôi khỏi sốt.

Những ngày ấy, ngày nào bà cũng ghé thăm, cho anh em trong Tiểu đội khi thì nẹp cá, khi thì mấy mớ rau. Bà giống như những người Mẹ Việt Nam mà những người lính chúng tôi vẫn gặp khi còn đóng quân ở trong nước.

Một hôm, tôi nói đùa với bà:

- Mẹ ơi, mẹ cho con xin một miếng vải may quần nhé.

Bà không nói gì nhưng hôm sau, đi chợ về, bà đội cả chồng vải đủ màu lên chùa rồi vứt uỵch xuống sàn gỗ rồi bảo:

- Điền, Mẹ cho mày một miếng vải. Chọn đi, thích màu nào cũng được.

Tôi không dám lấy, liền nói với bà:

- Không, con không lấy đâu, con đùa Mẹ thôi mà.

Một miếng vải quần khi đó mang ở Thái Lan về bán tại chợ Svay Chek có giá một chỉ vàng nên tôi không dám nhận, nhưng bà bắt tôi phải chọn.

Tôi lật lật cả súc vải lên và chọn lấy một miếng vải màu tím than. Ngay sau đó, bà đưa cho tôi 50 ngàn (???) tiền Việt, rồi nói:

- Đây là tiền may quần, mẹ cho con đấy.

Tôi cầm lấy tiền bà cho mà vẫn không tin là thật. Một người Mẹ Campuchia còn đang đói khổ, nỡ lòng nào tôi lại nhận của bà. Nhưng không nhận thì bà giận nên không biết cách nào để từ chối. Tôi xin và cám ơn bà.

Sau khi đưa tiền cho tôi, bà đội xúc vải lên đầu và nói với tôi:

- Tối nay, con xin phép “lục thum” (ông lớn) xuống nhà mẹ ăn cơm. Mẹ muốn nói với con chuyện này.

Tối đó, tôi xuống nhà bà. Mâm cơm có 4 người: bà, bé Nhanh, bé Văn và tôi. Lâu lắm rồi tôi không được ăn một bữa cơm gia đình nên được ăn thế này, tôi thấy rất vui và cảm động lắm.

Ăn xong, bà lấy nước cho tôi uống và nói:

- Mẹ đã đi tìm con khắp nơi, giờ mới gặp được con. Mà nghe mẹ nói này, con là con của mẹ, mẹ đã sinh ra con, nhưng mẹ không nuôi được. Con được đầu thai lại ở Việt Nam. Mẹ con ở Việt Nam đã sinh con một lần nữa, nuôi con hộ mẹ và hôm nay mang trả lại đây. Vì thế, mẹ không phải là mẹ nuôi, mà mẹ là mẹ đẻ của con, con có biết không?

Tôi không hiểu chuyện gì nên thực sự ngỡ ngàng, chỉ biết cười cho qua chuyện.

Rồi bà kể về cuộc đời mình và lý do tại sao bà lại nói như vậy…

Gia đình bà trước đây sống ở thủ đô Phnom Penh, chồng bà là một bác sỹ được đào tạo ở Pháp rồi về làm việc tại bệnh viện thành phố, còn bà mở một tiệm ăn trên phố, nên kinh tế gia đình rất khá giả.

Dưới thời Lon Nol, binh lính Việt Nam Cộng hòa hay đến quán của bà dùng bữa, qua họ nên bà nói được tiếng Việt.

Năm 1957, bà đẻ một cậu con trai, nhưng năm sau thì đứa bé bị chết. Vì tiếc thương đứa con, bà lao vào uống rượu và chơi bạc, không lo chuyện làm ăn. Ông chồng can ngăn nhưng bà không nghe. Trong một lần xô xát, ông đánh bà và cắn vào vai bà một miếng mà cho đến nay, sau mấy chục năm vẫn chưa hết sẹo. Sau đó, vì giận nhau nên ông trở lại Pháp sống. Bà ở lại làm ăn ở Phnom Penh.

