Có một Ngã tư không hề có tên trên bản đồ, kể cả hôm nay, mặc dù có sự hỗ trợ của Google Maps chúng ta cũng không nhìn thấy nó, nó không hề xuất hiện, không được gọi tên, mà chỉ được hình thành bởi những bước chân của những người lính, bằng máu xương của những người con đất Việt trên miền biên viễn.
Đầu tiên, lính ta gọi nó là Ngã tư Đường Buôn, Ngã tư Đầu Lọc nhưng sau này những người lính khắc khoải gọi nó là Ngã tư Xương Máu.
Dù gọi nó là gì, thì Ngã tư này vẫn là niềm đau, là nỗi uất hận trong trái tim những người lính Trung đoàn 174 đã từng sống, từng chiến đấu ở nơi này cách đây 40 năm trước.
***
Cuối tháng 7/1979, qua nắm tình hình, trinh sát Tiểu đoàn phát hiện phía đông phum Khvav khoảng 14km, xuất hiện 2 con đường mới, cắt ngang đường mòn nối Khvav với Dangkum. Hai con đường này do dân tự mở giữa những cánh rừng khộp để sang Thái Lan buôn bán. Hàng vạn người dân từ khắp các nơi đổ về Svay Chek rồi theo đường này sang Thái. Ở chiều lên, hầu hết họ đi tay không, nhưng khi về thì lặc lè hàng hóa. Nào gánh, nào gồng cứ nườm nượp như mắc cửi suốt ngày đêm. Lúc đó đang giữa mùa mưa, với số lượng người đi lại rất lớn như vậy nên hai con đường càng ngày càng to ra giữa những cánh rừng khộp mênh mông.
Đây cũng chính là giai đoạn Mỹ và Tổ chức “Trăng lưỡi liềm đỏ Quốc tế” do Mỹ hậu thuẫn mở cầu hàng không, tổ chức viện trợ cho dân tỵ nạn chiến tranh của Campuchia. Nhưng cái thâm độc của Mỹ là chúng không viện trợ qua Chính phủ Campuchia, mà lấy biên giới Thái Lan làm nơi thực hiện việc cấp phát hàng cứu trợ, nhằm lôi kéo người Campuchia tham gia các tổ chức phản động chống lại Nhà nước Campuchia mới.
Người dân Campuchia khi đó đang rất đói. Sau những năm lưu lạc khắp nơi do bị Pol Pot dồn đuổi, họ trở về quê nhưng hầu như trong tay không còn một thứ tài sản gì đáng giá, cái gì đối với họ lúc này cũng quý, cũng rất cần thiết. Chính điều đó làm cho họ buộc phải liều mình sang Thái Lan để nhận viện trợ và mua thêm hàng hóa về buôn bán kiếm sống, dù biết những hiểm nguy luôn rình rập, bởi con đường mà họ đi được mở giữa hai làn đạn, giữa những bãi mìn do rất nhiều lực lượng khác nhau gài bẫy. Cái chết có thể đến bất cứ lúc nào.
Qua biên giới, họ được các tổ chức từ thiện cấp gạo, dầu ăn, đậu phộng và một số nhu yếu phẩm khác. Ngoài ra, rất nhiều người sang để mua thêm hàng hóa như đường sữa, mì tôm, mì chính, thuốc lá, vải vóc, xà phòng, mỹ phẩm, thuốc chữa bệnh và các loại nhu yếu phẩm mang về để buôn bán mưu sinh.
Lợi dụng việc người dân qua biên giới nhận viện trợ và buôn bán, bọn tàn quân Pol Pot và các tổ chức phản động cũng trà trộn trong dân để vận chuyển lương thực, thực phẩm, thuốc men, quần áo và súng đạn tiếp tế cho bọn tàn quân đang ẩn náu trong nội địa. Nhiều toán cướp có vũ trang cũng xuất hiện trên con đường này để trấn lột hàng hóa của dân, thậm chí chúng đã sử dụng vũ khí bắn chết hàng chục người dân để cướp tiền, vàng và hàng hóa của bà con.
Đây là phức tạp mới nảy sinh thuộc địa bàn quản lý của Trung đoàn 174 sau khi xuất hiện những đường buôn do dân tự mở qua biên giới tại khu vực này.
