Trong đời người, có rất nhiều chuyến đi.
Có thể đó là những chuyến công tác, những cuộc du ngoạn cùng gia đình, bạn bè, người thân đến một vùng đất mới, cũng có thể là một chuyến đi đến một đất nước hoàn toàn xa lạ… Mỗi chuyến đi mang đến cho ta một cảm xúc mới, một trải nghiệm khác lạ, bâng khuâng, để khi trở về với cuộc sống thường nhật, ta vẫn muốn nhớ về nó.
Khác hẳn với tất cả những chuyến đi như vậy, không phải đi khám phá những vùng đất mới, cũng chẳng phải để thưởng ngoạn những món ăn lạ miệng hoặc nghỉ ở những khách sạn sang trọng… Từ ngày 27/02 đến ngày 05/3/2018, chúng tôi, 15 cựu chiến binh của Trung đoàn 174, Sư đoàn 5, Quân khu 7 anh hùng đã tìm về đất nước Campuchia, đến những vùng đất mà cách đây trên dưới 40 năm, chúng tôi đã từng sống, từng chiến đấu, để ôn lại những kỷ niệm hào hùng nhưng cũng rất đớn đau, thăm lại những nơi mà đồng đội chúng tôi đã ngã xuống, tri ân các anh, những đồng đội, những đồng chí thân yêu đã hy sinh để chúng tôi được sống đến hôm nay.
Chặng đường di chuyển suốt 7 ngày trên chuyến xe ca do lái xe là anh Minh - một cựu quân nhân Quân đội Nhân dân Việt Nam, nhưng giờ sinh sống tại thành phố Phnom Penh - đưa chúng tôi đi qua rất nhiều tỉnh, nhiều thành phố… đem đến cho mọi người trong đoàn rất nhiều cảm xúc. Nhưng ấn tượng nhất và có ý nghĩa nhất là hoạt động của đoàn trong ngày 02/3 (tức Tết Nguyên Tiêu năm Mậu Tuất - 2018).
Hôm đó, không ai bảo ai nhưng tất cả mọi người đều ăn mặc chỉnh tề hơn mọi ngày, dậy sớm hơn mọi ngày, háo hức hơn mọi ngày, mặc dù biết chặng đường đi dài, nguy hiểm và vất vả nhất trong toàn bộ chuyến đi này.
Từ thành phố Sisophon, thủ phủ của tỉnh Banteay Meanchey, cách biên giới Thái Lan khoảng 50km, chúng tôi ngược hướng bắc đi vào vùng chiến địa năm xưa.
Đến phum Makak, nơi diễn ra trận đánh vô cùng ác liệt ngày 01/02/1979 (tức là ngày mùng 5 tết Kỷ Mùi) với bọn Khmer Đỏ. Mặc dù cảnh vật đã đổi khác hoàn toàn, con đường đất gồ ghề với đầy những hố bom, hố mìn và đạn pháo năm xưa không còn nữa. Thay vào đó là một con đường trải nhựa phẳng lì… Nhưng những kỷ niệm xưa bỗng dội về thật rõ, như vừa mới diễn ra hôm qua, hôm kia…
Có cảm giác, nơi chúng tôi đang đứng là khói bụi mịt mù, những tiếng nổ chát chúa của đủ loại hỏa lực vang lên trong trí nhớ, hình ảnh chiếc thiết giáp M113 của ta bị một lính Pốt nữ bắn cháy bằng súng chống tăng B40 khiến đầu xe sụp xuống, khói lửa bốc lên nghi ngút, tiếng đạn nổ trong xe rền vang. Hình ảnh Tiểu đoàn trưởng Lê Huy Trạch với cánh tay bị thương, máu chảy đẫm vai áo vẫn bình tĩnh chỉ huy bộ đội, hình ảnh anh em cõng anh Khanh, chiến sĩ trinh sát hy sinh chạy ngược về tuyến sau, những chiếc võng khiêng thương binh, tử sĩ liên tục được chuyển về…, khiến chúng tôi không cầm được nước mắt.
Đoàn làm lễ, mặc niệm, khấn vái các liệt sĩ dưới nền nhạc Chiêu hồn, thắp hương nhang, đốt vàng mã gửi đến các anh với tấm lòng thành kính của những đồng đội sau 39 năm mới được trở lại…
Tiếp tục hành trình, đoàn qua phum Ta Baen, nơi đơn vị có một thời gian rất dài đóng quân tại đó, rồi lướt qua Svay Chek, Thma Puok lần tìm về hồ Ampil - một hồ nước hình chữ nhật rất lớn, chiều dài 1,4km, chiều rộng 850m. Trước kia, nơi đây là rừng, nay bạt ngàn là mì (sắn) và những con đường mới mở. Do khu vực hồ nằm sát đường biên giới Thái Lan, nên định vị GPS xác định là đất Thái… Phải loay hoay mãi chúng tôi mới tìm thấy mục tiêu và điểm đứng chân để hành lễ.