Mấy năm sau, ông từ Pháp về và gia đình lại đoàn tụ. Rồi bà sinh được bé Nhanh và bé Văn bây giờ.

Những tưởng cuộc sống gia đình được hạnh phúc thì năm 1975, Pol Pot vào Phnom Penh, đuổi hết mọi người dân ra khỏi thành phố. Dưới thời Pol Pot, tất cả những người trí thức đều bị coi là kẻ thù nên chúng bắt chồng bà và giết ông bằng rìu như dưới thời Trung cổ. Bà thắt ruột thắt gan, dắt díu hai đứa con thơ chạy ngược theo Quốc lộ 6, suốt mấy tháng trời chui lủi, bà mới đưa được hai con về nương náu ở vùng này cho đến hôm nay.

Cách đây mấy tháng, bà nằm mơ thấy thần Bao Công với khuôn mặt đen sì, rẽ nước lên nói với bà rằng con của bà sắp về và nó sẽ về từ hướng đông. Bà nghĩ mãi về giấc mơ này và bà thấy hướng đông là hướng Việt Nam sang, vậy là con bà sẽ theo bộ đội Việt Nam trở về với bà. Đã mấy lần bà khăn áo đi tìm con, nhưng biết ai mà tìm, bộ đội Việt Nam sang đây đánh nhau với Pốt nhiều lắm.

Bữa thấy tôi và Cương đến chơi, bà đã thấy lạ bởi từ trước đến giờ có ai là người Việt đến nhà bà đâu. Qua hỏi chuyện, bà biết tôi sinh năm 1958, ít hơn con bà một tuổi. Bữa thấy tôi sốt, bà bắt tôi cởi hết áo ra để bà đánh gió. Lúc đánh gió cho tôi, bà quan sát và thấy một cái bớt ở lưng, giống cái bớt trên lưng con bà thời nhỏ nên bà bắt đầu liên tưởng đến giấc mơ kia.

Khi bà cho tôi tấm vải may quần là bà muốn thử xem tôi thích màu gì. Thấy tôi chọn tấm vải màu tím than, màu vải mà chồng bà rất thích, là bà tin chắc đây chính là con bà, đứa con mà bà sinh năm 1957 bị chết khi vừa tròn một tuổi. Bà tin tôi đã được đầu thai lại ở Việt Nam và giờ đây trở lại với bà.

Những điều bà nói khiến tôi suy nghĩ, chẳng biết thực hay hư, nhưng được người dân yêu quý và cưu mang ở nơi xa nhà cả ngàn dặm như thế này khiến tôi thực sự cảm động. Từ đó, tôi coi bà như chính Mẹ của tôi. Đi đâu về tôi cũng xuống nhà với bà và hai đứa em. Chúng nó cũng quấn lấy tôi như với một người anh trai trong nhà, chúng dạy tôi tiếng Khmer và tôi dạy lại chúng nó tiếng Việt. Đôi khi rảnh rỗi, tôi lại xuống dọn dẹp nhà cửa giúp bà, hỏi han việc làm ăn và bà cũng kể tất cả với tôi rất thân tình.

Một hôm, đi chợ về, bà mang hai con gà đến Tiểu đội, bà nói tôi làm thịt một con để anh em ăn, còn một con bà bảo tôi mang sang Ban Chỉ huy Tiểu đoàn. Bữa đó, bà ăn cơm với các anh chỉ huy, rồi nói với các anh về chuyện của bà, xin phép các anh cho bà thỉnh thoảng được qua chỗ tôi chơi như thăm một đứa con ruột của mình.

Thời gian tôi được sống bên bà không dài, chỉ khoảng 6-7 tháng gì đó nhưng những gì bà dành cho tôi thật ấn tình. Nếu may cho em Nhanh và em Văn một chiếc áo thì bà cũng bắt tôi may một chiếc. Tôi nói với bà là quần áo tôi do quân đội Việt Nam cấp nhưng bà vẫn không nghe. Bà bảo đó là chuyện khác, còn là con mẹ thì tất cả anh em phải được chăm như nhau.