Để chủ động đối phó với các hoạt động của địch, tiêu diệt các toán cướp và bảo vệ nhân dân, từ tháng 8/1979, Tiểu đoàn tôi liên tục tổ chức cho các đại đội thay phiên nhau lên phục kích, chốt chặn trên khu vực hai ngã tư này, tạo điều kiện cho nhân dân buôn bán, làm ăn và ngăn chặn các hoạt động của địch.
Nhưng trong hai ngày 03/9 và 02/10/1979, trong vòng chưa đầy một tháng, tại khu vực Ngã tư này đã xảy ra 2 trận đánh không cân sức giữa bộ đội ta với bọn Para. 23 cán bộ, chiến sĩ của K10, D6 và 23 cán bộ, chiến sĩ của K5, D5 đã mãi mãi không trở về.
Tôi thân với Cảnh từ khi hai thằng còn đóng quân ở Kim Bảng, Nam Hà. Hai thằng cùng nhập ngũ một ngày, cùng lên một chuyến tàu rồi cùng về Tiểu đoàn 6, nên mặc dù Cảnh được biên chế ở K10, còn tôi về thông tin, nhưng mỗi khi tôi đi máy cho K10, hoặc K10 bố trí gần đội hình Tiểu đoàn bộ là tôi lại xuống chơi với Cảnh.
Đêm ấy là đêm 02/9/1979, tôi đến hầm Cảnh chơi. Hai thằng nằm trên hai chiếc võng, đầu võng của Cảnh dựng một khẩu B41 vẫn lắp nguyên viên đạn trên nòng súng dựa vào gốc cây. Bộ đội trên chốt thì súng ống lúc nào cũng trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Chẳng có gì mời nhau, Cảnh rót nước ra hai cái bát sắt tráng men, rồi mỗi thằng một điếu thuốc rê, chúng tôi hỏi thăm nhau và kể cho nhau nghe những câu chuyện quê nhà.
Trong ánh trăng non đầu tháng, Cảnh kể cho tôi nghe về gia đình mình và mối tình của cậu ấy với một cô công nhân của Nhà máy Thiết bị điện Đông Anh. Cảnh sinh ra trong một gia đình nông dân ở Đông Anh, Hà Nội. Nhà Cảnh khá đông anh em và Cảnh là con thứ 6. Trước khi đi bộ đội, Cảnh cũng là công nhân một nhà máy ở thị trấn Đông Anh. Tôi không còn nhớ tên người yêu của Cảnh, chỉ mang máng tên Hồng hay tên Nga gì đó. Nhưng mối tình của Cảnh là một tình yêu đẹp, thật nên thơ. Cảnh cho tôi xem những bức thư của người yêu Cảnh gửi cho cậu ấy, những nét chữ mềm mại và lời thư chân thành mộc mạc của một cô gái hậu phương gửi cho người yêu là lính trong mặt trận… Họ đã dành cho nhau một tình cảm thật đẹp, thật trong sáng và nỗi nhớ, niềm yêu vời vợi trong xa cách.
Rồi Cảnh mở ba lô, lấy chiếc khăn mùi xoa có đôi chim bồ câu đang ngậm mỏ vào nhau và dòng chữ: “Em yêu Anh” được thêu rất đẹp cho tôi xem. Điều kiện chiến trường như vậy mà những lá thư của người yêu gửi cho Cảnh và chiếc khăn mùi xoa vẫn thoang thoảng mùi nước hoa con gái, chứng tỏ Cảnh đã nâng niu, giữ gìn những kỷ vật của người yêu đến thế nào.
Dù chưa một lần được gặp người yêu của Cảnh, nhưng nghe câu chuyện cậu ấy kể, tôi cứ hình dung một cô gái thôn quê rất đẹp, tóc dài ngang lưng, mặc bộ đồ công nhân, đang trao cho bạn tôi chiếc khăn tay này với nụ cười rạng rỡ…
***
Sáng 3/9, K10 đi phục kích tại Ngã tư Đường Buôn. Chúng tôi chia tay nhau và Cảnh khoác khẩu B41 nhập vào hàng quân, dần xa.