Ngày 13/3/1980, Tiểu đoàn 4 được giao nhiệm vụ đánh chiếm hồ Ampil. Do công tác điều nghiên không tốt, đánh giá không đúng tình hình và lực lượng địch, nên sau những phút ban đầu làm chủ trận địa, Đại đội bị địch bao vây, phản kích dữ dội, anh Đặng Duy Riềng - Đại đội trưởng (quê Vĩnh Bảo, Hải Phòng), hy sinh. Đại đội phải rút lui để bảo toàn lực lượng, đơn vị bị tổn thất rất lớn, nhiều cán bộ, chiến sĩ của Đại đội bị thương, hy sinh.
Với quyết tâm tiêu diệt địch, không cho chúng sử dụng hồ Ampil làm căn cứ để uy hiếp Thma Puok và Svay Chek, Trung đoàn quyết định tung Tiểu đoàn 5 và Tiểu đoàn 6 quyết tâm đánh chiếm mục tiêu hết sức quan trọng này.
Sáng 17/3/1980, từ ba hướng nam, tây và đông, lực lượng ta đã mở cuộc tiến công căn cứ Ampil dưới sự chi viện của pháo binh Sư đoàn. Dựa vào công sự phòng ngự kiên cố ven bờ đê bao quanh hồ, địch chống trả quyết liệt. Phải sau hơn 3 giờ chiến đấu, ta mới làm chủ được trận địa, bọn Para bỏ lại nhiều xác chết, dạt về Cao điểm 175 và chạy sang đất Thái Lan. Về phía ta, hầu như tất cả các đơn vị tham gia chiến đấu đều có thiệt hại, nhưng tổn thất lớn nhất là Đại đội 11, Tiểu đoàn 6. Bởi đêm trước giờ nổ súng, địch phát hiện lực lượng ta xuất hiện, chúng thay đổi đội hình phòng ngự. Hướng tây nam (do Đại đội 11 đảm nhiệm) trở thành hướng địch bố trí nhiều hỏa lực và phản công quyết liệt nhất.
Trước tình hình ấy, Đại đội trưởng Ngô Xuân Sào (quê Nông Cống, Thanh Hóa) bình tĩnh động viên bộ đội, đồng thời anh cơ động sang hướng trái để chỉ huy bộ đội tiêu diệt hỏa điểm địch. Anh bị khẩu đại liên của chúng bố trí cách nơi anh đứng chỉ khoảng 80m, bắn thẳng vào trán. Anh hi sinh trước khi bộ đội chiếm được chiến hào tiền duyên của chúng chỉ 5 phút sau đó.
Có thể nói, hồ Ampil là một địa danh lịch sử, nơi có rất nhiều cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn 174 hi sinh, trong đó có hai đồng chí Đại đội trưởng.
Khi chúng tôi làm lễ ở đây, có một người dân đang sống cạnh hồ đến xem, họ nói mấy năm trước, dân đào đất làm mương, tìm thấy rất nhiều xương cốt, nhưng không biết của bộ đội Việt Nam hay của địch còn vương vãi quanh hồ.
Vì thời gian không nhiều nên chúng tôi không hỏi kỹ về chi tiết này.
Rất cảm động là sau khi xác định vị trí ụ mối, nơi anh Sào hy sinh, tôi như thấy anh đang đứng đó, quan sát rồi chỉ tay về phía mục tiêu hô lớn:
- Thiện, Thiện, mày cho khẩu B41 bắn vào khẩu đại liên cho tao một phát.
Gần như cùng lúc khi một vệt lửa xanh lét từ quả đạn B41 bay đi, một tiếng nổ “bùng, oàng” chát chúa và tiếng địch la hét và bỏ chạy thì cũng là lúc anh Sào khựng lại rồi ngã ngửa về phía sau, đổ toàn thân xuống mặt đất.
Trước khi những tên địch của khẩu đội đại liên bị giết, chúng vẫn kịp nháy cò bắn anh bằng những phát đạn cuối cùng…, trán anh chỉ có một lỗ nhỏ của viên đạn găm vào, nhưng gáy anh toác ra, máu đầm đìa trên bàn tay chú Tuấn liên lạc…
Sau khi làm lễ tại Ampil, Đoàn hành quân về phum Khvav - căn cứ phòng ngự của Tiểu đoàn trong suốt những năm từ 1979 đến 1986. Đây cũng là nơi khâm liệm rất nhiều liệt sĩ hy sinh trong các trận đánh trước khi chuyển về tuyến sau.