Có lần đi trận về, cả hàng quân dài dằng dặc tiến vào phum, bà đứng nấp sau thân cây dừa chờ đợi. Lúc thấy tôi đi qua, bà kéo tôi vào lòng, ôm lấy tôi mà cười sung sướng, bởi tôi không chết.

Còn tôi thì ngượng chín mặt với anh em đồng đội nhưng cũng thấy ấm áp vô cùng.

***

Tháng 4/1980, tôi được Trung đoàn cử đi học sĩ quan, bà mừng lắm nhưng cũng rất buồn, bà bảo:

- Con được đi học để lên làm “lục thum” là mẹ rất vui, bởi ở lại đây, biết sống chết thế nào. Nhưng con về mẹ buồn lắm, bởi không biết khi nào mẹ con mình mới lại gặp nhau…

Bà khóc rất nhiều khiến tôi cũng thật khó nghĩ. Trong niềm vui được trở về, tôi cũng canh cánh trong lòng những tình cảm của bà và hai đứa em dành cho tôi. Mấy đứa em thấy mẹ nói boòng Điền sẽ thành “lục thum” chúng nó mừng ra mặt, nhưng cũng nhớ vì không còn được gặp boòng Điền.

Hôm chuẩn bị lên đường, tôi xuống nhà chào bà và các em. Bà làm Lễ Phật cầu mong cho tôi trở về may mắn. Bà làm một cái bàn thờ ở ngay cột cái giữa nhà, rồi lấy hoa dừa kết lại thành hình mái nhà, đặt lên bàn thờ hoa quả, bánh kẹo và một chậu nước trong. Trong chậu nước, bà đặt một ông Phật bằng đồng rất đẹp. Sau khi thắp hương, bà khấn vái, mong Đức Phật phù hộ độ trì cho tôi sức khỏe và những điều may mắn… Lúc cúng xong, bà đưa cho tôi một chiếc khăn krama rồi bê chậu nước bảo tôi đi tắm, bà nói là tắm nước Phật.

Tôi bê chậu nước xuống sân, nhưng thấy bà con trong phum kéo đến xem rất đông nên tôi xấu hổ không dám tắm, lấy ít nước vẩy vẩy vào chân. Thấy thế, bà quát, bảo rằng ai lại lấy nước Phật rửa chân. Rồi bà bắt tôi đứng im, bê cả chậu nước, dội suốt từ đầu xuống chân tôi. Khi đó bà mới bằng lòng, cười với nụ cười mãn nguyện.

Bà kéo tôi vào nhà, đưa cho tôi khoảng hai chục mét vải nói là gửi tôi về biếu bố mẹ và mọi người trong gia đình để mỗi người may được một thứ. Tiếp đó, bà đưa cho tôi năm túi mì chính và ba cây thuốc lá Samit, loại thuốc ngon nhất của Thái Lan thời đó, nói là để tôi về làm quà.

Thời đó, ở Việt Nam, bột ngọt rất quý, chẳng phải nhà ai cũng có, nên quà của bà cho tôi là một khối tài sản lớn mà có mơ tôi cũng không bao giờ nghĩ đến.

Ngày tôi về nước. Tất cả những thứ trên lưng đều là quà của Mẹ. Ngoài những thứ Mẹ cho, tôi chỉ có một bộ quần áo lính đã rách bươm trong ba lô.

***

Bốn chục năm rồi. Hôm nay Mẹ đã đi rất xa, nhưng may mắn cho tôi là khi trở lại, tôi đã gặp được em Nhanh. Tuy vất vả nhưng em có được một gia đình hạnh phúc, êm ấm, một mái nhà cao ráo hơn, đẹp đẽ hơn mái nhà mà mấy Mẹ con đã được sống êm ấm và hạnh phúc năm xưa.

Món nợ ân tình của Mẹ, cả đời tôi không trả được. Nhưng tôi sẽ quay lại thăm Nhanh và gia đình em khi còn có thể.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.