Trước đó, việc phục kích, tuần tra trên ngã tư đường buôn vẫn diễn ra thường xuyên. Các đơn vị được phân công đi phục thường trở về lúc 5,6 giờ chiều. Mỗi lần về, anh em lại có quà cho những người ở nhà, khi là bao thuốc, khi là cái bật lửa ga, có lúc là mấy gói mì tôm… Những ngày ấy, mặc dù Chính phủ Campuchia chưa phát hành tiền, nhưng thị trường chấp nhận rất nhiều phương tiện thanh toán: bath Thái Lan, đô la Mỹ, vàng, và cả tiền Việt nữa. Vì vậy, khi lên đường buôn, bộ đội ta có thể mua được hàng hóa bằng những đồng phụ cấp ít ỏi của mình. Giá cả các loại nhu yếu phẩm của Thái khá rẻ, nên với 35 đồng phụ cấp một tháng của binh nhất (gấp 6 lần phụ cấp trong nước), chúng tôi cũng có thể mua được kha khá những thứ cần thiết cho mình.
Có thể nói, thời đó bộ đội Sư đoàn 5 là những người được sử dụng các loại hàng hóa Thái Lan sớm nhất so với các đơn vị quân tình nguyện khác, bởi từ bên kia biên giới, các loại hàng hóa tràn về suốt ngày đêm và Sisophon trở thành vựa hàng lớn nhất Campuchia kể từ tháng 8, tháng 9/1979.
Các loại thuốc lá Gold Citi, Krong Thip, Salem, Samit và cả thuốc nhãn hiệu 111 và 555 nữa chúng tôi đều được hút. Các loại hàng hóa khác của Thái Lan như mì tôm, thuốc đánh răng, xà phòng thơm, bật lửa ga, bật lửa Zippo, đồng hồ Oriental, Citizen, Rado, Mido… được sử dụng khá nhiều. Trong những thứ hàng hóa ấy, thuốc lá Samit là thứ được lính ưa chuộng nhất, ngon kinh khủng, ngon hơn tất cả các loại thuốc lá mà tôi được hút từ đó đến nay.
Còn nhớ khi tôi về Việt Nam, ngồi trên tàu hỏa, mang chiếc bật lửa ga ra hút thuốc mà tất cả những người ở toa tàu ấy đều không ai biết nó là thứ gì, ai cũng thấy lạ và chuyền tay nhau xem cái bật lửa ga là như thế nào, không hiểu tại sao nó lại cháy được khi không có bấc giống như những chiếc bật lửa dùng xăng phổ thông thời ấy.
Lại nữa, hôm lên thăm ông anh trai học tại trường Đoàn Trung ương trên Thái Nguyên. Đến phòng anh ngủ, tôi mang bao thuốc Samit ra mời các anh cùng phòng, mà khi đưa tay ra nhận điếu thuốc, ngón tay các anh ấy run run, bởi có bao giờ nhìn thấy những điều thuốc đẹp và ngon đến thế. Lúc tôi mời vòng 2 nữa thì ai cũng giơ hai bàn tay lên chéo nhau, ra hiệu cám ơn nhưng không nhận nữa…
Đường buôn mà K10 phải đi phục kích trong cái ngày định mệnh ấy chính là cái yết hầu, là cửa ngõ để địch và dân buôn tuồn các loại hàng hóa như trên vào nội địa Campuchia.
Khoảng hơn 4 giờ chiều ngày 03/9, từ hướng đường buôn bỗng rộ lên tiếng súng. Âm thanh của các loại hoa lực nổ rền từng nhịp nhưng rất xa khiến ai cũng nóng ruột nhưng không biết chuyện gì đã xảy ra với K10. Vì chỉ bố trí một đại đội đi phục kích nên Tiểu đoàn không đưa máy vô tuyến đi cùng, vì vậy lúc đó chỉ đoán già đoán non rằng K10 đã gặp địch, nhưng lực lượng địch ra sao, tác chiến thế nào thì không ai đoán định được. Quãng đường từ Khvav đến khu vực tác chiến dài khoảng 14km đường rừng, nên nếu có chi viện thì khi lực lượng tiếp viện đến nơi, trận đánh cũng kết thúc lâu rồi. Chính vì vậy, dù rất nóng ruột nhưng Ban Chỉ huy Tiểu đoàn cũng chẳng biết làm gì hơn là chờ đợi.