Tại đây, đoàn đã tìm thấy trận địa Mả Đá, nơi có một ngôi mộ đá rất lớn, bao quanh là một bức tường ghép bằng đá ong, mỗi chiều khoảng 35m. Trong suốt thời gian đóng quân tại Khvav, trận địa Mả Đá và Chốt 48 là hai mắt xích rất quan trọng để Tiểu đoàn đứng vững trước những trận tập kích của bọn Pol Pot.
Một điều hết sức bất ngờ đối với chúng tôi, đó là do địa hình thay đổi, nên phải qua người dân chúng tôi mới tìm được khu Mả Đá. Cũng nhờ vậy, Đoàn đã phát hiện toàn bộ hệ thống hầm, hào phòng ngự và công sự chiến đấu mà các đại đội chốt giữ khu vực này xây dựng trước đây gần 40 năm. Tiếc rằng di tích này nằm rất gần biên giới Thái Lan và quá xa Tổ quốc nên việc bảo quản, giữ gìn, khai thác di tích là bất khả thi, chứ nếu không, đây sẽ là một di tích lịch sử hết sức quý giá để giáo dục thế hệ trẻ về đức hi sinh, lòng quả cảm của các thế hệ đi trước trong khi thực hiện nhiệm vụ quốc tế trên đất nước Chùa Tháp.
Một điểm đến hết sức quan trọng và cũng là nỗi đau rất lớn của những người lính Trung đoàn 174 suốt mấy chục năm qua mà chúng tôi phải đến, đó là Ngã tư Đầu Lọc, Ngã tư Xương Máu…, Bởi tại nơi này, chỉ trong vòng 1 tháng, từ ngày 03/9 đến ngày 02/10/1979, bọn Para đã hai lần phục kích, xóa sổ gần như hoàn toàn 2 đại đội (K10/d6 và K5/d5) của Trung đoàn 174, 46 cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh, hàng chục người khác bị thương. Có 4 chiến sĩ bị thương chạy lạc trong rừng le, chúng bắt được, chặt xác, ném lung tung quanh đó. Mãi 49 ngày sau, khi Trung đoàn 88 đi gài mìn làm phòng tuyến K5, chúng ta mới tìm thấy xác của các đồng chí ấy.
Nhờ có bản đồ online và định vị GPS, đối chiếu với thực địa, anh Bùi Tiến, Đại tá, Nguyên Chính ủy Cục Hậu cần QK7, Nguyễn Trung đội trưởng Trinh sát của Tiểu đoàn và anh em chúng tôi mới xác định được Ngã tư này để hành lễ. Có thể nói, đã có nhiều đoàn trở lại Sisophon, và đoàn nào cũng mong đến được Ngã tư với rất nhiều kỷ niệm đau đớn này, nhưng phải khẳng định, đây là lần đầu tiên Đoàn Cựu chiến binh Trung Đoàn 174 đặt chân được đến nơi đây sau gần 40 năm xảy ra những sự kiện bi thảm đó.
Những điểm đến tiếp theo của Đoàn là Dangkum, Cửa khẩu Poipet, Nimith (Ngã ba Con Voi…). Nhưng còn rất nhiều địa danh khác, in dấu chân những người lính 174 như Cao Melai, Cro Lanh, đặc biệt là Pailin, một địa danh gắn liền với kỷ niệm về một cuộc hành quân trong đói khát ngày 29 tết Kỷ Mùi (1979), nhưng do thời gian hạn hẹp, chúng tôi chưa thể đến được.
Viết những dòng này, chúng tôi không có dụng ý gì khác ngoài suy nghĩ muốn ghi lại những cảm xúc của một chuyến đi lịch sử, một chuyến trở về với những kỷ niệm đẹp nhất, bi hùng nhất trong đời những người lính Trung đoàn 174 năm xưa. Chuyến đi này đã góp phần làm cho anh em tôi, những chàng lính năm xưa, với những biệt danh Tiến dê, Tiến xòe, Thành toác, Thành bông, Hùng heo, Thanh nga, Thanh lều, Điền đen, Năm học, và những chàng lính không có biệt danh như anh Việt, anh En, anh Hướng, anh Dũng, anh Sỹ, anh An như được sống lại tuổi 20 mà ngỡ như chẳng bao giờ có được.
Những giọt nước mắt đã rơi, những nén hương được thắp lên tại 7 điểm đoàn hành lễ và những trận cười không dứt, nổ như AK47 bắn liên thanh trong suốt chặng đường 7 ngày trên đất nước Chùa Tháp là những ấn tượng không dễ gì quên trong đời mỗi con người, mỗi thành viên của đoàn.
Nhớ lắm. Hẹn gặp lại chuyến sau.