Đêm hôm đó, cả đơn vị không ngủ, lo lắng, sốt ruột đợi K10 trở về, nhưng mãi 11 giờ đêm mới thấy anh Trọng, khẩu đội trưởng đại liên thất thểu chạy về, không có súng ống gì. Anh đạp phải mìn ngay tiền duyên chốt của đơn vị, mặt mũi, người ngợm dính đầy máu, quần áo rách te tua.
Anh báo tin là cả ngày đại đội phục kích trên đường buôn không thấy địch đâu nhưng đúng lúc anh em tháo súng, chuẩn bị rút về thì bị khoảng hơn 200 tên Para tấn công. Bọn chúng dàn hàng ngang đánh xuống và nổ súng vô cùng quyết liệt. Với lực lượng áp đảo, chúng hình thành thế bao vây, khép chặt đại đội vào khoảng rừng giữa hai ngã tư và truy sát bộ đội ta.
Cả đại đội bị rơi vào thế bị động vì hầu như các hỏa khí lớn đã tháo rời các bộ phận, không kịp lắp ráp để đánh trả. Với các loại vũ khí bộ binh hạng nhẹ, anh em đã chiến đấu rất dũng cảm, đánh giáp lá cà với chúng để ngăn cản chúng tiến xuống và bảo vệ nhau… nhưng do địch quá đông và ở thế chủ động nên ta không chống lại được, bị địch xé lẻ lực lượng và hầu hết các chiến sĩ không chạy thoát, bị chúng bắn chết khá nhiều. Một số anh em thoát khỏi vòng vây nhưng chạy lạc trong rừng, không biết sẽ tìm về đơn vị khi nào.
Gần sáng, lại có thêm một số anh em K10 nữa trở về, nhưng không ai mang theo vũ khí. Họ đã bắn hết đạn và buộc phải bỏ lại vũ khí trong rừng. Ba người trong số họ bị thương.
Anh Hoàng Lộng, nguyên là cán bộ Trung đội của K10, là người may mắn thoát chết trong trận đánh này, hiện đang sống tại huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình kể rằng: Khoảng gần 4 giờ chiều hôm ấy, có một người đàn bà khoảng 50 tuổi gánh hàng từ Thái Lan về, khi ngang qua chỗ anh em K10 đang phục kích, bà nói rằng:
- Các con ơi về đi, bọn Para đang chuẩn bị đánh xuống đấy, chúng nó đông lắm, lại có cả 13 chiếc xe tăng nữa, các con không đánh lại được đâu.
Tin đó được báo đến đồng chí Tiểu đoàn Phó đi cùng K10, nhưng đồng chí ấy bảo:
- Chúng mày nghe gì tin ấy, vớ vẩn. Chúng nó ở đây làm gì có xe tăng.
Một lúc sau thì địch đánh xuống thật. Chúng quá đông và tấn công vào thời điểm ta bất lợi nhất nên bộ đội không thể chống cự. Mặc dù đã chiến đấu rất dũng cảm, khẩu đội đại liên đã bắn liên tục, khiến nòng súng đỏ như lửa, đạn rơi ngay trước mũi súng mà địch vẫn tiến xuống khiến anh em phải vứt súng, bỏ chạy. Bọn địch dàn hàng ngang trong rừng le rậm rạp, chúng tìm và bắn chết tất cả những người bị thương, dùng dao cắt chéo thành hình chữ X trên từng khuôn mặt liệt sĩ của chúng ta.
***
Nghe tin đó, ngay trong đêm cả tiểu đoàn tức tốc hành quân đến Ngã tư. Đoàn quân đi xuyên đêm mà lòng ai cũng nặng trĩu. Dưới ánh trăng xuông, chẳng ai nói với ai lời nào.
Nơi Đại đội 10 chiến đấu và bị bao vây chỉ cách biên giới Thái Lan khoảng 4km. Đó là những cánh rừng khộp lớn, mọc ken giữa những khóm le dại um tùm. Những cây le giống những cây trúc, cao ngang đầu người mọc dày đặc. Địch đã rút, cả khu vực nơi xảy ra trận huyết chiến chỉ còn là những vạch ngang vạch dọc của những thân le đổ xuống bởi vết người chạy.
Do đêm tối và để bảo đảm bí mật, sợ địch phục kích vì biết ta sẽ đi lấy xác anh em, nên chúng tôi không dám bấm đèn, mò mẫm tìm kiếm. Nhưng suốt đêm hôm ấy vẫn chẳng thấy ai. Gần sáng, Tiểu đoàn phải rút quân về, bố trí lực lượng nghỉ tạm ở phum Dangkum, cách địa điểm tìm kiếm khoảng 5km.
Suốt ba đêm liền, cứ ngày nghỉ, đêm lại lần ra ngã tư mà tuyệt nhiên không thấy một ai, không thấy một dấu hiệu gì khác thường. Không biết anh em ta đang ở nơi nào.
Đêm thứ tư, Tiểu đoàn tiếp tục lên đường, lần này thì khác những đêm trước, khắp nơi có mùi tử khí, mùi xác chết đang phân hủy lan tỏa rất mạnh trong không khí, vô cùng khó chịu. Cái nóng của Campuchia là cái nóng kinh người, lại thêm những trận mưa rào rất lớn và tạnh đột ngột ngay sau đó chính là môi trường lý tưởng cho giòi bọ sinh sôi, nảy nở. Thế nên sáng sớm hôm đó, cứ chỗ nào có mùi thối là lại tìm thấy xác một liệt sỹ. Những cơ thể trương phình, những khuôn mặt đen đúa, biến dạng với giòi bọ bò nhung nhúc… nằm trong những vạt le được anh em vận tải cất bốc, đưa vào những chiếc túi tử sĩ mang ra.
Mười chín liệt sỹ được tìm thấy. Mệnh lệnh phát ra, cứ 3 người khiêng một võng. Lực lượng còn lại đảm bảo cảnh giới, sẵn sàng đánh địch tập kích.
Tiểu đoàn trưởng Trạch nổi tiếng là người gan dạ bởi ông đã chứng kiến rất nhiều đồng đội hy sinh qua hàng trăm trận đánh mà ông từng tham gia từ những năm đánh Mỹ, nhưng lúc ấy, ông cũng không nén được cảm xúc khi thấy xác anh em. Ông vừa khóc tu tu, vừa túm ngực áo một thằng lính vì không chịu nổi mùi tử khí đã lấy tay bịt mũi. Ông chỉ tay vào mặt người lính kia và nói lớn:
- Tao cấm. Cấm tất cả chúng mày, không đứa nào được khạc nhổ, không đứa nào được bịt mũi, bịt miệng khi khiêng anh em về. Đồng đội chúng mày đấy. Nghe rõ chưa? Đứa nào không tuân lệnh, tao bắn.
Người lính kia và tất cả anh em chúng tôi đều thấy sợ bởi chưa bao giờ thấy sự chết chóc nhiều như thế, chưa bao giờ thấy xác chết gần đến thế, chưa bao giờ cảm thấy khủng khiếp đến thế này. Nhưng lời tuyên bố của Tiểu đoàn trưởng khiến chúng tôi tĩnh tâm lại và chúng tôi không còn cảm thấy ghê sợ nữa, mùi tử khí tự nhiên tan biến và chúng tôi đã khiêng anh em về đơn vị với lòng thương cảm rất chân thành.
Đường từ Ngã tư về Khvay dài 14km, tôi và 2 chiến sĩ nữa được phân công khiêng xác một đồng đội hy sinh. Người nằm trên võng đang trong giai đoạn phân hủy mạnh, da đầu đã toạc khỏi hộp sọ, để lộ mảng đầu trắng ởn, giòi bọ bò thành dây khắp người… Chúng tôi cứ lặng lẽ khiêng các anh về mà lòng đau nhói.
Sau khi kiểm tra danh tính liệt sĩ, trong số 19 chiến sĩ ta lấy được xác hôm ấy, không có Cảnh. Cảnh và ba chiến sĩ nữa vẫn chưa được tìm thấy.
Mãi ngày 20/10/1979, tức là bốn mươi chín ngày sau khi trận đánh ở Ngã tư nổ ra, khi Trung đoàn 88 Biên phòng làm nhiệm vụ gài mìn xây dựng phòng tuyến dọc biên giới Thái Lan mới tìm thấy xác các anh ở giữa rừng, cách ngã tư khoảng 4km. Cảnh và các đồng đội của anh đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Các anh bị lạc nên lại gặp địch, chúng đã bắn chết cả bốn người, chặt xác ném lung tung quanh đó. Khi đưa các anh về, xác của Cảnh và những đồng đội chỉ còn lại là những bộ xương khô.
Không biết có điều gì thuộc về tâm linh hay không, nhưng việc tìm thấy các anh sau 49 ngày các anh hi sinh khiến tôi liên tưởng đến tục cúng cơm của người Việt. Các anh đã về với đồng đội vào đúng ngày “tứ cửu”.
Ba mươi ngày sau trận đánh của K10, ngày 02/10/1979, Đại đội 5, Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 174 lại đụng với bọn Para tại Ngã tư này một trận nữa với kịch bản tương tự, cả đại đội bị xóa sổ, thêm 23 người lính ngã xuống, duy nhất có anh Tuyến ụ mối may mắn thoát chết trở về.
Khi nói về những sự kiện tại Ngã tư này, anh Nguyễn Đình Tấn, nguyên chiến sĩ Trung đoàn 4, Sư đoàn 5 cho biết: Trong chiến dịch phản công năm 1983, tại chính nơi đồng đội chúng tôi ngã xuống, Sư đoàn 5 đã đánh một trận tuyệt vời, tiêu diệt 150 tên địch, thu hàng trăm vũ khí các loại. Lúc tiểu đoàn 2, Trung đoàn 4 lên nhận địa bàn, các anh đã phải khiêng hàng trăm xác giặc, quăng xuống giao thông hào của chúng rồi lấp lại để tránh dịch bệnh cho đơn vị.
Vậy là chúng tôi đã trả được mối thù với bọn Para man rợ, đồng đội chúng tôi hẳn cũng thấy an lòng nơi chín suối.
***
Năm 1983, khi còn đang học tại trường Sĩ quan Tăng - Thiết giáp, tôi đã đạp xe từ Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc về Đông Anh hỏi tìm nhà Cảnh nhưng do thông tin không đầy đủ, nên tôi không thể tìm được nhà anh, đành phải quay về.
Ngày 17/8/2018 vừa rồi, tôi về Đông Anh dự Lễ kỷ niệm 69 năm ngày thành lập Trung đoàn 174 (Cao Bắc Lạng) và kỷ niệm 40 năm nhập ngũ, tôi mới được anh Trần Văn Thử, một đồng đội cùng thời ở K9, hiện là Phó Bí thư Đảng ủy xã Nam Hồng đưa về thăm gia đình Cảnh tại thôn Đoài, xã Tàm Xá, huyện Đông Anh, Hà Nội. Khi đó tôi mới biết, do không nhớ tên xã, nên lần trước tôi không tìm được gia đình anh.
Bước chân đến nhà Cảnh sau 40 năm anh nhập ngũ và 39 năm sau ngày anh mất, tôi không giấu được cảm xúc. Mẹ anh, một bà mẹ 89 tuổi nhưng còn rất minh mẫn, đôn hậu và khỏe mạnh. Mẹ cùng mọi người trong gia đình rất vui khi biết chúng tôi là những người lính cùng chiến đấu với Cảnh năm xưa về thăm. Gia đình đón anh em tôi như đón những đứa con đi xa mới trở về.
Xin phép mẹ được thắp cho anh một nén nhang trên bàn thờ của gia đình, ngắm bức hình anh chụp trước khi đi bộ đội, một khuôn mặt thư sinh, trắng trẻo với cặp mắt một mí rất dễ thương và tấm bằng Tổ quốc ghi công, ghi tên Liệt sĩ Lê Văn Cảnh… tôi không cầm được nước mắt.
Rồi chúng tôi tìm đến Nghĩa trang Liệt sĩ của huyện, thắp hương cho anh và các chiến sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc. Mộ anh nằm giữa hàng bia mộ của các liệt sĩ được an táng tại quê nhà…
Chỉ vậy thôi mà tôi thấy ấm lòng, thỏa nguyện bởi đã trả được món nợ trong lòng mình suốt gần 40 năm nay với người bạn cố tri nơi chín suối.
Nhắc lại một kỷ niệm này ấy để thấy rằng hôm nay, dẫu có khó khăn, dẫu còn vất vả, trăn trở với những điều còn đang dang dở, với những bất công đâu đó, thì vẫn tự nhủ với lòng mình rằng, mình còn may mắn hơn rất nhiều so với những người đã khuất, may mắn hơn những người lính đến khi chết vẫn chưa một lần trở thành đàn ông.